1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH vực hôn NHÂN và GIA ĐÌNH – lý LUẬN và THỰC TIỄN

72 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 699,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới, những quan niệm xưa bất bình đẳng một thời gian dài khiến cho người phụ nữ bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống

Trang 1

VÀ THỰC TIỄN

Sinh viên thực hiện Bùi Nhật Cảnh MSSV 5075167 Lớp: Luật Tư pháp 2 khóa 33

Giảng viên hướng dẫn

Huỳnh Thị Trúc Giang

Cần Thơ, tháng 4, 2011

Trang 2

VÀ THỰC TIỄN

Sinh viên thực hiện Bùi Nhật Cảnh MSSV 5075167 Lớp: Luật Tư pháp 2 khóa 33

Giảng viên hướng dẫn

Huỳnh Thị Trúc Giang

Cần Thơ, tháng 4, 2011

Trang 3

 

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần thơ, ngày…tháng…năm 2011

Trang 4

 

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần thơ, ngày…tháng…năm 2011

Trang 5

MỤC LỤC Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI 4

1.1 Một số khái niệm chung 4

1.1.1 Khái niệm giới 4

1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới 5

1.1.3 Khái niệm bất bình đẳng giới 5

1.2 Mục tiêu của bình đẳng giới 7

1.3 Các nguyên tắc đảm bảo bình đẳng giới 9

1.3.1 Nguyên tắc chung về bình đẳng giới 9

1.3.1.1 Bình đẳng giới là nguyên tắc hiến định 9

1.3.1.2 Bình đẳng giới là quyền cơ bản của công dân 10

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản đảm bảo về bình đẳng giới 11

1.4 Quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 13

1.4.1 Khái niệm bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình 13

1.4.2 Nội dung của bình đẳng trong hôn nhân gia đình 15

1.5 Ý nghĩa của quyền bình đẳng giới trong đời sống hôn nhân gia đình 16

1.6 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới 17

1.6.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về bình đẳng giới 17

1.6.2 Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 18

1.6.3 Quan điểm của Đảng cộng sản về bình đẳng giới 19

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 23

2.1 Quyền bình đẳng trong việc kết hôn giữa nam và nữ 23

2.1.1 Quyền bình đẳng của nam và nữ khi bước vào hôn nhân 23

2.1.2 Quyền bình đẳng trong việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tiến bộ 23

2.2 Quyền bình đẳng trong quan hệ vợ chồng 24

2.2.1 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong quan hệ nhân thân 25

2.2.1.1 Tình nghĩa vợ chồng 25

2.2.1.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc lựa chọn nơi cư trú 26

2.2.1.3 Quyền bình đẳng trong việc tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng 27

Trang 6

2.2.1.5 Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt 29

2.2.1.6 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc đại diện cho nhau trước pháp luật 30

2.2.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong quan hệ tài sản 31

2.2.2.1 Quyền bình đẳng trong quan hệ sở hữu tài sản 31

2.2.2.2 Quyền bình đẳng về chia tài sản khi ly hôn 35

2.2.2.3 Quyền bình đẳng trong quan hệ thừa kế tài sản 37

2.2.2.4 Quyền bình đẳng trong quan hệ cấp dưỡng 38

2.2.3 Bình đẳng trong việc thực hiện quyền ly hôn của vợ chồng 39

2.2.3.1 Thực hiện quyền yêu cầu ly hôn 39

2.2.3.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong vai trò đối với con khi ly hôn 40

2.3 Quyền bình đẳng giữa cha mẹ đối với con cái 43

2.3.1 Quyền bình đẳng giữa cha và mẹ trong việc thực hiện quyền của cha mẹ 43 2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái 44

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 46

3.1 Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 47

3.1.1 Bất bình đẳng về vai trò của vợ chồng trong gia đình 47

3.1.2 Bất bình đẳng giới trong kế hoạch hóa gia đình 50

3.1.3 Bất bình đẳng trong quan hệ tài sản 51

3.1.4 Mối liên hệ giữa bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình 53

3.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay 55

3.3 Một số giải pháp để đảm bảo thực hiện hiệu quả bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 57

KẾT LUẬN 60

Trang 7

BLDS 2005: Bộ luật dân sự năm 2005

Luật HN&GĐ 2000: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

CEDAW: Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt

đối xử với phụ nữ

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, bình đẳng giới là một trong những vấn đề quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc thực hiện bình đẳng giới là mục tiêu phát triển của toàn xã hội và được thực hiện hầu hết trong các lĩnh vực của xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lao động đến hôn nhân và gia đình

Gia đình là nơi đầu tiên hình thành nhân cách của một con người Gia đình là nền tảng của sự phát triển của xã hội Có thể nói, gia đình vốn được coi là tế bào của

xã hội, nó phản ánh tất cả những gì đang diễn ra ngoài xã hội, các mối quan hệ xã hôi của con người đều bắt đầu từ gia đình Gia đình phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội, nó phản ánh trạng thái phát triển của chế độ xã hội đó Trong xã hội phong kiến đa phần mọi người trong xã hội còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng

“trọng nam khinh nữ” làm cho trong cuộc sống gia đình không cân xứng giữa các thành viên trong gia đình Người chồng có quyền quản lý mọi vấn đề trong gia đình còn người vợ chỉ đóng vai trò là người phụ thuộc chồng về mọi mặt

Trong tiến trình đổi mới của nước ta có sự tác động mạnh mẽ của những chuyển biến về kinh tế- xã hội trong nước và quá trình toàn cầu hóa thì một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và nhà nước là tăng cường sự tham gia vao các hoạt động kinh tế văn hóa, xã hội của phụ nữ nhằm nâng cao vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gai đình nói riêng và ngoài xã hội nói chung Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới, những quan niệm xưa bất bình đẳng một thời gian dài khiến cho người phụ nữ bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong câu “tam tòng tứ đức” có thân phận thấp hơn, không được bình đẳng với nam giới sẽ không còn nữa theo đó người vợ trong gia đình sẽ không là nội trợ trong các công việc gia đình nữa Người vợ tham gia vào các công việc và quan hệ xã hội rộng hơn Người chồng phải chia sẻ bổn phận trách nhiệm đối với công việc nhà, mọi thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho nhau phát triển Thế nên việc thực hiện vấn đề bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình là một đòi hỏi thực tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công việc xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ, văn minh là tạo cho người phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong mọi vấn đề của cuộc sống gia đình

Nghiên cứu về quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống hôn nhân gia đình

là một việc làm thiết thực có nhiều ý nghĩa Xuất phát từ lý do đó người viết chọn đề

Trang 9

tài: “ Bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình – lý luận và thực tiễn” để

nghiên cứu và làm đề tài luận văn cho mình

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đi sâu vào việc phân tích đề tìm rõ các yếu tố ảnh hưởng như:

+ Tìm hiểu những khía cạnh liên quan đến vần đề bình đẳng giới như giới, tình trạng bất bình đẳng giới… đồng thời đi sâu vào phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự bình đẳng giới

+ Tìm hiểu và phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình về việc bảo vệ người phụ nữ bình đẳng với nam giới trong cuộc sống hôn nhân và gia đình nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền bình đẳng giới trên thực tế

