1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN GIÁO DỤC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

132 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục tập trung nghiên cứu về phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới. Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị cho các bạn làm luận văn về chuyên ngành giáo dục.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ THỊ XUÂN LIÊN

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN DÂN TỘC K’HO XÃ TÀ NUNG, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ THỊ XUÂN LIÊN

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN DÂN TỘC K’HO XÃ TÀ NUNG, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS KHÚC NĂNG TOÀN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

TS Khúc Năng Toàn - Nhà khoa học, người thầy mẫu mực, tâm huyết luôn cảmthông, chia sẻ những khó khăn của học trò, khích lệ, động viên, nhiệt tình hướng dẫn cho

em trong quá trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

Ủy ban nhân dân cùng các cơ quan, ban, ngành, thanh niên dân tộc K’Ho xã TàNung, cùng các cơ quan, ban, ngành, đoàn trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

đã tạo những điều kiện, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp luôn nhiệt tâm ủng hộ tôi trong suốt chặng đường

đã qua

Tác giả luận văn

Lê Thị Xuân Liên

Trang 6

Biểu đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho91Biểu đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho91

xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 91

xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 91

* Đối với lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt 99

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày càng phát triển thì quyền con người càng được coi trọng hơn bao giờhết Mục tiêu, chuẩn mực cơ bản và trực tiếp mà xã hội chúng ta hướng đến là xâydựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Thế giới cũng đã chứng minhphát triển con người là tiêu chuẩn cao nhất của sự phát triển xã hội bởi vì tất cả sự pháttriển (phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội đều nhằm thỏa mãn nhu cầu củacon người, phục vụ nhu cầu của con người) hay nói cách khác con người là trung tâmcủa sự phát triển Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại sự công bằng, bình đẳngcho cả nam và nữ về mọi mặt (cơ hội cống hiến và hưởng lợi)

Bình đẳng giới (BĐG) cũng là một trong 8 mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷđược 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất trí phấn đấu đạt được vào năm 2015(Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ), nó được ghi trong bảnTuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷdiễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9 năm 2010 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc

ở New York, Mỹ Mặt khác, bình đẳng giới là một vấn đề quan trọng không chỉ vì đó

là mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà đó còn là yếu tố thiết yếu để đạt các mục tiêuphát triển khác nhằm phát triển bền vững

Trong những năm qua, nhận thấy được vai trò quan trọng của bình đẳng giữanam và nữ đối với sự phát triển bền vững của xã hội, vấn đề BĐG được Đảng và nhànước quan tâm đặc biệt Đã có nhiều chủ trương chính sách thúc đẩy bình đẳng nam

nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và phát huy vai trò của phụ nữ Tiêu biểu trong số đó là sự

ra đời của Luật luật chống bạo hành phụ nữ, đặc biệt là luật bình đẳng giới đuợc thôngqua trong Kì họp thứ 10, Quốc hội khóa 11 (21/11/2006) Cùng với sự nỗ lực của cácban ngành, đoàn thể và người dân thì nước ta đã có những bước tiến ngoạn mục vềthực hiện bình đẳng giới “Báo cáo phát triển con người, 2011” do UNDP (Chươngtrình Phát triển của Liên hợp quốc tại Việt Nam) công bố mới đây cho thấy, Việt Namxếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung bình trên thế giới, về chỉ sốphát triển con người (HDI-Human Development Index) nhưng lại xếp thứ 48 trên thếgiới về chỉ số bất bình đẳng giới (thứ hạng càng gần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao).Điều này chứng tỏ chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thực hiện bình

Trang 8

đẳng giới.

Tuy nhiên trên thực tế vấn đề BĐG ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Sự giảiphóng phụ nữ chưa đi vào sâu đuợc đời sống của mọi người Trong các gia đình ítnhiều vẫn tồn tại các hiện tượng bất bình đẳng giới như chưa ghi nhận đúng vai trò của

nữ giới, sự phân biệt đối xử nam nữ, bạo hành gia đình mà phần nhiều là bạo hành phụ

nữ, sự phân công lao động trong gia đình chưa hợp lý, nam giới vẫn được coi là trụ cộtgia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng.Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi làthiên chức của phụ nữ.v.v Điều này là một thiệt thòi lớn đối với mỗi giới nhất là vớiphụ nữ, vai trò và vị thế của họ chưa được coi trọng và chưa được đánh giá cao trong

xã hội, ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị của xãhội cũng như ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của từng gia đình.Đối với một số đồng bào dân tộc ít người thì sự phân biệt đối xử theo giới còn hàkhắc hơn và quan niệm về giới còn lạc hậu cũ kỹ hơn Nhất là đối với đồng bào dântộc thiểu số xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt Xã Tà Nung là một xã còn nhiều khó khăncủa thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, một tỉ lệ khá lớn nhân dân của xã là người dântộc K’Ho Với đặc điểm kinh tế nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, cơ hội tiếp cậnnhững nguồn thông tin mới còn hạn chế nên tư tưởng của người K’Ho đây còn rất lạchậu Tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng những sự biến đổi chậm chạp của ý thức xãhội, của các định kiến về giới vẫn bám rễ lâu đời trong các tầng lớp dân cư nên tìnhtrạng bất bình đẳng giới ở nơi đây vẫn diễn ra phổ biến

Đã có không ít các công trình nghiên cứu về BĐG ở các góc độ khác nhau như

xã hội học, giáo dục học, công tác xã hội…trên các loại khách thể khác nhau Tuynhiên nghiên cứu trên khách thể là thanh niên người dân tộc thiểu số K’Ho thì hầu nhưcòn ít được quan tâm, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào về phối hợp các lực lượng cộngđồng (LLCĐ) trong giáo BĐG giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” với mong muốn đưa ra những biện pháp góp

phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân tộc K’Ho nơi đây

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng giáo dục bình đẳng giới cho thanh

Trang 9

niên dân tộc K’Ho đang cư trú trên địa bàn xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng, đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bìnhđẳng giới cho nhóm đối tượng này, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa cộng đồng dân tộc K’Ho nói chung trên địa bàn nghiên cứu.

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanhniên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

3.2 Khách thể nghiên cứu:

Giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc thiểu số

4 Giả thuyết khoa học

4.1 Mặc dù đã được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp ủy Đảng và chínhquyền địa phương Tuy nhiên, công tác giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộcK’Ho tại xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vẫn còn nhiều bất cập

4.2 Các lực lượng cộng đồng đã tham gia tích cực trong công tác giáo dục nângcao nhận thức về bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho tại địa phương này Tuynhiên, do những bất cập trong sự phối hợp giữa các lực lượng, nên hiệu quả giáo dụcbình đẳng giới cho cộng đồng thanh niên dân tộc này còn nhiều hạn chế

4.3 Nếu có những biện pháp phối hợp hiệu quả các lực lượng cộng đồng có thểnâng cao hiệu quả giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho trên địa bàn

xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về bình đẳng giới, giáo dục bình đẳng giới và phốihợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộcK’Ho

5.2 Khảo sát thực trạng bình đẳng giới, giáo dục bình đẳng giới và phối hợp cáclực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã TàNung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

5.3 Đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bìnhđẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng

Trang 10

5.4 Khảo nghiệm các biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dụcbình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng.

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Có nhiều vấn đề liên quan đến giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộcthiểu số Đề tài này chỉ tập chung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phối hợp cáclực lượng cộng đồng trọng công tác giáo dục này,

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu:

Do những hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, đề tài được tiến hànhtrên150 thanh niên người dân tộc K’Ho tại xã Tà Nung và 50 người là cán bộ Đảng,chính quyền, các hiệp hội (Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội người cao tuổi) và đoàn thể(Đoàn thanh niên) trên địa bàn xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Sưu tầm, nghiên cứu, phân tích,

tổng hợp, khái quát hóa hệ thống các văn bản tài liệu, sách báo, tạp chí, các công trìnhliên quan đến hoạt động giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng dân tộc thiểu số Tìmhiểu những quy định, văn bản pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, những báo cáo,đánh giá của địa phương về công tác giáo dục bình đẳng giới trên địa bàn…

- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dục bình đẳng giới tại địa

phương; Quan sát các hoạt động trong gia đình nhằm tìm hiểu thực trạng phân công laođộng theo giới, sự tiếp cận các nguồn và lợi ích của mỗi giới; Quan sát thái độ tham giacủa người dân và cán bộ địa phương trong các hoạt động giáo dục bình đẳng giới…

- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với cán bộ địa phương để tìm hiểu về các

hoạt động của giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng và nhận thức của họ về vấn đềnày; trao đổi với nam giới và phụ nữ trong gia đình để tìm hiểu thực trạng bất bìnhđẳng giới trong gia đình và trên địa bàn; Trao đổi với người dân để thu thập, tìm hiểunhững thông tin liên quan khác…

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành trưng cầu ý kiến của cán bộ và

người dân địa phương bằng bảng hỏi để khảo sát thực trạng bình đẳng giới và thực

Trang 11

trạng hoạt động giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng trên địa bàn; Dùng bảng hỏi đểkhảo sát những biện pháp nhằm nâng cao hoạt động này trên địa bàn…

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lý số liệu

điều tra đảm bảo tính chính xác, khoa học nhằm nâng cao tính khách quan của đề tàinghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị,danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:

Chương 1 Lí luận về Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng

giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Chương 2 Thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình

đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Chương 3 Biện pháp Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng

giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Trang 12

Chương 1

LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG

TRONG GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO THANH NIÊN DÂN TỘC K’HO

Trên thế giới, nhiều văn bản quốc tế quan trọng trong việc giải quyết vấn đề giới

và bạo lực trên cơ sở giới đã ra đời Một trong số đó là “Tuyên bố Xoá bỏ bạo lực đốivới phụ nữ” [dẫn theo 10] được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993.Rất nhiều nỗ lực cải cách luật pháp đã được thực hiện trên thế giới để giải quyết vấn

đề bất BĐG Cụ thể là đã có rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã sửa

đổi hoặc ban hành những quy định pháp luật về BĐG và bạo lực đối với phụ nữ Ở

Châu Mỹ, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật pháp về BĐG và chống bạolực đối với phụ nữ, phần lớn trong giai đoạn 2000-2012 Puerto Rico là quốc gia đầutiên ban hành luật phòng chống bạo lực đối với phụ nữ bằng việc thông qua đạo luậtPhòng chống và can thiệp đối với bạo lực gia đình năm 1989 Ở Châu Âu, trong số 17quốc gia và vùng lãnh thổ có luật pháp về BĐG và phòng chống bạo lực đối với phụ

nữ, Ukraine là quốc gia đầu tiên ban hành Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm

2001 Tây Ban Nha có Luật về Các biện pháp bảo vệ chống lại bạo lực giới năm 2004.Châu Á có 23 quốc gia đã xây dựng và ban hành luật pháp phòng chống bạo lực đốivới phụ nữ, chủ yếu trong giai đoạn 1994-2012 và Malaysia là quốc gia đầu tiên banhành Luật Bạo lực gia đình năm 1994 Châu Phi có 10 quốc gia và Châu Đại Dương

có 1 quốc gia đã ban hành luật BĐG về chống bạo lực đối với phụ nữ Năm 2011,Quốc hội Zambia đã thông qua Luật Chống bạo lực trên cơ sở giới sau những đề xuất

về luật pháp nhằm giải quyết vấn đề giới và bạo lực trên cơ sở giới

Trang 13

Mặc dù nhiều quốc gia đã phê chuẩn và ký các công ước của Liên hợp quốc vềxây dựng và thực hiện luật về bạo lực đối với phụ nữ nhưng các bộ luật này dường nhưvẫn còn hạn chế về nội dung và việc thực thi vì quyền và lợi ích hợp pháp và cơ bảncủa người phụ nữ

Trong tác phẩm: "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước"(Engels, 1884), tác giả đã mô tả sự phân công lao động theo giới gắn liền với các kiểuhôn nhân và gia đình, các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau Trong đó sự bấtBĐG về phân công lao động được đề cập dù chưa rõ nét

Tác phẩm "Giới tính thứ hai" (Simone De Beauvoir, 1949) đã giải thích cácnguyên nhân dẫn đến "địa vị hạng hai" của phụ nữ và lên tiếng đấu tranh nhằm xóa bỏtình trạng bất bình đẳng nam - nữ trên thế giới

Với tác phẩm "Sự huyền bí của nữ tính" (Betty Friedan, 1963) đã chỉ ra sự khốnkhổ và thất vọng của người phụ nữ nội trợ khi họ bị phụ thuộc vào nam giới Từ sựkhốn khổ đó họ bắt đầu tìm cách để độc lập mà không còn phụ thuộc nữa Còn trongtác phẩm "Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế "( Boserup, 1970) đã xác địnhmột cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới sự phân công lao động theo giới trong cácnền kinh tế nông nghiệp

Những nghiên cứu và các văn bản trên thể hiện sự quan tâm của thế giới tới phụ

nữ và khẳng định vai trò của BĐG trong xã hội, là cơ sở quan trọng để tác giả thamkhảo, nghiên cứu lý luận, xây dựng các khái niệm liên quan về BĐG , giáo dục BĐG

và đề xuất các biện pháp giáo dục BĐG trên địa bàn

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ngay từ những ngày đầu cách mạng đã quan tâm tới vấn đềnày, coi việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện “nam nữ bìnhquyền” là một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp các mạng Điều

đó được thể hiện bằng các văn kỉện của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong hệ thống phápluật và chính sách của Nhà nước ta

Hiện nay, với tâm huyết của các nhà khoa học trong nước cùng với sự hỗ trợ củacác tổ chức quốc tế, một số lý luận và thực tiễn nghiên cứu vấn đề giới- BĐG đã

Trang 14

nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp, đúng đắn Trong những năm gần đây, việcnghiên cứu vấn đề giới đã được triển khai rộng rãi và đồng bộ Đã có rất nhiều cơ sở,các trung tâm, các khoa, bộ môn thuộc chính phủ và phi chính phủ nghiên cứu vàgiảng dạy khoa học về giới.

Đấu tranh cho mục tiêu BĐG bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa học vàthực tiễn mang tính toàn cầu Tuy vậy, nghiên cứu khoa học về giới và BĐG được

“phổ biến” vào Việt Nam và chính thức trở thành một chuyên ngành khoa học chỉtrong khoảng hơn 30 năm trở lại đây (Nhiều nhà khoa học coi sự kiện thành lập trungtâm nghiên cứu phụ nữ, nay là viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, thuộc viện Khoa học

xã hội Việt Nam vào năm 1987 như là cột mốc của sự ra đời và phát triển của khoa họcnày) Các công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức đã góp phần luận giải nhiềuvấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội,thực hiện BĐG trong gia đình

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

- Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, “Phụ nữ - giới và phát triển”, Nxb Phụ nữ,

Hà Nội, (1996) [2] Tác giả cuốn sách đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên mối quan

hệ giữa phụ nữ - giới và phát triển Phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mớikinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn chuyên môn; phụ

nữ quản lý kinh tế - xã hội; phụ nữ và gia đình; chính sách xã hội đối với phụ nữ và ảnhhưởng của chính sách xã hội đối với phụ nữ và thực hiện BĐG

- Lê Thi“Phụ nữ và BĐG trong đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội,

(1998) [28] Công trình khoa học này chính là kết quả bước đầu của sự vận dụng quanđiểm của Đảng và Nhà nước, cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét cácvấn đề có liên quan đến BĐG , kết hợp với các hình thức thu thập thông tin qua cáccuộc khảo sát đời sống phụ nữ công nhân, nông dân, trí thức trong quá trình đổi mớiđất nước Từ đó đã nêu lên những vấn đề đáng quan tâm và đề xuất ý kiến về một sốchính sách xã hội cần thiết, nhằm xây dựng sự BĐG trong tình hình mới

- Tác giả Lê Thi, “Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở

Việt Nam” [29]; Tiến sĩ Hoàng Bá Thịnh, “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn” [30] Các công trình này đã trình

bày lý luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế- xã hội, quan điểm của Hồ

Trang 15

Chí Minh, của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về vấn đề này trên quanđiểm và phương pháp tiếp cận giới, đặc biệt trong lao động và hưởng thụ, vấn đề xâydựng chính sách kinh tế- xã hội đáp ứng sự BĐG hiện nay.

