1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập lớn luật dân sự học kì

26 7K 127

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Phần thứ nhất:Câu 1: Trên cơ sở các quy định của BLDS 2005, anhchị cho biết hướng của Toà phúc thẩm như nêu trên có cơ sở không? Vì sao? Trên cở sở các quy định của BLDS 2005, căn cứ vào Điều 645, BLDS 2005 về Thời hiệu khởi kiện về thừa kế:“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Theo đó, cụ Chừng mất vào ngày 122005 mà vào đầu năm 2016 thì một trong những người thừa kế của cụ Chừng mới yêu cầu Toà án chia di sản thì đã quá thời hiệu (kể cả đối với bất động sản và động sản). Do vậy, hướng giải quyết của Toà phúc thẩm là hợp l‎ý. Câu 2: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi yêu cầu chia di sản trên (là động sản) được tiến hành sau ngày 112017 và phải áp dụng BLDS 2015 để giải quyết? Vì sao? Trên cơ sở BLDS 2015, căn cứ vào Khoản 1, Điều 623, BLDS 2015 quy định về Thời hiệu thừa kế: “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.” Theo đó, khi yêu cầu chia di sản trên (là động sản) được tiến hành sau ngày 112017 thì câu trả lời cho câu hỏi trên không khác. Vì tính từ thời điểm mở thừa kế (122005) đến ngày yêu cầu chia di sản (112017) đã quá 10 năm nên đã hết thời hiệu. Do vậy, hướng giải quyết của Toà phúc thẩm là hợp l‎ý.

Trang 1

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ



I Phần thứ nhất:

Câu 1: Trên cơ sở các quy định của BLDS 2005, anh/chị cho biết hướng của Toà phúc thẩm

như nêu trên có cơ sở không? Vì sao?

- Trên cở sở các quy định của BLDS 2005, căn cứ vào Điều 645, BLDS 2005 về Thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình

hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

- Theo đó, cụ Chừng mất vào ngày 1/2/2005 mà vào đầu năm 2016 thì một trong những người thừa kế của cụ Chừng mới yêu cầu Toà án chia di sản thì đã quá thời hiệu (kể cả đối với bất động sản và động sản) Do vậy, hướng giải quyết của Toà phúc thẩm là hợp lý

Câu 2: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi yêu cầu chia di sản trên (là động sản)

được tiến hành sau ngày 1/1/2017 và phải áp dụng BLDS 2015 để giải quyết? Vì sao?

- Trên cơ sở BLDS 2015, căn cứ vào Khoản 1, Điều 623, BLDS 2015 quy định về Thời hiệu thừa kế:

“1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối

với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.”

- Theo đó, khi yêu cầu chia di sản trên (là động sản) được tiến hành sau ngày 1/1/2017 thì câu trả lời cho câu hỏi trên không khác Vì tính từ thời điểm mở thừa kế (1/2/2005) đến ngày yêu cầu chia di sản (1/1/2017) đã quá 10 năm nên đã hết thời hiệu Do vậy, hướng giải quyết của Toà phúc thẩm là hợp lý

II Phần thứ hai:

* Trường hợp đại diện hợp lệ:

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về người đại diện.

Trang 2

- Đại diện tại Điều 134, BLDS 2015 và Điều 139, BLDS 2005:

+ Quy định rõ ràng bên đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân:

Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

+ Bãi bỏ cụm từ “chủ thể khác” theo đúng phạm vi điều chỉnh mà ban đầu BLDS 2015 đã đặt ra: Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện GDDS thông qua người đại diện

+ Quy định lại nội dung sau: Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện

- Tách riêng quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 136, 137, BLDS 2015 – Điều 141, BLDS 2005):

+ Đại diện theo pháp luật của cá nhân:

 Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

 Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định

 Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định trên

 Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

+ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

 Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ

 Người có thẩm quyền đại diện theo quy định pháp luật

 Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án

Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định về thời hạn đại diện và phạm vi đại diện

- Đại diện theo ủy quyền (Điều 138, BLDS 2015 – Điều 142, BLDS 2005):

Thêm quy định sau bên cạnh các quy định đã được nêu tại BLDS 2005:

Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa

Trang 3

liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tưcách pháp nhân.

