1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO

32 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về Nghị định thư Kyoto, Vai trò của các quốc gia đang phát triển trong việc thực hiện nghị định thư Kyoto, Việt Nam với việc thực hiện nghị định thư Kyoto

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN NHẤT VỀ NGHỊ ĐỊNH

THƯ KYOTO1.1. Nghị định thư Kyoto

1.1.1. Sự ra đời của nghị định thư Kyoto

Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ 19 do những nhàkhoa học Thụy Điển trong khi quan sát sự thay đổi nhiệt độ của không khí bị ônhiễm để rồi từ đó kết luận rằng trái đất nóng dần do con người phóng thích cáckhí ô nhiễm vào không khí Lý thuyết này là nguyên nhân khởi đầu cho bao cuộcthảo luận sau đó giữa các nhà khoa học Họ cho rằng từ năm 1896, CO2 thải vàokhông khí do việc đốt than đá để tạo ra năng lượng là nguyên nhân chính gây ra

“hiệu ứng nhà kính” Theo ước tính, thán khí trong không khí đã tăng 30% từ năm

1975 đến nay

Mãi đến năm 1949, sau khi khảo sát hiện tượng tăng nhiệt độ trong không khí ở

Âu Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so với các nơi khác trên thế giới, cácnhà nghiên cứu Anh đã đi đến kết luận là sự phát triển ở các quốc gia kỹ nghệ đãlàm tăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó làm cho mặt đất ở haivùng nầy nóng mau hơn so với các vùng chưa phát triển

Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Mauna Loa Observatory(Hawai) đặt ở độ cao 3.345m đã chứng minh được khí CO2 là nguyên nhân chínhyếu của sự gia tăng nhiệt độ này

Đến năm 1976, các chất khí Methane, Chlorofluorocarbon (CFC), Nitrogen oxide(NOx) cũng được xác nhận là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính

Các cuộc nghiên cứu mới nhất do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chíSciences số tháng 12/2003 nói lên tính cách khẩn thiết của vấn đề này Theo ướctính thì từ 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9oF (1,6đến 4,2oC) Và sự tăng nhiệt độ này sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ở Greenland

và Antartica và có thể làm ngập lụt các bờ biển Điều sau này sẽ làm thu hẹp diệntích sống của con người trên quả địa cầu Để rồi từ đó sinh sản ra nhiều hệ lụy nhưsau:

Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường

Hạn hán, bão tố xảy ra ở nhiều nơi và thường xuyên hơn

Trang 2

Hệ thực vật, sinh vật bị thay đổi

Mực nước biển dâng cao ở nhiều nơi

Hiện tượng biến đổi khí hậu có nguồn gốc từ việc phát thải quá mức khí nhà kính

do các hoạt động kinh tế xã hội của con người vào khí quyển Nhằm ngăn chặnnhững hiểm họa do thay đổi khí hậy gây ra, tại Hội nghị thượng đỉnh của LiênHợp Quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, Brazil váo tháng 6 năm

1992, 155 quốc gia trong đó có Việt Nam đã ký Công ước khung của Liên HợpQuốc về Biến đổi khí hậu

Nghị định thư Kyoto là một Nghị định liên quan đến Chương trình khung về vấn

đề biến đổi khí hậu (Framework Convention on Climate Change) mang tầm quốc

tế của Liên Hợp Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.Bản dự thảo được kí kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bêntham gia lần thứ ba (3rd Conference of the Parties) khi các bên tham gia nhóm họptại Kyoto, Nhật Bản và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005

Kể từ tháng 11/2007 đã có khoảng 175 nước kí kết tham gia chương trình này.Trong đó có khoảng 36 nước phát triển (với liên minh Châu Âu được tính là một)được yêu cầu phải có hành động giảm thiểu khí thải nhà kính mà họ đã cam kết cụthể trong nghị trình (lượng khí này chiếm hơn 61.6% của lượng khí của nhómnước Annex I cần cắt giảm) Nghị định thư cũng được khoảng 137 nước đang pháttriển tham gia kí kết (Brazil, Trung quốc đại lục, Ấn Độ…) nhưng không chịu ràngbuộc xa hơn các vấn đề theo dõi diễn biến và báo cáo thường niên về vấn đề khíthải

Bên cạnh đó cũng còn nhiều tranh cãi xung quanh mức độ hiệu quả của nghị địnhnày giữa các chuyên gia, khoa học gia và những nhà hoạt động môi trường Mộtvài nghiên cứu về phí tổn bỏ ra nhằm hậu thuẫn cho sự thành công của nghị địnhcũng đã được quan tâm tiến hành

1.1.2. Những nội dung cơ bản của nghị định thư Kyoto.

Nghị định thư Kyoto bao gồm 28 Điều khoản và 2 Phụ lục sẽ trở thành một quyếtđịnh chung cho toàn cầu nếu có trên 55% tổng số các quốc gia tính theo tỷ lệ nănglượng cần thiết trong các quá trình sản xuất kỹ nghệ của từng quốc gia một

Nghị định thư Kyoto là một cam kết được tiến hành dựa trên các nguyên tắc củaChương trình khung của Liên hiệp quốc về vấn đề biến đổi khí hậu (UnitedNations Framework Convention on Climate Change- UNFCCC) Trong đó nhữngquốc gia tham gia kí kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khígây hiệu ứng nhà kính khác

Trang 3

Nghị định thư đại diện cho sự thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn

đề cắt giảm khí thải trên 5.2% so với năm 1990 (lưu ý rằng mức độ cắt giảm theo

đó đến năm 2010 phải đạt được thì chỉ tiêu này là khoảng 29%) Mục tiêu hướngđến việc giảm thiểu các loại khí carbon dioxide, methane, nitrous oxide, sulfurhexafluoride, hydrofluorocarbons và perflourocarbons trong khoảng thời gian2008-1021 Mức trần đã được qui định cho các nước tham gia cụ thể là 8% mứccắt giảm cho Liên minh Châu Âu và 7% cho Hoa Kỳ, 6% với Nhật Bản, 0% vớiNga trong khi mức hạn ngạch cho phép tăng của Úc là 8%, và 10% cho Iceland

Đó là sơ thảo do Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu của Liên hiệpquốc đưa ra - UNFCCC khi được nhất trí trong Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu tạiRie de Janeiro vào 1992 Khi đó chỉ có những nước thuộc Chương trình khung vềvấn đề biến đổi khí hậu mới tham gia kí kết Sau đó Nghị định thư Kyoto mớiđược đệ trình trong phiên họp thứ ba của Hội nghị các bên tham gia nằm trongChương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu được tổ chức vào năm 1997 tạiKyoto, Nhật Bản