Các tác giả Nguyễn Linh Khiếu “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình” [14], (2003); Trần Xuân Kỳ“Tài liệu chuyên khảo giới và phát triển” [17] Tác giả đã phân

tích làm sáng rõ vai trò của phụ nữ cũng như quan hệ giới trong gia đình thể hiện trêntất cả các lĩnh vực như kinh tế, tiếp cận nguồn lực, giáo dục và chăm sóc sức khỏe.Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh hơn đối với phụ nữ nông thôn miền núi, vị thế của họtrong gia đình cũng như những rào cản văn hóa đang cản trở quá trình phát triển của

họ Những kết luận mà tác giả khái quát cũng chính là những vấn đề đặt ra cho nhữngnhà khoa học cũng như những nhà hoạch định chính sách đối với vấn đề phụ nữ - giới

và gia đình

- Nguyễn Thị Tuyết, “Vấn đề giới trong lãnh đạo và ra quyết định ở Việt Nam,

hiện trạng và giải pháp”[34] ; Lê Thị Nhâm Tuyết, “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” [33]; Nguyễn Đức Bạt, “Nâng cao năng lực lãnh đạo củ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” [4] Các công trình này đã trình bày khái quát, tổng hợp nhiều khía

cạnh của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau, từ thời nguyên thủyđến thời đại chống Mỹ và đề cập đến các vấn đề phụ nữ để hướng tới BĐG trong hệthống chính trị, đánh giá thực trạng BĐG , trong đó có những số liệu về phụ nữ tham giaquản lý, lãnh đạo xã hội

Phan Thanh Khôi Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên, (2007) “Những vấn đề giới

-từ lịch sử đến hiện đại” [16] Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học của Viện

Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học viện CTQG Hồ Chí Minh Các tác giả của công trình

đã nghiên cứu các vấn đề về giới từ tiếp cận trong các tác phẩm kinh điển của C.Mác,Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đến vấn đề giới trong đường lối, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trong một số phương tiệnthông tin đại chúng và trong sách giáo khoa Có thể nói, đây là một công trình đã đềcập đến tương đối đầy đủ những vấn đề về giới Đó cũng chính là căn cứ lý luận vàthực tiễn về thực trạng quan hệ giới ở nước ta hiện nay

- Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên), (2008),“BĐG ở Việt Nam”,

(Phân tích số liệu điều tra), Nxb KHXH, Hà Nội [3] Với mục tiêu chính là điều tra cơ

Trang 16

bản về BĐG , xác định thực trạng BĐG về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ

nữ và nam giới và tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục

- đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong gia đình, cộng đồng và xã hội

Đối với cộng đồng dân tộc thiểu số và vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu sốtrong gia đình và xã hội, chúng ta có thể kể đến một số công trình sau:

- Đỗ Thị Bình (2001), “Mấy vấn đề về vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện

nay (Nghiên cứu trường hợp các xã miền núi phía Bắc)” [6] Từ phân tích vai trò giới

trong gia đình dân tộc Thái, Mông, Dao, tác giả đã chỉ ra sự biến đổi vai trò giới tronggia đình ở đây theo cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực

- Đặng Thị Hoa (2001), “Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình và xã

hội (Nghiên cứu ở bản Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, Hòa Bình)”[8] Tác

giả phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ H’mông trong gia đình trước đây cũng như

hiện nay và kết luận: “Người phụ nữ H’mông là người phụ thuộc trong gia đình lại

càng trở nên bị cách biệt trong xã hội khi họ không có trình độ học vấn, ngôn ngữ phổ thông, không thể hòa nhập vào cộng đồng và càng không thể chủ động tham gia công tác xã hội Những ràng buộc về phong tục tập quán, thói quen trong suy nghĩ, cách làm của họ bị khép kín trong cộng đồng và chưa thể hòa nhập với nhịp độ phát triển của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay” [3].

- Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Khía cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn

miền núi (Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh, Văn Chấn, Yên Bái)” [13] Trong

khuôn khổ một cuộc khảo sát tiền dự án tại một xã nghèo miền núi phía Bắc, tác giả đãchỉ ra những thành tựu đã đạt được, những hạn chế cần phải khắc phục, cũng nhưnhững xu hướng vận động và phát triển trong tương lai của nông thôn miền núi phíaBắc Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay

- Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2007) “Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện

tại”[36], Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học(2008), Kỷ yếu khoa học “Vai trò của hệ

thống chính trị cơ sở với việc thực hiện BĐG ở vùng đồng bằng sông Hồng hiệnnay”… Các công trình nghiên cứu này đã nêu bật được quan điểm về giới và BĐGcủa các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac-Lênin,Hồ Chí Minh, đồng thời đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam qua các văn kiện và các văn bản pháp luật

Trang 17

Đặc biệt, các công trình còn nghiên cứu về vấn đề giới trên các phương tiện thông tinđại chúng,trên Internet và trong sách giáo khoa phổ thông các cấp

Trong những năm gần đây, giáo dục BĐG và phối hợp các LLCĐ trong giáo dụcBĐG là những vấn đề nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Những kết quảnghiên cứu về vấn đề này bước đầu đã được các nhà nghiên cứu công bố ở nhữngphạm vi khác nhau Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

như: Đề tài luận văn thạc sĩ “Giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng người dân tộc

thiểu số tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La” [10] của tác giả Dương Thị Huế năm 2016;

tài luận văn thạc sĩ “Giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng người dân tộc thiểu số tại

huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La” [27] của tác giả Vũ Đại Thanh năm 2017 Các công trình

nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lí luận về giáo dục BĐG cho cộng đồngngười DTTS; kháo sát đánh giá thực trạng vấn đề này tại đại bàn nghiên cứu, trên cơ

sở đó, đề xuất các biện pháp giáo dục BĐG cho các đối tượng là học sinh trung học cơ

sở và người dân trong cộng đồng

Qua tổng quan nghiên cứu vấn đề có thể rút ra một số nhận xét sau:

Các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã đề cập đến vấn đềgiới, vai trò của BĐG đối với sự phát triển xã hội nói chung, ở các lĩnh vực kinh tế,

văn hóa, xã hội, gia đình Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc

nghiên cứu BĐG , đã phác họa bức tranh đa dạng, nhiều màu sắc về địa vị người phụ

nữ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Qua đó tác động đến suy nghĩ, quanniệm, thái độ và hành vi của mọi người đối với gia đình và BĐG ở Việt Nam, do vậyđây là những tư liệu hết sức quý báu cho việc triển khai đi sâu nghiên cứu của tác giả Theo vốn hiểu biết của người nghiên cứu, cho đến nay vẫn còn ít công trình nàonghiên cứu về giáo dục BĐG cho cộng đồng DTTS, đặc biệt, chưa có công trình nào,

chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài “Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo

dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”.

Trang 18

1.2 Giới và bình đẳng giới

1.2.1 Khái niệm Giới

Giới là một khái niệm mới xuất hiện, mãi đến nửa đầu thế kỷ XX mới được sửdụng rộng rãi ở trong phong trào phụ nữ ở các nước phương Tây và vào nước ta nhữngnăm 1980 Cho đến nay, nhất là từ khi xuất hiện Luật BĐG , thuật ngữ giới đã trở nênkhá quen thuộc đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có

sự nhầm lẫn cách hiểu về giới, có sự lẫn lộn giữa “giới” và “giới tính” cũng như đánhđồng những khác biệt giữa nam và nữ về vai trò giới (do học mà có) với những khácbiệt về mặt sinh học (do di truyền mà có) Sự xuất hiện của khái niệm giới đã làm rõ sựkhác biệt giữa nam và nữ trên hai khía cạnh: sinh học (giới tính) và xã hội (giới)

Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữanam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xãhội quan niệm hay quy định cho nam và nữ

Có rất nhiều khái niệm về Giới xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau,sau đây là một số khái niệm cơ bản: “Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về cácvai trò, thái độ và giá trị của giới tính do kỳ vọng các cộng đồng xã hội gán cho; là sựkhác nhau giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội, mang tính xã hội, không đồng nhất,

có thể thay đổi được” [18, tr 12]

Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ

nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Hay nói cách khác, nói đến giới là nói đến

sự khác biệt của phụ nữ và nam giới về mặt xã hội [18]

Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà

xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đóthể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất vàtinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội

1.2.2 Khái niệm Bình đẳng giới

Theo Trần Xuân Kỳ - Tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển”: “BĐG là môi

trường lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, có các cơhội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự pháttriển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó”[17]

Trang 19

Trong cuốn Hỏi và đáp về Luật BĐG (2006) thì: “BĐG là việc nam, nữ có vị trí,vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sựphát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự pháttriển đó” [32].