- Phạm vi đại diện (Điều 141, BLDS 2015 – Điều 144, BLDS 2005) BLDS 2015 quy định thêm một nội dung mới:

+ Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện GDDS với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

+ Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình

- Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện (Điều 142,BLDS 2015 – Điều 145, BLDS 2005): Thêm điều khoản loại trừ đối với trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa

vụ đối với người được đại diện (tại Khoản 1, Điều 142, BDLS 2015)

- Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện (Điều 143, BLDS 2015 – Điều 146, BLDS 2005):

+ Thêm điều khoản loại trừ trong trường hợp GDDS do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện (Khoản 1, Điều 143, BLDS 2015) + Thêm quy định tại Khoản 2, Điều 143, BLDS 2015

Câu 2: Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập

Trang 4

diện cho Công ty kim khí Hưng Yên kí kết hợp đồng mua bán phôi thép số

01/HĐPT/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel”

Câu 3: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

- Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm với Vinausteel

- Vì ông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết xin chịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhận trách nhiệm trả cho Công ty và các bên thứ ba tất cả các khoản nợ và bồi thường thiệt hại phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng mà ông Mạnh đã kí hoặc từ các giao dịch, hợp đồng của Công ty được kí kết trước đó Tuy nhiên, Công ty Vinausteel không tham gia kí kết, không đồng ý nên không thuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 315 Bộ luật dân sự năm 2005

Câu 4: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm liên

quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)

Hướng giải quyết của Toà giám đốc thẩm là thuyết phục Mặc dù ông Mạnh được uỷ quyền

kí hợp đồng với Vinausteel, nhưng khi Công ty Hưng Yên không giao đủ hàng cho Vinausteel thì không thể ông Mạnh chịu trách nhiệm hoàn toàn được Vì đó là trách nhiệm của toàn bộ công ty Hưng Yên mà ông Mạnh cũng thực hiện giao dịch trong phạm vi cho phép của mình, không hề vượt quá phạm vi Nhưng đó là đối với Vinausteel, còn đối với nội bộ công ty Hưng Yên thì ông Mạnh lại phải chịu trách nhiệm Theo Khoản 3, Điều 16, Luật Doanh Nghiệp 2014

quy định: “Người đại diện theo uỷ quyền chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, thành viên, cổ

đông uy quyền do phạm vi các nghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông

uỷ quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền

và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện uỷ quyền”.

Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

Theo Hội đồng thẩm phán, Công ty Hưng Yên có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hại cho Vinausteel

Trang 5

Câu 6: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm liên

quan đến Hưng Yên nêu trên.

- Hướng giải quyết của Toà giám đốc thẩm là thuyết phục

- Bởi lẽ ông Mạnh đã thực hiện đúng thẩm quyền trong phạm vi cho phép của mình Căn cứ vào Khoản 1, Điều 143, BLDS 2015 về Người đại diện theo uỷ quyền Mặt khác tại Khoản 3,

Điều 16, Luật Doanh Nghiệp cũng quy định: “Người đại diện theo uỷ quyền chịu trách nhiệm

trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông uy quyền do phạm vi các nghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông uỷ quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện uỷ quyền”

Như vậy việc công ty Hưng Yên phải chịu trách nhiệm với Vinausteel là thoả đáng

Câu 7: Nêu ông Mạnh là người đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có

thoả thuận trọng tài thì thoả thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều

lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh

từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Toà án (trả lời trên cơ

- Điều 19, Luật Trọng tài thương mại 2010 chỉ rõ “thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với

hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài” Tức là dù thỏa thuận trọng tài được thể

hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài thực chất là hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính

- Khoản 2, Điều 435, BLDS 2005 quy định:

Trang 6

“2 Trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong

các quyền sau:

a Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;

b Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;

c Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

- Khoản 2, Điều 437, BLDS 2015 quy định:

“2 Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các

quyền sau đây:

a Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;

b Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;

c Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”.

* Trường hợp đại diện không hợp lệ:

Câu 8: Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng

không được Vinaconex uỷ quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?

Trong Quyết định số 10, đoạn cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex uỷ quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập):

“Theo tài liệu do Công ty xây dựng số II Nghệ An xuất trình thì ngày 26/3/2001, Công ty xây dựng số II có Công văn số 263 CV/XD2.TCKT quy định về việc vay vốn tín dụng của các đơn

vị trực thuộc và ngày 06/4/2001, Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số

064CV/XDII.TCKT gửi Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong đó có nội dung “đềnghị Ngân hàng Công thương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001 ” và “Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ An ban hành trướcngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn ký Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền”

Trang 7

Câu 9: Trong vụ việc trên, theo Toà giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân

Câu 10: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm (nhất

là trong mối quan hệ với các điều 92, 144 và 145 BLDS).

