1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam

57 888 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 863,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CDM Cơ chế phát triển sạch UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu KP Nghị định thư Kyoto EB Ban chấp hành quốc tế về Cơ chế phát triển sạch COP Hội nghị các Bên tham

Trang 1

KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA K37 – VĂN BẰNG 2

CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG NGHỊ ĐỊNH

THƢ KYOTO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Mã số sinh viên: B110078 Lớp: Luật Hành chính K37 VB2

CẦN THƠ, THÁNG 4 NĂM 2014

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Bố cục luận văn 2

CHƯƠNG 1 CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO 4

1.1 Khái quát chung về vấn đề Biến đổi khí hậu 4

1.2 Tổng quan pháp luật quốc tế về Biến đổi khí hậu 6

1.2.1 Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992 (UNFCCC) 6

1.2.2 Nghị định thư Kyoto 7

1.3 Cơ chế phát triển sạch quy định trong Nghị định thư Kyoto 10

1.3.1 Sơ lược về Cơ chế phát triển sạch (CDM) 10

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của Cơ chế phát triển sạch 11

1.3.3 Mục đích của Cơ chế phát triển sạch 12

1.3.4 Nội dung của Cơ chế phát triển sạch 13

1.3.5 Các điều kiện để tham gia vào Cơ chế phát triển sạch 13

1.3.6 Các lĩnh vực thuộc dự án Cơ chế phát triển sạch 14

1.3.7 Các giảm phát thải được chứng nhận (CERs) 15

1.3.8 Ban chấp hành của Cơ chế phát triển sạch 17

1.3.9 Vấn đề tài chính của các dự án Cơ chế phát triển sạch 18

1.3.10 Chu trình thực hiện dự án Cơ chế phát triển sạch 19

1.3.10.1 Xác định và xây dựng dự án 20

1.3.10.2 Phê duyệt quốc gia 20

1.3.10.3 Phê duyệt và đăng ký 21

1.3.10.4 Giám sát, thẩm tra và cấp chứng nhận 21

CHƯƠNG 2 CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 23

2.1 Cơ chế phát triển sạch trong pháp luật Việt Nam 23

2.1.1 Cơ sở pháp lý về Cơ chế phát triển sạch 23

2.1.2 Cơ quan đầu mối của Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam 25

Trang 4

2.1.5 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM 28

2.1.6 Trình tự thủ tục phê duyệt dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam 29

2.1.7 Vấn đề tài chính liên quan đến Cơ chế phát triển sạch 34

2.1.7.1 Lệ phí bán CERs 34

2.1.7.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với dự án CDM 36

2.2 Thực tiễn các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam 37

2.2.1 Tiềm năng các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam 37

2.2.2 Các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam đã được Ban chấp hành quốc tế chứng nhận 38

2.2.3 Tình hình các dự án Cơ chế phát triển sạch đang chờ Cơ quan quốc gia về Cơ chế phát triển sạch (DNA) phê duyệt 39

2.2.4 Những bất cập của pháp luật Việt Nam về Cơ chế phát triển sạch 40

2.2.4.1 Thủ tục hành chính 40

2.2.4.2 Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp CDM 43

2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng khung pháp lý về Cơ chế phát triển sạch 44

2.4 Kiến nghị 45

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 5

CDM Cơ chế phát triển sạch

UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu

KP Nghị định thư Kyoto

EB Ban chấp hành quốc tế về Cơ chế phát triển sạch

COP Hội nghị các Bên tham gia Công ước

CMP Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto

DNA Cơ quan đầu mối quốc gia về Cơ chế phát triển sạch CNECB Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế phát triển sạch

CERs Các giảm phát thải chứng nhận

ODA Quỹ Hổ trợ phát triển chính thức

EVN Tập đoàn điện lực Việt Nam

PIN Tài liệu ý tưởng dự án

PDD Văn kiện thiết kế dự án

Trang 6

Giảng viên HD: Dương Văn Học -1- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình sinh sống trên Trái Đất, con người luôn tác động vào tự nhiên nhằm phục vụ cho những lợi ích của mình Những tác động ấy bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều tác động tiêu cực gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường Trong những năm qua, Trái Đất ngày một nóng lên, cùng với đó là những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang đe dọa đến cuộc sống của hàng tỷ con người, được chúng ta gọi là hiện tượng biến đổi khí hậu Trước những nguy cơ to lớn của biến đổi khí hậu với con người, Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã được thông qua ngày 09 tháng 5 năm 1992 tại trụ sở của Liên hợp quốc ở New York và đã có 155 lãnh đạo các nước trên thế giới ký Công ước này tại Hội nghị Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, Brazil vào tháng 6 năm 1992 Tại hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 3 được tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) tháng 12 năm 1997, Nghị định thư của Công ước đã được thông qua (gọi

là Nghị định thư Kyoto (KP)) Điểm nhấn quan trọng của công ước nhìn nhận trên góc độ kinh tế chính là sự hình thành thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính (Certified Emission Reductions (CERs))