Hầu hết những điều khoản trong Nghị định thư là yêu cầu dành cho các nước côngnghiệp phát triển - được liệt vào nhóm Annex I trong UNFCCC, và không có hiệulực đối với các nguồn khí thải đến từ lãnh vực hàng không và hàng hải thuộc phạm

Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khínhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp cácnước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vữngthông qua thực hiện "Cơ chế phát triên sạch" (CDM: Clean DevelopmentMechanism) Dự án CDM được đầu tư vào các lãnh vực như: năng lượng, côngnghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải

Nghị định được kí kết bởi chính phủ các quốc gia tham gia Liên hiệp quốc vàđược điều hành dưới các nguyên tắc do tổ chức này qui ước Các quốc gia đượcchia làm hai nhóm: nhóm các nước phát triển-còn gọi là Annex I (vốn sẽ phải tuântheo các cam kết nhằm cắt giảm khí gây hiệu ứng nhà kính ) và buộc phải có bản

đệ trình thường niên về các hành động cắt giảm khí thải; và nhóm các nước đangphát triển-hay nhóm các nước Non-Annex I (không chịu ràng buộc các nguyên tắc

Trang 4

ứng xử như Annex I nhưng có thể tham gia vào Chương trình cơ cấu phát triểnsạch (The Clean Development Mechanism-CDM)).

Các quốc gia Annex I không đáp ứng được yêu cầu đặt ra như trong bản kí kết sẽphải cắt giảm thêm 1.3 lượng khí vượt mức cho phép trong thời hạn hiệu lực tiếptheo của nghị định thư

Kể từ tháng 1/2008 đến hết năm 2012, nhóm nước Annex I phải cắt giảm lượngkhí thải để lượng khí thải ra thấp hơn 5% lượng khí vào năm 1999 (với nhiều nướcthành viên Châu Âu, mức này tương đương khoảng 15% lượng khí họ thải ra vàonăm 2008) Trong khi trung bình của lượng khí phải cắt giảm là 5%, mức daođộng giữa các quốc gia của Liên minh Châu Âu là 8% đến 10% (đối với Iceland),nhưng do ràng buộc với nghị định thư với từng nước trong khối có khác nhau nênmột số nuớc kém phát triển trong EU có thể được phép giữ cho mức tăng đến 27%(so với 1999) Quy ước này sẽ hết hạn vào năm 2013

Nghị định thư Kyoto cũng cho phép một vài cách tiếp cận linh hoạt cho các nướcAnnex I nhằm đạt được mục tiêu cắt giảm khí thải bằng cách cho phép các nướcnày mua lượng khí cắt giảm được từ những quốc gia khác Điều này có thể đạtđược dưới hình thức tài chính hay từ những chương trình hỗ trợ công nghệ cho cácnước Non-Annex I (vốn có tham gia vào Chương trình cơ cấu phát triển sạch-CDM) để các nước này hoàn thành mục tiêu đã kí kết trong Nghị định thư, trong

đó chỉ có những thành viên được chứng nhận CER (Certified EmissionReductions) trong Chương trình cơ cấu phát triển sạch mới được phép tham gia

Trong thực tế, điều này có nghĩa là các nền kinh tế Non-Annex I không bị bắt buộcphải giới hạn lượng khí thải gây ra, nhưng một khi chương trình cắt giảm khí thảiđược xúc tiến ở các quốc gia này nó sẽ nhận được một lượng hạn ngạch carboncho phép (Carbon Credit), vốn có thể bán cho các nước Annex I Qui định nàyxuất hiện trong Nghị định thư do:

Có dấu hiệu lo ngại rằng chi phí bỏ ra cho mục tiêu được kí kết trongNghị định thư là quá đắt đối với các nước Annex I, đặc biệt là các nước đã đầu tưrất hiệu quả cho việc bảo vệ môi trường trên đất nước họ và đã đạt tiêu chuẩn môitrường sạch Vì lí do đó Nghị định thư cho phép những nước này mua lượng hạnngạch carbon cho phép (Carbon Credit) từ các nước Non-Annex I trên thế giớithay vì tiến hành nâng cấp tiêu chuẩn môi trường trong nước

Điều này được xem như một công cụ hiệu quả nhằm khuyến khích cácnước Non-Annex I giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính (phát triển bền vững),hơn nữa điều này là rất kinh tế vì lượng đầu tư vào các quốc gia Non-Annex I sẽtăng lên thông qua việc mua bán hạn ngạch carbon cho phép (với điều kiện các

Trang 5

nước này phải tham gia vào chương trình cắt giảm khí thải qua chương trìnhCDM)

1.1.3. Mục tiêu chính – Con đường đi đến hiệu lực của nghị định thư Kyoto.

Mục tiêu được đặt ra nhằm "Cân bằng lại lượng khí thải trong môi trường ở mức

độ có thể ngăn chặn những tác động nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của conngười vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường"

Theo Chương trình hợp tác giữa các chính phủ về vấn đề biến đổi khí hậu (TheIntergovernmental Panel on Climate Change-IPCC) nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng

từ 1.4°C (2.5°F) đến 5.8°C (10.4°F) từ 1990 đến 2100

Các bên ủng hộ cho cũng nhấn mạnh rằng Nghị định thư Kyoto phải là bước đầutiên vì các điều kiện để thỏa mãn Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu -UNFCCC sẽ được liên tục cân nhắc sửa đổi cho phù hợp nhất để hoàn thành mụctiêu cân bằng khí thải ở mức độ thích hợp cho sự phát triển của con người

Các điều khoản trong Nghị định thư đã được đưa ra bàn thảo vào tháng 12/1997tại thành phố Kyoto - Nhật Bản và được đưa ra kí kết thông qua từ 16/3/1998 đến15/3/1999 Sau đó chính thứ có hiệu lực từ ngày 16 tháng 2 năm 2005 Đến tháng

11 năm 2007 đã có 175 nước và đại diện chính phủ các nước tham gia kí kết(chiếm hơn 61.1% lượng khí thải từ các nước Annex I)