BĐG có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và có cơ hội như nhau đểlàm việc và phát triển Nói BĐG không có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ

mà là đấu tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay,nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên người ta nói nhiều đếnviệc đòi quyền lợi cho phụ nữ BĐG trong gia đình là các thành viên trong gia đình có

sự bình đẳng với nhau Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được các thanhviên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia xẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từnhững công việc đó mang lại Vợ và chồng cần phải bình đẳng bàn bạc, quyết định vàthực hiện mọi công việc Đặc biệt việc nội trợ là hết sức vất vả, tiêu hao nhiều thờigian và sức lực, đo đó không chỉ người phụ nữ làm mà đòi hỏi phải có sự tham gia,chia sẻ của chồng và của các thành viên khác

Muốn đạt được BĐG thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữđược bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2.3 Ý nghĩa của bình đẳng giới trong xã hội

Bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của một xãhội, một đất nước, nó vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố nâng cao khả năngtham gia đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia.Quyền phụ nữ, quyền bình đẳng giới là một nội dung cơ bản của quyền con người, thểhiện giá trị nhân văn cao cả, đồng thời là những giá trị chính trị, pháp quyền đáng trântrọng Từ Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) đến các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992,sửa đổi, bổ sung năm 2001, bình đẳng nam, nữ luôn là một nguyên tắc kiến định xuyênsuốt trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của Việt Nam Bình đẳng giới được tất

cả các nước trên thế giới quan tâm Bình đẳng giới được nhìn nhận là một bộ phận quantrọng của định hướng phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những chỉ số được sửdụng để đánh giá mức độ phát triển của mỗi quốc gia

Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ khẳng định: Bất bình đẳng giới vừa làmột trong các nguyên nhân của tình trạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát

Trang 20

triển bền vững Các vấn đề bất bình đẳng giới cản trở tiến trình phát triển và cuối cùnggây tác động có hại tới tất cả các thành viên xã hội Xã hội nào có hiện tượng bất bìnhđẳng giới phổ biến, kéo dài sẽ phải trả giá qua tình trạng gia tăng nghèo đói, suy dinhdưỡng, bệnh tật và nhiều khó khăn khác Xã hội nào có mức độ bình đẳng giới càngcao thì tăng trưởng kinh tế càng phục vụ hiệu quả cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Do vậy mục tiêu bình đẳng giới vừa là một yếu tố đảm bảo quyền con người, vừa làđiều kiện thiết yếu cho mục tiêu phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững

Bất bình đẳng giới làm cản trở quá trình xóa đói giảm nghèo và sự phát triểnchung của xã hội Bất bình đẳng giới về những quyền cơ bản như: Được đến trường,được vay vốn, được tham gia các khóa đào tạo nâng cao kiến thưc làm ăn đã hạn chế

sự tham gia và đóng góp hiệu quả của nữ giới vào các hoạt động của đời sống cộngđồng gây thiệt thòi cho phụ nữ và trẻ em gái Điều này cũng đồng nghĩa với việc làmgiảm nguồn lực để đầu tư cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội Bìnhđẳng giới luôn là vấn đề hệ trọng đối với tiến bộ xã hội, vì phụ nữ là một nửa xã hội,giữ vai trò quan trọng đảm bảo sự sinh tồn của dân tộc Trong mọi chế độ xã hội,người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo của văn học, nghệ thuật, nền tảng củađời sống tinh thần gia đình, chủ thể hàng đầu trong xây dựng hạnh phúc, chăm sócchồng con, giúp đỡ cha mẹ khi tuổi già sức yếu Vì vậy, trong cuộc đấu tranh giảiphóng phụ nữ, vấn đề thực hiện bình đẳng giới giữa nam và nữ trên tất cả các mặtđược xem là nội dung cốt lõi để phát triển xã hội

Bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ là một yêu cầu khách quan của sựnghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với xu thế pháttriển của thời đại Trong thời kỳ đổi mới đất nước, chủ trương của Đảng về bình đẳnggiới, vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và phát huynăng lực đóng góp cho đất nước Theo đó, vị thế của người phụ nữ trong xã hội cũngnhư trong gia đình được nâng cao Bình đẳng giới được coi là một trong những thànhtựu nổi bật của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Việt Nam đã được UNDP - Chươngtrình Phát triển của Liên hợp quốc tại Việt Nam xếp thứ hạng cao trên thế giới về chỉ

số bình đẳng giới Nước ta đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thực hiện bìnhđẳng giới, tạo cho phụ nữ có nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc thời kỳ mới Khi phụ nữ có học vấn, học vị cao sẽ mở ra các cơ hội cho họ về

Trang 21

nhiều mặt, như việc làm, thu nhập, cơ hội tiếp cận về y tế, kế hoạch hóa gia đình, thamgia lĩnh vực chính trị và phát triển xã hội.

Theo báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới 2007, bình đẳng giới đem lại “lợi íchkép” có lợi cho phụ nữ và trẻ em và đóng vai trò then chốt đối với sức khỏe và sự pháttriển của gia đình, cộng đồng và quốc gia “Vấn đề bình đẳng giới và sự phát triển củatrẻ em gắn kết mật thiết với nhau”, Giám đốc Điều hành UNICEF, Bà Ann M.Veneman phát biểu “Khi vị thế của người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sốngđầy đủ và hữu ích, trẻ em và gia đình họ sẽ trở nên thịnh vượng” Sự tham gia của phụ

nữ vào những quyết định quan trọng sẽ cải thiện cuộc sống của chính họ và tạo ranhững ảnh hưởng tích cực đến sự tồn tại và phát triển của trẻ em Lợi ích của vấn đềbình đẳng giới vượt xa hơn nhiều những tác động trực tiếp của chúng tới trẻ em Báocáo Tình hình Trẻ em Thế giới 2007 chỉ ra việc khuyến khích bình đẳng giới và nângcao vị thế phụ nữ – Mục tiêu thiên niên kỷ thứ 3 – sẽ thúc đẩy những mục tiêu khác từgiảm đói nghèo đến cứu vớt sự sống còn của trẻ em, tăng cường sức khỏe sinh sản, bảođảm giáo dục phổ cập, phòng chống HIV/AIDS, bệnh sốt rét và các căn bệnh khác, vàbảo đảm sự bền vững về môi trường

Phụ nữ bình đẳng với nam giới không chỉ góp sức cho xã hội giàu mạnh, vănminh mà trong gia đình là ngọn nguồn của hạnh phúc, đã sản sinh và nuôi dưỡng thế

hệ trẻ tốt đẹp Bình đẳng nam nữ là nền tảng văn hoá của con người, của gia đình vàhạnh phúc Vai trò của phụ nữ được phát huy bình đẳng trong xã hội và trong gia đình,mang một ý nghĩa lớn đối với sự giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đìnhViệt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc Văn hoá gia đình là nền tảng của vănhoá xã hội, ở đó vai trò của người phụ nữ với chức năng sàng lọc và giữ gìn văn hoádân tộc mang ý nghĩa đặc biệt Để phụ nữ làm được chức năng quan trọng này với giađình và dân tộc, trước hết họ phải được bình đẳng để tiến bộ và theo kịp thời đại.Trong cuộc sống đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,Đảng và Nhà nước ta lấy dân làm gốc, lấy việc trồng người để mưu cầu lợi ích trămnăm Trồng người là sự nghiệp tạo dựng thế hệ công dân mới có đức, có tài, thể lực tốt

mà gia đình là cái nôi ban đầu và người mẹ đồng thời cũng là người thầy dạy con ngay

từ thời mới còn chập chững Người mẹ Việt Nam thời đại hôm nay đứng trước sứ mệnhsàng lọc và truyền nối để bảo vệ nền văn hoá dân tộc, trước tiên gia đình mình phải là

Trang 22

người có đức, có trí, có lực Họ phải được bình đẳng thì mới đạt được những chuẩn mựcmang nội dung thời đại để từ đó xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dưỡng con cái trởthành con người mới, công dân mới xã hội chủ nghĩa Trong gia đình, vợ chồng thươngyêu, tôn trọng lẫn nhau thì con cái mới được chăm sóc đầy đủ và cảm nhận được sự ấm

êm, hạnh phúc, luôn luôn là điển tựa cho con người vượt qua mọi thử thách

Bình đẳng giới cũng góp phần giảm tình trạng bạo lực gia đình bởi vì một phầnnguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực gia đình chính là do sự mất bình đẳng và nhậnthức kém về bình đẳng giới Nhận diện đúng, đủ về tệ nạn bạo lực gia đình để mọingười ý thức chấp hành tốt luật bình đẳng giới luôn là việc cần thiết cho từng mái ấmgia đình

Lịch sử phát triển xã hội cho thấy không thể có tiến bộ xã hội thật sự nếu vẫn cònmột bộ phận nào đó của xã hội bị đối xử bất công hoặc bị loại trừ Do vậy, nâng caobình đẳng giới đã trở thành một phần của chiến lược quốc gia về phát triển bền vững Vìthế có thể khẳng định bình đẳng giới có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội

Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốchội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnhđạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,

tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệmvào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức

(2) Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế

Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sảnxuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn

Trang 23

vốn, thị trường và nguồn lao động Cả nam và nữ đều có quyền tiếp cận và kiểm soátnguồn thu nhập của mình Có quyền được tham gia phân công lao động sản xuất kinh

tế phù hợp với điều kiện của mỗi giới

(3) Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳngtại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện laođộng và các điều kiện làm việc khác

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chứcdanh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh

(4) Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo

Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục,đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo condưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

(5) Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ

Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và côngnghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế

(6) Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồnthông tin

Trang 24

Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ cácđối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân sốđược hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

(8) Bình đẳng giới trong gia đình

Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liênquan đến hôn nhân và gia đình

Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳngtrong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực tronggia đình

Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sửdụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con

ốm theo quy định của pháp luật

Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau đểhọc tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

1.3 Giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho thông qua cộng đồng 1.3.1 Thanh niên và thanh niên dân tộc K’Ho.