Là một trong những nước đang phát triển và ý thức được tầm quan trọng của vấn đề Biến đổi khí hậu , Việt Nam đã ký kết Công ước khung, Nghị định Kyoto và chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia về CDM Việt Nam đủ điều kiện theo quy định của Nghị định thư Kyoto để xây dựng và thực hiện các dự án CDM Có thể nói, việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM sẽ mang lại các giá trị kinh tế và ý nghĩa bảo vệ môi trường to lớn Dù vậy, do thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính còn quá mới mẻ, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các nhà doanh nghiệp của Việt Nam còn ít thông tin về thị trường này, nên chưa có nhiều doanh nghiệp xây dựng và đăng ký dự án CDM cho đơn vị mình Việt Nam đã

có những văn bản pháp quy để hỗ trợ các dự án CDM và cũng từng bước khắc phục các nhược điểm về các qui định pháp lý nhưng những thủ tục còn phức tạp và một

số bất cập

Việc nghiên cứu và hệ thống hóa các văn bản pháp lý quốc tế và Việt Nam về CDM, cũng như thực tiễn tại Việt Nam là việc làm rất có ý nghĩa Bên cạnh đó, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án

Trang 7

Giảng viên HD: Dương Văn Học -2- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

CDM sẽ giúp chúng ta hoàn thiện các quy định pháp luật về Cơ chế phát triển sạch

và xây dựng thị trường mua, bán CERs hoàn chỉnh

Vì những lý do trên, vấn đề “Cơ chế phát triển sạch trong Nghị định thư Kyoto

và pháp luật Việt Nam” được bản thân lựa chọn làm đề tài của luận văn cử nhân

luật của mình

2 Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện Cơ chế phát triển sạch trên phạm vi toàn cầu, những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực thi cam kết quốc tế về CDM của Việt Nam, luận văn cũng nêu và phân tích những kinh nghiệm quốc tế về việc thực hiện CDM, qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về Cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam

Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tổng quan về tình hình thực

hiện CDM trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam; nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp lý quốc tế về CDM; nghiên cứu pháp luật của Trung Quốc và Ấn Độ, Brazil là các quốc gia có pháp luật phát triển về CDM và có năng lực trong xuất khẩu CERs hàng đầu thế giới; nghiên cứu hệ thống pháp luật của Việt Nam về CDM

Về thời gian nghiên cứu: từ năm 1992 đến nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở

Luận văn được thực hiện trong 2 chương:

Chương 1 Cơ chế phát triển sạch trong Nghị định thư Kyoto

Sơ lược về sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp lý quốc tế về chống biến đổi khí hậu toàn cầu và CDM Nêu và phân tích các vấn đề pháp lý của CDM trong Nghị định thư Kyoto và các Nghị quyết của COP/CMP

Chương 2 Cơ chế phát triển sạch trong pháp luật Việt Nam

Sơ lược về sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam về việc thực hiện CDM tại Việt Nam Nêu và phân tích các vấn đề pháp lý của CDM trong pháp luật Việt Nam Tìm hiểu kinh nghiệm lập pháp liên quan đến CDM của các

Trang 8

Giảng viên HD: Dương Văn Học -3- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

quốc gia trên thế giới Đưa ra các vấn đề thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về CDM

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tác giả xin chân thành cảm ơn:

Quý thầy cô Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ

Thầy Dương Văn Học đã hướng dẫn tận tình, cung cấp kiến thức, tài liệu và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

PGS.Ts Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Dragon - Mekong đã nhiệt tình cung cấp các tài liệu chuyên ngành

Ths Nguyễn Minh Thế, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình hướng dẫn và cung cấp các kiến thức chuyên ngành

Ths Trần Ngọc Phi Long, Phó trưởng Phòng Hợp tác Quốc tế - Sở Ngoại vụ thành phố Cần Thơ đã tận tình giúp tác giả dịch các tài liệu có liên quan sang tiếng Việt

Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hỗ trợ, chia sẻ thông tin trong quá trình nghiên cứu và học tập

Trang 9

Giảng viên HD: Dương Văn Học -4- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

CHƯƠNG 1 CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG

NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO Dẫn nhập chương

Ở chương đầu tiên này, tác giả sẽ tìm hiểu quá trình hình thành các vấn đề pháp

lý quốc tế có liên quan đến Cơ chế phát triển sạch Tiếp đó sẽ phân tích các nội dụng pháp lý của Cơ chế phát triển sạch trong Nghị định thư Kyoto và các Nghị quyết của những cuộc họp COP/CMP như: các nguyên tắc cơ bản của CDM, các điều kiện tham gia, phân loại các ngành lĩnh vực thuộc dự án CDM, tìm hiểu về CERs, hoạt động quản lý và điều hành của CDM ở góc độ quốc tế, các vấn đề tài chính liên quan và chu trình thực hiện dự án CDM