Theo điều khoản 25 của Nghị định thư Kyoto, thời gian hiệu lực sẽ được tính saukhoảng thời gian 90 ngày kể từ khi Nghị định đã có đủ 55 quốc gia tham gia kí kết

và lượng khí thải của các nước này phải chiếm ít nhất 55% tổng phát thải lượngcarbon dioxide do các nước Annex I thải ra vào năm 1990 Điều kiện thứ nhấtđược thoả mãn vào ngày 23 tháng 5 năm 2002 khi số lượng 55 nước tham gia đạtđược với chữ kí của Iceland, trong khi điều kiện thứ hai phải đến ngày 18 tháng 11năm 2004 mới đạt được với sự tham gia của Nga Không lâu sau đó, Nghị định thưKyoto đã chính thức có hiệu lực cho tất cả các bên tham gia kí kết, đó là ngày 16tháng 2 năm 2005

Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu diễn ra ở Montreal, Canada 12-2005) đại diện 34 nước ký Nghị định thư Kyoto về giảm khí thải gây hiệu ứngnhà kính đã thông qua lần cuối cùng bản điều lệ của Nghị định thư Kyoto Đâyđược coi là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu thời điểm Nghị định thư Kyoto đivào hoạt động một cách đầy đủ và toàn diện

Trong khuôn khổ điều lệ mới được thông qua, các nước thành viên đã thành lậpHội đồng giám sát hỗn hợp có nhiệm vụ theo dõi quá trình triển khai cơ chế

Trang 6

Kyoto, cho phép các nước phát triển đầu tư vào những nền kinh tế chuyển đổi ởTrung - Đông Âu và nhiều khu vực khác nhằm giảm bớt lượng khí thải gây hiệuứng nhà kính như cam kết

Các nước thành viên cũng đã thiết lập cơ chế “phát triển sạch” nhằm khuyếnkhích những nước công nghiệp tăng cường đầu tư vào các nước đang phát triểnvới nhiều dự án bền vững, hướng tới mục tiêu giảm bớt lượng khí thải

Bản điều lệ cũng đề cập tới hàng loạt những vấn đề khác nhằm vận hành vàgiám sát việc triển khai Nghị định thư Kyoto như cách tính lượng khí thải, hướngdẫn thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu, hay những biện pháp sử dụng đất nông nghiệp

để hấp thụ khí cácbon điôxít

Trong điều lệ, các bên cam kết hạn chế lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính tớinăm 2012, đề ra một cơ chế về quyền mua bán lượng khí thải gây hiệu ứng nhàkính theo quy định

2 Vai trò của Nghị định thư Kyoto.

2.1 Những tác động tích cực – Các quan điểm ủng hộ.

Như đã phân tích ở trên, nghị định thư Kyoto đã tạo ra một sự thay đổi lớn trongquá trình đi đến một cam kết toàn thế giới nhằm cắt giảm một lượng khí thải gâyhiệu ứng nhà kính, đảm bảo thực thi có hiệu quả các cam kết môi trương và tiếntới sự phát triển bền vững trong tương lai Nghị định thư Kyoto ra đời đã thể hiệntốt vai trò tích cực của nó thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Đi đến một thỏa thuận về cắt giảm khí thải các bên tham gia Nghị định thưKyoto đã thống nhất giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính với tỷ lệ trung bình5,2% trong thời kỳ cam kết đầu tiên (2008-2012) theo mức cắt giảm cụ thể củatừng nước, trong đó, các nước cộng đồng châu Âu (EU) là 8%; Hoa Kỳ 7% Trongmột tuyên bố gần đây, Liên minh châu Âu (EU) đã thống nhất sẽ giảm 20% lượngkhí thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2020, đồng thời tăng thêm 20% cácloại năng lượng sạch

- Đưa ra các cơ chế nhằm tạo sự linh hoạt cho các quốc gia trong việc giảmlượng khí thải Nghị định thư Kyoto chấp nhận một hệ thống cho phép thương mạihóa lượng khí thải cắt giảm gọi là "cap and trade system" nhằm giúp các nướcAnnex I linh hoạt hơn khi tiến hành các biện pháp cắt giảm khí gây hiệu ứng nhàkính Bình quân những nước này cần phải đạt mục tiêu lượng khí thải hàng nămthấp hơn 5.2% so với lượng thải năm 1990 và cam kết này có hiệu lực từ 2008 đến

Trang 7

2012 Mặc dù điều này được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế nhưng trongthực tế các nước tham gia điều tiến hành đối với các loại hình liên quan đến các cơ

sở công nghiệp sản xuất năng lượng và giấy Một ví dụ về loại hình thương mạikhí thải này phải kể đến là chương trình thương mại khí thải của Liên minh Châu

Âu Điều này có nghĩa những thành phần mua hạn ngạch sẽ là những đơn vị sảnxuất kinh doanh có mức khí thải vượt quá số hạn ngạch cho phép (Đơn vị cấp phát

cố định -the Assigned Allocation Units, AAUs hay ngắn gọn là "Mức cho phép")

Cụ thể những đơn vị sản xuất này sẽ phải mua thêm số AAUs trực tiếp từ một bênkhác nhằm gia tăng mức hạn ngạch cho phép, chủ yếu từ Chương trình cơ cấu pháttriển sạch - CDM hoặc dưới các hình thức trao đổi thương mại khác

Vì hạn ngạch carbon cho phép là những đơn vị có thể thương mại hóa dưới hìnhthức định dạng giá cả nên những nhà đầu tư có thể mua lại nhằm mục đích đầu cơhay dành cho các thương vụ tương lai Các giao dịch trên thị trường thứ cấp này sẽgiúp giá cả của mức hạn ngạch carbon cho phép thay đổi linh hoạt hơn nhằm giúpcác cơ sở kinh doanh hay các dự án đầu tư nhằm thu hút vốn nước ngoài Ví dụnhư Trung Quốc muốn thu hút đầu tư vào nước họ thì chính phủ sẽ hỗ trợ cácthành phần kinh doanh hạn ngạch carbon bằng các hình thức trợ giá, và như vậycác cơ sở sản xuất ở TQ sẽ mua hạn ngạch carbon với giá thấp hơn so với các cơ

sở ở Thụy Điển

Hạn ngạch khí thải qui định trong Nghị định thư Kyoto được cung cấp bởiChương trình cơ cấu phát triển sạch - CDM (Điều 12 nghị định thư) và Chươngtrình hỗ trợ bổ sung hay còn gọi là cơ chế đồng bộ thực hiện- JointImplementation (Projects)/JI (Điều 6 Nghị định thư) Chương trình cơ cấu pháttriển sạch/CDM cho phép các nước nằm ngoài Phụ lục I thương mại hóa cáckhoản hạn ngạch carbon của nó trong khi Chương trình hỗ trợ bổ sung/JI cho phépcác nước Phụ lục I qui đổi lượng khí thải vượt trần cho phép (đã cam kết khi kíNghị định thư Kyoto) sang lượng khí thải tương ứng của các nước không thuộcphục lục I có tham gia Chương trình cơ cấu phát triển sạch dưới dạng các đơn vịhạn ngạch carbon Chương trình CDM sẽ cung cấp Chứng nhận cắt giảm khí thải(CERs), và chương trình JI sẽ đưa ra Đơn vị khí thải cắt giảm (EmissionReduction Units - ERUs), vốn dĩ có giá trị tương đương với một Đơn vị cấp phát

cố định (the Assigned Allocation Units - AAUs)

- Tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển được nhận một nguồn đầu tư lớn

từ các quốc gia Annex I nhằm phát triển công nghệ để giảm lượng khí thải và đổilấy các quyền phát thải thông qua các cơ chế sau: cơ chế đồng thực hiện (JointImplementation viết tắt là JI), cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế(International Emission Trade viết tắt là IET) và cơ chế phát triển sạch (CleanDevelopment Mechanism viết tắt là CDM) Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sựgiao dịch giữa các quốc gia công nghiệp hóa với nhau, còn cơ chế CDM thực sự làmột cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu

Trang 8

phát triển bền vững Có thể hiểu, CDM là một cơ chế hợp tác quốc tế mới tronglĩnh vực môi trường giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia công nghiệphóa nhằm làm giảm phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu Với cam kết phảicắt giảm GHG, các quốc gia công nghiệp hóa phải đầu tư, đổi mới, cải tiến côngnghệ với chi phí rất tốn kém mà hiệu quả mang lại không cao thì có một cách làmtốt hơn là tiến hành đầu tư những dự án CDM ở những nước đang phát triển, nơitrình độ công nghệ chưa cao, môi trường chưa bị ô nhiễm nặng, với chi phí đầu tưthấp hơn nhiều Đổi lại, các doanh nghiệp đầu tư nhận được chứng chỉ giảm phátthải đã được công nhận (CERs) để áp dụng vào chỉ tiêu cắt giảm phát thải ở quốcgia mình Những quốc gia đang phát triển không bị ràng buộc bởi cam kết phải cắtgiảm khí nhà kính của nghị định thư Kyoto có thể cải thiện tình hình kinh tế, xãhội và môi trường từ nguồn tài chính và công nghệ tiên tiến được chuyển giao từnhững dự án CDM Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM

có thể khuyến khích đầu tư quốc tế, cung cấp các nguồn lực cần thiết cho tăngtrưởng kinh tế ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới Bởi vậy ngay từ đầu CDM

đã giành được sự quan tâm đặc biệt của cả những nước đang phát triển và nhữngnước công nghiệp hóa Theo cơ chế CDM, chẳng hạn một nhà máy nhiệt điện củaViệt Nam đang phát thải 10 đơn vị ô nhiễm Thông qua Nghị định thư Kyoto, nhàmáy hợp tác với một nước phát triển để cải tiến công nghệ, giảm phát thải xuống

sẽ được tính cho nước đã đầu tư công nghệ, còn nhà máy sẽ cải thiện được môitrường và tăng sức sản xuất Chứng chỉ giảm ô nhiễm này cũng có thể được báncho các nước phát triển khác (đã phát thải quá ngưỡng quy định) để những nước

đó đạt được cam kết trong Công ước khí hậu

Với những ưu điểm trên, Nghị định thư Kyoto đã nhận được sự ủng hộ của phầnlớn các quốc gia trong công đồng quốc tế, kể cả các quốc gia công nghiệp pháttriển đến các nước đang và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam Trong khu vựcChâu Á Thái Bình Dương, Việt Nam là một trong số những quốc gia tham gia tíchcực nhất vào những hoạt động nhằm giảm nhẹ những tác động của biến đổi khíhậu do Liên Hợp Quốc đề xuất Tính đến 3/2003, Việt Nam đã đạt được cả 3 điềukiện để tham gia một cách đầy đủ nhất vào các dự án CDM quốc tế Đó là: 1.Tham gia hoàn toàn tự nguyện, 2 Phê chuẩn công ước khung của Liên hợp quốc

về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và ký kết nghị định thư Kyoto, 3 Thành lập cơquan có thẩm quyền quốc gia về CDM, được gọi tắt là DNA

Về mặt quản lý nhà nước, bên cạnh Bộ Tài nguyên và Môi trường được lựachọn làm DNA còn có Ban tư vấn chỉ đạo liên ngành (CNECB) nhằm tư vấn, chỉđạo cho DNA trong việc quản lý hoạt động và tham gia đánh giá các dự án CDMtại Việt Nam Ban này bao gồm 12 đại diện của 9 bộ, ngành liên quan và Liên hiệpcác hội khoa học kỹ thuật Việt Nam Nói về thái độ của nhà nước Việt Nam đốivới Nghị định thư Kyoto, Cục trưởng Cục bảo vệ môi trường Trần Hồng Hà chobiết đây cũng là cơ hội để Việt Nam tham gia quá trình ngăn chặn sự nóng lên củakhí hậu toàn cầu mà không phải sử dụng đến những biện pháp mạnh, có thể tác

Trang 9

động ngược tới quá trình phát triển kinh tế Thêm vào đó, nhiều văn bản Pháp luật đã được các cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam ban hành để điều chỉnh các hoạt động thực hiện Nghị định thư Kyoto Hiện nay Việt Nam có 5 dự án CDM đã được Ban điều hành CDM phê duyệt, dự

án đầu tiên là Thu hồi và sử dụng khí đồng hành tại mỏ dầu Rạng Đông (Bà Rịa –Vũng Tàu) Dự án này sử dụng khí đồng hành từ quá trình khai thác dầu mỏ để sảnxuất điện, khí hóa lỏng dùng trong sinh hoạt và xăng Chi phí thực hiện dự án là

73 triệu USD, dự kiến sẽ giảm 6,74 triệu tấn CO2 trong thời gian 10 năm Với mứcgiá của thị trường Châu Âu là 24 euro/1 tấn CO2 thì dự án này có thể mang lại chocác bên tham gia dự án một khoản thu khổng lồ 202 triệu đô la Mỹ Khôngnhững thế, 13 dự án khác đã được trình lên DNA chờ phê duyệt, 16 dự án và 10 ýtưởng dự án đang được xây dựng Như vậy Việt Nam đã có những động thại tíchcực trong việc tham gia thực hiện Nghị định thư Kyoto Số lượng các dự án CDMkhông nhiều nhưng có khả năng mở rộng ra các ngành và lĩnh vực khác, đem lạinguồn thu không nhỏ cho Việt Nam