1.3.1.1 Khái niệm thanh niên

Thanh niên là một khái niệm được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày vớinhều cách hiểu khác nhau Tùy theo từng trường hợp, có khi thanh niên dùng để chịmột con người cụ thể, có khi lại được dùng để chỉ tính cách, phong cách trẻ trung củamột người nào đó, có khi lại dùng để chỉ cả một lớp người trẻ tuổi

Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, tùy theo góc

độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra quan niệm khác nhau về thanh niên Vềmặt sinh học, thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người.Các nhà tâm lí học lại thường nhìn nhận thanh niên gắn với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác Từ góc độ xã hội học,thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa – thời kỳ kết thúc của tuổi thơphụ thuộc, chuyển sang xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cáchđầy đủ của một công dân, là một trong các chủ thể của các mối quan hệ xã hội Các nhà

Trang 25

kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng xã hội hùng hậu, lànguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất

Như vậy, mỗi ngành khoa học, tùy theo góc độ nghiên cứu của mình, đã nhấn mạnhkhía cạnh cá thể, sinh học hoặc nhấn mạnh tập thể, xã hội của khái niệm thanh niên

Về mặt xã hội, thanh niên là một bộ phận đông đảo trong dân cư, những ngườitrong độ tuổi thanh niên chiếm một tỉ lệ đáng kể trong dân cư Thanh niên là một nhómnhân khẩu – xã hội, nhưng là một nhóm nhân khẩu, xã hội đặc thù

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàmđược các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là mộtnhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắnvới mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội

Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyềnthống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khácnhau Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ

15 hoặc 16 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định

là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40 Nhưng xuhướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên

Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếudựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với cácnhóm lứa tuổi khác Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ

em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi

Ở Việt Nam, theo Luật Thanh niên “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ

mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [26.tr 1]

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sự dụng quan niệm: Thanh niên là

những người trong độ tuổi từ 16 đến 30, họ là những người trẻ tuổi đang dần bước làm quen, thâm nhập vào đời sống xã hội với tư cách là một thành viên thực thụ của cộng đồng xã hội.

Thanh niên DTTS là khái niệm dùng để chỉ những người trẻ tuổi (từ 16 đến 30tuổi) thuộc thành phần các dân tộc ít người của mỗi mỗi quốc gia Họ đang dần hòa

Trang 26

nhập với thực tiễn của sống, từng bước khẳng định giá trị bản thân, đóng góp vào quátrình phát triển của dân tộc mình nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung.

1.3.1.2 Thanh niên dân tộc K’Ho

Thanh niên dân tộc K’Ho mang những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên:

- Thanh niên là lực lượng có nhiều tiềm năng để phát triển, từ thể chất đến trí tuệ,luôn vươn tới cái mới, nhạy cảm và dễ thích ứng với đổi mới, có nhu cầu phong phú

về tinh thần, văn hóa tinh thần; cũng do đó, tuổi trẻ gắn liền với đức tin và niềm tin, dễphục thiện và noi gương những hình mẫu nhân cách mà họ ngưỡng mộ Không có cơhội nào tốt hơn, thuận lợi hơn như thanh niên để tiếp nhận giáo dục về trí tuệ và đạođức Do đặc điểm ấy, đến với thanh niên cần có lòng chân thành, sự tin cậy, tráchnhiệm và tình thương yêu với tinh thần của văn hóa khoan dung, của lòng nhân ái, vịtha Ứng xử với thanh niên phải luôn thấm nhuần các chuẩn mực: dân chủ, bình đẳng,công bằng Đó không chỉ là triết lý mà còn là tình cảm thể hiện các giá trị nhân bản,nhân đạo và nhân văn, chung đúc lại, đó là văn hóa Văn hóa trong ứng xử với thanhniên đòi hỏi không chỉ sự hiểu biết đối tượng đặc biệt nhạy cảm này mà còn là sự tinh

tế của phương pháp Ở đó có tất cả sức mạnh thuyết phục, lôi cuốn, thu hút, thúc đẩytuổi trẻ hướng tới Chân - Thiện - Mỹ

- Thanh niên rất nhạy cảm đối với thái độ hành vi ứng xử của những người xungquanh họ Thanh niên đang tự biểu hiện và tự khẳng định mình, đang bộc lộ cá tính đểdần định hình là một cá nhân mang nhân cách Cái tôi - cá thể có một bản ngã riêng,độc lập trong quá trình hình thành, có nhu cầu cao về lòng tự trọng và cần được ngườilớn tôn trọng Tuổi trẻ, do đó rất dễ phản ứng trực diện, bột phát với những sự áp đặt, độcđoán Tuổi trẻ là những người rất dễ bị tổn thương trước những đối xử bất công, khôngcông bằng trong đánh giá, trong xử thế Họ dễ tin và niềm tin của họ trong sáng, chânthành, hướng thiện, giàu cảm xúc Cũng vì vậy, khi niềm tin bị đổ vỡ là lúc những ngườitrẻ tuổi đau khổ, hoang mang, dễ mất phương hướng, có nguy cơ cao về khủng hoảng tinhthần Do chưa từng trải, chưa có đủ kinh nghiệm và vốn sống, khi trực tiếp chứng kiếnnhững gì xảy ra trong đời, trong quan hệ với con người trái ngược với những điều tốt đẹp

mà họ tin yêu, hy vọng… thì tuổi trẻ rất dễ đau khổ, thất vọng Trạng thái này ở họ thường

là cảm xúc mạnh hơn lý trí và thái độ, hành vi phản ứng trở lại của họ mạnh mẽ một cách

tự phát, trực tiếp, ít có khả năng kiềm chế Nhược điểm đó, thật ra cũng từ ưu điểm riêng

Trang 27

có ở lớp trẻ mà ra Đó là sự thành thật của cảm tính, của trực cảm Cùng với thời gian đểtrưởng thành, cuộc sống và sự từng trải sẽ mách bảo họ, dạy cho họ có khả năng kiềm chế

và điều chỉnh

- Trong bối cảnh mới của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; cùng với nó là sự pháttriển khoa học, cộng nghệ và hội nhập quốc, thanh niên đang đứng trước những thời cơthuận lợi với những triển vọng tốt đẹp Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với những khókhăn, thách thức, những nguy cơ phải vượt qua, không chỉ bằng đức tin và ý chí mà phảibằng trí tuệ, mưu lược, lòng dũng cảm và hành động sáng tạo

Bên cạnh những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên, thanh niên dân tộc K’Hocòn có những đặc điểm riêng:

- Trình độ nhận thức của một bộ phận không nhỏ thanh niên dân tộc K’Ho chưacao, thậm chí, nhận thức của nhiều thanh niên còn ở mức rất thấp Điều này xuất phát

từ nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến những nguyên nhân cơ bản như: Đi họcmuộn so với độ tuổi quy định, số năm theo học trong nhà trường ít; tình trạng học sinh

bỏ học vẫn còn tiếp diễn…

- Thanh niên dân tộc K’Ho ít có điều kiện mở rộng hoạt động giao tiếp của bảnthân do những khó khăn về ngôn ngữ phổ thông; tâm lí tự ti và do những khó khăn vềđịa hình, phương tiện giao thông, liên lạc…

- Thanh niên dân tộc K’Ho có cuộc sống và hoạt động luôn gắn chặt với cộngđồng của mình, bên cạnh những phong tục, tập quán tốt, nhiều phong tục, tập quánkhông tốt cũng ăn sâu vào tiềm thức của họ

1.3.2 Giáo dục và giáo dục bình đẳng giới

1.3.2.1 Khái niệm giáo dục

Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường tinh thầnnhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là nuôi, là săn sóc về mặtthể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người về cả ba phương diện trị tuệ, tìnhcảm và thể chất Theo phương Tây thì Education vốn xuất phát từ chữ Educare củatiếng La tinh Động từ Educare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khảnăng tiền tàng Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đếntốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự “Giáo dục là quá trình tác động

Trang 28

có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học củanhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thànhnhân cách cho họ” [23; tr 22].

Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có

kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, nhữngtri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vàođời sống và đời sống xã hội” [18]

Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích và có tổchức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộmặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm nàybao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố khác tạo nên những nét tínhcách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội” [Nguyễn SinhHuy, Nguyễn Văn Lê (1997), Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của

nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành

vi ứng xử với cộng đồng xã hội” [38;tr 25].

Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục

là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và

kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáodục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người

Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trìnhtác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục đểhình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm

mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục

Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới

25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục

là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp vớitừng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thôngđại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức

đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người

Trang 29

giáo dục với người được giáo dục.

Qua những phân tích trên, chúng tôi quan niệm rằng: Giáo dục là quá trình tác

động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục giúp họ có được nhận thức đầy đủ, hình thành thái độ đúng đắn và hành vi phù hợp đối với bản thân, với những người xung quanh và đối với cộng đồng xã hội.

Từ khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn, diễn

ra lâu dài, với sự vận động của nhiều thành tố cấu trúc như mục đích, mục tiêu giáodục; nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổchức giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục và kết quả giáo dục

1.3.2.2 Khái niệm Giáo dục bình đẳng giới

Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước và các lực lượng cộng đồng xã hội trong những nămgần đây tiếp tục khẳng định vai trò của việc giáo dục BĐG đối với mọi tầng lớp nhân dân.Khoa học hiện đại cũng đã khẳng định ý nghĩa của giáo dục BĐG trong đời sống xã hội.Với cách xem xét biện chứng như vậy, giáo dục BĐG là hướng cho con người đạt tới mụcđích xã hội chân chính, với tư cách là con đường dẫn dắt tới sự nếm trải trọn vẹn của hạnhphúc làm người

Giáo dục BĐG là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm thành ở họ tri thức, tình cảm và hành vi phù hợp với các yêu cầu về giá trị, chuẩn mực BĐG của xã hội.

1.3.3 Cộng đồng và các lực lượng cộng đồng

1.3.3.1 Khái niệm cộng đồng

CĐ được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/cơ quan/tổ chức nơisinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” [19] Trong khái niệm này, điềuđáng chú ý, được nhấn mạnh: CĐ là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thànhviên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với

“cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại độngvật, cũng có thể là con người – CĐ người

CĐ là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảmxúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn CĐ yêu thương) được

Trang 30

chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn Và CĐ đượcxem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tảnhững hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợiích có tính riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thốngnhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị.

CĐ người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các CĐ sinh vật khác.Trong đời sống xã hội, khái niệm CĐ có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời CĐcũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộchọc, y học…

Khi nói tới CĐ người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùngmột hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của nhữngthành viên trong CĐ

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, CĐ là mối quan hệ qua lại giữa các

cá nhân, được quyết định bởi sự CĐ hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về cácđiều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành CĐ đó, bao gồm các hoạtđộng sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tưtưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ vềcác mục tiêu và phương tiện hoạt động

Quan niệm về CĐ theo quan điểm trên là quan niệm rất rộng, có tính khái quátcao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm ngườitrong CĐ này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”,

“tín ngưỡng”, “giá trị”chung…Thực chất đó là CĐ mang tính giai cấp, ý thức hệ

Xuất phát từ tiếng La tinh, “Cộng đồng” – communis có nghĩa là “chung/công

cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/ dấu hiệu chung của

CĐ này chính là đặc điểm để phân biệt nó với CĐ khác

Dấu hiệu/đặc điểm để phân biệt CĐ này với CĐ khác có thể là bất cứ cái gìthuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngônngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực(địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng, xã, quận/huyện, quốc gia,châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia CĐ

Trang 31

Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, CĐ được hiểu là “mọi phức hợp cácquan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàngxóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp

độ trừu tượng hơn”

Tóm lại, qua những phân tích trên, theo chúng tôi, trong đời sống xã hội, cộng

đồng là tập hợp người sinh sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội dựa trên những tiêu chí, nguyên tắc xác định.

1.3.3.2 Các lực lượng cộng đồng

LLCĐ được hiểu là tập hợp những cá nhân, tập thể tích cực, cùng sinh sống trênmột địa bàn cư trú ở một thời kì cụ thể và có chung mục đích xây dựng và phát triểncộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn

Ở nghĩa rộng hơn, thuật ngữ các lực lượng cộng đồng bao gồm các tổ chức xãhội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho các quan điểm của họ Tổ chức

xã hội là bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam, được hình thành theo nguyên tắc tựnguyện và hoạt động theo nguyên tắc tự quản của những thành viên tham gia nhằmđáp ứng lợi ích đa dạng của họ, thu hút đông đảo quần chúng vào quản lý công việccủa Nhà nước và xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị của cá nhân công dân Xuấtphát từ khái niệm trên, ở Việt Nam, các lực lượng cộng đồng luôn có sự tham gia tíchcực, nhiệt tình của các tổ chức chính trị xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Côngđoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữViệt Nam, Hội Cựu chiến binh và các Ban ngành đoàn thể, như Ban Vì sự tiến bộ củaPhụ nữ Trong đó, cũng phải nhắc đến vai trò quan trọng của Đảng và Chính quyền cáccấp trong việc ban hành, thực thi chính sách, pháp luật, định hướng và hỗ trợ các lựclượng cộng đồng hoàn thành các mục tiêu, sứ mệnh của mình

1.3.4 Giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

1.3.4.1 Mục tiêu giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Mục tiêu khái quát của hoạt động giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộcK’Ho là cung cấp những kiến thức, kỹ năng về bình đẳng giới, hướng đến thay đổinhận thức, hành vi nhằm xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam

và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng

Trang 32

giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữtrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Các mục tiêu cụ thể của giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho bao gồm:

- Trang bị cho thanh niên dân tộc K’Ho hệ thống kiển thức về giới

- Trang bị cho thanh niên dân tộc K’Ho hệ thống kiển thức về bình đẳng giữanam và nữ

- Hình thành cho thanh niên K’Ho thái độ, hành vi đúng đắn trong các mối quan

hệ khác giới

- Giúp thanh niên dân tộc K’Ho biết cách giải quyết các vấn đề liên quan đến tìnhbạn, tình yêu

- Góp phần xây dựng xã hội văn minh ngay tại địa phương và trong phạm vi cả nước

- Giúp cho thanh niên dân tộc K’Ho có lòng tự tin và giá trị của bản thân

- Giúp cho thanh niên dân tộc K’Ho xóa bỏ định kiến giới thể hiện ở thái độ, hành

vi tôn trọng giái trị bạn khác giới

- Góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.3.4.2 Nội dung giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Theo Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ về Quy định

về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới thì Giáo dục bình đẳng giới bao gồm các nộidung sau::

- Giáo dục chính sách, pháp luật về bình đẳng giới: Là giúp cộng đồng nhận thứcđúng đắn, đầy đủ về luật bình đẳng giới cũng như những chính sách của Đảng và nhànước về thực hiện bình đẳng giới Những hiểu biết về pháp luật và chính sách về bìnhđẳng giới góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm và hành vi của cộng đồng trong việcthực hiện bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội

- Giáo dục kiến thức, thông tin, số liệu về giới và bình đẳng giới là quá trình giáodục, truyền đạt những kiến thức cơ bản, những thông tin số liệu về giới và bình đẳnggiới tới cộng đồng nhằm giúp họ hiểu rõ hơn về bình đẳng giới thực sự Thông qua đóhình thành những hành vi, thói quen của mỗi người về xây dựng một môi trường bìnhđẳng giới thực sự tồn tại

- Giáo dục tác hại của định kiến giới, phân biệt đối xử về giới; công tác đấutranh, phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới Là quá trình tuyên

Trang 33

truyền tới người dân những ảnh hưởng xấu của sự bất bình đẳng giới tới cuộc sống giađình, tới sự phát triển kinh tế, xã hội

- Giáo dục những biện pháp, kinh nghiệm tốt, mô hình, điển hình tiên tiến trong việcthực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, đấu tranh xóa bỏ phân biệt đối xử vềgiới và định kiến giới Nêu gương những sáng kiến điển hình thực hiện bình đẳng giớihiệu quả nhằm nhân rộng ra toàn cộng đồng

1.3.4.3 Con đường giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho được thực hiện thông qua nhữngcon đường sau:

- Thông qua báo cáo viên, tuyên truyền viên;

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet, loa truyền thanh cơ sở;

- Phát hành các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền;

- Thông qua các loại hình văn hóa truyền thống, văn hóa quần chúng, sáng tácvăn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng;

- Thông qua việc tổ chức thi tìm hiểu pháp luật;

- Thông qua sinh hoạt của các loại hình câu lạc bộ;

- Lồng ghép trong hoạt động của các tổ chức, cá nhân, gia đình và xã hội;