1.1 Khái quát chung về vấn đề Biến đổi khí hậu

Theo Khoản 2 Điều 1 Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu

thì: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”

Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp đến nay, các hoạt động của con người đã phát thải ra nhiều loại khí nhà kính (KNK), trong đó có bảy loại KNK1

như: Carbon dioxide (CO2), Methane (CH4), Nitrous oxide (N2O), Hydrofluorocarbon (HFCs), Per-fluorocarbon (PFCs), Sulphur hexafluoride (SF6) và Nitrogen trifluoride (NF3)

đã và đang ảnh hưởng xấu đến khí hậu toàn cầu Việc tăng nồng độ khí nhà kính đẫn đến tăng nhiệt độ trung bình trên trái đất, hiện tượng này được gọi là sự ấm lên toàn cầu và nhiều biến đổi khác của hệ thống khí hậu Trong thế kỷ trước, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7 0

C Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề, bao gồm kinh tế quốc dân, phát triển xã hội cũng như bảo vệ sinh thái và môi trường, năng lượng và tài nguyên nước, an ninh lương thực và sức khỏe con người Biến đổi khí hậu cũng liên quan chặt chẽ đến sự phát triển xã hội loài người Biến đổi khí hậu

do con người gây ra sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như mực nước biển dâng, bão xuất hiện thường xuyên hơn cùng với lốc xoáy, lũ lụt, hạn hán gây nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản

1

Phụ lục A của Nghị định thư Kyoto sửa đổi Doha

Trang 10

Giảng viên HD: Dương Văn Học -5- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Biến đổi khí hậu và những tác động tiêu cực của nó là mối quan tâm chung của nhân loại và là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận nhất trong đàm phán quốc tế Biến đổi khí hậu có những ảnh hưởng tiêu cực như sau:

Trước tiên, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước2

Các nhà khoa học đã dự báo rằng: sự nóng lên toàn cầu sẽ gây nên những biến đổi đáng kể đến đặc trưng nhiệt độ và dạng mưa Thông qua cân bằng nước trong mỗi khu vực sẽ có những tác động tới dòng chảy sông ngòi và tài nguyên nước

Sự nóng lên toàn cầu làm giảm tài nguyên nước ở Châu Á, khu vực Địa Trung Hải và Nam Phi trong khi đó tài nguyên nước có xu thế tăng lên ở vùng vĩ độ cao và Đông Nam Á

Nhu cầu về nước đang tăng lên do phát triển kinh tế và sự tăng dân số Khoảng 1,7 tỉ người hiện tại đang sống trong tình trạng khan hiếm nước Dự báo, đến năm

2025 con số này sẽ tăng lên 5 tỉ người Biến đổi khí hậu làm suy giảm lưu lượng dòng chảy và nước ngầm ở nhiều nước vốn đã khan hiếm nước sinh hoạt như Trung

Á, Nam Phi và các nước ven biển Địa Trung Hải

Tiếp theo, biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến nông nghiệp và an ninh lương thực3

Khi nhiệt độ tăng lên, ở vùng nhiệt đới, sản lượng sẽ giảm ngay khi nhiệt độ thay đổi không đáng kể Trong khi đó ở vùng ôn đới, sản lượng của một số cây trồng

sẽ tăng lên Nhìn chung nhiệt độ tăng lên sẽ có hại đối với số lượng lớn các loài cây trồng do chưa thích nghi với điều kiện thay đổi

Suy thoái đất và tài nguyên nước là một trong những thách thức của ngành nông nghiệp toàn cầu

Ngoài ra, sự tăng lên của các hiện tượng khí hậu cực đoan sẽ làm tăng số lượng gia súc chết

Biến đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi nhỏ trong thu nhập toàn cầu với những thay đổi có lợi cho các nước phát triển và thay đổi tiêu cực đối với các nước đang

2Nguyễn Thị Phương Anh (2009), Luận văn Đánh giá hiệu quả cơ chế phát triển sạch (CDM) của

dự án Nhà Máy Điện Khí Chu Trình Hỗn Hợp Nhơn Trạch I, trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà

Nội, trang 16

3

Nguyễn Thị Phương Anh (2009), Luận văn Đánh giá hiệu quả cơ chế phát triển sạch (CDM) của

dự án Nhà Máy Điện Khí Chu Trình Hỗn Hợp Nhơn Trạch I, trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà

Nội, trang 17

Trang 11

Giảng viên HD: Dương Văn Học -6- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

phát triển Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình năm tăng 2,50C sẽ đẩy giá lương thực thực phẩm tăng lên do hạn chế việc mở rộng khả năng cung cấp thực phẩm toàn cầu trong khi nhu cầu thực phẩm tăng lên Do vậy, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm thu nhập và tăng số lượng thiếu ăn của người dân