- Mối quan hệ với Điều 92, BLDS 2005:

+ Khoản 3, Điều 92, BLDS 2005: Xí nghiệp số 4 là đơn vị trực thuộc của Công ty xây dựng số

II Nghệ An Vì vậy, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân nên việc Xí nghiệp 4 mà đại diện là ông Tâm – Giám đốc Xí nghiệp kí Hợp đồng với Ngân hàng với mục đích mua để đầu tư mua máy móc thiết bị nâng cao năng lực thi công là hợp lí + Khoản 5, Điều 92, BLDS 2005 thì Công ty xây dựng số II có các quyền , nghĩa vụ phát sinh

từ giao dịch dân sự do chi hánh xác lập, thực hiện tức là có quyền quyết định cho chi nhánh số 4vay hoặc không vay nhưng trong bản ánthì Công ty xây dựng số II Nghệ An đã có quyết định số02/QĐ-CT ngày 9/2/2001 vè việc phê duyệt dự án và đề nghị của Xí nghiệp số 4 Tiếp đến ngày25/2/2001, Tổng Công ty xây dựng số II Nghệ An có văn bản số 23 CV/TCT thông báo cho chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An biết việc công ty đồng ý cho Xí nghiệp xây dựng 4 trực tiếp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An nên Công ty xây dựng số II phải chịu trách nhiệm là hợp lí

- Mối quan hệ với Điều 144, BLDS 2005 thì ông Tâm là người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch vì lợi ích của công ty để nâng cấp năng lực thi công nên hướng giải quyết của Tòa là hợp lí

- Mối quan hệ với Điều 145, BLDS 2005 thì ông Tâm là người đại diện không hợp lệ nhưng trong quá trình vay vốn thì đã được sự đồng ý của công ty xây dựng số II Bản án cũng không đưa ra rõ ông tâm có nhận được công văn phản đối của ông Thuận hay không nhưng ngày

Trang 8

14/5/2001 ngân hàng kí hợp đồng tín dụng cho xí nghiệp 4 vay tiền, thời điểm này ông Tâm là đại diện không hợp lệ Nhưng xét 3 trường hợp:

+ Trường hợp 1: Nếu ông Tâm và ngân hàng đều không nhận được công văn phản đối thì quyết định của Tòa là hợp lí

+ Trường hợp 2: Nếu xét ông Tâm là người nhận được công văn phản đối từ cấp trên nhưng vẫn kí hợp đồng với ngân hàng mà ngân hàng không biết thì ông Tâm và ông Toản phải chịu trách nhiệm

+ Trường hợp 3: Nếu cả 2 bên cùng biết về công văn phản đối mà vẫn xác lập thì đại diện chi nhánh số 4 và ngân hàng liên đới giải quyết

Câu 11: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản

đối hợp đồng (yêu cầu huy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào? Vì sao?

Nếu hoàn cảnh tương tự như trong quyết định số 10 nhưng phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì căn

cứ vào Điều 145, BLDS 2005 xét 2 trường hợp:

- Trường hợp 1: Nếu công ty Vinaconex đồng ý hoặc biết mà không phản đối hợp đồng thì giao dịch do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của Vinaconex

- Trường hợp 2: Nếu công ty Vinaconex không đồng ý hợp đồng thì giao dịch do người đại diệnVinaconex không có quyền đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của Vinaconex và người đại diện đó phải có nghĩa vụ bồi thường cho Ngân hàng

Câu 12: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi áp dụng BLDS 2015?

- Câu trả lời trên không khác khi áp dụng BLDS 2015

- Căn cứ vào Điều 142, BLDS 2015, xét hai trường hợp:

+ Nếu công ty Vinaconex đã công nhận giao dịch hoặc biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc

Trang 9

người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện thì công ty Vinaconex phải chịu trách nhiệm và bồi thường cho Ngân hàng.