+ Nêu tổng quan về thực trạng bình đẳng giới ở nước ta hiện nay trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Từ đó để tìm ra những nguyên nhân gây ra vấn đề bất bình đẳng trong cuộc sống và từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết thực trạng đó

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Do nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề

về quyền bình đẳng giữa các thành viên trong đời sống hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật Đồng thời qua đó đưa ra những nguyên nhân tồn tại của vấn đề và một số ý kiến nhằm khắc phục những vấn đề còn bất cập

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Nhằm hoàn thiện bài viết của minh một cách tốt nhất trong quá trình nghiên cứu, người viết dùng phương pháp chủ yếu là thống kê, tổng hợp để thu thập tài liệu, dùng phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu các quy định của pháp luật kết hợp so sánh đối chiếu một số quy định của luật cũ

5 Cơ cấu đề tài

- Lời nói đầu

- Phần nội dung gồm 3 chương:

+ Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền bình đẳng giới

+ Chương 2: Cơ sở pháp lý về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Trang 10

+ Chương 3: Thực trang và giải pháp đảm bảo việc bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

- Phần kết luận

Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, người viết đã nhận được nhiều sự hỗ trợ giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn là cô Huỳnh Thị Trúc Giang, quý thầy cô và bạn bè trong suốt quá trình làm luận văn này Vì những hạn chế nhất định của bản thân nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và các bạn để em hoàn thiện tốt hơn nữa

Em xin chân thành cám ơn GVHD là cô Huỳnh Thị Trúc Giang Em chúc cô có một sức khỏe dồi dào và luôn thành công trong công việc

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm giới

Theo khoản 1 điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định “giới là chỉ đặc

điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

Ngoài ra giới còn có cách giải thích khác:” giới chỉ sự khác biệt xã hội giữa phụ

nữ Đây là tập hợp của những hành vi ứng xử về mặt xã hội những mong muốn về những đặc điểm và năng lực xã hội mà coi là thuộc về nam giới hoặc phụ nữ trong xã hội Đây là mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới và sự phân công vai trò giữa họ Ngoài ra còn có các đặc điểm về giới, các đặc điểm về giới luôn biến đổi theo hoàn cảnh, điều kiện sinh sống của từng cá nhân và hoàn cảnh điều kiện lịch sử chung của xã hội ở mọi thời đại người đó sinh ra và lớn lên như đặc điểm của nam và nữ ngày nay được hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân nam và

nữ so sự tương tác của cá nhân với môi trường xung quanh (gia đình, nhà trường, xã hội….) Đây là tập hợp của những hành vi ứng xử về mặt xã hội những mong muốn về đặc điểm và năng lực xã hội mà coi là thuộc về nam giới hoặc phụ nữ trong xã hội

Ví dụ: Phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị…những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới

Những đặc điểm giới và các mối quan hệ giới là các khía cạnh của quan trọng của một nền văn hóa bởi chúng quyết định lối sống trong cách ứng xử đối xử một gia đình ngoài cộng đồng và nơi làm việc và nó liên tục được tái tạo và thay đổi Nó sẽ thay đổi

1

Theo Hội Liện hiệp phụ nữ Việt Nam – Cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển, Giới và quyền của phụ nữ trong

pháp luật Việt Nam, 2004

2 Tài liệu tập huấn giảng viên về phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới - Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam – UNDP, 6/1998

Trang 12

theo thời gian và môi trường xung quanh, chịu sự tác động của nhiều yếu tố : xã hội, kinh tế, chính trị, pháp lý, đời sống trong xã hội

Nói tóm lại, giới là phạm trù chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ

Nó thể hiện việc đánh giá khả năng vai trò của phụ nữ hoặc nam giới trong một mối quan hệ xã hội nào đó Trong một tiến trình nào đó khi giới đã có sự bình đẳng thì quan hệ trong xã hội cũng như trong gia đình cũng sẽ có xu hướng bình đẳng hơn

1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới

Bình đẳng giới là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại nhưng về thực chất nó không vượt qua khỏi nội dung của vấn đề bình đẳng nam, nữ và là mục tiêu thước đo trình độ phát triển của xã hội Bình đẳng giới là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ đối với các vấn đề xã hội Nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Họ có cùng

vị thế ngang nhau và được tôn trọng như nhau, có điều kiện và cơ hội bình đẳng để tham gia đóng góp và thụ hưởng các thành quả phát triển trong mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội

Theo khoản 3 điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 quy định: “bình đẳng giới là

việc nam, nữ có vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Ngoài ra bình đẳng giới còn thể hiện ở nhiều mặt: nữ và nam có điều kiện bằng nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; nữ và nam có

cơ hội ngang nhau để tham gia đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển; giữa nữ và nam có quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong tất cả các hoạt động lĩnh vực là như nhau cũng không có nghĩa

là nam giới và nữ giới giống nhau mà bình đẳng giới là nam giới và nữ giới đều được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội cũng như trong mối quan hệ gia đình đồng thời sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Từ đó nam và nữ có thể trãi nghiệm những điều kiện bắt đầu để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bắt đầu từ công cuộc của mỗi quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hóa và xã hội

1.1.3 Khái niệm bất bình đẳng giới

Ngay từ khi xã hội loài người vừa mới hình thành thì vấn đề giới đã thể hiện rất

rõ trong các tập đoàn người thời nguyên thủy Đầu tiên, đó là sự thống trị của người

Trang 13

phụ nữ 3trong gia đình và xã hội, rồi sau đó do sự thay đổi về điều kiện kinh tế, ý thức

xã hội, phong tục, tập quán, khi xuất hiện nhà nước thì địa vị của người đàn ông đã được thay đổi và thay vào đó là chế độ phụ quyền: “chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự

.Kể từ đó chế độ phụ quyền

đã tồn tại một cách dai dẳng theo sự phát triển của xã hội loài người Và “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ, trong hôn nhân cá thể, sự áp bức đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà…biểu lộ rõ ràng mâu thuẫn giữa người đàn ông và người đàn bà Kết quả thống trị độc nhất của chồng là một hình ảnh đối lập và những mâu thuẫn trong đó, từ đầu thời kì văn minh, xã hội chia thành giai cấp vẫn vận động mà không

đình, trong gia đình mà gia đình lại là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội

Ngày nay sự bất bình đẳng đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức và trong nhiều lĩnh vực của đời sống Có thể nói bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở chủng tộc, tôn giáo, giới tính, nguồn gốc xã hội mà ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc hay cuộc sống gia đình thì được coi là có

sự bất bình đẳng Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng trong gia đình và trong xã hội Như vậy, bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác, nó không phải là sự tuyệt đối hóa hay một tỷ lệ ngang bằng giữa nam và nữ mà là sự khác biệt về giới tính trong các mối quan hệ xã hội đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình phát triển toàn diện khả năng của mình về mọi mặt

Như vậy, bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính mà sự

phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của

xã hội và quá trình phát triển con người

Xét riêng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở

sự phân biệt về quyền và những đặc quyền không tương xứng giữa nam và nữ Những

Trang 14

sự không tương xứng đó diễn ra phổ biến trong những quy định pháp lý và thực tiễn của các cộng đồng gia đình Những sự không tương xứng này tồn tại trong các quyền kết hôn, ly hôn, quyết định qui mô gia đình, thực hiện các chính sách trong gia đình, quan hệ thừa kế và quản lý tài sản, tham gia các hoạt động tạo thu nhập ở bên ngoài xã hội Sự phân biệt giới về quyền đã hạn chế khả năng lựa chọn của người phụ nữ trong nhiều khía cạnh cuộc sống, cản trở những cơ hội mà họ có được trong xã hội

