1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt ở trường mầm non

114 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức nâng cao nhận thức về vệ sinh răng miệng và giáo dục vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo cho đội ngũ giáo viên qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non .... Những nguyên n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

- -

ĐẶNG THỊ THƯƠNG

GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG

CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY

Ở TRƯỜNG MẦM NON

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

- -

ĐẶNG THỊ THƯƠNG

GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG

CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY

Ở TRƯỜNG MẦM NON

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

Mã số: 8 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG QUÝ TỈNH

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Quý Tỉnh

đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành Luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện cho tác giả được học tập, nghiên cứu

Cũng nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Mầm non huyện Simacai, các cô giáo, các bậc phụ huynh, các cháu của trường Mầm non trên đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu

Nhân dịp này tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, chia sẻ, giúp

đỡ tác giả vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Đặng Thị Thương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Đặng Thị Thương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu về bệnh răng miệng ở trẻ em trên thế giới 6

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh răng miệng ở trẻ em tại Việt Nam 8

1.2 Bệnh răng miệng ở trẻ em 11

1.2.1 Khái niệm bệnh răng miệng 11

1.2.2 Nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh răng miệng 12 1.3 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo 14

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3 - 5 tuổi 14

1.3.2 Đặc điểm các dạng hoạt động của trẻ 3 - 5 tuổi 18

1.4 Quá trình giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 21

1.4.1 Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ mẫu giáo ở trường Mầm non 21 1.4.2 Khái niệm vệ sinh răng miệng, giáo dục vệ sinh răng miệng và giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 22 1.4.3 Mục tiêu và nội dung giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu

Trang 6

giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 24

1.4.4 Chủ thể giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 28

1.4.5 Biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 31

1.4.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 32

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 33

Kết luận chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 36

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 36

2.2 Giới thiệu về quá trình khảo sát thực trạng 37

2.2.1 Mục đích khảo sát 37

2.2.2 Đối tượng khảo sát 37

2.2.3 Nội dung khảo sát 38

2.2.4 Phương pháp khảo sát 38

2.3 Vấn đề giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo trong chương trình Mầm non hiện hành 38

2.3.1 Mục tiêu giáo dục mầm non 38

2.3.2 Phương pháp và hình thức giáo dục 39

2.4 Thực trạng bệnh răng miệng của trẻ mẫu giáo ở trường Mầm non 40

2.5 Thực trạng nhận thức về vệ sinh răng miệng và giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 40 2.5.1 Nhận thức về vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo 40

2.5.2 Nhận thức về sự cần thiết của giáo dục vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 43

Trang 7

2.6 Thực trạng thực hiện quá trình giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ

mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 44

2.6.1 Thực trạng các hoạt động hàng ngày của trẻ mẫu giáo ở trường Mầm non 44

2.6.2 Thực trạng mục tiêu giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 45

2.6.3 Thực trạng nội dung giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 46

2.6.4 Thực trạng các lực lượng giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 48

2.6.5 Thực trạng các phương pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 49

2.6.6 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 53

2.6.7 Nguyên nhân của thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 59

2.7 Đánh giá chung về thực trạng 61

Kết luận chương 2 62

Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 64

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 64

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 64

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 64

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng và linh hoạt 65

3.1.4 Nguyên tắc lặp lại nhiều lần 65

3.2 Một số biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 66

Trang 8

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức về vệ sinh răng miệng và giáo dục

vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo cho đội ngũ giáo viên qua chế độ

sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 66

3.2.2 Hoàn thiện mục tiêu, nội dung giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 67

3.2.3 Bồi dưỡng năng lực giáo dục vệ sinh răng miệng cho đội ngũ giáo viên Mầm non 68

3.2.4 Phối hợp các lực lượng trong giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 69

3.2.5 Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, trạng thiết bị và kinh phí cho giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 71

3.2.6 Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non một cách thường xuyên 72

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 72

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 73

3.4.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 73

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 74

Kết luận chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 10

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thực trạng bệnh răng miệng của trẻ mẫu giáo ở trường Mầm

non huyện Simacai 40 Bảng 2.2 Nhận thức của giáo viên và cán bộ y tế trường học về tầm quan

trọng của sức khỏe răng miệng của trẻ mẫu giáo 41 Bảng 2.3.Nhận thức của giáo viên và cán bộ y tế trường học về nguyên

nhân gây nên bệnh răng miệng ở trẻ mẫu giáo 41 Bảng 2.4 Nhận thức của phụ huynh học sinh về nguyên nhân gây nên

bệnh răng miệng ở trẻ 42 Bảng 2.5 Khảo sát sự cần thiết giáo dục VSRM cho trẻ mẫu giáo của

giáo viên 43 Bảng 2.6 Khảo sát sự cần thiết giáo dục VSRM cho trẻ mẫu giáo của

phụ huynh 44 Bảng 2.7 Những hoạt động trong ngày có thể giáo dục VSRM cho trẻ

mẫu giáo 45 Bảng 2.8 Thực trạng mục tiêu giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu

giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 46 Bảng 2.9 Nội dung giáo dục VSRM cho trẻ mẫu giáo của giáo viên 47 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát về trình độ và thâm niên của giáo viên 48 Bảng 2.11 Những phương pháp giáo viên sử dụng để giáo dục VSRM

cho trẻ mẫu giáo 50 Bảng 2.12 Kết quả đánh giá giáo dục vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo 55 Bảng 2.13 Kết quả đánh giá kỹ năng VSRM của mẫu giáo ở một số

trường Mầm non huyện Simacai 57 Bảng 2.14 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục VSRM cho trẻ

mẫu giáo 59

Trang 11

Bảng 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng

cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 75 Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho

trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non 76

Biểu đồ 2.1 Thực trạng kết quả giáo dục vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo 56 Biểu đồ 2.2 Kết quả đánh giá kỹ năng VSRM của mẫu giáo ở một số

trường mầm non huyện Simacai qua từng tiêu chí 58

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là niềm tự hào của gia đình là nguồn nhân lực của đất nước Việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ hiện nay được cả cộng đồng đặc biệt quan tâm Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về giáo dục thì trẻ cũng cần được đảm bảo về mặt thể chất nhằm tạo nên một thế hệ tương lai phát triển toàn diện Ở lứa tuổi Mầm non trẻ thường mắc các bệnh về hô hấp, đường ruột và đặc biệt là bệnh

về răng miệng

Bệnh về răng miệng là một trong những bệnh phổ biến nhưng vô cùng nguy hiểm, được tổ chức WHO xếp vào hàng tai họa thứ ba trên thế giới sau bệnh về tim mạch và ung thư [45] Nhiều năm qua với sự đóng góp của y khoa, bệnh răng miệng đã dần được đẩy lùi ở một số nước phát triển Tuy nhiên tỷ lệ bệnh răng miệng vẫn còn cao ở những nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam

Hưởng ứng lời kêu gọi chăm sóc sức khỏe răng miệng trên toàn thế giới, Việt Nam đã tổ chức nhiều chương trình mang tính cộng đồng nhằm đẩy lùi bệnh răng miệng ở trẻ em trong đó có chương trình nha học đường Chương trình này tuy chưa thành công triệt để nhưng cũng có một số đóng góp tích cực vào việc cải thiện tình hình răng miệng ở trẻ em Việt Nam

Thiết nghĩ hành động chăm sóc sức khỏe răng miệng là việc liên quan đến tình trạng thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân Bởi vậy việc chăm sóc

vệ sinh răng miệng là việc cả cộng đồng cần hưởng ứng và thực hiện Để đảm bảo cho một thế hệ tương lai tươi sáng phát triển toàn diện cả về trí tuệ lẫn thể chất thì việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ nói chung và vệ sinh răng miệng nói riêng cần được tiến hành ngay từ cấp Mầm non

Giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ ở lứa tuổi Mầm non hoàn toàn cần thiết bởi trong giai đoạn này hàm răng trẻ mới được hình thành và hoàn thiện, hàm răng sữa rất quan trọng trong quá trình nghiền nát thức ăn giúp trẻ hấp

Trang 13

thụ chất dinh dưỡng và còn giúp trẻ phát triển khả năng phát âm của mình Ngoài ra chăm sóc hàm răng sữa cho trẻ cũng rất quan trọng nhằm tạo tiền đề cho hàm răng trưởng thành sau này có tính thẩm mỹ và chắc khỏe hơn Hơn nữa đối với trẻ bị sâu răng sẽ ảnh hưởng lớn tới tâm lý , trẻ ngại tiếp xúc với bạn bè và giao tiếp với người khác Theo thời gian,vấn đề về răng miệng khiến trẻ mất tự tin, cô lập mình với mọi người và ảnh hưởng đến sự định hình tâm lý sau này của trẻ [18] Bởi vậy việc giáo dục vệ sinh răng miệng vào giai đoạn này không những giúp trẻ tự tin, khỏe mạnh, mà còn giúp trẻ hình thành nên thói quen vệ sinh thân thể cũng như rèn luyện, tính tự giác, kiên trì, độc lập trong công tác tự phục vụ

Giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ Mầm non, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo là hoàn toàn phù hợp Bởi trẻ ở lứa tuổi này này đã có sự phát triển nhất định về mặt nhận thức, trẻ say mê khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh, trí tuệ phát triển mạnh mẽ từ tư duy trực quan hành động đến tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan sơ đồ v.v Về vận động trẻ cũng có sự hoàn thiện nhất định, trẻ có khả năng vận động thuần thục hơn, do đó trẻ hoàn toàn

có thể thực hiện được một số công việc tự phục vụ đơn giản trong đó có vệ sinh răng miệng

Để góp phần trong công cuộc giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ rất cần sự nhận thức đúng đắn của giáo viên về vấn đề nghiêm trọng của bệnh răng miệng ở trẻ em, qua đó giáo viên có những nội dung và hình thức giáo dục phù hợp tác động lên nhận thức và hành động của trẻ Bên cạnh sự chăm sóc giáo dục tận tình của giáo viên cũng rất cần sự hợp tác hỗ trợ giáo dục từ phía các bậc phụ huynh nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức, hành động và thái độ đúng đắn về vấn đề vệ sinh răng miệng

Thực tế giáo dục Mầm non hiện nay, việc giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ đã nhận được nhiều sự qua tâm, nhưng hiệu quả giáo dục VSRM chưa

Trang 14

cao do nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân cơ bản có thể kể đến đó là giáo viên chưa áp dụng thống nhất được những nội dung học và các biện pháp giáo dục một cách hợp lý, bên cạnh đó nhận thức của trẻ về vấn đề

vệ sinh răng miệng chưa cao và công tác phối kết hợp giữa phụ huynh cùng nhà trường trong công tác giáo dục trẻ nói chung và giáo dục VSRM cho trẻ nói riêng chưa đạt hiệu quả

Xuất phát từ những lí do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục

vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt ở trường mầm non” để tiến hành nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận về giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày, chúng tôi tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo ở

trường Mầm non

Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho

trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đưa ra được các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng qua chế độ sinh hoạt hàng ngày hợp lý, khoa học thì sẽ góp phần làm giảm tỉ lệ trẻ mẫu giáo mắc bệnh răng miệng, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ trong các trường Mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hoàn thiện khung lí luận về giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Trang 15

Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Đề xuất một số các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non và khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Chúng tôi tập trung nghiên cứu lí luận, thực trạng và biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Các trường Mầm non ở huyện Simacai, tỉnh Lào Cai

Giới hạn về khách thể khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát trên bốn cán bộ quản lý, hai mươi bốn giáo viên đang trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo và hai cán bộ y tế trường Mầm non huyện Simacai, tỉnh Lào Cai Giới hạn về thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí luận để phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, các vấn đề lí luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

Sử dụng phiếu điều tra thăm dò nhận thức của giáo viên về vấn đề răng miệng ở trẻ đồng thời tìm hiểu những biện pháp giáo viên đã sử dụng để giáo dục VSRM cho trẻ

Trang 16

- Phương pháp đàm thoại

Trò chuyện trực tiếp với cán bộ quản lý, cán bộ y tế, giáo viên, phụ huynh và trẻ mẫu giáo để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu

7.3 Nhóm các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý các số liệu điều tra

Nhập và xử lý số liệu thu được để phân tích và tổng hợp các số liệu đã điều tra

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận để phân tích, so sánh và tổng hợp các tài liệu, các vấn đề lý luận có liên quan tới đề tài nghiên cứu

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện qua 3 chương:

Chương 1: Lí luận về giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua

chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Chương 2: Thực trạng các biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ

mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Chương 3: Biện pháp giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế

độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Trang 17

Chương 1

LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH RĂNG MIỆNG

CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY

Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về bệnh răng miệng ở trẻ em trên thế giới

Bệnh về răng miệng là bệnh phổ biến, bệnh gặp ở tất cả các lứa tuổi, khu vực kinh tế xã hội và khu vực địa lý Theo nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài cho thấy tỷ lệ về bệnh răng miệng ở trẻ em cao với tỷ lệ tới 90% Theo điều tra của WHO (1978) trên thế giới có 80% trẻ em dưới 2 tuổi và 100% trẻ dưới 14 tuổi viêm lợi mãn tính [44]

Nghiên cứu của Jaccoby ở Đức năm 1992 tỷ lệ viêm lợi ở trẻ 12 tuổi là 88,3% [41]

Theo nghiên cứu của Merac trên 3188 trẻ da trắng tuổi từ 1 đến 6 ở Teness, tỷ lệ có tổn thương sâu răng chiếm 41% [9]

Finn kiểm tra 5824 trẻ em ở Newberyn và Kington (New York) tỷ lệ sâu răng là 98% [9]

Một nghiên cứu về điều kiện sức khỏe răng miệng của trẻ từ 0 đến 30 tháng ở Salvador, Brazil (2000), nhận thấy tỷ lệ sâu răng là 55,3%, sâu răng

có sự phân hóa theo độ tuổi; 25% với trẻ 0-12 tháng, 51,18% đối với trẻ 13-24 tháng; 71,03% với trẻ 25-30 tháng

Theo Sabbah W (2003) ở Ả rập Xê út, tỷ lệ mắc sâu răng của trẻ 31 đến

Trang 18

trẻ 4 tuổi 50,7% ; trẻ 5 tuổi là 60,9% Tương ứng với tỉ lệ sâu mất trám là: 2,31; 2,56; 2,96 với những đối tượng trên [35]

Số liệu của Wanjau J (2006) tại Mpumalanga Nam Phi cho thấy tỷ lệ sâu răng ở trẻ 3 tuổi là 25,4%; trẻ 4 tuổi là 55,8%; trẻ 5 tuổi là 53,4% [44]

Nghiên cứu của Misal SL (2007) cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ vùng đô thị ở Chilê cao với số liệu là: 83% với trẻ 3 tuổi; 52% với trẻ 4 tuổi và 30% với trẻ 6 tuổi [34]

Trẻ em từ 6 đến 11 tuổi hiện diện cả răng sữa và răng vĩnh viễn trên cung hàm gọi là răng hỗn hợp (denture mixte) Theo Klein và Palmer điều tra toàn bộ trẻ em trường phổ thông cơ sở của Hageton và Margland (Anh) tuổi

từ 6-15 (4416 trẻ) cho thấy tỷ lệ sâu răng ở trẻ em nam là 50% và 56% ở nữ Trong đó nam ở tuổi 14 có tỷ lệ sâu là 95% và 96% ở nữ [9]

Tại Pháp (1990) 90% trẻ ở 14 tuổi bị sâu răng [9]

Nghiên cứu của Bajome AS và cộng sự (2004) nghiên cứu sâu răng ở trẻ

6 tuổi, 12 và 15 tuổi tại Nam Phi ghi nhận tất cả các nhóm tuổi tỷ lệ sâu mất trám tăng gấp đôi so với mức trung bình [31]

Các báo cáo của tác giả Vargas, Crall và Schneuder (1994 - 1998), USA đưa ra những số liệu có tính đại diện cho lứa tuổi học đường: 61% trẻ 6-12 tuổi có ít nhất 1 răng sâu hoặc đã trám; 40 % trẻ 6-14 tuổi có ít nhất 1 răng sâu hoặc đã trám; 89% trẻ 15-18 tuổi có ít nhất 1 răng vĩnh viễn sâu hoặc đã trám [4]

Ở các nước phát triển như Úc, Bắc Âu, Mỹ đã giảm tỷ lệ sâu răng khoảng còn ½ Ví dụ năm 1994, chỉ số sâu mất trám ở trẻ 12 tuổi tại Úc là 1,5; ở Mỹ là 1,3 Cũng ở hai nước này trước năm 1980 chỉ số này là trên 3 [15]

Theo G.Davies và cộng sự (2013) tại Anh tỷ lệ sâu răng ở trẻ em đã giảm từ 30,9% năm 2008 xuống còn 27,9% vào năm 2012, tương đương với phần trăm thay đổi là 9,7% [33]

Trang 19

Tuy nhiên bệnh sâu răng vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng tại các nước đang phát triển, tỷ lệ sâu răng có xu hướng gia tăng, chỉ số SMT từ 1960 đến 1972 khoảng 0,1 đến 6,3 nhưng từ năm 1976 đến 1982 đã tăng từ 2,3 đến 10,7 [37]