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến các hệ sinh thái4

Các hệ sinh thái phải gánh chịu nhiều sức ép như thay đổi sử dụng đất, chất ô nhiễm, thay đổi khí hậu tự nhiên … Biến đổi khí hậu là một sức ép làm thay đổi hoặc gây nguy hại cho các hệ sinh thái

Nhiều loại cây bị đe dọa do biến đổi khí hậu Nếu không có các biện pháp thích ứng, nhiều loài cây sẽ có nguy cơ biến mất trong thế kỷ 21 Điều này sẽ tác động đáng kể đến cộng đồng thu nhập thấp, sống phụ thuộc vào cuộc sống tự nhiên Bên cạnh đó, do vai trò của các loài thực vật trong hệ sinh thái, suy giảm của các loài thực vật sẽ tác động đến các hiện tượng tự nhiên, các tập quán văn hóa của người bản địa

Biến đổi khí hậu cũng làm giảm số lượng hồ, vùng đầm lầy và các dòng sông băng, đồng thời làm tăng sự xâm lấn của các động thực vật ngoại lai, làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm hiện tại như nhiễm độc, mưa acid và bức xạ tia tử ngoại

Cuối cùng, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến vùng ven bờ5

Biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ mặt biển và mực nước biển, làm suy giảm lớp băng phủ và độ mặn, dòng chảy của nước biển Những thay đổi trong đại dượng

sẽ có tác động ngược trở lại đối với khí hậu toàn cầu cũng như đối với khí hậu của khu vực ven bờ

Nhiều vùng ven bờ phải chịu lũ lụt do nước biển dâng, sự xói mòn và sự nhiễm mặn nguồn nước ngọt Nhiều đồng bằng và vùng ven bờ sẽ bị nhấn chìm do mực nước biển dâng

1.2 Tổng quan pháp luật quốc tế về Biến đổi khí hậu

1.2.1 Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992

(UNFCCC)

Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) là một hiệp ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi

Trang 12

Giảng viên HD: Dương Văn Học -7- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

trường và Phát triển (UNCED), thường được gọi là Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến 14 tháng 6 năm 1992.UNFCCC được

mở ra để ký kết từ 9 tháng 5 năm 1992, sau khi một Ủy ban Đàm phán Liên chính phủ xây dựng văn bản của Công ước khung như một báo cáo theo sau cuộc họp tại New York từ ngày 30 tháng 4 đến 9 tháng 5 năm 1992 UNFCCC có hiệu lực vào ngày 21 tháng 3 năm 1994 Tính đến nay đã có 1956 bên tham gia Công ước

Theo Điều 2 UNFCCC thì mục tiêu cuối cùng của Công ước là “… sự ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức đó phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, đảm bảo rằng việc sản xuất lương thực không bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững”

Bản thân Công ước này không ràng buộc giới hạn phát thải khí nhà kính cho các quốc gia đơn lẻ và không bao gồm cơ chế thực thi Thay vào đó công ước cung cấp một bộ khung cho việc đàm phán các hiệp ước quốc tế cụ thể (gọi là "Nghị định thư") có khả năng đặt ra những giới hạn ràng buộc về khí nhà kính

Công ước phân chia các nước thành 2 nhóm: Các Bên thuộc Phụ lục I – Các nước công nghiệp hóa (ANNEX) là các nước chủ yếu gây ra biến đổi khí hậu – và các Bên không thuộc Phụ lục I (NON – ANNEX) – gồm phần lớn là các nước đang phát triển Nguyên tắc công bằng và “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt” của Công ước đòi hỏi các Bên thuộc Phụ lục I phải đi đầu trong tiến trình nhằm giảm mức phát thải khí nhà kính của mình vào năm 2000 bằng phát thải năm 1990 Các nước này cũng phải đệ trình các báo cáo định kỳ, còn gọi là Thông báo Quốc gia, nhằm nêu rõ các chính sách, chương trình về Biến đổi khí hậu và kiểm kê khí nhà kính hàng năm

1.2.2 Nghị định thƣ Kyoto

Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Chương trình khung về biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính Bản dự thảo được thông qua vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba (COP-3) khi các bên tham gia nhóm họp tại Kyoto, Nhật Bản Sự thông qua Nghị định thư này phù hợp

6

UNFCCC, Introducing The United Nations Framework Convention on Climate Change,

http://unfccc.int/essential_background/convention/items/6036.php , [truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014]

Trang 13

Giảng viên HD: Dương Văn Học -8- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

với Điều 24 là “Nghị định thư này sẽ được mở ký và được phê chuẩn, phê duyệt hoặc chấp nhận bởi các Quốc gia và các tổ chức liên kết kinh tế khu vực là các Bên vủa Công ước Nghị định thư sẽ được mở để ký tại trụ sở của Liên Hợp Quốc, New York, Hoa Kỳ từ ngày 16 tháng 3 năm 1998 đến 15 tháng 3 năm 1999” Ngày đó

