1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập lớn Luật Dân Sự

19 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 702,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sở hữu và chấm dứt quyền sở hữu. Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo quy định của BLDS 2015. Bản án của Tòa án về chấm dứt quyền sở hữu và quan điểm cá nhân về nội dung được giải quyết trong bản án

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1

ĐỀ BÀI: 02

HỌ VÀ TÊN:

MSSV :

LỚP :

NHÓM :

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

2

Trang 3

A. Mở đầu

Trong triết học ta có nguyên nhân và kết quả thì trong quan hệ pháp luật dân

sự có quyền sở hữu thì tất nhiên sẽ có việc chấm dứt quyền sở hữu Chấm dứt quyền sở hữu là một trong những vấn đề quan trọng trong pháp luật dân

sự Trong hầu hết các vụ án thì đều có phần liên quan đến việc chấm dứt quyền sở hữu Và đó chính là lí do tôi chọn đề này

Trang 4

B. Nội dung

I. Tổng quan lí thuyết về quyền sở hữu, chấm dứt quyền sở hữu

Quyền sở hữu là phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định; Tổng hợp các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu tồn tại trong xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định; Quyền của chủ thể đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bao gồm quyền chiếm hữu, quyền

sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

Là chế định pháp luật dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự trong đó các yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, nội dung

Đối ngược với quyền sở hữu sẽ là chấm dứt quyền sở hữu, là khi chủ

sở hữu từ bỏ quyền sở hữu theo ý chí hoặc từ bỏ quyền sở hữu theo quyết định của tóa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

II. Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo quy định của BLDS 2015

1. Căn cứ váo ý chí của chủ sở hữu ( khoản 1, 2 điều 237, điều 238 BLDS) Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Và sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận đó phải là ý chí của chính chủ thể thực hiện giao dịch dân sự bằng hợp đồng hoặc tự chấm dứt bằng cách tuyên bố hoặc thực hiện các hành vi từ bỏ quyền sở hữu Đồng thời

sự tự do ý chí đó phải tuân thủ các quy định của pháp luật, không xâm phạm quyền và lợi ích của người khác và không vi phạm các điều cấm của bộ luật dân

sự hoặc các bộ luật khác có liên quan

1.1. Căn cứ vào hợp đồng

Hợp đồng là một trong những vấn đề trọng tâm của pháp luật dân sự Theo điều 385 BLDS thì hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Khi hợp đồng có hiệu lực tức là hợp đồng đã phù hợp với ý chí của chủ thể, ý chí của pháp và hợp đồng đã chuyển giao thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sơ hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế

4

Trang 5

Như vậy, thông qua các giao dịch dân sự bằng hợp đồng mà các chủ sỡ hữu

có thể chấm dứt quyền sở hữu của mình một cách tự do ý chí nhưng tuân theo những quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của mình và của các chủ thể khác

1.2. Tự chấm dứt bằng cách tuyên bố hoặc tự thực hiện các hành vi từ bỏ

quyền sở hữu

Khi một cá nhân, pháp nhân muốn từ bỏ, chấm dứt quyền sở hữu thì có thể tự tuyên bố hoặc thực hiện các hành vi từ bỏ quyền sở hữu

Thứ nhất, trường hợp chủ sở hữu tuyên bố công khai việc chấm dứt quyền sở hữu được hiểu là đã công khai với mọi người việc mình từ bỏ sở hữu và đã thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ, bạn muốn từ bỏ quyền

sở hữu một chiếc xe thì phải thông báo đến cơ quan lưu giữ hồ sơ đăng ký xe Thứ hai, trường hợp chủ sở hữu thực hiện các hành vi từ bỏ quyền sở hữu tức

là chủ sở hữu đã chứng minh cho việc chấm dứt quyền sở hữu của mình bằng các tặng, cho, vứt bỏ,… Tuy nhiên, đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền

sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật ( điều 239 BLDS 2015)

2. Chấm dứt quyền sở hữu theo những căn cứ do pháp luật quy định

2.1. Sự kiện pháp lý nhất định do pháp luật quy định và đã công khai quyền

sở hữu (điều 230, 231, 232, 233 BLDS 2015)

Theo quy định tại điều 230 đến 233 BLDS 2015, xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc; xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc, xác lập quyền

sở hữu đối với vật nuôi dưới nước Tức là tài quyền sở hữu bị chấm dứt khi sự kiện pháp lí khác xảy ra và công nhận sở hữu hợp pháp cho cá nhân, pháp nhân khác