Theo thông báo của Tổ chức y tế thế giới năm 1994 và 1997, hầu hết các nước trong khu vực Châu Á có trên 90% dân số sâu răng và chỉ số SMT ở nhóm tuổi 12 tại nhiều nước ở mức cao từ 0,7 ở Trung Quốc đến 4,9 ở Campuchia [38]

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh răng miệng ở trẻ em tại Việt Nam

Ở Việt Nam tỷ lệ trẻ mắc bệnh về răng miệng rất cao và cũng đã có những công trình nghiên cứu về thực trạng này Điều tra toàn quốc về sức khỏe răng miệng tại việt Nam (1990) Kết quả điều tra cho thấy tại miền Bắc, nhóm trẻ 12 tuổi có 57,33% bị sâu, chỉ số SMT là 1,82; nhóm trẻ 15 tuổi có 60% sâu răng và chỉ số SMT là 2,16% Tại miền Nam, nhóm trẻ 12 tuổi có tỷ

lệ sâu tỷ lệ sâu vĩnh viễn là 76,33% và chỉ số SMT là 2,93; nhóm trẻ 19 tuổi

Cũng trong kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc ở Việt Nam (1999-2000) cho thấy phần lớn trẻ trên 8 tuổi chảy máu chân lợi và trung bình

số vùng bị chảy máu là trên 2 [20]

Theo nghiên cứu của T.S Trịnh Đình Hải (2005) về đánh giá thực trạng sâu răng ở hai vùng đồng bằng của Việt Nam cho thấy, vùng Đồng bằng sông Hồng tỷ lệ răng sữa bị sâu ở lứa tuổi 6-8 là rất cao và ở mức 72,3%, trung

Trang 20

bình mỗi trẻ em ở vùng này có 3,25 răng sữa đã bị sâu và đáng chú ý là số răng được hàn lại ở mỗi trẻ là rất thấp và chỉ chiếm tỷ lệ 0,92% Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ sâu răng sữa ở nhóm trẻ 6 tuổi là 97,5%, trẻ 6 tuổi trung bình mỗi em có 9,96 răng sữa đã bị sâu [22]

Theo kết quả điều tra của Trương Mạnh Dũng và cs (2011) nghiên cứu tại năm tỉnh thành trong cả nước cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa của trẻ 4-8 tuổi là 81,6%; SMT là 4.7; 90,6% có cặn bám và 81,1% có cao răng [24]

Nghiên cứu của Vũ Ngọc Tuấn, Lưu Văn Trường và Hà Ngọc Chiểu về sâu răng sớm ở trẻ 3 tuổi tại trường Trà Giang, Kiến Xương, Thái Bình (2013) cho thấy tỷ lệ sâu răng sớm ở trẻ là 79,7% trong đó trẻ nữ là 80,7% và trẻ nam là 79,0% [27]

Năm 2001, điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần thứ 2, kết quả cho thấy trẻ 6-8 tuổi có 84,9% bị sâu răng sữa và chỉ số SMT là 5,04; nhóm trẻ 12 tuổi có 56,6% sâu răng vĩnh viễn và chỉ số SMT là 2,16 So sánh hai cuộc điều tra sức khỏe răng miệng cách nhau 10 năm cho thấy tỷ lệ sâu răng ở trẻ em Việt Nam có chiều hướng gia tăng

Nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002), “Nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học các dân tộc tỉnh Yên Bái và một số biện pháp can thiệp cộng đồng”, tỷ lệ sâu răng ở trẻ 6 tuổi là 5,16% và trẻ 7 tuổi là 7,1% [5]

Theo nghiên cứu của Trần Thị Phương Đan, Hoàng Tử Tùng và Phạm Hùng Lực trên 1782 trẻ em thuộc các nhóm tuổi 6, 12 và 15 ở 15 trường tiểu học tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ ra rằng tỷ lệ sâu răng của nhóm trẻ 6 tuổi là 90,8%; 12 tuổi là 59,4%; 15 tuổi là 69,7%, tương ứng với tỷ lệ SMT ở trẻ 6 tuổi là 6,35 ± 4; 12 tuổi là 1,55 ± 1,8; 15 tuổi là 2,26 ± 2,3 [14]

Nghiên cứu của Vũ Mạnh Tuấn và cộng sự về “đánh giá thực trạng sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm của học sinh 7-8 tuổi trường tiểu học Đông

Trang 21

Ngạc A, Từ Liêm, Hà Nội” chỉ ra: 78,8% học sinh bị sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm, tỷ lệ sâu răng giai đoạn sớm đang ở mức rất cao [27]

Nguyễn Quốc Trung nghiên cứu về “Phát hiện tổn thương sâu răng vĩnh viễn của học sinh 7-11 tuổi bằng thiết bị Laser huỳnh quang” trên 616 học sinh, kết quả là 78,9% học sinh bị sâu răng và thương tổn răng Nhu cầu điều trị sâu răng của nhóm đối tượng ở mức độ cao 98,5% [10]

Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh(2006), “Nhận xét tình hình sâu răng và viêm lợi ở học sinh tiểu học lứa tuổi 7-11 tại trường tiểu học Thanh Liệt” cho thấy tỷ lệ viêm lợi của trẻ 7 tuổi 43,33%; 11 tuổi 68,67% [16]

Theo Vương Thị Hương Giang (2008) “Khảo sát tình trạng sâu răng trên trẻ 4-5 tuổi tại Trường mầm non Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Hà Nội” cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ khá cao, 50% ở trẻ 4 tuổi và 56% ở trẻ 5 tuổi

Theo nghiên cứu của Nông Bích Thủy(2010), “Thực trạng viêm lợi và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn” cho thấy tỉ lệ viêm lợi ở trẻ 7 tuổi là 28,3% \; 11 tuổi là 64,9%; trong đó chảy máu lợi là 18,4%,

có cao răng là 46,5% [12]

Trong nghiên cứu tình trạng sức khỏe của trẻ em Mầm non 3-6 tuổi thuộc xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc của Vũ Văn Tâm, Nguyễn Hữu Nhân, Hoàng Quý Tỉnh (2016) trên 690 trẻ cho thấy 492 trường hợp trẻ bị sâu chiếm tỷ lệ 71,3% và có sự phân hóa theo độ tuổi, thấp nhất là nhóm trẻ 3 tuổi với tỷ lệ 40% và cao nhất là nhóm trẻ 5 tuổi với tỷ lệ 77,5% [29]

Theo Trần Tấn Tài (2016), “Thực trạng sâu răng và hiệu quả của giải pháp can thiệp cộng đồng của học sinh tại một số trường tiểu học ở Thừa Thiên Huế” cho thấy tỷ lệ viêm vùng quanh răng ở trẻ từ lớp 1 đến lớp 4 như sau: tỷ lệ mảng bám chiếm 55,5%, tỷ lệ viêm lợi chiếm 33,2% và tỷ lệ cao răng chiếm 31,2% [15]

Trang 22

Qua đây chúng ta có thể thấy vấn đề về răng miệng của trẻ em trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt được qua tâm với nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở đây chủ yếu điều tra sức khỏe răng miệng và tìm hiểu về thực trạng về vấn đề về răng miệng ở trẻ mẫu giáo Ngoài những nghiên cứu về giáo dục VSRM cho trẻ như: nghiên cứu của tác

giả Trần Thị Nhung(2015), “Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ

mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi ở tỉnh Hòa bình” [17]; Nghiên cứu của tác giả Đào Thị

Trang(2015), “Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ mẫu giáo từ 3 - 5

tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc” [6] và một số các nghiên cứu khác thì đa số các

nghiên cứu về vấn đề giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mầm non được lồng ghép vào các nghiên cứu giáo dục vệ sinh thân thể cho trẻ Vậy nên đây cũng

là một trong số những lý do chúng tôi mong muốn được nghiên cứu đề tài

“Giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng

ngày ở trường Mầm non” với mong muốn hoàn thiện hơn những vấn đề mà

các tác giả trước đây đã nghiên cứu

1.2 Bệnh răng miệng ở trẻ em

1.2.1 Khái niệm bệnh răng miệng

Bệnh răng miệng: là các bệnh về tổ chức cứng(sâu răng) của răng và tổ chức quanh răng và niêm mạc (viêm lợi, viêm quanh răng) Trong đó hai bệnh thường gặp đó là bệnh sâu răng và bệnh viêm quanh răng (ở lứa tuổi học sinh

đó là bệnh viêm lợi) [11]

1.2.1.1 Khái niệm sâu răng

Bệnh sâu răng là bệnh phổ biến ở loài người, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sâu răng, tuy nhiên hiện nay đa số các nhà nghiên cứu thống nhất rằng sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng [43] Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các

Trang 23

phản ứng hóa lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng, và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ

Sâu răng chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu tổn thương sớm chưa hình thành lỗ sâu và giai đoạn tiếp theo là giai đoạn đã hình thành lỗ sâu