Như vậy, thông qua những hoạt động của Việt Nam, chúng ta có thể khái quátđược thái độ của các quốc gia đang phát triển đối với cơ chế CDM nói riêng vànghị định thư Kyoto nói chung Các quốc gia này đều nhận thấy rằng Nghị địnhthư cơ hội để phát triển kinh tế và cải thiện môi trường cho chính quốc gia mình,đồng thời tiền thêm một bước sâu hơn vào quá trình hội nhập với đời sống quốc tế

2.2 Những yếu điểm trong nghị định thư Kyoto – Quan điểm của các quốc gia không ủng hộ Nghị định này.

Các cuộc nghiên cứu mới nhất do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chíSciences số tháng 12/2003 nói lên tính cách khẩn thiết của vấn đề nầy Theo ướctính của hai ông thì từ 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến8,9oF(1,6 đến 4,20C) Và sự tăng nhiệt độ nầy sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ởGreenland và Antarctic và có thể làm ngập lụt các bờ biển Điều sau nầy sẽ làmthu hẹp diện tích sống của con người trên quả địa cầu Và cuối cùng chúng ta sẽphải gánh chịu nhiều hệ lụy của hiện tượng này:

- Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường;

- Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;

- Mưa to, bão tố xảy ra bất thường cũng như không thể tiên liệu trước như hiệnnay;

- Hệ thực vật, sinh vật bị thay đổi;

Trang 10

- Mực nước biển có thể sẽ dâng cao ở nhiều nơi ước tính khoảng 75cm năm2100.

Một phát hiện mới nhất của trung tâm nghiên cứu trên vào tháng 3, 2004 cho thấynồng độ của thán khí (CO2) trong năm 2002 là 376 mg/L, và năm 2003 là 379mg/L Mức gia tăng trung bình trong vòng thập niên vừa qua là 1,8 mg/L, tronglúc đó mức tăng trung bình cho 50 năm về trước là 1 mg/L

Với những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng Nghị định thư Kyoto, nếu đượcthông qua là một giải pháp hiệu quả để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trườngtrầm trọng và sự nóng lên nhanh chóng của Trái Đất như những phân tích về hiệuquả của nghị định thư này ở trên Mặc dù được sự đồng tình của đa số các quốc gia

và được đánh giá là một cơ chế hiệu quả trong việc cải tạo môi trường đang bị ônhiễm ngày càng trầm trọng song nghị định thư Kyoto vẫn vấp phải một số nhữngquan điểm chống đối từ phía các chuyên gia và một số quốc gia phát triển Quanđiểm của các quốc gia tựu chung ở một số điểm như sau

- Thực hiện nghị định thư Kyoto buộc các nước phát triển phải hy sinh quánhiều, nhất là các chỉ tiêu trong phát triển kinh tế Đứng đầu cho quan điểm này là

Mỹ Mỹ là quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu của thế giới đồng thời lànước xả nhiều khí nhà kính nhất thế giới, chiếm 28% lượng khí thải hằng năm (sốliệu của năm 2007) Theo các tính toán của các chuyên gia kình tế Mỹ, nếu thựchiện cắt giảm các khí nhà kính theo chương trình do nghị định thư Kyoto vạch ragồm những cam kết nhằm giảm lượng khí thải nhà kính, kinh tế của Mỹ phải giảmtối thiểu là 30% so với tốc độ phát triển hiện tại Trong khi chưa có đủ bằng chứngkhoa học về tác động của các khí thải gây hiệu ứng nhà kính lên khí hậu toàn cầutrong khi cái giá mà nền kinh tế Mỹ phải trả khi tham gia NĐT này là quá lớn Đây

là lý do đã khiến Mỹ “quay lưng” với nghị định thư Kyoto với việc rút ra khỏinghị định này trong năm 2005

- Nghị định thư Kyoto cũng tạo ra một sự bất bình đẳng trong việc buộc cácquốc gia cắt giảm lượng khí thải nhà kính của mình, đặc biệt là khi nghị định thưchỉ nhắm đến đối tượng là các quốc gia có nền công nghiệp phát triển Trong khi

đó, một số quốc gia có nền công nghiệp đang phát triển rất nhanh và cũng là mộttrong các đối tượng đang gia tăng lượng khí thải vào môi trường thì không được

đề cấp đến, điển hình là Trung Quốc và Ấn Độ

- Thêm vào đó, việc nghị định thư không đưa các quốc gia đang phát triển vàodanh sách các quốc gia cần cắt giảm lượng khí thải đồng thời đưa ra các cơ chế JI,CDM và IET đã tạo ra cơ chế cho phép các quốc gia nằm trong AnnexI gia tănglượng khí thải của mình bằng việc mua quyền phát khí thải Như vậy, về cơ bản,khí thải vẫn chưa được giảm đáng kể, trong khi chi phí để đầu tư vào các côngtrình CDm là không nhỏ Việc xem quyền phát khí thải vô hình trung đã tạo ra một

Trang 11

“tính ỳ” trong nỗ lực tạo ra một bước tiến trong việc giảm lượng khí thải ra môitrường Điều này khiến cho những đóng góp của Nghị định thư không đủ cho vấn

đề cắt giảm lượng khí thải cần thiết cho mục tiêu mà nó đề ra là giảm tổng lượngphát thải khí nhà kính tỷ lệ trung bình 5,2% trong thời kỳ cam kết đầu tiên (2008-2012) theo mức cắt giảm cụ thể của mỗi nước, trong đó, các nước cộng đồng châu

Âu (EU) là 8%; Hoa Kỳ 7%; Nhật Bản 6% và kiểm soát các khí nhà kính như

CO2, CH4, N2O, HFCS và SF6

- Để thực hiện những cam kết và trách nhiệm khi tham gia Nghị định thư, cácbên tham gia phải đổi mới công nghệ trong nền công nghiệp và chính sách về môitrường, trong cơ cấu kinh tế và sự hợp tác quốc tế Các chuyên gia kinh tế dự đoáncác đối tác này phải chi số tiền lớn đến 350 tỷ USD, lớn hơn rất nhiều so với tổng

số viện trợ phát triển hàng năm trên thế giới và nếu vậy thì đương nhiên khả năngtài chính đầu tư cho các dự án kinh tế xã hội lớn khác sẽ bị hạn chế một cách đángkể