Ngày nay, sự bất bình đẳng về giới giữa nam và nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng vẫn tồn tại một cách dai dẳng không chỉ ở các quốc gia kém phát triển mà ở cả các quốc gia phát triển

Ví dụ như ở một số quốc gia Bốtxoana, Chilê, Lêxôthô, Namibia, Xoazilan, phụ

nữ phải chịu sự cai trị vĩnh viễn của người chồng và không có quyền quản lý độc lập tài sản (UNDP 1995) Ở một số nước châu Phi có chồng không được sở hữu đất đai

mà chỉ có quyền hoa lợi sau khi kết hôn(Gray và Kevane 1995) Ngoài ra, tại nhiều nơi của châu Phi hạ Sahara, đàn ông có quyền đòi hỏi người vợ phải đóng góp sức lao động, nhưng người phụ nữ lại không có quyền đó đối với chồng mình (Dey Abbas 1997) Ở Bôlivia, Goatêmala và Syrya, đàn ông có thể cấm không cho vợ mình làm việc ở bên ngoài Ở Ai cập và Gioócđani, phụ nữ phải được chồng cho phép nếu muốn

1.2 Mục tiêu của bình đẳng giới

Bình đẳng giới là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới Dựa trên điều kiện và hoàn cảnh thực tế cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia có con đường đi riêng và được xác định phù hợp trong giai đoạn phát triển của đất nước Theo

điều 4 Luật Bình đẳng giới năm 2006 xác định: “mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ

phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác thực chất giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”

Để thực hiện sự bình đẳng giới và công bằng trong xã hội là tùy thuộc vào môi trường sinh sống, làm việc cụ thể của từng giới, ở thành phố khác ở nông thôn, ở đồng bằng khác ở miền núi, vùng dân tộc ít người Môi trường sinh sống chi phối những nhu cầu bức bách của mỗi giới, có cái chung, có cái riêng, có nhu cầu trước mắt và nhu cầu lâu dài, toàn bộ

5

Đưa vấn đề giới vào phát triển, nguồn lực và tiếng nói, tr.44

Trang 15

Để thực hiện sự công bằng về giới trong phát triển kinh tế, tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cho giới nam hay giới nữ thì rõ ràng ở nông thôn có nội dung khác ở thành phố, miền xuôi khác miền núi Ở nông thôn, điều quan trọng nhất đối với cả nam, nữ, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của họ, kể cả vị thế của họ trong gia đình, đó là quyền sở hữu ruộng đất, họ có hay không có, trong gia đình chồng hay vợ

là chủ sở hữu, ai là người quyết định nội dung sản xuất của gia đình, nắm giữ tài sản tiền nong làm ra, quyết định những chi tiêu lớn của gia đình? Ai làm những công việc gia đình không được trả công nhiều nhất, kể cả việc chăn nuôi tại nhà? Ai quyết định những việc lớn của gia đình như việc học tập của con cái, việc cưới xin… Như vậy, cần chú ý đến những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến vị thế kinh tế, xã hội của giới nam và giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội ở nông thôn Từ đó sẽ có hướng tác động nhằm thiết lập sự bình đẳng giới giữa giới nam và giới nữ một cách có hiệu quả Còn ở thành phố thực hiện sự bình đẳng giới trong phát triển kinh tế lại là tạo điều kiện, cơ hội cho nhiều phụ nữ có việc làm phù hợp với khả năng, vốn kiến thức, sức khoẻ của họ Do đó, không phải ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần đảm bảo tỷ lệ cân bằng 50% nam, 50% nữ tham gia, mà có những ưu tiên cần thiết cho giới nam hay giới nữ đối với từng ngành nghề Các nghề làm dịch vụ, du lịch, thương mại, may mặc, công nghiệp nhẹ, y tế, văn hoá … thường hợp với nữ, nên tạo điều kiện, cơ hội cho họ tham gia Đó cũng là những nghề phụ nữ sẽ làm tốt do tính cẩn thận, siêng năng của

họ, cùng với trình độ văn hoá được nâng lên nhờ được học tập, đào tạo có hệ thống

Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu của bình đẳng giới thì cần hiểu đúng về xóa bỏ phân biệt về giới là việc hạn chế loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Có thể nói điểm xuất phát của nữ nhìn chung thấp hơn nam về trình độ văn hoá, sự tiếp cận thông tin với bên ngoài còn hạn chế Ở mỗi cá nhân chúng ta, tuy là nam hay nữ mọi người đều có hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau, trình độ văn hóa, tình trạng kinh tế cũng khác nhau Do đó cả hai giới đều có cơ hội như nhau để tham gia vào các hoạt động trong xã hội nhưng không phải cơ hội đem lại thuận lợi cho hai giới như nhau để họ khai thác một cách có lợi nhất cho mình Họ có điều kiện bình đẳng như nhau để tham gia công việc ngoài xã hội cũng như trong gia đình nhưng điểm xuất phát đi lên của nữ giới thấp hơn nam giới nên việc sử dụng những điều kiện thuận lợi đó còn hạn chế

Ví dụ như các em gái vốn hay bị thiệt thòi trong học tập, ít được đến trường đến nơi đến chốn như các em trai, đặc biệt ở nông thôn miền núi, các em thường phải nghĩ học ở nhà trông em, giúp việc gia đình phụ cha mẹ

Trang 16

Để đảm bảo sự bình đẳng công bằng thực sự giữa nam và nữ, không chỉ tạo điều kiện, cơ hội như nhau để nữ giới tham gia vào các hoạt động như nam giới, khi cần thiết phải có những ưu tiên cho giới nữ, tạo cho họ những điều kiện, cơ hội thuận lợi hơn so với nam giới Nếu thực hiện sự bình đẳng một cách máy móc sẽ là bất công với giới nữ, vì giới nam vốn có những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi hơn giới nữ

Là một công dân trong xã hội cần hiểu đúng và tạo cơ hội như nhau cho nam và

nữ có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong đời sống gia đình và xã hội

Do vậy, để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng cả phụ nữ và nam giới cũng phải tạo

cơ hội như nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình theo nguyên tắc là cùng quyền, cùng nghĩa vụ, cùng trách nhiệm nhưng linh hoạt hợp lý để đảm bảo

có lợi cho mục tiêu bình đẳng giới

1.3 Các nguyên tắc đảm bảo về quyền bình đẳng giới

1.3.1 Nguyên tắc chung

1.3.1.1 Bình đẳng giới là nguyên tắc hiến định

Ghi nhận và bảo đảm thực hiện bình đẳng nam nữ là vấn đề luôn được Đảng và nhà nước quan tâm thể hiện các chính sách pháp luật mang tính nhất quán Ngay từ khi thành lập Đảng ngày 3/2/1930 cương lĩnh chính trị của Đảng đã xác định “ nam nữ bình quyền” là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam Cả 4 bản hiến pháp ( hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) đều khẳng định quyền bình đẳng nam

nữ là nguyên tắc hiến định Nhà nước ta đã tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, đời sống hôn nhân và gia đình nói riêng

Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền Cách mạng tháng 8/1945 thành công đã xóa bỏ ách thống trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến lạc hậu, cổ hủ và xóa bỏ được một phần quan niệm “trọng nam khinh nữ” phân biệt đối xử phụ nữ trong xã hội Lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước Việt Nam, các thành viên trong xã hội không phân biệt địa vị xã hội, dân tộc, giới tính được nhà nước thừa nhận về mặt pháp lý bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực và nguyên tắc bình đẳng đã trở thành nguyên tắc hiến định một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam

Kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần của hiến pháp 1946 về bình đẳng nam, nữ hiến pháp 1959 và 1980 thể hiện rõ tinh thần thực sự dân chủ Cả 2 bản hiến

pháp đều ghi nhận trên nguyên tắc“ mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”

Trang 17

được hiểu là nam giới và phụ nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bước đầu đạt nhiều thành tựu bước đầu quan trọng hiến pháp 1992 ra đời đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới

Theo điều 52 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “mọi công dân đều bình đẳng

trước pháp luật” Theo nguyên tắc này thì mỗi công dân bất kể nam và nữ, không

phân biệt người đó là ai, thành phần xã hội như thế nào, tình trạng tài sản ra sao, nắm giữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước, theo tín ngưỡng tôn giáo nào nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như bình đẳng trong học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hóa nghề nghiệp, bình đẳng trong việc hưởng thụ các phúc lợi vật chất

và tinh thần; bình đẳng trong gia đình, trong sử dụng tài sản, quyết định công việc gia đình quan trọng và chăm sóc con cái…

Ngoài ra, bình đẳng trước pháp luật còn bao hàm cả nội dung bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng Đó là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ tiến

bộ của một xã hội là mức độ giải phóng phụ nữ, giải phóng vị trí lệ thuộc của người vợ trong gia đình

1.3.1.2 Bình đẳng giới là quyền cơ bản của công dân

Ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới giữa nam và nữ được ghi nhận là quyền cơ bản của công dân Bình đẳng trước pháp luật thực sự là một quyền dân chủ rất quan trọng của công dân Trên cơ sở đó người công dân mới có thể có các quyền dân chủ (ứng cử, bầu cử, tham gia quản lý nhà nước…) các quyền tự do (tự do ngôn luận, tự do báo chí , tự do hội họp) và các quyền kinh tế xã hội ( quyền làm việc, quyền học tập, nghiên cứu khoa học…) Có quyền bình đẳng trước pháp luật, công dân mới có thể sử dụng có hiệu quả các quyền của mình và làm nghĩa vụ một cách tự nguyện, tự giác Đồng thời bình đẳng trước pháp luật cũng là một cơ sở để đấu tranh chống các biều hiện đặc quyền, đặc lợi…và những biểu hiện tiêu cực đối với nghĩa vụ trước pháp luật của mọi người

Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật xuất phát từ mục tiêu cuối cùng mà mọi người trong xã hội theo đuổi là thiết lập bình đẳng xã hội thực sự, không còn phân biệt giai cấp, giới tính, chủng tộc, tôn giáo

Quyền công dân của nam và nữ được ghi nhận xuyên suốt từ hiến pháp 1946 đến hiến pháp 1992 với tinh thần công dân bất kể nam và nữ đều có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình Như vậy, phụ nữ không những có quyền ngang nhau với nam giới về mọi mặt đồng thời để phụ nữ thực hiện quyền đó

Trang 18

một cách tốt nhất nhà nước còn có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện cho phụ nữ nâng cao về mọi mặt và không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội

Bình đẳng nam nữ là quyền công dân nhưng được mở rộng về phạm vi và nội dung Với tư cách là công dân của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, phụ nữ

và nam giới đều bình đẳng trước pháp luật Theo điều 63 Hiến pháp 1992 khi quy định quyền công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội có trách nhiệm không chỉ chăm lo mà còn phải tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt vì bình đẳng nam nữ chỉ có thể thực hiện khi bản thân phụ nữ tự khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội bởi tri thức và trình độ hiểu biết của mình Từ nhận thức đó, hiến pháp 1992 bổ sung quy định về trách nhiệm Nhà nước và xã hội trong việc bảo đảm thực hiện nghiên cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

Nói tóm lại, việc thừa nhận bình đẳng nam nữ là nguyên tắc của hiến pháp năm

1992, quyền cơ bản của công dân và không ngừng được mở rộng theo quan điểm tôn trọng quyền phụ nữ thể hiện bản chất tốt đẹp của nền dân chủ, tính nhân văn của pháp luật Việt Nam

1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản đảm bảo về bình đẳng giới 6

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là sự cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về

6quyền bình đẳng của phụ nữ, là các quyết định thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới Theo điều 6 Luật Bình đẳng giới năm 2006 có 6 nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới:

- Nguyên tắc thứ nhất là: “Nam, nữ bình đẳng nhau trong các lĩnh vực của đời

sống xã hội và gia đình”

Nam, nữ bình đẳng nhau trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình có nghĩa là nam giới và nữ giới cùng có vị thế bình đẳng về điều kiện, cơ hội phát huy năng lực, khẳng định vị thế của mình và hưởng thành quả trong mọi lĩnh vực của đòi sống xã hội và gia đình Ví dụ: trẻ em gái cũng được đi học giống như trẻ em trai không quan niệm con gái học thế, học nữa cũng chẳng làm gì” Trong cuộc sống gia đình nam giới cho rằng việc đi chợ nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc con cái là việc phụ nữ, nam giới chỉ lo kiếm tiền và giải quyết những công việc lớn hơn…như vậy là vi phạm nguyên tắc nam, nữ bình đẳng trong gia đình Nam giới cũng phải làm những công việc đó Ngược lại phụ nữ cũng giống như nam giới cũng bình đẳng về điều kiện tham

6

Nội dung luật bình đẳng giới và các văn bản thi hành, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2009

Trang 19

gia công tác xã hội, bình đẳng về cơ hội thăng quan, tiến chức chứ không chỉ nam giới mới có khả năng và cơ hội làm lãnh đạo

- Nguyên tắc thứ hai là: “Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới” Nguyên tắc

này là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về bình đẳng giới

Nguyên tắc này được hiểu là phụ nữ và nam giới được đối xử công bằng, cho dù giới tính của một người có là nam hay nữ thì người đó vẩn được tôn trọng và được đối

xử như nhau; không được cho rằng vì anh ta là nam giới nên phải làm những việc nặng nhọc dù anh ta không có sức khỏe còn phụ nữ đứng nhìn Quy kết của nguyên tắc này

là không được phép có bất kỳ sự phân biệt loại trừ hay hạn chế nào vì lý do giới tính, phải xóa bỏ mọi hành vi phân biệt đối xử về giới mà quan trọng nhất là sự bất bình đẳng giới

- Nguyên tắc thứ ba là: “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân

biệt đối xử về giới”