- Đưa nội dung về giới và bình đẳng giới vào các chương trình giáo dục trongnhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác, lực lượng vũ trangnhân dân phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo;

- Lồng ghép nội dung về giới, bình đẳng giới trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp

1.3.5 Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

1.3.5.1 Mục tiêu phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên Dân tộc K’Ho

Phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho nhằm đạtđược những mục tiêu cụ thể sau:

Tạo sự thống nhất các LLCĐ về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục BĐGcho thanh niên dân tộc K’Ho

Trang 34

Tạo ra môi trường thuận lợi cho thanh niên dân tộc K’Ho nâng cao nhận thức vềgiới, BĐG để phát triển toàn diện thái độ, hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội

Phát huy được thế mạnh, huy động tối đa nguồn lực của từng LLCĐ nhằm đạtmục tiêu giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho một cách hiệu quả nhất

Nâng cao trách nhiệm của các LLCĐ trong việc giáo dục BĐG, phát triển, hoànthiện nhân cách cho thanh niên dân tộc K’Ho và góp phần xây dựng xã hội công bằngdân chủ, văn minh

1.3.5.2 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên Dân tộc K’Ho

Để quá trình phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho có thểdiễn ra thuận lợi, thường xuyên và mang lại hiệu quả thiết, trong quá trình triển khaithực hiện, chủ thể của quá trình cần đảm bảo được những nguyên tắc cơ bản dưới đây:

- Đảm bảo tính đồng thuận giữa các lực lượng tham gia: Nguyên tắc này coi

trọng vấn đề làm sao để các LLCĐ tham gia vào hoạt động giáo dục BĐG cho TN dântộc K’Ho chia sẻ đồng tâm, nhất trí, tự nguyện và đồng thuận với chủ trương phối hợpgiữa các lực lượng ở trong và ngoài nhà trường, không được áp đặt hoặc ép buộc

- Đảm bảo tính dân chủ: Nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể phối hợp cần tạo môi

trường công khai, dân chủ cho các LLCĐ tham gia giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Hothông hiểu lẫn nhau, có điều kiện để “Biết, bàn, làm, kiểm tra” các hoạt động, tạo điềukiện cho mối quan hệ giữa các lực lượng phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả

- Đảm bảo kết hợp hài hòa về lợi ích giữa các bên tham gia hoạt động: Mỗi hoạt

động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các bên tham gia: Các lựclượng tham gia phải hiểu được lợi ích không chỉ mang lại cho học sinh, cho gia đình vànhà trường, xã hội mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho chính những cá nhân, tập thểtham gia vào các hoạt động giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho

- Đảm bảo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi lực lượng: Nguyên tắc này

đòi hỏi các LLCĐ tham gia giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho phải thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ của mình; đồng thời, chủ thể phối hợp cần phân công nhiệm vụcho phù hợp mới khả năng của từng lực lượng đảm bảo đạt được hiệu quả cao nhất mà

kế hoạch đã được đề ra

Trang 35

- Đảm bảo tính mềm dẻo: Nguyên tắc này đòi hỏi, chủ thể phối hợp các LLCĐ trong

giáo dục BĐG cho TN dân tộc K’Ho phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất đề đưa

ra các cách thức huy động cho phù hợp từng đối tượng

1.3.5.3 Nội dung phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Nội dung phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Horất đa dạng Có thể kể đến những nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG chothanh niên dân tộc K’Ho

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch khảo sát, đánh giá nhu cầu tham gia giáo dụcBĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

- Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục BĐG cho thanhniên dân tộc K’Ho

- Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các thànhphần xã hội trong đó có thanh niên dân tộc K’Ho về các vấn đề liên quan đến BĐG và

ý nghĩa của việc thực hiện hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên K’ho

- Tăng cường các nguồn lực phục vụ quá trình tổ chức hoạt động giáo dục BĐGcho thanh niên dân tộc K’Ho

- Kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

- Đánh giá chất lượng các hoạt động giáo dục và hiệu quả tổ chức các hoạt độnggiáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

1.3.5.4 Các lực lượng cộng đồng tham giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên dân tộc K’Ho

Giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho là một quá trình diễn ra lâu dài, có sựtham gia của nhiều LLCĐ, trong đó, có thể kể đến một số lực lượng sau:

- Cán bộ Uỷ ban nhân dân các cấp

Ủy ban nhân dân các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc lập và triển khai kếhoạch giáo dục BĐG tới cộng đồng địa phương Ủy ban nhân dân các cấp có tráchnhiệm xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu quốc gia về BĐG tại địaphương; trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

về BĐG theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện pháp luật về BĐG ở địa phương; Thực

Trang 36

hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo vềBĐG; tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giới và pháp luật về BĐG chonhân dân địa phương.

- Cán bộ Ban vì sự tiến bộ phụ nữ

Cán bộ Ban vì sự tiến bộ phụ nữ tham mưu cho UBND trong việc lựa chọn vấn

đề giới vào các chính sách, kế hoạch, chương trình và dự án tại địa phương; xây dựng

và tổ chức thực hiện KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ và đưa kết quả thực hiện vào nộidung tổng kết công tác hàng năm của UBND xã, phường, thị trấn tuyên truyền nhằmnâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương về luật pháp, chính sách đốivới phụ nữ, về Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ(CEDAW), về bình đẳng giới Triển khai các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ theohướng dẫn của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ quận, huyện, thị xã Đôn đốc và nắm tìnhhình, thực hiện luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phụ nữ tại địaphương Đề xuất các biện pháp khắc phục kịp thời và có hiệu quả tình trạng bất bìnhđẳng, vi phạm chế độ chính sách đối với phụ nữ

- Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Một trong những chức năng quan trọng của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (gọi tắt làHội phụ nữ) các cấp là chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầnglớp phụ nữ, vận động xã hội thực hiện BĐG Vì thế vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ ViệtNam là rất quan trọng trong giáo dục BĐG Để quá trình giáo dục BĐG hiệu quả thì Hộiliên hiệp phụ nữ Việt Nam các cấp cần thực hiện các nhiệm vụ sau: Tuyên truyền, giáo dụcchính sách, pháp luật của Nhà nước về BĐG; vận động, hỗ trợ các tầng lớp phụ nữ chủđộng, tích cực nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc, chăm lo cải thiệnđời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thựchiện mục tiêu BĐG; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ

nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêuchuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị; thực hiện chức năngđại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của phápluật; Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về BĐG

- Cán bộ các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Trang 37

Góp phần đưa BĐG thật sự đi vào cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội thì vai trò của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã

hội là rất quan trọng Để làm được điều đó thì các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội phải Bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức, người laođộng nam, nữ bình đẳng trong việc làm, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm và hưởng phúc lợi;Bảo đảm việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên nguyên tắcBĐG; Xác định thực trạng BĐG, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu BĐG trong

cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm; bảo đảm sự tham gia của cán bộ, côngchức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chươngtrình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác; giáo dục về giới và pháp luật về BĐG cho cán bộ, công chức, viênchức, người lao động do mình quản lý; có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức,viên chức, người lao động thực hiện BĐG trong cơ quan, tổ chức và gia đình; tạo điềukiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặnglao động gia đình

- Cán bộ cơ quan thông tin và truyền thông

Cán bộ cơ quan thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng trong việc tuyêntruyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của các Bộ, Ban,Ngành và chính quyền địa phương có liên quan đến công tác BĐG thông qua cácphương tiện thông tin đại chúng Thông qua hoạt động của họ giúp cho mọi thành viêntrong cộng đồng, trong đó có thanh niên dân tộc K’Ho tiếp cận được những thông tin

về BĐG; bên cạnh đó, hoạt động này giúp cho các LLCĐ nhận thức được trách nhiệmcủa mình trong công tác thanh niên nói chung và giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộcK’Ho nói riêng

- Cán bộ Đoàn Thanh niên

Cán bộ Đoàn Thanh niên có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với CB Ban

Vì sự tiến bộ phụ nữ cùng CB các ban, ngành, đoàn thể thiết kế và triển khai thực hiệncác hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho; thu hút và khơi dậy tínhtích cực của thanh niên trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục BĐG được tổchức