Với những lí do trên, nhiều quốc gia phát triển đã tìm cách để khước từ vớiNghị định thư, trong đó điển hình là Mỹ Hoa Kỳ, vào năm 1990, đã sản xuất36,1% sản phẩm của toàn thế giới, do đó có trách nhiệm trên 36,1% lượng khíphóng thích vào bầu khí quyển tạo ra sự hâm nóng toàn cầu Trong lúc đó, Ngachịu trách nhiệm 17,4%, và viện Duma Nga đã phê chuẩn vào tháng 6/2004 Quốcgia phê chuẩn sau cùng trước khi NĐT Kyoto trở thành luật vào tháng 2/2005 vừaqua là Úc (2007) Tuy nhiên, bất chấp sự kêu gọi của cộng đồng thế giới, Hoa Kỳđến này vẫn “quay lưng” với Nghị định thư này Có nhiều nguyên nhân khiến chochính quyền của Tổng thống Bush không chịu thông qua Nghị định thư Đó là:

- Hoa Kỳ không đồng ý hoàn toàn về sự phân chia tỷ lệ trách nhiệm về lượngkhí thải của các quốc gia phát triển và “miễn” cho những quốc gia đang mở mang,trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ Theo quan điểm của Mỹ thì hiện tại TrungQuốc và Ấn Độ phải góp phần trách nhiệm hiệu ứng nhà kính toàn cầu nầy Vàcũng theo ước tính căn cứ theo sự phát triển kỹ nghệ của Trung Quốc thì nước nầyphải chịu trách nhiệm của 5,1% lượng khí thải vào không khí - phát biểu của Tổngthống Bush trong cuộc họp báo về thái độ của Mỹ đối với Nghị định thư Kyoto

- Hàng năm nếu tính diện tích của rừng được tái tạo ở Hoa Kỳ thì lượng CO2 dorừng hấp thụ lại có thể được khấu trừ lượng khí thải hồi từ kỹ nghệ Hay nói khác

đi tỷ lệ khí mà Hoa Kỳ cần phải giảm theo quy định sẽ ít hơn như đã được ghitrong NĐT

- Nếu phải giảm như theo quy định của Nghị định thư, Hoa Kỳ e ngại sự suytrầm kinh tế sẽ xảy ra sau đó cho quốc gia này như đã phân tích ở trên

Trang 12

Bên cạnh đó, cho đến này, chỉ các quốc gia trong EU thực hiện những cam kếttrong NĐT Kyoto Ngoài ra hầu hết các quốc gia khác như Trung Quốc cùng Ần

Độ không thể thực hiện những ký kết đã hứa Hiện tại, Trung Quốc là quốc gia thứhai đứng sau Hoa Kỳ về lượng khí phát thải vào không khí qua sự phát triển ồ ạtcông kỹ nghệ của quốc gia này

Vào ngày 15 tháng 12 năm 2007, dưới sự chủ toạ của Liên Hiệp Quốc, 187 quốcgia thành viên trên thế giới đã ký một thỏa hiệp gọi là Thỏa hiệp Bali (vì đã nhómhọp ở Bali, Indonesia) trong Hội nghị Thay đổi Khí hậu (Climate ChangeConference) Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn chưa thể hiện sự ủng hộ đối với Thỏa hiệpnày Các thành viên cũng đã đi đến cam kết sẽ hội họp thường xuyên trong vònghai năm sắp đến nhằm mục đích thảo luận và đồng thuận những điều luật mới Bali

để thay thế luật Kyoto sẽ hêt hạn vào năm 2012 Chương trình nghị sự cho nhữnglần họp tới là các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ phảigiảm thiếu phát thải khí nhà kính từ 25 đến 40% vào năm 2020 so với lượng khíphát thải các các quốc gia nầy trong năm 1990

Theo nhận định của nhiều quốc gia thành viên trong hội nghị Bali, Hoa kỳ vàTrung Quốc vẫn là hai quốc gia có nguy cơ làm tăng thêm sự nóng lên toàn cầunhiều nhất và cũng là hai quốc gia chưa thể hiện cố gắng để làm giảm thiểu sựphát thải này

Như vậy, qua các phân tích ở trên, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng: có sự phânchia 2 luồng tư tưởng đối với Nghị định thư Kyoto, một bên ủng hộ, đẩy mạnhthực hiện Nghị định này và tìm thấy ở Nghị định những lợi ích đem lại không chỉcho chính quốc gia mà cho toàn thế giới; một bên khác thì vì lợi ích quốc gia mà

từ chối thực hiện nghị định Tuy nhiên, xu thể chung thì các bên vẫn sẽ tìm được

“tiếng nói chung” đối với vấn đề môi trường và việc đi đến kí kết các Điều ước vềgiảm thải là không thể tránh khỏi thể hiện qua thỏa hiệp Bali đã xác nhận sự thốngnhất của các quốc gia thừa nhận sự nóng lên toàn cầu là một thực tế hiển nhiên vàviệc giảm thiểu khí carbonic phát thải vào không khí là nhiệm vụ của toàn cầu

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO.

2.1 Tình hình chung các thành viên nghị định thư Kyoto.

Trang 13

2.1.1 Tình trạng hiện tại của các thành viên

2.1.1.1 Nhóm các nước Annex I.

Tình hình chung.

Là những nước có nền kinh tế phát triển trong đó công nghiệp chiếm vị trí caotrong cơ cấu ngành, có mức thu nhập bình quân đàu người và chỉ số phát triển conngười vào loại cao, tuy nhiên cũng là những nước có hàm lượng ô nhiễm môitrường cao trên thế giới Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các nước phát triển donhiều nguyên nhân tác động, nhưng bao trùm vẫn là sự phát triển với tốc độ nhanhcủa công nghiệp và kinh tế thị trường Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp vớiđời sống vật chất của dân cư không ngừng được nâng cao cũng làm cho lượng rácthải ngày càng tăng lên, vì vậy ô nhiễm rác thải là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng

Ví dụ tại các nước Cộng đồng kinh tế Châu Âu, số rác thải của các thành phố đãlên tới 2 tỷ tấn, phần nhiều là rác thải công nghiệp

Cùng với ô nhiễm rác thải là môi trường không khí bị ô nhiễm do công nghiệp hóachất ở nhiều nước phát triển Ví dụ, các ngành công nghiệp ở Anh và Đức đã đưakhí sunphuarơ qua biển Bắc dẫn đến mưa axit không chỉ ở những nước này mà cả