Nghị định thư đã nhận được 84 chữ ký Bên cạnh đó Bên tham gia Công ước nhưng không ký Nghị định thư có thể gia nhập bất cứ lúc nào Nghị định thư Kyoto đã có

hiệu lực vào ngày 16 Tháng 2 năm 2005 phù hợp với Điều 25, đó là “ngày thứ chín mươi, kể từ ngày mà không dưới 55 Bên tham gia Công ước, trong đó gồm các Bên thuộc Phụ lục I có tổng số phát thải chiếm ít nhất 55% tổng lượng khí thải carbon dioxide năm 1990 của các Bên thuộc Phụ lục I, đã gửi văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập”

Cho đến nay đã có 192 Bên7

(191 nước và 1 tổ chức hội nhập kinh tế khu vực)

đã ký kết tham gia Nghị định thư Kyoto Trong đó có khoảng 36 nước phát triển (với liên minh Châu Âu được tính là một) được yêu cầu phải có hành động giảm thiểu khí thải nhà kính mà họ đã cam kết cụ thể trong nghị trình (lượng khí này chiếm hơn 61.6% của lượng khí của nhóm nước Annex I cần cắt giảm) Nghị định thư cũng được 137 nước đang phát triển tham gia kí kết trong đó gồm Brasil, Trung Quốc và Ấn Độ nhưng không chịu ràng buộc xa hơn các vấn đề theo dõi diễn biến

và báo cáo thường niên về vấn đề khí thải

Nhìn lại lịch sử, Nghị định thư Kyoto là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng đầu tiên ghi nhận nỗ lực chung của các quốc gia trong việc hạn chế phát thải khí nhà kính toàn cầu bằng các cam kết ràng buộc cụ thể của từng quốc gia thành viên Do

đó, CDM ra đời trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm đến mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính với chi phí thấp nhất nhưng vẫn tăng cường hiệu quả cải thiện môi trường

Nghị định thư Kyoto (sửa đổi Doha 2012) cũng cho phép các nước này lựa chọn loại KNK thuộc 7 loại khí đó là cơ sở của chiến lược giảm phát thải khí nhà kính quốc gia Một số hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất, phá rừng gây phát thải hoặc trồng rừng để hấp thụ carbon dioxide cũng được nêu trong Nghị định thư Kyoto

7

UNFCCC, Status of Ratification of the Kyoto Protocol,

http://unfccc.int/kyoto_protocol/status_of_ratification/items/2613.php , [truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014]

Trang 14

Giảng viên HD: Dương Văn Học -9- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Sau khi Nghị định thư Kyoto được ký, các cuộc đàm phán vẫn diễn ra nhằm cụ thể hóa các hoạt động của Nghị định thư Nghị định thư xác định các phương thức

hổ trợ giữa các Bên để đạt được chỉ tiêu của mình nhưng lại không đi sâu vào chi tiết Năm 2001, sau 4 năm tranh cãi, cuối cùng chính phủ các nước đã thống nhất nguyên tắc toàn diện – Thỏa thuận Marrakeck – về phương thức thực hiện Nghị định thư Kyoto Thỏa thuận cung cấp đầy đủ các thông tin cho chính phủ các nước khi xem xét phê chuẩn Nghị định thư Kyoto

Nghị định thư Kyoto đã xây dựng ra ba “Cơ chế mềm dẻo” để giúp các nước phát triển giảm chi phí thực hiện mục tiêu giảm phát thải, bằng cách giảm phát thải

ở các nước khác với chi phí thấp hơn so với thực hiện giảm phát thải trong nước mình Ba cơ chế mềm dẻo đó là:

 Cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation (JI)) là cơ chế phối hợp thực hiện

các dự án hợp tác về khí hậu giữa các nước phát triển với nhau Cơ chế này được quy định trong Điều 6 Nghị định thư Kyoto

 Buôn bán phát thải (Emission Trading (ET)) là cơ chế cho phép các nước phát

triển "mua" lại chứng chỉ giảm phát thải từ các nước đang phát triển - những nơi

có mức phát thải thấp, hoặc chưa đến ngưỡng yêu cầu giảm phát thải Cơ chế này được quy định trong Điều 17 Nghị định thư Kyoto

 Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism (CDM)) là cơ chế

được quy định trong Điều 12 Nghị định thư Kyoto

Tại Hội nghị lần thứ 18 Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (COP-18) được tổ chức vào tháng 12 năm 2012 tại Doha, Quatar thì tại Hội nghị này được diễn ra trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài, tỷ lệ khí thải nhà kính vẫn gia tăng đến mức kỷ lục mới vào năm 2011 và sẽ gây bão tố nhiều hơn, thiên tai mỗi năm sẽ thảm khốc hơn (hậu quả là ta có thể nhìn thấy ở trận bão Haiyan tại Philippines vào năm 2013) Mục tiêu đầu tiên của hội nghị Doha là soạn thảo nền tảng cho một hiệp định mang tính ràng buộc đối với tất cả quốc gia trên toàn cầu sẽ phải ký vào năm 2015 để áp dụng từ năm 2020 Đến ngày cuối cùng của hội nghị (08 ngày 12 tháng 2012) thì các đại diện của 27 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), Australia và Thụy Sỹ cùng 8 nước công nghiệp khác trên thế giới đã ký thỏa thuận sửa đổi và gia hạn Nghị định thư Kyoto từ ngày 1-1-2013 đến năm 2020, trong khi chờ một thỏa thuận quốc tế mới vào năm 2015 về cắt giảm khí thải nhà kính, còn được gọi là Nghị định thư "hậu Kyoto" để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới Trong giai đoạn cam kết thứ hai này, các bên cam kết