Khi chủ sở hữu tài sản có những hành vi đánh rơi, bỏ quyên như trên thì đến một thời hạn nhất định thì tài sản sẽ thuộc về người khác tức quyền sở hữu của

họ đã chấm dứt, không thuộc về cá nhân pháp nhân cũ mà thuộc về cá nhân, pháp nhân mới trong thời hạn hợp pháp thì tài sản đó là của người sở hữu cũ nhưng nếu họ không tìm lại tài sản hoặc cố tình vứt bỏ thì khi hết thời hạn tài sản sẽ thuộc sở hữu của cá nhân, pháp nhân có thẩm quyền Và chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản của mình vì đã hết thời hạn trừ trường khách

Trang 6

quan và pháp luật có quy định khác Ví dụ đối với gia cầm, sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm ( điều 232 BLDS 2015)

2.2. Chấm dứt quyền sở hữu khi tài sản bị xử lí để thực hiện nghĩa vụ của chủ

sở hữu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền ( khoản 4 điều 237, điều 241 BLDS 2015)

Một cá nhân, pháp nhân khi không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với cá nhân, pháp nhân khác thì người có quyền lợi có thể khởi kiện để được đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong một giao dịch dân sự nếu có tài sản đảm bảo thì người có lợi ích liên quan, cơ quan có thẩm quyền sẽ, chiếm hữu hợp pháp hoặc phát mãi tài sản nhằm đảm bảo lợi ích của cá nhân, pháp nhân Khi tài sản được phát mãi và phát ính quyền sở hữu của người nhận tài sản đó cũng chính là lúc mà quyền sở hữu đối với tài sản đó của người có nghĩa vụ sẽ chấm dứt Các hình thức chủ yếu hiện nay trong xử lí tà sản chủ yếu là bán đấu giá và phát mãi Ví dụ, khi thực cá nhân, pháp nhân vay ngân hàng thì sẽ có tài sản thế chấp hoặc tài sản đảm bảo Nếu người vay không thực hiện được nghĩa

vụ và đã có bản án đang được thi hành thì ngân hàng có quyền phát mãi tài sản

để đảm bảo lợi ích của mình và khi đó quyền sở hữu đối với tài sản của người vay đã chấm dứt

2.3. Chấm dứt quyền sở hữu khi tài sản bị trưng mua hoặc tịch thu (khoản 5, 6

điều 237, điều 243, điều 244 BLDS 2015)

Trường hợp Nhà nước trưng mua tài sản theo quy định của luật thì quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật Ví dụ nhà nước trung mua đất đai để thực hiện các dự án thuộc quyền quản lí của nhà nước Khi quyết định có hiệu lực thì quyền sở hữu đối với mảnh đất được trưng mua sẽ chấm dứt

Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật Khi người phạm tội tham nhũng, nếu thấy cần thiết thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định tịch thu tài sản của người phạm tội ví dụ

là nhà thì quyền sỡ hữu của người phạm tội đối với nhà sẽ bị chấm dứt

2.4. Chấm dứt quyền sỡ hữu khi tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy

(khoản 3 điều 237, điều 242 BLDS 2015)

6

Trang 7

Quyền sử dụng đối với tài sản sẽ bị chấm dứt khi sử dụng Các tài sản sử dụng vào mục đích khai thác công dụng có tính chất tiêu hao, tức là sẽ không đảm bảo công dụng và tình trạng như ban đầu được Chính vì vậy mà một tài sản khi được sử dụng đồng nghĩa với việc sẽ từ bỏ quyền sở hữu

Tiêu hủy là việc làm biến đổi hoàn toàn hình dạng, trạng thái, công dụng, tính chất,… của tài sản Tài sản bị tiêu hủy không còn giá trị sử dụng, khai thác công dụng Chính vì vậy, khi tài sản bị tiêu hủy thì quyền sở hữu đối với tài sản

đó cũng chấm dứt

III. Bản án của Tòa án về chấm dứt quyền sở hữu và quan điểm cá nhân về nội dung được giải quyết

1. Bản án của Tòa án về chấm dứt quyền sở hữu

Bản án số: 61/2019/DS-ST, ngày 10 - 9 – 2019 V/v: “Tranh chấp HĐ đòi tiền”

2. Quan điểm của cá nhân

Bản án số 61 xét sử về việc tranh chấp hợp đồng cho vay tài sản Tuy nhiên, trong bản án, các đương sự có liên quan đã giải quyết với nhau bằng thỏa thuận Công ty Cổ phần tập đoàn Đ, địa diện theo pháp luật ông Đường Đức H, đại diện theo ủy quyền ông Phạm Kim S, nhận trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn bà Nguyễn Minh H, đại diện theo ủy quyền ông Lê Minh T số tiền là 1.600.000.000 đồng (một tỷ, sáu tram triệu đồng chẵn) Đây là toàn bộ số tuền của giá trị căn hộ tại dự án P với diện tích 75m2 theo “văn bản thỏa thuận” ngày 30/6/2015 và thanh lý hợp đồng 03/7/2015 Thời gian thanh toán là 10/9/2019

và đã được xác nhận của các bên đã thanh toán xong số tiền theo thỏa thuận nêu trên vào ngày 10/9/2019 (có chứng cứ kèm theo lưu tại hồ sơ)