ở các quốc gia xung quanh Các khí thải độc hại của các nhà máy sản xuất các chấtphóng xạ, các hóa chất dùng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệpcũng góp phần làm cho môi trường không khí ở nhiều nước châu Âu bị đe dọa.Tình trạng ô nhiễm không khí càng trở nên đặc biệt nghiêm trọng ở các đô thị, cácthành phố lớn, nơi tập trung ngày càng nhiều dân cư khi quá trình đô thị hóa tiếntriển với tốc độ ngày càng tăng Ở thành phố Milan (Ý) không khí bị ô nhiễm gấp

3 lần so với tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế thế giới, sau đó là Tehêran,London, Pari… Ở Châu Âu hơn 1/3 diện tích rừng (vào khoảng 50/141 triệu ha) bịtác động xấu do ô nhiễm không khí

Cùng với tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm phóng xạ hạt nhân cũng là vấn đềcàn đặc biệt quan tâm sự phát triển của công nghiệp hạt nhân, việc ứng dụng cácchất phóng xạ vào lĩnh vực quân sự, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học, việc xâydựng các nhà máy điện nguyên tử ở các nước phát triển đã làm cho nguy cơ ônhiễm phóng xạ ở các nước này rất cao Theo thống kê, cứ khai thác 1.000 tấnquặng uranion thì sẽ có 2,6 triệu m3 nước thải và 20 vạn tấn phế liệu Các phế liệuhạt nhân của nhà máy điện nguyên tử có thể làm ô nhiễm sông ngòi, đất đai vàkhông khí, rất nguy hiểm cho sức khỏe con người, có thể làm tổn thương hệ thốngtạo máu, hệ sinh dục, hệ tiêu hóa, da… Vụ tai nạn tại nhà máy điện nguyên tửChécnôbưn năm 1986 ở Liên Xô (cũ) là ví dụ điển hình của phóng xạ hạt nhân gây

ra tổn thất rất lớn về người và kinh tế (khoảng 15 tỷ USD) Bụi phóng xạ khôngnhưng che phủ cả bầu trởi Liên Xô (cũ) mà còn theo không khí bay sang cả khuvực xung quanh và các nước Bắc Âu Các chuyên gia dự tính, muốn khống chế

Trang 14

được sự rò rỉ hạt nhân từ Chécnôbưn, làm sạch chất phóng xạ ô nhiễm thì tối thiểuphải mất 100 năm và tốn hàng chục tỉ USD.

Một số ví dụ điển hình:

Mỹ.

Kinh tế: Là nước có nền kinh tế hậu công nghiệp, với khía cạnh dịch vụ đóng gópkhoảng trên 75% tổng sản phẩm nội địa, ngành thương nghiệp dẫn đầu, tính theotổng doanh thu là buôn bán sĩ và lẽ; theo lợi tức khấu trừ là tài chánh và bảo hiểm.Hoa Kỳ là một siêu cường công nghiệp với các sản phẩm hóa học dẫn đầu ngànhsản xuất Hoa Kỳ là nước sản xuất dầu lớn hạng ba trên thế giới và nước tiêu thụdầu đứng hạng nhất Đây là nước sản xuất năng lượng điện và hạt nhân số một củathế giới cũng như khí đốt thiên nhiên hóa lỏng, nhôm, sulfur, phosphat, và muối.Nông nghiệp chỉ chiếm 1% GDP nhưng chiếm 60% sản xuất nông nghiệp của thếgiới

Môi trường:Dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được tínhtoán tăng trưởng của Mỹ dự kiến đạt 1,2% năm nay và 1,1% năm 2009 (thay cho2,0 và 2,2% trước đây Hiện nay, Mỹ là nước công nghiệp phát triển duy nhất chưaphê chuẩn công ước này, trong khi Mỹ là quốc gia sản sinh lượng khí thải gây hiệuứng nhà kính nhiều nhất thế giới (23%) phát thải bình quân đầu người của Hoa Kỳlớn gấp 5-6 lần phát thải của Trung Quốc mặc dù Trung Quốc trở thành nước cónền kinh tế sản xuất đứng đầu Phát thải của Hoa Kỳ vẫn đang tăng lên mặc dù vớitốc độ có chậm hơn nhiều

Một ví dụ điển hình về tình hình môi trường của Hoa Kì sự ô nhiễm của thành phốCalifornia Đây là thành phố có đến 6 trên 10 thành phố đông dân nhất Hoa Kì Hậu quảcủa sự phát thải khí cacbonic liên quan đến sức khoẻ dễ nhận thấy nhất tại những vùngvốn đã bị ô nhiễm ở mức đáng kể Do đó, sự nóng lên gây ra bởi khí cacbonic sẽ làm tổnhại sức khỏe người dân ở những thành phố này ở mức độ nhanh hơn nhiều so với bất kìthành phố nào khác tại Hoa Kì Trong tổng số 1000 người chết tăng thêm mỗi khi nhiệt

độ lên một nấc gây ra bởi khí cacbonic có tới trên 30% số ca tử vong tại California, nơi

có số dân chiếm 12% dân số Hoa Kì Như vậy ảnh hưởng của khí cacbonic đến sức khỏengười dân Califonia còn ở mức cao hơn cả nước

Các nước Bắc Âu:

Kinh tế: Là những nước có nền sản xuất đạt trình độ xã hội hóa cao với năng suấtlao động thuộc tốp đầu của thế giới, phát triển mạnh về công nghiệp và dịch vụ vớinhững ngành công nghiệp đỉnh cao nổi tiếng thế giới mang lại giá trị kinh tế lớn.Tại Thụy Điển, chế tạo máy là ngành công nghiệp lớn nhất có khoảng 450.000công nhân, sản xuất ra 42% giá trị sản xuất công nghiệp, 50% giá trị công nghiệpxuất khẩu Công nghiệp hóa chất có khoảng 75.000 công nhân, chiếm 11% giá trịsản xuất công nghiệp, 13% giá trị xuất khẩu Công nghiệp khai khoáng và luyện

Trang 15

kim có 72.000 công nhân, sản xuất 6% giá trị sản xuất công nghiệp, 7% giá trịxuất khẩu Công nghiệp giấy và gỗ có 124.000 công nhân, chiếm 16% giá trị sảnxuất công nghiệp, 20% giá trị xuất khẩu.