1.2.1.2 Khái niệm viêm lợi

Viêm lợi là viêm khu trú ở lợi ( bờ, nhú lợi, lợi dính) nhưng không ảnh hưởng tới xương ổ răng [7]

Viêm lợi rất đa dạng, viêm phá hủy nhú lợi, viền lợi và lợi bám dính, có thể viêm đỏ, viêm thanh dịch, viêm loét Nếu viêm nặng thường chảy máu khi nhai, khi chải răng và chảy máu tự nhiên

1.2.2 Nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh răng miệng

Bệnh răng miệng là bệnh đa nguyên, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi khác như chế độ ăn uống nhiều đường, không vệ sinh răng miệng, tình trạng răng mọc khấp khểnh không đều, nguồn nước không chứa flour

1.2.3.1 Nguyên nhân chính gây nên bệnh răng miệng

* Vi khuẩn và mảng bám

Mảng bám có vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh răng miệng

do các axit sinh ra từ mảng bám sẽ phá hủy men răng và tổn thương lợi

Vi khuẩn Streptococcus mutans và Lactobacillus Vi khuẩn này chuyển hóa các chất đường từ thức ăn thành axit Độ pH của mảng bám giảm dưới 5,5 (pH giới hạn) thì hiện tượng hủy khoáng xảy ra

Phần lớn khi chúng ta ăn các mảng thức ăn nhỏ không được làm sạch

sẽ bám vào chân răng tạo nên mảng bám, vi khuẩn sẽ tấn công chân răng và sản sinh ở đó các enzym có khả năng phá hủy sự liên kết của các biểu mô(nối lợi và răng) sau đó sẽ gây ra viêm vùng quanh răng

Trang 24

* Vai trò của Carbonhydrat

Vi khuẩn sau khi vào miệng tự nó không gây sâu răng Có sự liên quan

rõ rệt giữa sâu răng và sự lên men đường

Trong các loại đường thì đường Sucrose (đường mía) có khả năng gây sâu răng cao nhất

Tỷ lệ sâu răng và quanh miệng liên quan tới độ đậm dặc, độ dính, cách thức và tần suất sử dụng đường hơn là tổng lượng đường tiêu thụ

1.2.3.2 Một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh răng miệng

* Yếu tố nội sinh của răng

Thành phần men răng: Ở những răng mới mọc, men răng chưa hoàn thiện, lúc này men răng có thành phần apatite chứa nhiều carbonat là dạng tinh thể dễ bị tác dụng bởi axit Khi răng trưởng thành nhóm carbonat được thay thế bằng flour hoặc hydroxyl thì men răng sẽ có sức đề kháng tốt hơn Cấu trúc men răng: có những khiếm khuyết về men răng như thiểu sản men, men chưa trưởng thành làm tăng nguy cơ sâu răng

Hình thể giải phẫu răng: Răng có hố rãnh sâu, hình thái khác thường, vùng tiếp xúc mặt bên rộng, tăng nguy cơ gây sâu răng

Vị trí răng: răng sắp xếp không đều, chen chúc, khểnh lệch làm tăng khả năng lưu trữ mảng bám dẫn đến viêm lợi và sâu răng

* Chế độ dinh dưỡng

Các bằng chứng đã chỉ ra rằng sự thiếu hụt dinh dưỡng có thể dẫn tới thiểu sản men và sâu răng Đặc biệt khẩu phần ăn thiếu canxi và vitamin C là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến bệnh quanh răng

Ngoài ra chế độ ăn không hợp lý, tiếp nhận quá nhiều đường, ăn vặt nhiều lần trong ngày cũng là yếu tố nguy hiểm đối với vấn đề về răng miệng Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, thói quen ăn uống trước khi ngủ như bú bình,

bú trong khi ngủ cũng gây nên những hệ quả nghiêm trọng về răng miệng mà

Trang 25

các nhà nghiên cứu đã gọi tên nó là hội chứng bú bình Thói quen ngậm cơm

và thức ăn ở trẻ nhỏ cũng gây ra những hậu quả gần như hội chứng bú bình

* Điều kiện môi trường xã hội và nhận thức của cha mẹ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ nhận thức của cha mẹ và điều kiện gia đình cũng như môi trường sống được cho là một trong số những yếu

tố nguy cơ liên quan đến bệnh răng miệng của trẻ Đa phần các nghiên cứu cho thấy sâu răng hay gặp hơn trong các gia đình có các ông bố bà mẹ đơn thân, hoặc những gia đình bố mẹ có trình độ học vấn thấp

Theo Rao và CS nghiên cứu thấy rằng: Học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn học sinh ở ngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng tốt hơn học sinh không là dân tộc ít người [39]

* Kiến thức, thái độ, hành vi vệ sinh răng miệng

Theo nghiên cứu của Nông Thị Bích Thủy về “thực trạng sâu răng,

viêm lợi và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn”(2010)

cho thấy các yêu tố nguy cơ về kiến thức, thái độ, hành vi vệ sinh răng miệng như nhận thức về sức khỏe răng miệng, các nguyên nhân, chế độ dinh dưỡng, thói quen hàng ngày, cách thức đánh răng, có sự liên quan chặt chẽ tới tình trạng sâu răng, viêm lợi [12]

Tác giả Mohammed Redman nghiên cứu trên học sinh 11 - 14 tuổi cho thấy tình trạng VSRM kém có nguy cơ cao đối với bệnh răng miệng [36]

1.3 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3 - 5 tuổi

1.3.1.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ 3 – 5 tuổi

Ở thời kỳ này, trẻ lớn chậm hơn so với thời kỳ bú mẹ Chức năng các bộ phận được hoàn thiện dần Chức năng vận động ở thời kỳ này phát triển rất nhanh: Lúc 1 tuổi trẻ mới tập đi, 2 tuổi trẻ đi lại khá thành thạo, 3 - 4 tuổi trẻ

đã biết múa, làm được những động tác đơn giản để tự phục vụ mình ( ăn bằng thìa, rửa tay, mặc quần áo), lúc 6 tuổi trẻ biết tập vẽ, tập viết

Trang 26

Hệ thống thần kinh cao cấp phát triển mạnh: Lúc 1 – 2 tuổi trẻ mới tập nói, 3 tuổi trẻ nói sõi, 4 tuổi trẻ biết hát và thuộc nhiều bài thơ, lúc 6 tuổi trẻ bắt đầu đi học

Trẻ hiếu động, ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích tiếp xúc với bạn bè và người lớn, trẻ hay bắt chước, vì vậy những hành vi xấu, tốt của người lớn đều ảnh hưởng đến tính tình, nhân cách của trẻ

Sau 6 tháng trẻ bắt đầu mọc răng sữa Khi trẻ được 24 - 30 tháng thì trẻ

đã có đủ 20 răng sữa Cụ thể lịch trình mọc hàm răng sữa của trẻ như sau:

- 4 cái răng cửa giữa của hàm trên và hàm dưới: 5 - 8 tháng

- 4 răng cửa bên: 7 - 10 tháng

- 4 răng hàm đầu tiên: 12 - 16 tháng

- 4 răng nanh: 14 - 20 tháng

- 4 răng hàm thứ 2: 20 - 32 tháng

1.3.1.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ 3 - 5 tuổi

Giai đoạn mẫu giáo tư duy của trẻ có bước ngoặt lớn đó là sự chuyển tư duy bình diện bên ngoài vào tư duy bình diện bên trong, thực chất đó là chuyển những hành động định hướng bên ngoài vào hành động định hướng bên trong Trẻ bắt đầu thay thế những hành động định hướng bên ngoài - tức bằng tư duy trực quan - hành động bằng những phép thử trong óc, dựa vào các biểu tượng (kiểu tư duy trực quan - hình tượng) trong những bài toán dễ

Việc chuyển từ tư duy tực quan - hành động sang tư duy trực quan - hình tượng cho phép trẻ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ gặp trong đời sống Tuy nhiên do kinh nghiệm sống chưa nhiều cùng với khả năng tư duy trừu tượng chưa phát triển nên trong nhiều trường hợp trẻ chỉ dừng lại

ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi vào bản chất bên trong Ví dụ: trẻ nhìn thấy con gấu trúc mắt có viền đen, lông trắng đen, khi trẻ nhìn thấy một con chó có màu gần giống như vậy trẻ thốt lên: “Ôi con chó trúc kìa” hoặc khi thấy bắp ngô có màu lạ trẻ hỏi: “Ai tô màu cho bắt ngô vậy” Cứ

Trang 27

theo lối suy luận như vậy thì tư duy của trẻ có nguy cơ biến thành kiểu tư duy lối kinh nghiệm chủ nghĩa Do đó để phát triển mạnh tư duy hình tượng, chúng ta cần uốn nắn những suy nghĩ của trẻ, cung cấp kiến thức để trẻ có suy luận đúng hơn