Tức là khi số tiền 1.600.000.000 được thanh toán thì quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị T đối với Hợp đồng vay vốn ngày 08/11/2010 và 02 “Giấy vay tiền” ngay 08/11/2010, 12/11/2010 với số tiền là 14.350.000.000 đồng (tương ứng 700.000 USD) chấm dứt Chấm dứt quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị T dựa vào sự tự do ý chí thỏa thuận giữa các đương sự và được tuyên bố bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tòa án Đây là một bản án hợp lí, hợp tình và đúng pháp luật vì nó được giải quyết trên cơ sở của sự tự do ý chí của các đương sự Nguyên đơn và bị đơn cùng nhau thỏa thuận dựa trên những quy định của pháp luật, không vi phạm pháp luật và đạt được thỏa thuận Khi mà hai bên tranh tranh có thỏa thuận không trái với quy đinh của pháp luật thì thỏa thuận

đó được tòa án công nhận Và bản án được tuyên thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự

Trang 9

C. Kết luận.

Trong thời đại công nghiệp 4.0 thì quyền sở hữu càng được chú trọng vì nó liên quan đến quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân trong các vấn đề sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, sở hữu dân sự, Khi quyền sở hữu của người này được xác lập thì tức là quyền sở hữu của người kia sẽ chấm dứt chính vì vậy ta phải hiểu rõ nó để đảm bảo được công bằng quyền và lợi ích

Trang 10

D. Danh mục tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Dân sự 2015

2. Giáo trình Luật Dân sự đại học Luật Hà Nội

10

Trang 11

E. Phụ lục

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ H Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2019/DS-ST

Ngày 10 - 9 - 2019

V/v: “Tranh chấp HĐ đòi tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quảng O

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Q

- Thư ký phiên tòa: Bà Chử Thị Bích L - Thẩm tra viên Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Mai T - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2017/DS-ST ngày 09 tháng 6 năm

2017 về việc

Trang 12

“Tranh chấp Hợp đồng đòi tiền”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 07/2019/QĐ-XXST ngày

09 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Bà Nguyễn Minh H sinh năm 1962

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Minh T sinh năm 1977

* Bị đơn : Công ty ĐC

Đại diện theo pháp luật: Ông Đường Đức H sinh năm 1958 - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc

Đại diện theo uỷ quyền của ông Hoá: Ông Phạm Kim S sinh năm 1953

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Bà Nguyễn Thị T sinh năm

1960

Đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Trần Mạnh T sinh năm 1985

PHẦN TRÌNH BÀY CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

* Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Minh T cho biết :

Bà Nguyễn Minh H và Công ty ĐC do ông Đường Đức Hoá đại diện theo pháp luật xác lập Hợp đồng vay vốn ngày 08/11/2010 với số tiền 14.350.000.000 đồng (tương ứng 700.000 USD) và thoả thuận thời hạn vay từ 08/11/2010 đến 07/05/2011 Tài sản bảo đảm cho khoản vay này của Công ty

ĐC là 50% số cổ phần mà công ty đang nắm giữ tại Công ty Cổ phần Đầu tư P Ngày 08/11/2010, bà H đã chuyển cho ông Hsố tiền 6.150.000.000 đồng (tương ứng 300.000 USD) có Giấy biên nhận tiền do ông Hoá lập và đến ngày 12/11/2010 bà H chuyển cho ông H số tiền 8.200.000.000 đồng (tương ứng 400.000 USD) Bà Nguyễn Minh H khởi kiện yêu cầu Công ty ĐC trả lại số

tiền 14.350.000.000 đồng (tương đương 700.000 USD)

12

Trang 13

* Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Phạm Kim S cho biết :

Hợp đồng vay vốn ký ngày 08/11/2010 và hợp đồng vay vốn ngày 12/11/2010 với tổng số tiền là 14.350.000.000 đồng giữa bà H và Tập đoàn Đ thực chất là khoản tiền để đảm bảo Tập đoàn Đ có đủ 50% cổ phần của Công

ty cổ phần P do bà Nguyễn Thị T là Giám đốc (bà T là chị ruột bà H) Tập đoàn

Đ xác nhận khoản nợ trên và thực tế Tập đoàn Đ đã phải trả lãi 2%/tháng cho

bà T hàng tháng với số tiền 3.444.000.000 đồng/năm

Quá trình giải quyết nội dung vay nợ trên diễn ra giữa bà T và Tập đoàn Đnhư sau:

I Ngày 30/6/2015, bà T (Bên A) và Tập đoàn Đ(bên B) lập tài liệu “Văn bản thỏa thuận” có nội dung:

“1 Bên A chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ giữa bên B theo Hợp đồng vay vốn được ký kết giữa bên B với bà Nguyễn Minh H (Hộ chiếu số

466015971 do Chính phủ Hoa Kỳ cấp ngày 10/11/2009) theo Hợp đồng vay vốn ký ngày 08/11/2010, Phụ lục Hợp đồng vay vốn ký ngày 09/4/2012 trên cơ

sở cam kết của Bên B như sau:

2 Bên B cam kết sẽ chuyển nhượng cho Bên A một căn hộ tại dự án P với diện tích khoảng 75m2, chưa có nội thất - khi dự án triển khai xong phần móng và được bán theo quy định của pháp luật với giá trị là không đồng”

II Ngày 07/7/2015, hai bên có biên bản thanh lý hợp đồng vay vốn: “Hai bên thống nhất thanh lý hợp đồng vay vốn đã ký giữa bên B và bà Nguyễn Minh H theo Hợp đồng vay vốn ký ngày 08/11/2010, Phụ lục hợp đồng vay vốn ký ngày 09/4/2012 Sau khi các bên đã thực hiện theo đúng Văn bản thỏa thuận ký ngày 30/6/2015, các bên không còn ý kiến gì thêm và không có tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ đối với hai bên hoặc bên thứ ba nào.”

Bị đơn đề nghị Tòa bác yêu cầu thanh toán nợ của bà H và có yêu cầu phản tố đề nghị:

Bà T là người viết bản thanh lý hợp đồng, đồng thời viết bản cam kết ngày

Trang 14

30/6/2015: “Bà T sẽ chịu trách nhiệm thanh toán cho bà H các khoản vay của ông H cho bà H”

Trong hợp đồng mua bán cổ phần ngày 15/10/2014 tại điều 5.7 ghi rõ:

“Bà T chịu trách nhiệm toàn bộ khoản vay nợ” Vì vậy ông H mới ký hợp đồng mua bán ngày 15/10/2014 và hợp đồng này đã được hoàn tất

Vì thế, bị đơn yêu cầu bà T trực tiếp thanh toán khoản vay của ông H cho

bà H Trường hợp bà T không thực hiện thì bà T phải trả tiền cho ông H theo hợp đồng để ông H lấy tiền trả cho bà H

* Bà Nguyễn Thị T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cho biết :

Bà từng là Giám đốc của Công ty P và có chuyển nhượng cổ phần cho

ông Đường Đức H Ông Đường Đức H có vay nợ của bà Nguyễn Minh H số tiền là 14.350.000.000 đồng Việc vay và nhận tiền của ông H đều có Hợp đồng vay và giấy biên nhận tiền do ông H lập Bà là người đứng ra nhận tiền lãi vay

của ông H và chuyển cho bà H

Ngày 30/6/2015, bà T ký biên bản thanh lý nợ của bà H không có giấy ủy quyền của bà H Ngày 07/7/2015, bà T tham gia ký Biên bản thanh lý tại Ngân hàng V (địa chỉ 31-33 Ngô Q, quận H, thành phố H) cũng rơi vào tình trạng như ở “Văn bản thỏa thuận” ngày 30/6/2015 như ở trên

* Bà Nguyễn Minh H cung cấp tại Tòa án các nội dung sau :

Về mối quan hệ giữa bà H với bà T: bà H cho biết bà và bà T là hai chị

em ruột

Về nội dung liên quan đến vụ án: Bà H xác nhận bà là người trực tiếp ký đơn khởi kiện và nộp đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2017 tại Tòa án nhân dân quận T nội dung: “ Bà Nguyễn Minh H khởi kiện Công ty Cổ phần tập đoàn Đ

- Đại diện theo pháp luật ông Đường Đức H yêu cầu trả lại số tiền 14.350.000.000 đồng (tương đương với 700.000USD) theo Hợp đồng vay vốn ngày 08/11/2010 ký giữa bà H và

Công ty ĐC và 02 Giấy vay tiền ngày 08/11/2010, 12/11/2010”

Bà H xác nhận chữ kýcủa bà tại các tài liệu khác kèm theo đơn khởi kiện

Bà H xác nhận bà đã ký Giấy ủy quyền ngày 30/5/2017 ủy quyền cho ông Lê Minh T, sinh năm 1977, được công chứng tại Văn phòng công chứng T,

14

Ngày đăng: 07/07/2020, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w