Môi trường: Ở các nước Bắc Âu vấn đề khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên

để phát triển kinh tế luôn là một ưu tiên hang đầu Công nghiệp khai thác rừng, sảnxuất gỗ và giấy xuật khẩu luôn là nguồn mang lại ngoại tệ lớn cho các nước này.Việc khai thác được tổ chức có kế hoạch, đi đôi với việc bảo vệ và trồng rừng Tuynhiên hiện nay vấn đề môi trường ở các nước này cũng đang là mối lo ngại lớnkhông phải vì không chính sách hay xem nhẹ việc bảo vệ môi trường mà nguyênnhân bắt nguồn từ sự ô nhiễm môi trường từ các nước Tây Âu khác lan sang

2.1.1.2. Nhóm các nước Non-annex I

Tình hình chung:

Các nước đang phát triển chiếm hơn ½ diện tích luc địa Đây là khu vực giàu tàinguyên thiên nhiên, cả về trữ lượng lẫn chủng loại đặc biệt l2 tài nguyên khoángsản, tài nguyên rừng, đất trồng, khí hậu để phát triển n6ong nghiệp

Nhìn chung, các nước đang phát triển là những nước nghèo chậm phát triển vềkinh tế, xã hộI với mức sống còn khiêm tốn chưa đạt được mức độ công nghiệphóa tương xứng với quy mô dân số có nền tảng công nghiệp kém phát triển và cóchỉ số phát triển con người (HDI) không cao Ở các nước này, thu nhập đầu người

ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp Một vài nguyên nhân của sự kémphát triển như sự hoang hóa của đất đai và tàn phá các nguồn lực kinh tế bởi xungđột quân sự, xung đột, bất ổn chính trị hoặc xã hội kéo dài kìm kẹp tự do kinh tế,thiếu những biện pháp bảo vệ những ngành công nghiệp non trẻ, sự bóc lột của cácnước phát triển, nền kinh tế đóng cửa và thiếu quyết tâm mở rộng giao lưu với thếgiới bên ngoài, giáo dục và thông tin không được quan tâm thích đáng, thiếu sựthúc đẩy, can thiệp của chính phủ để phát triển kinh tế…

Hiện nay ở các nước đang phát triển tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng nhưnglại không có chiến lược phát triển đồng bộ gây tác động xấu đến chất lượng xấucon người những vấn đề bệnh tật, Những bệnh truyền nhiễm nguy hại như nhiễmtrùng đường hô hấp cấp tính, tiêu chảy và các bệnh điếc, suyễn, bại não, viêm tai,nhiễm độc các-bon, nhiễm độc benzen, nhiễm độc nicotin, viêm da, viêm gan dovirus, bệnh rung chuyển tần số cao giữa đang gia tăng vấn đề ô nhiễm không khí,

ô nhiễm tiếng ồn, suy thoái nguồn nước ngày càng vượt tầm kiểm soát Ví dụ ởPhilipin tốc độ đô thị hóa nhanh chóng làm tăng hơn 2 triệu dân đô thị mỗi nămđang gây tác động lớn đến tài nguyên nước, tại Metro Manila, cư dân thường phànnàn về tình trạng thiếu nước trong suốt những tháng mùa hè Tại một số nơi khác ởthủ đô, tình trạng cấp nước đã đạt đến ngưỡng tổn thương, nước có rất ít và một số

Trang 16

người thậm chí không có đủ nước cho các mục đích cấp thiết như đun nấu và ănuống Khoảng 48% ô nhiễm nước là do chất thải sinh hoạt, 37% do chất thảu nôngnghiệp và 15%là do chất thải công nghiệp.

Một vấn đề đáng báo động là hiện nay ở các quốc gia đang phát triển tài nguyênthiên nhiên đang dần bị khai thác cạn kiệt, điều này nếu không sớm khắc phục sẽ

để lại một nguy cơ lớn cho sự phát triển bền vững trong tương lai

Những ví dụ điển hình.

Trung Quốc

Kinh tế: Là nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất thế giới trong những nămqua, trung bình đạt trên 8% Trong 20 năm, kể từ 1979 đến 1999 khối lượng GDPcủa Trung Quốc đã tăng lên 6 lần, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt tới 9,7%

Có thể nói, trong thời kỳ 1979-1999 Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởngkinh tế lớn nhất trên thế giới ở Trung Quốc hiện nay đã chấm dứt tình trạng thâmhụt kinh tế, trên thị trường tiêu thụ tỷ lệ cung đã vượt cầu, tốc độ tăng ngoạithương hàng năm đạt tới 15,6%, tỷ trọng của ngành thương mại trong GDP đã tăng

từ 9,8% trong năm 1998 lên 34% trong năm 1999% Năm 2004, tổng GDP đạt1649,3 tỉ USD vươn lên vị trí thứ bảy trên thế giới Khối lượng đầu tư nước ngoài

đã thực hiện đạt 459,6 tỷ USD Trung Quốc đang là nước đứng đầu trong số cácnước đang phát triển về thu hút đầu tư nước ngoài.Về cơ cấu sản xuất hiện nay ởTrung Quốc chia thành3 khu vực khu vực I là công nghiệp và xây dựng, khu vực

II là nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản) và khu vực thứ III là dịch vụ,

tỷ trọng nhân lực làm việc ở ba khu vực trong năm 1998 tương ứng là49,8%;23,5% và 26,7 Về khoa học và công nghệ (KHCN), vai trò của yếu tố tiến

bộ KHCN đối với tăng trưởng kinh tế chưa cao Điều này đã gây tác động khôngnhỏ đến vấn đề bảo vệ môi trường

Môi trường: Sự tăng trưởng kinh tế bùng nổ ở Trung Quốc đã nhanh chóng làmcho quốc gia này có nền kinh tế lớn vào hàng thứ tư trên thế giới Điều đó cũnglàm cho quốc gia này trở thành nước tiêu thụ nhiều năng lượng vào hàng thứ nhì

và cũng là một trong những quốc gia gây ra ô nhiễm nhất trên thế giớiSự lệ thuộccủa Trung Quốc vào năng lượng dùng than đá gây ô nhiễm nặng đã khiến chonước này đứng đầu trên thế giới trong việc thải ra khí sulfur dioxide, là chất tạo ramưa acid

Hiện tượng bùng nổ kinh tế còn làm tăng lượng chất thải hóa học và các vụ hóa chất độchại tràn vào các con sông Hơn phân nửa trong số 21.000 công ty hóa chất đặt gần sôngDương Tử và sông Hoàng Hà - nguồn nước uống cho hàng triệu dân và những tai nạn cóthể dẫn đến “những hậu quả thảm khốc" Kể từ năm 2001, lượng nước thải và chất thải

Ngày đăng: 27/06/2020, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w