1.3.1.3 Đặc điểm đời sống tình cảm của trẻ

Đối với trẻ nhỏ nói chung thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lý của đứa trẻ Đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo, tình cảm có bước biến chuyển mạnh mẽ, sâu sắc và phong phú

Ở lứa tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn, các mối quan hệ xung quanh được mở rộng cho nên tình cảm của trẻ được phát triển về nhiều phía Trong lứa tuổi này trẻ rất thèm khát sự yêu mến và sợ bị ghét bỏ, xa lánh Trẻ muốn nhận được nhiều tình cảm và bộc lộ cũng rất mạnh mẽ, trẻ tỏ

rõ thái độ yêu ghét với mọi người xung quanh như cô giáo, bố mẹ và các bạn một cách rõ ràng Tuy nhiên ở lứa tuổi này, mối quan hệ với bạn bè chưa được ổn định Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể như trẻ chơi với bạn có thể vì cần người chơi cùng hoặc muốn tham gia nhóm hoạt động

Bên cạnh sự biểu lộ tình cảm với các mối quan hệ với mọi người, trẻ cũng dễ xúc động, đồng cảm với những nhân vật trong chuyện được kể, những bài hát được nghe, hay chỉ đơn giản là một bông hoa trẻ nhìn thấy Nắm bắt được tâm lý dễ xúc động trước thế giới xung quanh của trẻ này chúng ta nên hướng tới giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho trẻ, giúp trẻ có cái nhìn sâu hơn về các sự vật hiện tượng muôn màu muôn vẻ diễn ra quanh mình

và biết yêu những cái đẹp của thiên nhiên, con người

1.3.1.4 Đặc điểm phát triển động cơ hành vi và sự hình thành hệ thống thứ bậc các động cơ

Những hành vi của trẻ được biến đổi một cách căn bản trong suốt thời

kì mẫu giáo Từ những hành động mang đậm cảm xúc ý muốn của bản thân trở thành những động cơ có tính chủ đích

Trang 28

Động cơ đạo đức: Những động cơ này gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức về những chuẩn mực quy tắc đạo đức Động cơ này ban đầu chỉ nhằm duy trì mối quan hệ qua lại với các bạn hay người lớn xung quanh Nhưng nhờ sự phản ánh tích cực của người lớn như công nhận, khen ngợi khiến trẻ cảm thấy thích thú tự hào và dần hiểu được ý nghĩa xã hội của những hành

vi này

Động cơ xã hội: Những động cơ xã hội của trẻ xuất hiện ngày càng nhiều Trẻ bắt đầu hiểu được rằng hành vi của chúng có thể mang lại lợi ích gì cho mọi người và trẻ thực hiện những công việc có ích cho người khác dựa trên cách sáng tạo của riêng mình

Động cơ hành vi cá nhân: Trong động cơ hành vi cá nhân của trẻ được thể hiện qua nhiều động cơ khác như: động cơ tự khẳng định mình, động cơ khiến thức, động cơ khám phá thế giới xung quanh.v.v Trong động cơ hành

vi cá nhân này trẻ tỏ rõ thái độ thi đua giữa mình với các bạn, giữa các nhóm trẻ với nhau Trong những động cơ đó có thể pha trộn lẫn những động cơ có tính tiêu cực bởi vậy chúng ta cần quan tâm đến nội dung các động cơ của trẻ

để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những động cơ tiêu cực và phát huy những động cơ mang tính tích cực

Ở lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong phát triển nhân cách của trẻ Trước một công việc trẻ thường

có một hệ thống các động cơ thúc đẩy Hệ thống thứ bậc các động cơ được hình thành ở giai đoạn này khiến toàn bộ hành vi của trẻ theo một xu hướng nhất định Nếu động cơ vì xã hội chiếm ưu thế thì trẻ có xu hướng hành động đạo đức tốt Ngược lại nếu động cơ của trẻ mang tính ích kỉ, thỏa mãn quyền lợi cá nhân sẽ dẫn tới những sai phạm về đạo đức [8]

Các động cơ của trẻ thể hiện ra bên ngoài ảnh hưởng nhiều từ sự giáo dục của người lớn và những tiếp nhận của trẻ trong cuộc sống thực tiễn Bởi

Trang 29

vậy chúng ta cần xây dựng môi trường giáo dục toàn diện từ gia đình đến trường học nhằm tạo điều kiện cho trẻ có môi trường học tập tốt nhất để hoàn thiện nhân cách của bản thân

1.3.2 Đặc điểm các dạng hoạt động của trẻ 3 - 5 tuổi

1.3.2.1 Hoạt động vui chơi

Ở trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi nhiều hoạt động phong phú đã xuất hiện như vui chơi, học tập và lao động trong đó hoạt động vui chơi mà đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hình thức hoạt động chủ đạo của trẻ Nói đến hoạt động chủ đạo không có nghĩa là trẻ dành nhiều thời gian cho trò chơi, mà chính trò chơi chi phối tác động đến toàn bộ tâm lý và các dạng hoạt động khác tạo ra tính đặc trưng của lứa tuổi này

Khác với hoạt động học tập và lao động, vui chơi là dạng hoạt động không có tính bắt buộc Bởi hoạt động vui chơi không tạo ra sản phẩm, không theo một phương thức chặt chẽ Trẻ muốn tham gia chơi bởi chính sức hút của trò chơi mà không bị ràng buộc bởi những cái khác ngay cả kết quả của hoạt động vui chơi đó Do vậy hoạt động chơi của trẻ mang tính chủ động rất cao, chúng ta dễ dàng nhận thấy thái độ thích thú, say mê trong các hoạt động chơi của trẻ

Trò chơi là dạng hoạt động mang tính tự lập của trẻ, trẻ biểu hiện rõ ý thức làm chủ, trẻ tham gia hoạt động chơi một cách say mê, tích cực Người lớn chỉ có thể gợi ý, hướng dẫn chứ không thể chơi hộ trẻ Ở góc độ này, người lớn cần khéo léo lồng ghép chương trình giáo dục vào trò chơi làm sao

để vừa thỏa mãn được nhu cầu chơi của trẻ vừa đạt được những yêu cầu giáo dục Không nên gò bó, ép buộc trẻ chơi theo ý người lớn bởi trẻ càng tự nguyện tham gia trò chơi thì càng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở trẻ

Vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề cần sự kết hợp giữa các thành viên chơi Ở lứa tuổi trước trẻ thường chơi một

Trang 30

mình với đồ vật mà chưa có sự tương tác với các bạn Bước vào tuổi mẫu giáo trẻ thực sự có nhu cầu chơi với bạn Bởi các trò chơi ở lứa tuổi này đa phần là

mô phỏng từ thế giới của người lớn, bởi vậy trẻ cần có sự hợp tác cùng chơi,

sự hợp tác này tạo ra nhiều muối quan hệ muôn màu muôn vẻ giữa trẻ được thiết lập một cách tự nhiên nhất Chính sự hợp tác giữa các nhóm trẻ này là tiền đề, cơ sở xã hội đầu tiên của con người

Trò chơi ở trẻ mẫu giáo mang tính kí hiệu - tượng trưng Trong hoạt động chơi, mỗi trẻ nhận một vai khác nhau và thực hiện những hành động tương ứng với vai đó Trẻ biết dùng những đồ vật này thay thế cho đồ vật kia như mô hình chữ nhật làm điện thọai, nắm tay làm cốc uống nước, cái que làm ống kim tiêm rồi hành động với đồ vật thay thế phù hợp với tên gọi Tất

cả những điều đó nhằm phản ánh một hành động gì đó trẻ đã thấy ở ngoài đời thật Từ đó là sự ra đời của chức năng mới của ý thức đó là chức năng kí hiệu

- tượng trưng Chính sự nhận thức bằng kí hiệu - tượng trung này mà các chức năng tâm lý khác (như tư duy, tưởng tượng, v.v ) được phát triển theo hướng các chức năng tâm lý người

1.3.2.2 Hoạt động học tập

Trong cuộc sống hàng ngày trẻ tiếp thu được một kiến thức đáng kể từ thế giới xung quanh, trẻ say mê khám phá mọi điều mà trẻ thấy Ta có thể thấy ở lứa tuổi này trẻ đặt ra rất nhiều câu hỏi với những hiện tượng muôn màu muôn vẻ như “sao bầu trời lại xanh”, “sao lại có gió”, “gió từ đâu đến”, v.v Nhưng lòng ham hiểu biết ở trẻ vẫn chưa đủ đảm bảo thái độ sẵn sàng học, trẻ dễ hứng thú với một đối tượng nhưng cũng giảm hứng thú một cách nhanh chóng và chuyển sang đối tượng khác

Bởi vậy để trẻ tiếp thu được kiến thức một cách hệ thống, giáo viên đã dạy trẻ thông qua các hình thức tiết học, các tiết học này có thời gian tùy vào từng độ tuổi (mẫu giáo bé 10 - 20 phút; mẫu giáo nhỡ 20 - 25 phút; mẫu giáo