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam

và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Tuy nhiên trên thực tế, phụ nữ gặp nhiều bất lợi và khó khăn hơn so với nam giới do vẫn còn một số gia đình vẫn còn tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại Do đó, để đạt được tư tưởng bình đẳng giới nhà nước ta đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cho nhiều chị em phụ

nữ tạo cho họ có điều kiện, cơ hội phát triển cũng như thụ hưởng các thành quả Những biện pháp đó không phải là những quy định ưu tiên vai trò của phụ nữ mà nó làm giảm khoảng cách giữa bất bình đẳng giữa hai giới

- Nguyên tắc thứ tư là: “Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là

phân biệt đối xử về giới”

Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới là một trong những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới Việc có chính sách bảo vệ và

hỗ trợ người mẹ là bởi quan niệm truyền thống về vai trò, vị trí và sự phân công lao động của nam và nữ đã tạo nên những bất lợi về điều kiện và cơ hội cho một bên, nhất

là phụ nữ Trên thực tế, bình đẳng giữa nam và nữ vẫn còn có khoảng cách Do vậy, cần có chính sách bảo vệ và hỗ trợ cho mẹ để tạo điều kiện cho người mẹ được học tập , phát triển và bảo vệ, chăm sóc thế hệ tương lai Đây cũng là biện pháp tạo điều kiện cho trẻ em (cả trai và gái) được người mẹ, gia đình, xã hội chăm sóc tốt hơn Nguyên tắc này thể hiện trên tất cả các lĩnh vực cụ thể là:

Trang 20

+ Nhà nước có chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ (khoản 2 điều 7) Ví dụ: Theo quy định của pháp luật lao động, phụ nữ sinh con được nghĩ 4 tháng hưởng nguyên lương và được thêm 1 tháng lương tối thiểu + Khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ (khoản 4 điều 14) Ví dụ: Trường phổ thông trung học A

hỗ trợ 200.000 đồng/tháng cho nữ giáo viên của trường được cử đi học cao học phải mang theo con dưới 36 tháng tuổi

- Nguyên tắc thứ năm là: “Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây

dựng và thực thi pháp luật” Nguyên tắc này có một vai trò rất quan trọng là một vị trí

đặc biệt là biện pháp quan trọng để đảm bảo bình đẳng giới.và được quy định cụ thể hóa tại điều 7, điều 218 , điều 229 Luật Bình đẳng giới

7

Điều 20 Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luât

1 Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

2 Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi , bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật

8

Điều 21 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

a) Xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh;

b) Dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nữ

theo các nội dung quy định tại khoản 1 điều này và phụ lục thông tin, số liệu về giới có liên quan đến dự

án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

3 Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá việc lồng ghép vần đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nọi dung đánh giá bao gồm:

a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

c) Tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chình trong dự án, dự thảo;

4 Chính phủ quy định việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

9Điều 22 Thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới

1 Uỷ ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực giới có trách nhiệm tham gia với Hội đồng dân tộc, Uỷ ban khác của Quốc hội để thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua

2 Nội dung thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm:

a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

c) Việc tuân thủ thủ tục và trình tự đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự

án, dự thảo;

d) Tính khả thi của dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới

Trang 21

Nguyên tắc này nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn

đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình ban hành văn bản, từ giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, đến giai đoạn xem xét, thông qua hoặc ban hành

-Nguyên tắc thứ sáu là: “Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ

chức, gia đình và cá nhân”

Bình đẳng giới thực chất là mục tiêu Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu Để đạt được mục tiêu này, tất cả các cơ quan, tổ chức gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới Điều đó có ý nghĩa rằng cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể

dù ở Trung ương hay địa phương, dù có những chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới

1.4 Quyền bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình

1.4.1 Khái niệm

Gia đình là sự liên kết của nhiều người và dựa trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng có quyền và nghĩa vụ tương trợ với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần để xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và xã hội

Một gia đình hạnh phúc không chỉ có sự no ấm, bình đẳng, tiến bộ mà còn là hội

tụ tổng thể những nét đẹp văn hóa của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng xã hội, nó được thể hiện qua thái độ, hành vi, cách cư xử trong gia đình, trong đó phải đảm bảo các nguyên tắc:

+ Đối với người trên phải bộc lộ thái độ tôn kính, lễ độ, khiêm tốn và quan tâm chăm sóc

+ Đối với người dưới phải biểu hiện thái độ tình cảm nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha

+ Đối với người cùng thế hệ phải hết sức tôn trọng nhau chân thành

Trong quan hệ vợ chồng phải hòa thuận, bình đẳng trên cơ sở tình yêu chung thủy và sự hiểu biết tôn trọng lẫn nhau

Tuy nhiên trong xã hội từ xa xưa và một bộ phận không nhỏ trong các gia đình hiện đại ngày nay, tình trạng người chồng tự do mình quyền quyết định mọi thứ mà không cần ý kiến của vợ; tài sản trong gia đình do người chồng quản lý , chì có người

Trang 22

chồng mới có quyền tự cho mình làm những gì mình thích, chỉ có người chồng mới được tham gia các hoạt động xã hội Đó là sự biểu hiện rõ nhất của sự không bình đẳng về giới Sự đối xử thiếu công bằng này đã làm cho người vợ, người mẹ trong gia đình phải gánh chịu phần lớn sự thiệt thòi

Trong gia đình truyền thống luôn đặt lợi ích gia đình trên lợi ích cá nhân, đòi hỏi

sự phục tùng tuyệt đối của con cái đối với cha mẹ, sự phục tùng của vợ đối với chồng, nếu sống trong một gia đình gia trưởng, sẽ làm hạn chế tu duy sáng tạo của người vợ

và con cái Chính quan hệ bất bình đẳng đó dẫn đến việc thiếu tự do, thiếu dân chủ đôi khi không tạo ra được hạnh phúc và ổn định trong cuộc sống gia đình mọi người chỉ

im lặng mà không được bày tỏ tâm sự, nguyện vọng chính đáng của mình trong các vấn đề gia đình

Vì vậy, sự bình đẳng trong gia đình trước tiên được thể hiện trong nhận thức của mỗi con người về các vấn đề như chính trị, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng…phải thừa nhận rằng, gia đình là một cộng đồng mang tính huyết thống nhưng là một xã hội thu nhỏ Dù ở ngoài xã hội ta là người có địa vị trong xã hội chức cao quyền trọng nhưng trong gia đình ta vẫn chỉ là một thành viên trong gia đình Vì vậy, mỗi người chúng ta phai thực hiện được đạo làm người - đó chính là thực hiện được bình đẳng trong gia đình

Như vậy, bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình là bình đẳng về quyền và nghĩa

vụ giữa vợ, chồng và các thành viên trong gia đình trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng tôn trọng lẫn nhau không phân biệt đối xử trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội

Tóm lại, bình đẳng trong gia đình là sự tôn trọng lẫn nhau giữa vợ chồng về mọi mặt của đời sống gia đình từ quan hệ nhân thân đến quan hệ tài sản Có thể nói bình đẳng là chiếc chìa khóa vạn năng giữ cho gia đình êm ấm, hạnh phúc, bên vững và ngày càng tiến bộ, phù hợp với chủ trương mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Đó cũng

là một trong những vai trò quan trọng góp phần hoàn thiện quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung

1.4.2 Nguyên tắc về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Để giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia đình và đất nước đòi hỏi các mối quan hệ trong gia đình luôn luôn được củng cố không thể thiếu trong gia đình và bên cạnh đó, bình đẳng trong gia đình lại là cơ sở nền tảng để tạo ra bình đẳng trong xã hội Và quyền bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình được cụ thể hóa tại điều 18 luật bình đẳng giới năm 2006 theo đó:

Trang 23

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

Ví dụ như vợ hoặc chồng hoặc cả vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án cho chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng; vợ, chồng không được có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm, uy tín của nhau; cưỡng ép cản trở nhau theo một hoặc không theo một tôn giáo nào

- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung và bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình

Ví dụ như tài sản của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, nếu tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng, hay vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con

ốm theo quy định của pháp luật

Ví dụ như vợ chồng cùng nhau quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tính trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cặp vợ chồng

- Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

Ví dụ như cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt, con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con

- Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

Ví dụ như các thành viên cùng sống chung gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình

Nói tóm lại, gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mọi thành viên Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Tuy vậy, cho đến nay gia đình vẫn còn là nơi ẩn chứa nhiều định kiến giới và được truyền từ đời này sang đời khác trong môi trường gia đình Điển hình là tư tưởng coi con trai hơn con gái, tài sản thừa kế chủ yếu để lại cho con trai;

Trang 24

chồng là trụ cột gia đình, khi quyết định các vấn đề của gia đình không tôn trọng ý kiến của vợ; thực hiện công việc gia đình là trách nhiệm của nữ giới Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, những tồn tại đó phải được khắc phục Bình đẳng giới trong gia đình thể hiện ở việc vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý tài sản chung như thế nào, sử dụng chung như thế nào, định đoạt tài sản chung ra sao Vợ, chồng cùng bàn bạc, quyết định lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai; sử dụng thời gian nghĩ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật Mọi thành viên nam nữ trong gia đình đều có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

1.5 Ý nghĩa của quyền bình đẳng giới trong đời sống hôn nhân gia đình

Bình đẳng giới có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng chế độ xã hội văn minh và tiến bộ Dưới góc độ giới quan hệ gia đình có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau như phân công lao động theo giới trong gia đình, bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình những khía cạnh đó chịu ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội, các quan niệm đạo đức truyền thống, phong tục tập quán, văn hóa… được thể hiện rõ nét trong quan hệ vợ chồng, có thể gây ra những tác động tích cự hoặc tiêu cực nhất định đối với sự phát triển của gia đình

Bất bình đẳng giới có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, từ khi xã hội loài người chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền và đương nhiên bất bình đẳng giới bắt nguồn từ trong gia đình và tạo ra một trong những hình thức bất bình đẳng lớn nhất trong lịch sử nhân loại Những mâu thuẫn và xung đột, vô hình hay hữu hình từ hình thức bất bình đẳng này đã tạo ra những thảm kịch trong gia đình và kéo theo những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội

Từ thực tế cuộc sống cho thấy do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạc hậu phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội Sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng và sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình Quyền bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình được khẳng định và thể hiện một nhu cầu cấp thiết, bảo vệ quyền lợi như nhau của các thành viên trong gia đình đồng thời đẩy lùi những tư tưởng lạc hậu phong kiến Từ đó người phụ nữ trong xã hội, người vợ trong gia đình có điều kiện mạnh dạn hòa nhập vào đời sống cộng đồng để họ có thể tạo được những thành tựu đóng góp vào xã hội vào thế giới mà họ đang sống

Trong cuộc sống gia đình xóa bỏ bất bình đẳng giới sẽ tạo cho người phụ nữ người vợ trong gi đình được nâng lên họ có được những quyền lợi tương ứng với người chồng Do đó sẽ đảm bảo cho việc bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích chính đáng của họ trong gia đình Ngoài ra quyền bình đẳng trong đời sống gia đình có ý nghĩa về

Trang 25

mặt pháp lý là tạo cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảm bảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống làm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình Đó chính là cơ sở để đảm bảo gia đình dân chủ hòa thuận hạnh phúc

Nói tóm lại, sự bình đẳng giới nói chung và bình đẳng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nói riêng không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội mà nó còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc thể hiện sự tôn trọng nhân cách của con người cho mọi người được hưởng đầu đủ các quyền của họ

1.6 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới 109

1.6.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới

Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen - các lãnh tụ thiên tài của giai cấp

vô sản toàn thế giới - đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ

có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”

V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX - XX kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp

“gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có

“tiết kiệm” lao động của bản thân” Ông chỉ rõ “Trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa”; “họ cùng

10 Tạp chí luật học số 1/2011, tr 3

Trang 26

làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50 mác (nam giới thì được 2,50 - 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ được 1,7 - 2,0 mác” Phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình họ là “nô lệ gia đình”, bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất Ông khẳng định: “Không còn nghi ngờ gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn Thế nhưng, xu hướng đòi hoàn toàn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong công nghiệp, hoặc

xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng đó thật là phản động, không tưởng”

V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”, “Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “ bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà lao động

nữ chiếm đa số”; “thành lập chế độ cộng hòa , thực hiện chế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng”; “hủy bỏ tất cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới” Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”

1.6.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị

áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn Ngay từ đầu, Đảng

và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông” Người nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người chỉ rõ: “Ông Các Mác nói rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”; “…Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”; “Vậy nên, muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước” Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào”

Hơn một tháng sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945), trong Lời kêu gọi chống thất học (tháng

Trang 27

10/1945), Người chỉ ra: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”

Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã

có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”

Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua, Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”

Người nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào

sự nghiệp giải phóng dân tộc Do đó, ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ

và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta” Người cũng phê bình những thành kiến, hẹp hòi của một số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ ”

Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ ta đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có

kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

1.6.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới

Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện

xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi:

một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữ bình quyền”

Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị (tháng 10/1930) khi nói về phụ

nữ vận động, Đảng ta nhận rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh

Trang 28

đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được Đảng đặt ra yêu cầu đòi “bình quyền” cho phụ nữ: “Đàn bà, đàn ông, thanh niên việc làm ngang nhau thì tiền công cũng phải ngang nhau Công nhân đàn bà trước và sau khi sanh đẻ phải nghỉ tám tuần

lễ có lương”; “không được bắt đàn bà và trẻ con làm những việc nặng nề và nguy hiểm” Đảng đề ra các yêu cầu cho phụ nữ đấu tranh đòi quyền lợi của mình: “Đảng Cộng sản thảo ra cho các chị em công nhân và nông dân những điều yêu cầu bình đẳng với đàn ông phụ thêm cho chị em những điều yêu cầu sau này: Bỏ hết các pháp luật

và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông Bỏ cái chế độ áp bức của cha mẹ đối với con gái, của chồng đối với vợ (ép duyên, thóa mạ đàn bà con gái) Cấm tục năm thê bảy thiếp, vợ hầu vợ lẽ Quyền đàn bà được giữ con mình lúc ly dị”

Suốt 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hay trong những năm tháng khó khăn của thời kỳ bao cấp, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, đề ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ nữ (phụ vận), chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều thế hệ cán bộ, lãnh đạo nữ Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh vững vàng, phối hợp cùng với lực lượng nam giới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật”

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng… Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học - kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ

nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới ”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở việc tạo điều kiện cho mọi