+ Nếu công ty Vinaconẽ không công nhận hoặc phản đối giao dịch thì người đại diện của Vinaconex mà không có quyền đại diện phải có trách nhiệm bồi thường cho Ngân hàng

III Phần thứ ba:

* Hình thức sở hữu tài sản:

Câu 1: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với

bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?

- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm

- Đoạn của Quyết định số 377 cho câu trả lời:

“Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ôngLưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không

có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu

có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”

Câu 2: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của

ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà

- Đoạn của Quyết định 377 cho câu trả lời:

“Còn bà Thẩm cho căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101 m2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”

Trang 10

Câu 3: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông

Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng của ông Lưu

- Đoạn của Quyết định 377 cho câu trả lời:

“Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu

đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”

Câu 4: Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

- Theo nhóm em thì giải quyết của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao là chưa hoàn toàn hợp lí

- Căn cứ vào Khoản 1, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt

động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.

Theo đó, căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản mà ông Lưu hình thành trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm, do đó căn nhà đó là tài sản chung của ông Lưu và bà Thẩm

- Căn cứ theo Khoản 2 và 3, Điều 219, BLDS 2005 quy định về Sở hữu chung của vợ chồng:

“2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người;

có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Theo đó, ông Lưu và bà Thẩm có quyền ngang nhau đối với căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt

Do vậy, ông Lưu không có quyền định đoạt toàn bộ căn nhà

Trang 11

Câu 5: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc

định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.

- Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu không thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này

- Căn cứ theo Khoản 2 và 3, Điều 219, BLDS 2005 quy định về Sở hữu chung của vợ chồng:

“2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người;

có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

* Thời điểm mở thừa kế và diện thừa kế:

Câu 6: Ông Lưu chết vào thời điểm nào? Đến thời điểm nào thì hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu

chia di sản của ông Lưu? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.

- Ông Lưu chết vào năm 2003

- Di sản của ông Lưu là một căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt (bất động sản), do đó:

+ Nếu áp dụng quy định của Điều 645, BLDS 2005:

“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình

hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Theo đó, đến năm 2013 thì hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông Lưu

+ Nếu áp dụng quy định của Khoản 1, Điều 623, BLDS 2015:

“1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối

với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Theo đó, đến năm 2033 thì hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông Lưu

Câu 7: Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không ? Vì

sao?

- Bà Thẩm và chị Hương thuộc hàng thừa kế của ông Lưu Vì bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu và chị Hương là con đẻ của ông Lưu nên căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 676, BLDS

Trang 12

2005 quy định về Hàng thừa kế theo pháp luật thì họ là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu.

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

- Bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu Vì bà Xê không là vợ hợp pháp của ông Lưu, do vậy, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 676, BLDS 2005 thì bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

Câu 8: Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có

khác không? Vì sao?

- Nếu ông Lưu và bà Xê kết hôn năm 1976 thì câu trả lời trên có khác, bà Xê được hưởng thừa

kế và thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

- Vì căn cứ vào Điểm a, Khoản 4, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định Về ngườithừa kế theo pháp luật:

“a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật

Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977- ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không

bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.”

Theo đó, bà Xê và ông Lưu sống với nhau vào cuối năm 1976, hai người sống ở miền Nam (Tiền Giang) cho nên đã thuộc trường hợp của Điểm a, Khoản 4 của Nghị quyết này Do vậy, ông Lưu và bà Xê là vợ chồng hợp pháp, được hưởng thừa kế của nhau và bà Xê thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

Câu 9: Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?

Trang 13

- Căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 676, BLDS 2005 về Hàng thừa kế theo pháp luật:

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Theo đó, chị Hương là con đẻ của ông Lưu nên chị Hương thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu Do vậy, chị Hương được chia di sản của ông Lưu

Câu 10: Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài

sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời.

- Theo pháp luật hiện hành, người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại khi: Người thừa kế là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

- Căn cứ vào Điều 635, BLDS 2005 về Người thừa kế:

“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và

còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

Câu 11: Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của

ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?

- Tại quyết định số 08, những người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu đất tranh chấp sau khi ông Hà chết 12/5/2008

- Bởi vì, sau khi người để lại di sản di sản chết thì người thừa kế có quyền và nghĩa vụ đối với

di sản đó theo quy định tại Điều 635, BLDS 2005 về Người thừa kế

* Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

Câu 12: Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản

của ông Lưu cho bà Xê?

Ngày đăng: 06/11/2016, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w