Trang 31

lớn 25 - 30 phút) Trong các tiết học của trẻ cũng được linh hoạt hơn, chủ yếu

là thông qua các trò chơi Các giáo viên tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi kết hợp âm nhạc, thơ, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời nhằm cho trẻ bước đầu tiếp xúc với hiện tượng tự nhiên, thế giới sự vật hiện tượng xung quanh Bên cạnh đó giáo viên cũng sử dụng kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như

sử dụng đồ dùng trực quan, tranh ảnh, kể chuyện nhằm tạo hứng thú tiếp thu kiến thức ở trẻ Các cô cũng đưa ra các đánh giá nhận xét giữa các trẻ với nhau giúp trẻ hình thành kĩ năng tự kiểm tra đánh giá mình và các bạn

Ở thời kì này hoạt động học chưa đạt tới dạng chính thức tuy nhiên cũng có bước đầu hình thành những yếu tố cần thiết Việc tổ chức trò chơi lồng ghép các kiến thức giáo dục phù hợp sẽ thúc đẩy những yếu tố hoạt động học tập của trẻ nảy sinh một cách thuận lợi

1.3.2.3 Hoạt động lao động

Hoạt động lao động ở trẻ nhỏ không được đúng nghĩa như ở người lớn Việc hình thành tiền đề cần thiết cho lao động ở trẻ nhỏ được diễn ra theo con đường đặc biệt, chủ yếu ở bên ngoài việc thực hiện nhiệm vụ lao động - trong trò chơi

Trẻ làm quen với hoạt động lao động khi chúng quan sát người lớn làm việc trong tranh ảnh, video hay kể chuyện Những hoạt động như vẽ, tạo hình,

tự phục vụ cũng là những hành động tạo ra kết quả bởi vậy đây cũng là những yếu tố tiền đề của sự lao động ở trẻ Giáo viên cần hướng dẫn, tạo điều kiện cho trẻ thực hiện những nhiệm vụ đơn giản để đạt được kết quả cụ thể như: lấy ghế ngồi, cất ghế, chia bát thìa cho bạn,.v.v Chính những nhiệm vụ có mục đích, kết quả như vậy là tiền đề cần thiết tạo nên hoạt động lao động sơ khai ở trẻ Ngoài ra chúng ta có thể giáo dục lao động cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, ví dụ : (trẻ đóng vai vào bác nông dân và làm những công việc của bác nông dân), trẻ có thể đóng vai vào bất cứ ngành

Trang 32

nghề, công việc nào mà trẻ thích Chính những hành động vừa học vừa chơi như vậy giúp trẻ có những khái niệm cơ bản về lao động [8]

Qua những vấn đề được nêu trên ta có thể nhận thấy lứa tuổi mẫu giáo

3 - 5 tuổi là thời điểm bước đầu hoàn thiện bản thân Trẻ có nhu cầu và mong muốn được thực hiện những hành động như người lớn Bên cạnh đó động cơ thực hiện hành động vì mong muốn khiến người lớn vui lòng cũng đã xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện những hành động tích cực Bởi vậy đây là giai đoạn thích hợp để giáo dục toàn diện cho trẻ nói chung và hình thành những thói quen vệ sinh thân thể trong đó có giáo dục VSRM nói riêng

1.4 Quá trình giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

1.4.1 Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ mẫu giáo ở trường Mầm non

Chế độ sinh hoạt là quy chế về sinh hoạt dựa trên cơ sở khoa học nhằm phân phối thời gian hợp lý và tiến hành theo các trình tự hình thức hoạt động

và nghỉ ngơi

Chế độ sinh hoạt có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục đối với trẻ Do các thao tác, các hoạt động được lặp lại theo một trình tự nhất định khiến cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lý, những kỹ năng văn hóa - vệ sinh và hoạt động Những kỹ năng kỹ xảo được tự động hóa sẽ giải phóng cho trẻ khỏi sự

gò bó đối với hoạt động phức tạp hơn Trẻ tự lực vận động sẽ là tiền đề giúp trẻ phát triển những phẩm chất quan trọng hơn như tính độc lập, tính tích cực sáng tạo Chế độ sinh hoạt giúp trẻ hình thành phẩm chất tốt và thói quen nề nếp theo trật tự thời gian

Chế độ sinh hoạt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục thể chất cho trẻ Do các yếu tố hoạt động được lặp đi lặp lại nên trẻ định hình được hoạt động một cách vững chắc, tạo những điều kiện thuận lợi cho việc

Trang 33

hình thành các phản xạ có điều kiện và tự động hóa chúng, giúp trẻ dễ dàng di chuyển từ hình thức hoạt động này sang hình thức hoạt động khác

Như vậy chế độ sinh hoạt của trẻ chính là sự sắp xếp một cách khoa học và hợp lý các hoạt động của trẻ, trong đó bao gồm tất cả các hoạt động từ học tập, lao động, vệ sinh cá nhân Việc tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hàng ngày với trình tự các hoạt động thường xuyên, liên tục là điều kiện giúp trẻ hình thành được những thói quen tốt trong đó có vệ sinh răng miệng

1.4.2 Khái niệm vệ sinh răng miệng, giáo dục vệ sinh răng miệng và giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

1.4.2.1 Khái niệm vệ sinh răng miệng

Vệ sinh răng miệng là tổng hợp những biện pháp hướng tới việc làm sạch xoang miệng đặc biệt là răng và lợi [11]

1.4.2.2 Khái niệm giáo dục vệ sinh răng miệng

Để làm rõ khái niệm “giáo dục vệ sinh răng miệng” trước tiên ta phải làm rõ khái niệm “Giáo dục”

“Giáo dục (theo nghĩa rộng - nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.”

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái

độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm

mỹ, vệ sinh, v.v.”

Từ những khái niệm trên về giáo dục cho ta thấy: “Giáo dục VSRM” cũng là một hoạt động giáo dục sư phạm có mục đích, có kế hoạch được tiến

Trang 34

hành thường xuyên nhằm tác động đến tình cảm, lý trí của người được giáo dục để người được giáo dục có thái độ, quan điểm đúng đắn trong nhiệm vụ chăm sóc răng miệng

Chăm sóc vệ sinh răng miệng có liên quan trực tiếp tới sức khỏe của mỗi người vậy nên chúng ta cần có sự nhìn nhận chính xác cũng như tầm quan trọng của việc vệ sinh răng miệng Giáo dục vệ sinh răng miệng là cần thiết, đặc biệt là ở lứa tuổi Mầm non cấu trúc và tổ chức răng miệng vẫn còn non yếu, nếu không chăm sóc kịp thời sẽ có những ảnh hưởng vĩnh viễn về sau Giáo dục chăm sóc răng miệng không chỉ dừng lại ở nhận thức, kỹ năng, thái độ mà còn phải làm cho nó trở thành thói quen và là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày

Qua khái niệm “Giáo dục VSRM” chúng ta có thể hiểu “Giáo dục VSRM” cho trẻ mẫu giáo là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của các giáo viên, tác động thường xuyên liên tục lên tình cảm, nhận thức của trẻ từ 3 - 6 tuổi nhằm hình thành nhận thức, thái độ, và có kỹ năng đúng đắn với việc chăm sóc vệ sinh răng miệng

1.4.2.3 Khái niệm giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế

độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Việc giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo có thể tiến hành trực tiếp qua các hoạt động trong ngày của trẻ như: giờ ăn, giờ chơi, giờ học, giờ ngủ v.v Nội dung giáo dục VSRM cho trẻ phụ thuộc vào nội dung hoạt động

và sinh hoạt của trẻ Với sự tác động trực tiếp lên các hoạt động như vậy giúp trẻ tiếp thu dễ dàng kiến thức, kỹ năng về sức khỏe răng miệng và biến nó thành thói quen không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày

Qua các khái niệm về “Giáo dục VSRM” và khái niệm về “chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ mẫu giáo” chúng ta có thể hiểu về “Giáo dục VSRM” cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày” là một quá trình tác động

Trang 35

có mục đích, kế hoạch của các giáo viên, tác động thường xuyên liên tục lên tình cảm, lý trí của trẻ mẫu giáo nhằm hình thành nhận thức, thái độ, kỹ năng đúng đắn với việc chăm sóc vệ sinh răng miệng một cách trực tiếp thông qua các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường Mầm non

1.4.3 Mục tiêu và nội dung giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

1.4.3.1 Mục tiêu

Mục tiêu giáo dục VSRM cho trẻ mẫu giáo phải được xây dựng trên

cơ sở mục tiêu chung và yêu cầu cần đạt với trẻ Những yêu cầu về mục tiêu giáo dục VSRM cho trẻ mẫu giáo phải đảm bảo những yêu cầu như sau:

- Mục tiêu phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo

- Mục tiêu phải gắn với thực tiễn cuộc sống, xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết mà xã hội đặt ra

- Mục tiêu phải phù hợp với điều kiện thực tế đồ dùng, đồ chơi, trang thiết

bị học tập; Trình độ chuyên môn của giáo viên; v.v

Xuất phát từ những yêu cầu trên, mục tiêu chính của công tác giáo dục

vệ sinh răng miệng cho trẻ là cung cấp thông tin và kiến thức liên quan đến sức khỏe răng miệng để trẻ có thể nhận thức rõ ràng, thái độ đúng đắn cũng như hành động phù hợp nhằm hình thành thói quen vệ sinh răng miệng trong cuộc sống hàng ngày

1.4.3.1 Nội dung:

Nội dung giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ bao gồm:

* Phổ biến những kiến thức cơ bản về răng miệng

Sâu răng và viêm lợi là bệnh phổ biến và nguy hiểm thường gặp ở tất

cả các lứa tuổi đặc biệt là trẻ em Bệnh về răng miệng không chỉ ảnh hưởng tới quá trình mọc răng vĩnh viễn sau này ở trẻ mà nó còn có những tác động trực tiếp đến cuộc sống hiện tại như đau nhức, hôi miệng, mệt mỏi và chán ăn

Trang 36

Vậy nên việc phổ biến những kiến thức cơ bản về răng miệng cho trẻ mẫu giáo là cần thiết giúp trẻ nhận thức được những vấn đề thường gặp về răng miệng Những nội dung cần giáo dục cho trẻ cụ thể như sau:

- Trẻ biết được chức năng của hàm răng (hàm răng có công việc nhai thức

ăn, làm đẹp cho khuôn mặt, công cụ cần thiết để phát ra tiếng nói) để từ đó trẻ biết quý trọng và bảo vệ hàm răng của mình

- Trẻ biết được một số nguyên nhân gây nên bệnh về răng miệng như: Ăn nhiều kẹo ngọt, không đánh răng, uống nước có ga, qua đó trẻ có ý thức tự điều chỉnh hành vi và thói quen của mình nhằm có hàm răng khỏe đẹp

- Trẻ có thể tự kiểm tra hàm răng của mình qua các biểu hiện phát hiện sớm của bệnh về răng miệng như: có chấm đen trên răng, đau khi uống nước lạnh, chảy máu lợi

* Phổ biến cách giữ vệ sinh đúng cách

Chải răng là một công việc hữu ích, tốn ít chi phí mà hiệu quả lại cao khi chăm sóc răng miệng Chải răng để lấy đi những mảng thức ăn thừa bám trên răng, mảng bám nhám đồng thời cũng làm giảm sự hiện diện của vi khuẩn có hại Confoti NJ và cs (2003) đã thực hiện nghiên cứu giữa 2 nhóm, một nhóm sử dụng bàn chải cũ và một nhóm sử dụng bàn chải mới, sau 3 tháng đánh giá kết quả trên chỉ số mảng bám cho thấy nhóm sử dụng bàn chải

cũ loại bỏ mảng bám kém hiệu quả hơn, do đó việc đánh răng nói chung và việc sử dụng bàn chải phù hợp nói riêng là cách hiệu quả để loại bỏ mảng bám và vệ sức khỏe răng miệng [32] Theo nghiên cứu của Tsai và cộng sự cũng chỉ ra rằng ra có mối liên quan chặt chẽ giữa sâu răng với sự thiếu hụt việc chải răng hàng ngày

Nếu chải răng trở thành thói quen hàng ngày thì đây có thể coi là một biện pháp tốt nhất để vệ sinh răng miệng Để dạy trẻ chải răng đúng cách, người trực tiếp chăm sóc trẻ cần tỉ mỉ và kiên nhẫn trong quá trình hướng dẫn

Trang 37

trẻ từng bước chăm sóc răng miệng Muốn chải răng có hiệu quả cần lưu ý cho trẻ những điểm sau:

- Giúp trẻ chọn và giữ gìn bàn chải: hướng dẫn, dặn dò trẻ sau khi đánh răng cần cất bàn chải ở nơi thoáng mát; người lớn cần giúp trẻ 3 tháng thay bàn chải một lần

- Hướng dẫn trẻ cách chải răng:

+ Rửa sạch bàn chải

+ Lấy lượng kem vừa đủ ra bàn chải

+ Súc miệng và đặt bàn chải 1 góc nghiêng 45 độ so với mặt răng + Chải hàm trên theo hướng từ trên xuống

+ Chải hàm dưới theo hướng lên trên

+ Chải mặt nhai: đưa bàn chải đi lại vuông góc với mặt răng

+ Xúc miệng thật kỹ, rửa sạch bàn chải và cất vào nơi quy định

- Giáo dục cho trẻ thời gian chải răng: Tốt nhất chải 2 lần vào buổi sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ

- Giáo dục và hướng dẫn trẻ sau khi ăn bất cứ đồ ăn gì cũng cần súc miệng bằng nước lọc một cách sạch sẽ

* Phổ biến về vấn đề dinh dưỡng trong bệnh răng miệng

Dinh dưỡng (chất lượng, số lượng, số lần ăn trong ngày) ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến các vi khuẩn có trong răng miệng vậy nên nó có thể làm tăng hay chậm các bệnh răng miệng

Mặt khác dinh dưỡng có ảnh hưởng tới trước lúc mọc răng (cơ cấu, thành phần hóa học của răng), giai đoạn mọc răng và sau mọc răng (tạo môi trường nuôi dưỡng, hoạt động của vi khuẩn trên răng, gia tăng mảng bám)

Vì vậy chúng ta cần hướng dẫn trẻ và những người trực tiếp chăm sóc cho trẻ những thực phẩm dinh dưỡng hợp lý nhằm kiểm soát bệnh về răng miệng một cách tối ưu Những kiến thức về nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ đáp ứng yêu cầu sau:

Trang 38

- Cung cấp cho trẻ kiến thức về các Vitamin tốt cho sức khỏe răng miệng

- Giúp trẻ trẻ biết được những loại thực phẩm chứa các Vitamin tốt cho sức khỏe răng miệng

- Giúp trẻ tìm hiểu vai trò của các Vitamin đối với sức khỏe răng miệng

- Giúp trẻ nhận biết những thực phẩm không tốt cho răng miệng

* Những thực phẩm có chứa Vitamin tốt cho sức khỏe răng miệng:

- Vitamin A: Có nhiều trong rau có lá xanh, cà rốt, xoài, khoai lang, dầu

cá Vitamin A có vai trò hình thành mô liên kết của xương mềm, giúp lợi khỏe mạnh, duy trì lượng nước bọt lưu thông trong miệng

- Vitamin B: Có trong đậu, thịt, rau lá xanh Vai trò của Vitamin B là cải thiện sức khỏe răng miệng, giảm viêm lưỡi, giữ cho các vết viêm không lây lan

- Vitamin C: Có nhiều trong các loại hoa quả như: cam, bưởi, dưa hấu, ổi Vitamin C có vai trò làm chắc lợi, tăng sức đề kháng cho răng miệng trước sự xâm nhập của vi khuẩn

- Vitamin D: Có trong sữa, trứng, cá Vitamin D là thành phần cốt yếu cho xương và răng khỏe mạnh, ngoài ra nó còn có tác dụng bảo vệ lợi khỏe mạnh và giảm nguy cơ viêm lợi

- Vitamin K: Có trong đậu nành, rau lá xanh Nếu thiếu Vitamin K dẫn đến chảy máu lợi và làm giảm sức khỏe răng miệng

* Những thực phẩm không tốt cho răng miệng:

- Giáo dục cho trẻ nhận biết được những thực phẩm không tốt cho răng miệng như: Những thực phẩm chứa nhiều đường (bánh, kẹo ngọt), đồ uống ngọt

có ga, những đồ ăn nhanh như xúc xích, bắp rang bơ v.v

- Giáo dục trẻ ăn đúng bữa, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng và tránh ăn vặt nhiều lần trong ngày

* Khám răng định kì cho trẻ

Đây là công việc mà cha mẹ và những người trực tiếp chăm sóc cho trẻ cần làm Kiểm tra định kì răng miệng nhằm sớm phát hiện những tổn thương, đánh giá tình hình bệnh tật và điều trị sớm hạn chế gây biến chứng

Trang 39

1.4.4 Chủ thể giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ mẫu giáo qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường Mầm non

Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích đến các năng lực nhận thức của trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và trên cơ

sở đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo

Trên cơ sở đặc điểm phát triển của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, quá trình dạy học ở mẫu giáo mang đặc điểm khác với quá trình dạy học ở trường phổ thông về các nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học