Trang 15

Giảng viên HD: Dương Văn Học -10- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

giảm phát thải KNK ít nhất 18 % so với mức năm 1990 trong thời gian tám năm (2013-2020) Việc sửa đổi này được quy định trong Nghị quyết 1/CMP.8, phù hợp với Điều 20 và Điều 21 của Nghị định thư Kyoto Việc gia hạn Nghị định thư Kyoto đến năm 2020 cũng có nghĩa là giai đoạn thứ 2 của Cơ chế phát triển sạch là giai đoạn 2013 đến 2020

1.3 Cơ chế phát triển sạch quy định trong Nghị định thư Kyoto

1.3.1 Sơ lược về Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Trong ba cơ chế mềm dẻo của Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism – CDM) được quy định trong Điều 12 Nghị định thư Kyoto Cơ chế phát triển sạch là một phương thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường nhằm làm giảm sự phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu Phương thức hợp tác này là sự thông qua cơ chế đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển, tăng cường khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính

Theo Khoản 3 Điều 12 Nghị định thư Kyoto thì Dự án CDM mang về nhiều lợi ích cho cả phía đầu tư và phía chủ nhà

Nước chủ nhà

Các dự án CDM là nguồn đầu tư nước ngoài mới đầy tiềm năng Các nước đang phát triển có thể nhận được đầu tư nước ngoài để đạt các mục tiêu phát triển của mình, đổng thời giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu Các dự án CDM cũng làm tăng thêm các dự án phát triển hiện nay Ngoài ra, CDM còn mang lại lợi ích về đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, nguồn nước và không khí sạch hơn, tạo việc làm

và góp phần xóa giảm đói nghèo

Đối tác chủ nhà

Các đối tác chủ nhà sẽ có thêm các nguồn đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp của mình Trong từng trường hợp cụ thể, các lợi ích đó sẽ khác nhau nhưng nhìn chung các đối tác chủ nhà sẽ tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới hiệu quả hơn, nâng cao tính khả thi của dự án và tăng thêm vốn đầu tư Những khoản đầu tư này có thể đem lại nhưng lợi ích cạnh tranh quyết định

Trang 16

Giảng viên HD: Dương Văn Học -11- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Nước đầu tư

Các dự án CDM là một phương án để các nước phát triển thu được CERs với mức chi phí thấp hơn, vì chi phí biên giảm phát thải KNK ở các nước phát triển thường cao hơn ở các nước đang phát triển

Đối tác đầu tư

Các dự án CDM cho phép các đối tác tư nhân hoặc thành phần khác tuân theo các quy định giảm KNK trong nước và là một cơ chế nhằm giúp các nước phát triển thực hiện cam kết của mình theo Nghị định thư Kyoto với chi phí thấp hơn Các đối tác đầu tư có thể xây dựng và đầu tư vào các dự án CDM tùy thuộc lợi nhuận thu được Phần lợi nhuận cho khoản đầu tư sẽ là tín dụng CERs có thể dùng để thực hiện cam kết giảm Khí thải nhà kính, có thể để dành hoặc bán đi Đầu tư ở đây có thể đóng góp về tài chính; giá trị tài sản toàn phần hoặc một phần; cho vay hoặc cho thuê tài chính; hoặc hợp đồng mua CERs

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của Cơ chế phát triển sạch

Về mặt lý thuyết những công việc liên quan đến CDM như sau: Một nhà đầu tư hoặc chính phủ của một nước công nghiệp (các Bên thuộc phụ lục I) có thể đầu tư hoặc cung cấp tài chính cho một dự án tại một nước đang phát triển (các Bên không thuộc phụ lục I) nhằm giảm phát thải KNK, như vậy lượng phát thải sẽ nhỏ hơn so với trường hợp không có đầu tư phụ trội “C” (trường hợp sẽ có thể xảy ra nếu không

có sự tham gia của CDM hay còn gọi là phương án “kinh doanh bình thường”) Người đầu tư sau đó nhận được “chứng nhận giảm thải Carbon” (CERs) và có thể sử dụng chứng nhận này đáp ứng mục tiêu Kyoto của mình Nếu cơ chế CDM vận hành đúng nó sẽ làm thay đổi “giảm” tổng lượng KNK tại quốc gia thuộc phụ lục I bằng việc đơn giản là thay đổi địa điểm giảm phát thải tại quốc gia không thuộc phụ lục I Xem một ví dụ8