- Người lớn trong gia đình

Trang 38

Gia đình là môi trường giáo dục quan trọng bậc nhất của cá nhân, bởi đây là môitrường đầu tiên và gắn bó suốt đời của mỗi người, là môi trường chính yếu hình thànhnên nhân cách của cá nhân Tại gia đình, thanh niên được nuôi dưỡng, chăm sóc vàđược dạy bảo những điều đầu tiên, sơ đẳng để sống làm người Trong môi trường này,thanh niên nhanh chóng lĩnh hội những điều được dạy dỗ trong gia đình Hơn thế, conngười bình thường không thể sống ngoài gia đình (trừ một số trường hợp đặc biệt) Họđược sinh ra trong một gia đình, sống với gia đình suốt thời thơ ấu Khi trưởng thành

họ lập gia đình, có một gia đình nhỏ của riêng mình Thế nên gia đình có vai trò to lớntrong quá trình giáo dục BĐG Mỗi gia đình cần ý thức vai trò trách nhiệm của mìnhbằng cách: Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểubiết và tham gia các hoạt động về BĐG; giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ

và phân công hợp lý công việc gia đình; chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiệncho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn; đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa contrai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác

Các LLCĐ tham gia hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho đòihỏi phải có kinh nghiệm và chuyên môn sâu về BĐG và giáo dục BĐG, bởi lẽ, trình độchuyên môn, nghiệp vụ và tính tích cực của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dụcBĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và hiệu quảcủa hoạt động này

Trong các lực lượng trên, cán bộ Ban “Vì sự tiến bộ của phụ nữ”là lực lượng giữvai trò chủ đạo trong phối hợp các LLCĐ tham gia giáo dục BĐG cho thanh niên dântộc K’Ho

1.3.5.5 Hình thức phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên Dân tộc K’Ho

Phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho là một quátrình hoạt động lâu dài và được tiến hành dưới nhiều hình thức tổ chức, trong đó, chúng ta

Trang 39

- Phối hợp các LLCĐ thông qua hoạt động khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ,hành vi có liên quan đến BĐG, giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho; xác địnhnhu cầu giáo dục BĐG của thanh niên.

- Phối hợp các LLCĐ thông qua thông qua thảo luận, xác định mục tiêu, nộidung, con đường giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

- Phối hợp các LLCĐ thông qua quá trình huy động các nguồn lực phục vụ cho cáchoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

- Phối hợp các LLCĐ thông qua trao đổi thông tin có liên quan đến hoạt động giáodục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho qua điện thoại, email

- Phối hợp các LLCĐ thông qua tổ chức giao lưu, trao đổi về kinh nghiệm tổchức các hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

- Phối hợp các LLCĐ thông qua việc thành lập và tổ chức hoạt động của câu lạc bộBĐG dành cho thanh niên các DTTS trong đó có thanh niên dân tộc K’Ho

- Phối hợp các LLCĐ thông qua tổ chức hội thảo có nội dung liên quan đến giáodục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

1.3.5.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên Dân tộc K’Ho

Kết quả phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho

có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ, nó giúp cho các LLCĐ mà trực tiếp là cán bộ Hội phụ nữthu được những thông tin về kết quả đạt được của quá trình phối hợp các LLCĐ tronggiáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho Đồng thời chỉ ra những mặt còn tồn tại,trên cơ sở đó, nghiên cứu, áp dụng các biện pháp phù hợp, hiệu quả, từng bước pháthuy những kết quả đã đạt được, khắc phục những vấn đề còn lại, làm cho quá trìnhphối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho ngày càng đạtkết quả cao

Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanhniên dân tộc K’Ho là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ, thông quahoạt động này, chủ thể phối hợp sẽ thu được những thông tin về thực trạng kết quảgiáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho và kết quả phối hợp giữa các LLCĐtham gia giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho, xác định những kết quả đạtđược và những vấn đề còn tồn tại, trên cơ sở đó, nghiên cứu và áp dụng các biện

Trang 40

pháp phù hợp nhằm không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng giáo dục BĐGcho thanh niên dân tộc K’Ho.

Để hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐGcho thanh niên dân tộc K’Ho thực sự mang lại hiệu quả, chủ thể của hoạt động này cầnnghiên cứu, lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá mang tính phùhợp và hiệu quả, đảm bảo được các nguyên tắc đã đề ra

1.3.5.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bình đẳng giới cho thanh niên Dân tộc K’Ho

Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộcK’Ho là một hoạt động diễn ra lâu dài và phức tạp Chất lượng và hiệu quả của hoạtđộng này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau

(i) Các yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kết quả phối hợp các LLCĐ trong giáodục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho bao gồm:

- Hệ thống cơ chế, chính sách về giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc thiểu số và phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục BĐG cho thanh niên DTTS

Hệ thống cơ chế, chính sách đề cập đến những văn bản pháp quy có liên quanđến giáo dục BĐG cho thanh niên DTTS và phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐGcho thanh niên DTTS

Hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan tạo ra cơ sở pháp lí quan trọng để các tổchức các hoạt động giáo dục và phối hợp các LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanhniên dân tộc K’Ho Hệ thống cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ là điều kiện quantrọng để các hoạt động trên được diễn ra thuận lợi, hiệu quả và ngược lại

- Mức độ quan tâm, chỉ đạo của cán bộ Đảng, chính quyền địa phương

Yếu tố này đề cập đến sự quan tâm, chú trọng của lãnh đạo Đảng, chính quyềnđịa phương đối với hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho và phối hợpcác LLCĐ trong giáo dục BĐG cho thanh niên dân tộc K’Ho từ việc xây dựng, hoànthiện hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan, đến việc thực hiện những hành động,việc làm cụ thể nhằm đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho các hoạt động này

Mức độ quan tâm, chỉ đạo của cán bộ Đảng, chính quyền địa phương ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục BĐG cho thanh niên dân

Ngày đăng: 06/07/2020, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh và Đỗ Thị Bình (2002), Giới và công tác giảm nghèo, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và công tác giảm nghèo
Tác giả: Trần Thị Vân Anh và Đỗ Thị Bình
Nhà XB: NXB Phụnữ
Năm: 2002
2. Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ nữ, giới và phát triển, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Phụnữ
Năm: 2000
3. Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên), (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam (Phân tích số liệu điều tra). NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở ViệtNam
Tác giả: Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
4. Nguyễn Đức Bạt (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo củ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo củ cán bộ nữ trong hệ thốngchính trị
Tác giả: Nguyễn Đức Bạt
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
5. Mai Huy Bích, Giáo trình Xã hội học gia đình, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học gia đình
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
6. Đỗ Thị Bình (2001), Mấy vấn đề về vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp các xã miền núi phía Bắc), Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 2001
7. Trần Thị Minh Đức (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới - Lý thuyết và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến và phân biệt đối xử theo giới - Lý thuyết vàthực tiễn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
8. Đặng Thị Hoa (2001), Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình và xã hội, (Nghiên cứu ở bản Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, Hòa Bình), tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 1 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình và xã hội
Tác giả: Đặng Thị Hoa
Năm: 2001
9. Ngô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vậndụng
Tác giả: Ngô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
10. Dương Thị Huế (20176), Giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng người dân tộc thiểu số tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng, trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng người dân tộcthiểu số tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La
11. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000), Xã hội học về giới và phát triển, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về giới và phát triển
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia
Năm: 2000
12. Nguyễn Linh Khiếu (Chủ biên) (1999), Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
13. Nguyễn Linh Khiếu (2002), Khía cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn miền núi (Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh, Văn Chấn, Yên Bái), Khoa học về phụ nữ, số 1 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn miềnnúi
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Năm: 2002
14. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: NXB Khoa họcxã hội
Năm: 2003
15. Khoa Phụ nữ học (1998), Vai trò của phụ nữ trong phát triển, NXB Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ trong phát triển
Tác giả: Khoa Phụ nữ học
Nhà XB: NXB Đại học mởbán công thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
16. Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) (2007), “Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề giới -từ lịch sử đến hiện đại”
Tác giả: Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
17. Trần Xuân Kỳ (2008), Tài liệu chuyên khảo giới và phát triển, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên khảo giới và phát triển
Tác giả: Trần Xuân Kỳ
Nhà XB: NXB Lao động - Xãhội
Năm: 2008
18. Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, NXB Từ điển Bách khoa 19. Nguyễn Kim Liên (2008), Giáo trình phát triển cộng đồng, NXB Lao động - Xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, NXB Từ điển Bách khoa 19. Nguyễn Kim Liên
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa 19. Nguyễn Kim Liên (2008)
Năm: 2008
20. Bùi Thị Mừng (2007), “Báo cáo Nguyên tắc áp dụng phong tục, tập quán trong luật hôn nhân và gia đình nhìn từ góc độ giới”, Tạp chí Luật học, (số 3/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Nguyên tắc áp dụng phong tục, tập quán trong luậthôn nhân và gia đình nhìn từ góc độ giới”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Thị Mừng
Năm: 2007
21. Lê Thị Chiêu Nghi (2001), Giới và dự án phát triển, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và dự án phát triển
Tác giả: Lê Thị Chiêu Nghi
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w