Về nội dung: Trường mẫu giáo có nhiệm vụ cung cấp cho trẻ tri thức

xác thực về khoa học, nhưng sơ đẳng về các sự vật hiện tượng xung quanh Khối lượng tri thưc và kỹ năng cung cấp cho trẻ mẫu giáo không đáng kể so với phổ thông Song khối lượng tri thức đó có ý nghĩa quan trọng để phát triển trí tuệ

Về hình thức tổ chức tổ chức dạy học: Hình thức cơ bản của dạy học ở

mẫu giáo là tiết học, tuy nhiên tiết học được chia nhỏ theo từng độ tuổi, số tiết rất ít Cấu trúc các bước ít được chia nhỏ, không tách biệt và kết hợp với nhau thành một thể thống nhất, liên tục, trong tiết học không có kiểm tra riêng, không có bài tập về nhà Việc kiểm tra tri thức lĩnh hội diễn ra ngay trong quá tình lĩnh hội tri thức mới

Phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học ở lứa tuổi mầm non trước

hết phải phù hợp với trình độ phát triển tâm lý và tư duy ở trẻ mẫu giáo, các phương pháp trực quan và tổ chức chơi được sử dụng rộng rãi Việc lĩnh hội tài liệu mới phải được diễn ra trong quá trình hoạt động của trẻ: trong thao tác thực hành với đồ vật, trong các trò chơi khác nhau Trong các hoạt động tạo ra sản phẩm Quá trình học cần sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, luôn thay đổi, sinh động, hấp dẫn và phù hợp với tâm lý trẻ

Trang 40

Mối quan hệ giữa dạy và học, thầy và trò là những nhân tố trung tâm của quá trình dạy học Các hoạt động dạy của thầy và học của trò thống nhất với nhau và phản ảnh tính chất hai mặt của quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học ở trẻ mẫu giáo cô và hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo Cô phải đảm bảo được chức năng hướng dẫn, tổ chức hoạt động học của trẻ Cô không chỉ truyền thụ tri thức mà chủ yếu là tổ chức quá trình hoạt động của trẻ thông qua đó trẻ lĩnh hội được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Cũng có thể nói giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ Muốn thực hiện được các chức năng tổ chức các hoạt động đó giáo viên cần nắm rõ những kỹ năng

sư phạm như: múa hát, kể chuyện,tổ chức trò chơi, thiết kế xây dựng Hoạt động dạy của cô chủ yếu là tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, bởi vậy, quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của trẻ

Học tập của trẻ mẫu giáo là một hoạt động đặc biệt được hình thành trong mối quan hệ qua lại giữa trẻ và người lớn, ảnh hưởng của những giờ học

có tổ chức Học tập là hoạt động độc lập của trẻ nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phương thức hành động, diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên Quá trình học tập của trẻ bao gồm các thành phần:

- Trẻ hiểu nhiệm vụ nhận thức đặt ra cho mình ở khâu này, trẻ phải có kỹ năng “biết nghe’ và “lắng nghe” cô giáo, xem xét và nhận biết được điều giáo viên trình bày, theo dõi sự chỉ dẫn của giáo viên trong việc nắm nội dung nhận thức, kỹ xảo và cách thức hành động

- Trẻ lựa chọn các biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm

vụ cần nhận thức Muốn vậy, trẻ cần nắm được các biện pháp và phương tiện đã

có, biết đề ra kế hoạch làm việc và hoạt động theo cách đó

- Trẻ tự kiểm tra quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả công việc của mình Trẻ biết so sánh hành động ý kiến của mình với cái đã học

Hoạt động học tập với các thành phần ở trên được hình thành đần dần từng bước ở trẻ Trên cơ sở những công trình nghiên cứu trên trẻ, A.B.Usôva nêu ra ba mức độ phát triển của hoạt động học tập:

Ngày đăng: 06/05/2019, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Thanh Âm, Giáo dục học mầm non, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, trang 142-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập 1
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
3. Đào Thanh Âm, Giáo dục học mầm non, tập 2, NXB Đại học Sư phạm, trang 5-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
4. Đào Thị Hằng Nga (2013), Bệnh sâu răng ở trẻ em, Răng trẻ em, NXB Giáo dục Việt Nam, 97-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Răng trẻ em
Tác giả: Đào Thị Hằng Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
5. Đào Thị Ngọc Lan (2002), “Nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học các dân tộc tỉnh Yên Bái và một số biện pháp can thiệp cộng đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học các dân tộc tỉnh Yên Bái và một số biện pháp can thiệp cộng đồng
Tác giả: Đào Thị Ngọc Lan
Năm: 2002
6. Đào Thị Trang (2015), “Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Đào Thị Trang
Năm: 2015
8. Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Nguyễn Mạnh Hà, Sâu răng và các biến chứng, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu răng và các biến chứng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
10. Nguyễn Quốc Trung (2011), “Phát hiện tổn thương sâu răng vinh viễn của học sinh 7-11 tuổi bằng thiết bị Laser huỳnh quang”, Tạp chí Y học Dự phòng, tập XXI, số 3 (121) 2011, trang 139-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện tổn thương sâu răng vinh viễn của học sinh 7-11 tuổi bằng thiết bị Laser huỳnh quang
Tác giả: Nguyễn Quốc Trung
Năm: 2011
11. Nguyễn Toại và cộng sự (2008), Răng Hàm Mặt, Đào tạo bác sĩ đa khoa, NXB Y học, tr.122-138. Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Tâm lý học lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo bác sĩ đa khoa", NXB Y học, tr.122-138. Nguyễn Thị Ánh Tuyết, "Tâm lý học lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Toại và cộng sự
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
12. Nông Bích Thủy (2010), “Thực trạng viêm lợi và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn”,tr 77,78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng viêm lợi và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn
Tác giả: Nông Bích Thủy
Năm: 2010
13. Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng (2011), Sổ tay thực hành Răng trẻ em, NXB Y học, tr.54-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thực hành Răng trẻ em
Tác giả: Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2011
14. Trần Phương Đan, Hoàng Tử Hùng, Phạm Hùng Lực (2017), “Tình hình bệnh sâu răng và viêm nha chu ở trẻ em Đồng bằng sông Cửu Long”. Tạp chí y học thực hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh sâu răng và viêm nha chu ở trẻ em Đồng bằng sông Cửu Long”
Tác giả: Trần Phương Đan, Hoàng Tử Hùng, Phạm Hùng Lực
Năm: 2017
15. Trần Tấn Tài (2016), “Thực trạng sâu răng và hiệu quả của giải pháp can thiệp cộng đồng của học sinh tại một số trường tiểu học ở Thừa Thiên Huế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sâu răng và hiệu quả của giải pháp can thiệp cộng đồng của học sinh tại một số trường tiểu học ở Thừa Thiên Huế
Tác giả: Trần Tấn Tài
Năm: 2016
16. Trần Thị Mỹ Hạnh (2006), “Nhận xét tình hình sâu răng và viêm lợi ở học sinh tiểu học lứa tuổi 7-11 tại trường tiểu học Thanh Liệt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình hình sâu răng và viêm lợi ở học sinh tiểu học lứa tuổi 7-11 tại trường tiểu học Thanh Liệt
Tác giả: Trần Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2006
17. Trần Thị Nhung (2015), “Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi ở tỉnh Hòa bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp dự phòng sâu răng cho trẻ mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi ở tỉnh Hòa bình
Tác giả: Trần Thị Nhung
Năm: 2015
18. Trần Thúy Nga, Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng, Đặng Thị Nhân Hòa (2001), Nha khoa trẻ em, NXB Y học, tr. 22-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nha khoa trẻ em
Tác giả: Trần Thúy Nga, Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng, Đặng Thị Nhân Hòa
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
19. Trần Văn Trường (2002), Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, Nhà xuất bản Y học, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc
Tác giả: Trần Văn Trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
20. Trần Văn Trường, Trịnh Đình Hải (2000), “Kết quả điều tra sức khoẻ Răng miệng toàn quốc ở Việt Nam (1999 - 2000)”, Tạp chí Y học Việt Nam, 264 (10), tr. 8-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả điều tra sức khoẻ Răng miệng toàn quốc ở Việt Nam (1999 - 2000)”
Tác giả: Trần Văn Trường, Trịnh Đình Hải
Năm: 2000
21. Trịnh Đình Hải (2004), Giáo trình sâu răng và Dự phòng sâu răng, NXB Y học, tr 1-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sâu răng và Dự phòng sâu răng
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2004
22. Trịnh Đình Hải (2005), “Đánh giá thực trạng sâu răng ở hai vùng đồng bằng của Việt Nam”. Tạp chí nghiên cứu y học, tập 34(2), tr92-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng sâu răng ở hai vùng đồng bằng của Việt Nam”. "Tạp chí nghiên cứu y học, tập 34(2)
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w