Trang 29

người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”; “Đối với phụ nữ, xây

dựng và thực hiện Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm

2000 Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ; tăng tỉ lệ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là

tổ ấm của mỗi người Thực hiện tốt Luật Hôn nhân và gia đình”

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ghi: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các

cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ

và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định:

“Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thày đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đề ra các quan điểm, mục tiêu và năm nhiệm vụ, giải pháp Cụ thể là: Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức,

kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, cò lòng nhân hậu; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ

Đảng ta khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35%

Trang 30

đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ

có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực

Có thể nói, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay hoà bình, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm nhằm phát huy vai trò của phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và xã hội Trong suốt 65 năm qua, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng đông đảo, trưởng thành ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đặc biệt, những thành tích về chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) là 0,725, xếp ở

vị trí 116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển giới (GDI) xếp vị trí 94/155 nước (theo Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2009) là những minh chứng sinh động về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

Trang 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2.1 Quyền bình đẳng trong việc kết hôn giữa nam và nữ

2.1.1 Quyền bình đẳng của nam và nữ khi bước vào hôn nhân

Hôn nhân là sự liên kết giữa nam và nữ, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng được thực hiện theo các thủ tục do pháp luật quy định nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ hòa thuận Việc xác lập hôn nhân thông qua sự liên kết giữa một nam và một nữ được nhà nước thừa nhận dưới hình thức pháp lý đó là việc nam và nữ

đăng ký kết hôn Theo điều 39 BLDS2005: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy

định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Quyền kết hôn là quyền gắn với nhân thân của mỗi

bên nam và nữ, quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ: “Việc kết hôn do hai

bên nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được ép buộc cản trở” Việc đảm bảo cho hai bên nam nữ được tự do kết hôn

đã mở ra cho người phụ nữ sự bình đẳng với nam giới trong gia đình Pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho hai bên nam nữ được tự nguyện khi xác lập quan hệ hôn nhân là tiêu chí quan trọng để nam và nữ thực hiện một cách bình đẳng quyền kết hôn của mình

2.1.2 Quyền bình đẳng trong việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tiến bộ

Dưới chế độ phong kiến cha mẹ quy định việc hôn nhân của con cái, cưỡng ép hôn nhân, cho nên tình yêu không thể là cơ sở của hôn nhân được Hôn nhân là chỉ sự

tự do khi nào đó được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ, nghĩa

là không bị những tính toán của vật chất hay địa vị xã hội chi phối

Ngày nay, việc xác lập quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa

nam và nữ Theo khoản 2 điều 8 luật HN&GĐ 2000 ghi nhận: “Kết hôn là việc nam và

nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng

ký kết hôn” Việc nam và nữ yêu thương nhau rồi cùng nhau tiến tới hôn nhân tự

nguyện là nền tảng quan trọng để xây dựng gia đình hạnh phúc Ngoài ra theo khoản 2

Điều 9 luật HN&GĐ năm 2000: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định,

không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở

“ Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam và nữ phải tự mình quyết

Trang 32

định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau, hai bên không tác động bởi bất kì yếu tố nào khiến họ phải kết hôn với trái nguyện vọng của họ Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ sự yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng xây dựng gia đình Sự tự nguyện của hai bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại bền vững lâu dài Chính vì vậy, để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì khi đăng ký kết hôn phải có mặt của cả hai bên nam và nữ, không cho phép cử người đại diện trong việc đăng ký kết hôn, không cho phép đăng ký kết hôn vắng mặt, không cho phép người đang ở trong trạng thái tinh thần bị kích động như người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không có khả năng nhân thức làm chủ được hành vi của mình và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cấm họ kết hôn 10

bên về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: “ bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết

hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật”

Ví dụ: người con gái tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với một người nam giới, sau khi kết hôn về chung sống với nhau thì phát hiện chồng mình là một người khác Vì vậy, bảo đảm sự bình đẳng cho người phụ nữ trong việc thực hiện quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là một khía cạnh trong việc đảm bảo sự bình đẳng của người phụ nữ về quyền tự do kết hôn nói riêng và quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung

2.2 Quyền bình đẳng trong quan hệ vợ chồng

Trước cách mạng tháng tám, pháp luật chế độ phong kiến và chế độ thực dân coi trọng: “tư tưởng trọng nam khinh nữ” Đề cao quyền gia trưởng của người chồng không quan tâm bảo vệ quyền lợi của người vợ Trong gia đình, người vợ luôn phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng và người vợ chỉ là người phục tùng theo đạo

“tam tòng” nghĩa là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Có thể nói sự bất bình đẳng và coi thường người phụ nữ trong thời kỳ này đã làm cho người phụ nữ đặc biệt là người vợ trong gia đình bị mất hết quyền lợi trong gia đình

11

Xem khoản 2 điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Trang 33

Khi cách mạng tháng Tám thành công, hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta đã khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ cũng chính là cơ sở pháp lý xác nhận

quyền bình đẳng giữa vợ và chồng Điều 19 luật HN&GĐ 2000 quy định:“vợ, chồng

bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”

Trên cơ sở quy định về quyền bình đẳng giữa nam và nữ, luật HN&GĐ năm 2000 khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình Quyền bình đẳng đó thể hiện trong việc vợ chồng cùng nhau bàn bạc và gia đình về các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của bản thân vợ chồng và của mỗi thành viên trong gia đình liên quan đến đời sống chung của gia đình

2.2.1 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ nhân thân

Theo quy định của Điều 24 BLDS năm 2005 thì: “quyền nhân thân là quyền dân

sự gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác”

Sự bình đẳng trong quan hệ nhân thân giữa vợ chồng đã được luật HN&GĐ 2000 quy định cụ thể:

+ Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau, yêu thương quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ hạnh phúc bền vững

+ Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và việc xác lập quan hệ vợ chồng không ảnh hưởng tới nghề nghiệp của mỗi bên

có trách nhiệm giúp đỡ nhau cùng khả năng của mỗi bên

+ Vợ, chồng có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp chính đáng tham gia công tác chính trị, văn hóa, xã hội

+ Vợ, chồng có nghĩa vụ cùng nhau thực hiện kế hoạch hóa gia đình, vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ nuôi dạy con

2.2.1.1 Tình nghĩa vợ chồng

Gia đình là nơi hình thành và là môi trường quan trọng nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Điều 18 luật HN&GĐ năm 2000 quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, yêu thương chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau Đây là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định hạnh phúc và sự bền vững của gia đình Quy định này là sự kế thừa nội dung của điều 11 luật HN&GĐ năm 1986 khẳng định giá trị và vai trò của tình cảm yêu thương giữa vợ và chồng trong cuộc sống gia đình đồng thời còn khẳng định truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta về quan hệ hôn nhân gia đình

Cơ sở xác lập quan hệ vợ chồng là tình yêu thương giữa nam và nữ khi nam và

nữ yêu thương nhau, hiểu và cảm thông cho nhau thì họ quyết định xác lập quan hệ

Trang 34

hôn nhân Trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng cần phải quý trọng chăm sóc, giúp đỡ nhau Sự quý trọng chăm sóc lẫn nhau đó thể hiện ở hành vi cách xử sự và thái độ của

họ đối với nhau Đó là sự yêu mến, tôn trọng nhau, giữ gìn danh sự uy tín, nhân phẩm, lắng nghe ý kiến của nhau, quan tâm động viên lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi để vợ

và chồng phát huy hết khả năng của bản thân, thực hiện tốt hoạt động nghề nghiệp và nhiệm vụ đối với gia đình và xã hội