sau: Một công ty Pháp cần phải giảm lượng phát thải của mình được phân bổ trong tổng mục tiêu giảm phát thải của Pháp theo Nghị định thư Kyoto Thay vì giảm phát thải từ các hoạt động của chính các công ty ở Pháp, công

ty sẽ cung cấp tài chính để xây dựng một nhà máy điện Biomass9

ở Ấn Độ (mà nếu không có khoản tài chính này, dự án sẽ không được xét đến) Điều này sẽ tránh được việc phải xây dựng nhà máy điện sử dụng năng lượng hoá thạch hoặc sử dụng điện

từ những nhà máy khác đang hoạt động, do đó giảm được phát thải khí nhà kính ở

8

TUV Rheinland Hong Kong Ltd and RCEE (2004), Sách hướng dẫn về CDM, Trung tâm Nghiên

cứu Năng lượng và Môi trường, Hà Nội, trang 17

9

Nhiên liệu sinh khối hay còn gọi là nhiên liệu từ vật liệu hữu cơ

Trang 17

Giảng viên HD: Dương Văn Học -12- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Ấn Độ Nhà đầu tư Pháp này nhận được chứng nhận giảm phát thải góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải của Pháp

Bên cạnh đó, sẽ có các Bên liên quan như Ngân hàng thế giới (WB) hoặc các đại lý mua bán quyền phát thải Carbon sẽ đầu tư vốn cho các dự án đại diện cho chính phủ và tập đoàn của các nước công nghiệp Trong nhiều trường hợp khác, các nhà phát triển dự án có thể tự cấp vốn cho các dự án CDM và sau đó tìm kiếm bên mua quyền phát thải Vấn đề này xét cho cùng dựa trên cơ sở sau: Chính phủ hoặc công ty của nước công nghiệp cấp vốn cho các dự án giảm thiểu phát thải (so với mức phát thải khi không có dự án này) và chứng nhận cho việc giảm thải này sẽ được sử dụng để đạt được mục tiêu giảm phát thải của mình

1.3.3 Mục đích của Cơ chế phát triển sạch

Khoản 2 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có quy định: “Mục đích của cơ chế phát triển sạch sẽ là nhằm giúp các Bên không thuộc Phụ lục I đạt được sự phát triển bền vững và đóng góp vào mục tiêu cuối cùng của Công ước và giúp các Bên thuộc Phụ lục I đạt được sự tuân thủ các cam kết của mình về giảm và hạn chế phát thải định lượng theo Điều 3”

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong những công cụ linh hoạt của nghị định thư Kyoto CDM bao gồm các nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững: Phát triển kinh tế, cải thiện môi trường và tiến bộ xã hội và có tiềm năng ứng dụng lớn ở các nước đang phát triển

Chẳng hạn với các nước công nghiệp phát triển như Đức, Pháp và các nước khác ở Châu Âu, theo Nghị định thư Kyoto (KP) họ sẽ phải cắt giảm thấp nhất 5% lượng thải carbon của mình Thay vì phải cắt giảm sản xuất họ có thể tiến hành đầu

tư tiền cho các nước ở Châu Á hoặc Châu Phi, tiến hành trồng rừng để hấp thụ khí carbon, sao cho lượng khí hấp thụ được bằng với mức carbon họ buộc phải cắt giảm Như vậy, những nước này sẽ nhận được chứng nhận giảm phát thải theo đúng KP Như vậy, CDM trong KP cho phép nhận dạng được những cách bảo vệ khí hậu một cách linh hoạt và có hiệu quả cả về mặt chi phí bằng cách tạo ra một thị trường toàn cầu cho buôn bán chứng chỉ về việc giảm thải khí nhà kính và khuyến khích việc sử dụng tiềm năng, sử dụng hiệu quả năng lượng và những phương pháp bảo toàn năng lượng ở các quốc gia CDM là một cơ hội để khẳng định rằng việc giảm thiểu phát thải khí CO2 không chỉ có ý nghĩa lớn cho việc bảo vệ môi trường mà còn

có ý nghĩa về mặt kinh tế

Trang 18

Giảng viên HD: Dương Văn Học -13- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

1.3.4 Nội dung của Cơ chế phát triển sạch

Khoản 3 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có quy định:

“Theo cơ chế phát triển sạch:

a) Các Bên không thuộc Phụ lục I sẽ được lợi nhờ các hoạt động dự án đưa đến những sự giảm phát thải được chứng nhận; và

b) Các Bên thuộc Phụ lục I có thể sử dụng sự giảm phát thải được chứng nhận đạt được nhờ các hoạt động dự án như vậy để đóng góp vào việc tuân thủ một phần các cam kết của mình về giảm và hạn chế phát thải định lượng theo Điều 3, như đã xác định bởi Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của Nghị định thư này”.