Quy định này không chỉ xác lập nghĩa vụ về mặt pháp lý nhằm củng cố nền tảng gia đình, mà còn là một bước quan trọng để bác bỏ tư tưởng phong kiến “trai năm thuê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” vẫn còn trong suy nghĩ của một số người Việc xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc là trách nhiệm chung của cả hai người, là quyền và nghĩa vụ mà vợ và chồng cần chung sức sẻ chia Ngoài ra nó còn khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng mặt khác là ngăn cản hành vi xúc phạm thân thể nhân phẩm của nhau, hành vi quan hệ ngoài hôn nhân giữa những người có vợ và có chồng Đây là hiện tượng còn xảy ra gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của vợ chồng của gia đình và xã hội và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn hiện nay Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội Sự tồn tại hôn nhân hạnh phúc, bền vững tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội Để hôn nhân bền vững thì điều cơ bản nhất là vợ, chồng phải yêu thương nhau, chung thủy với nhau, quý trọng chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, vợ chồng cùng nhau lao động, cùng chăm

lo, vun vén cho hạnh phúc gia đình Tình yêu thương lòng chung thủy giữa vợ và chồng là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự tồn tại bền vững của hôn nhân

Nói tóm lại, ý nghĩa của việc quy định về tình nghĩa vợ chồng chủ yếu nhằm đề cao đạo lý chung và tạo ra ý thức trách nhiệm cho mỗi người trong quan hệ vợ chồng

Vợ, chồng chung thủy yêu thương quý trọng lẫn nhau cùng nhau ra sức chăm lo xây dựng gia đình no ấm bình đẳng là mục tiêu của cuộc hôn nhân chân chính mà cả hai bên nam nữ muốn đạt được khi kết hôn với nhau

2.2.1.2 Quyền bình đẳng trong việc lựa chọn nơi cư trú

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ khi đi lấy chồng hoàn toàn phụ thuộc và toàn tâm toàn ý theo mệnh lệnh của người chồng cho nên chỗ ở của vợ chồng cũng do người chồng quyết định theo thuyết “ thuyền theo lái, gái theo chồng” Quan niệm này ngày nay không còn phù hợp nữa

Chính vì vậy, tại điều 20 luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “nơi cư trú của vợ,

chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính” Quy định này thể hiện tư tưởng tiến bộ trong chủ trương giải phóng

người phụ nữ của Đảng và nhà nước ta Quy định này hoàn toàn phù hợp với khoản 4

Trang 35

điếu 15 công ước Cedaw: “các nước tham gia Công ước phải cho nam và nữ những quyền như nhau về mặt pháp luật liên quan đến việc đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú

.11

Để nâng cao quyền tự do cư trú đi lại của mỗi con người tại khoản 1 điều 48

BLDS 2005 khẳng định:“cá nhân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú” Trong cuộc

sống gia đình vợ chồng có quyền lựa chọn nơi cư trú, không bị ràng buộc bởi phong tục táp quán, địa giới hành chính Nếu vợ chồng có nơi ở chung sẽ tạo điều kiện thuận lợi có việc thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau nuôi dạy con Nếu vì lý do nghề nghiệp mà vợ chồng không thể có nơi cư trú chung thì mỗi người có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú của mình Và việc có nơi cư trú chung hay riêng không ảnh hưởng tới việc vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, với con cái

và việc chăm lo xây dựng gia đình

Tóm lại, việc lựa chọn nơi cư trú là quyền bình đẳng của người vợ cũng như của người chồng trong cuộc sống gia đình Mọi người hoàn toàn bình đẳng không ai phụ thuộc vào ai bởi vì nơi cư trú có vai trò quan trong trong cuộc sống của mỗi cặp vợ

Ngày nay, trong quá trình xã hội ngày càng phát triển, vấn đề bình đẳng giới ngày càng được chú trọng Vì vậy, để duy trì được hạnh phúc gia đình thì giữa người vợ và người chồng trong gia đình thì cần phải tôn trọng và giữ gìn danh dự nhân phẩm, uy tín của họ cho nhau Bởi vì có vậy họ mới có thể thực hiện được các quyền và nghĩa

vụ đối với nhau để cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc

Đây là yếu tố quan trọng của mỗi con người, mang tính nhân quyền cao được quy

định tại Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định :“ công dân có quyền bất khả xâm phạm về

thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” Mọi

cá nhân không phân biệt giới tính đều có quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác

12

Bình luận khoa học luật hôn nhân và gia đình Việt nam 2000 – NXB Chính trị quốc gia, tr 160

Trang 36

+ Danh dự: danh dự ở đây là phạm trù xã hội nhằm cá thể hóa và phân biệt giữa chủ thể này và chủ thể khác trong quan hệ pháp luật Danh dự là yếu tố gắn liền với một chủ thể nhất định và là một trong những yếu tố khẳng định vị trí, vai trò, uy tín của chủ thể đó trong xã hội

+ Nhân phẩm: nhân phẩm là những phẩm chất tạo nên giá trị của con người + Uy tín: uy tín là sự tín nhiệm, tin tưởng, mến phục của mọi người đối với

Cùng với việc quy định nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ

chồng khoản 2 điều 21 luật HN&GĐ 2000 có quy định:“cấm vợ, chồng có hành vi

ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau” Đây cũng là

điểm tiến bộ hơn của luật hiện hành so với luật HN&GĐ1986 chưa quy định về cấm hành vi ngược đãi của vợ chồng đối với nhau

Theo quan điểm bình đẳng giới thì những hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nhau giữa vợ chồng phải được nhìn nhận từ hai góc độ: hành vi của chồng đối với vợ, và hành vi của vợ đối với chồng Những hành vi đó dưới

góc độ giới gọi là bạo lực trên cơ sở giới bao gồm:“bất kì hành động bạo lực dựa trên

cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến nhưng tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của vợ hoặc chồng, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sư tự do dù

Việc xóa bỏ bạo lực trong

gia đình đặc biệt là đối với phụ nữ là một yêu cầu của khách quan, là nhiệm vụ của tất

cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội

Có thể nói là gia đình là sự kết hợp, dung hòa giữa vợ và chồng dựa trên cơ sở của tình yêu, sự tôn trọng và bình đẳng: đó là sự gắn kết cả về thể xác lẫn tâm hồn, cùng tương trợ, gắn bó, giúp đỡ nhau về mọi mặt trong cuộc sống của vợ và chồng Bởi vậy, nếu trong gia đình tồn tại sự bất bình đẳng Nếu một người bị vợ, chồng mình đối xử bạc đãi, xúc phạm danh dự nhân phẩm lẫn nhau thì tình nghĩa vợ chồng khó có thể trọn vẹn, họ khó mà có thể dung hòa trong cùng một mái nhà và thực tế cũng chứng minh việc bạo hành gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều cuộc ly hôn, gia đình tan vỡ Để thực hiện tốt quy định này cần loại bỏ tư tưởng cổ hủ, coi việc cư xử trong quan hệ vợ chồng là việc riêng tư của những gia đình mà xã hội

và pháp luật không có vai trò can thiệp

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w