Vậy, nội dung cơ bản của CDM được hiểu như sau:

Các công ty quốc doanh, tư nhân ở các nước phát triển đầu tư vào các dự án ở các nước đang phát triển để góp phần giảm phát thải khí nhà kính;

Thông qua đầu tư vào các nước đang phát triển, các nước phát triển có thể nhận được “Giảm phát thải được chứng nhận” (Certified Emission Reductions (CERs)) để thực hiện cam kết giảm KNK theo KP

Các nước đang phát triển cũng có thể tự mình đầu tư vào các dự án giảm phát thải trong nước;

Các nước đang phát triển có thể bán tín dụng phát thải thu được của mình cho các nước phát triển dưới dạng CERs;

Các dự án này sẽ làm hiện đại hóa một số lĩnh vực ở các nước đang phát triển, đồng thời góp phần tích cực vào bảo vệ khí hậu toàn cầu;

Như vậy, các dự án CDM thúc đẩy phát triển bền vững tại các nước đang phát triển đồng thời cho phép các nước phát triển góp phần vào mục tiêu giảm nồng độ khí nhà kính trong khí quyển

1.3.5 Các điều kiện để tham gia vào Cơ chế phát triển sạch

Trong Phần F Phụ lục về Phương thức và thủ tục cho Cơ chế phát triển sạch được ghi nhận trong Nghị quyết 3/CMP.1 (tháng 12 năm 2005 tại Montreal Canada (COP 11)) thì các nước đang phát triển phải đáp ứng được 3 điều kiện sau:

(1) Tự nguyện tham gia;

(2) Thành lập cơ quan thẩm quyền quốc gia về CDM;

(3) Phê chuẩn Nghị định thư Kyoto (có ít nhất một bên phê chuẩn)

Trang 19

Giảng viên HD: Dương Văn Học -14- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Ngoài ra, cũng tại Mục F Nghị quyết 3/CMP.1 thì ở Khoản 31 có bổ sung một

số yêu cầu sau: Đặt ra lượng chỉ định theo quy định tại Điều 3 Nghị định thư Kyoto;

Cơ quan quốc gia tính toán KNK; Đăng ký quốc gia; Kiểm kê hàng năm

1.3.6 Các lĩnh vực thuộc dự án Cơ chế phát triển sạch

Dựa theo Danh sách các lĩnh vực và các nguồn nêu trong Phụ lục A của Nghị định thư Kyoto thì các lĩnh vực CDM10

cơ bản gồm các lĩnh vực sau:

1 Các ngành công nghiệp năng lượng (năng lượng tái tạo/không tái tạo)

2 Phân phối năng lượng

3 Nhu cầu năng lượng

4 Ngành công nghiệp chế tạo

5 Công nghiệp hóa chất

6 Xây dựng

7 Vận tải

8 Khai thác khoáng sản

9 Sản xuất kim loại

10 Các phát thải từ các nhiên liệu (nhiên liệu rắn, dầu và khí tự nhiên)

11 Sản xuất và tiêu thụ các halocarbons và sulphur hexafluoride

Ta có thể hiểu theo một cách khác, CDM gồm các dự án thuộc các lĩnh vực sau:

 Nâng cao hiệu quả năng lượng sử dụng cuối

 Nâng cao hiệu quả cung cấp năng lượng

 Năng lượng tái tạo

 Chuyển đổi nhiên liệu

 Nông nghiệp (giảm phát thải CH4 và N2O)

10

Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư

Kyoto tại Việt Nam (2012), Thông tin tóm tắt về Cơ chế phát triển sạch và thị trường Các-bon

Quốc tế, Hà Nội, trang 1

Trang 20

Giảng viên HD: Dương Văn Học -15- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

 Các quá trình công nghiệp (CO2 từ sản xuất xi măng, HFCs, PFCs,

SF6)

 Các dự án bể hấp thụ (chỉ áp dụng với lĩnh vực trồng rừng và tái trồng rừng)

1.3.7 Các giảm phát thải đƣợc chứng nhận (CERs)

Theo Điểm b Khoản 1 Phần A Phụ lục Phương thức và thủ tục cho một cơ chế

phát triển sạch của Nghị quyết 3/CMP.1 có định nghĩa như sau: “Một "giảm phát thải được chứng nhận" hoặc "CER" là một đơn vị ban hành theo Điều 12 và các yêu cầu kèm theo đó, cũng như các quy định liên quan đến các phương thức, thủ tục, và nó được tính dựa trên số tấn carbon dioxide có thể gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu và cách tính này được áp dụng theo quyết định 2/CP.3 hoặc các sửa đổi phù hợp với Điều 5”

Vậy theo qui định trên thì CERs là chứng nhận mà chủ đầu tư của mỗi dự án CDM có thể thu được trên cơ sở lượng giảm phát thải KNK hoặc tăng bồn chứa KNK

Mỗi 1 CER tương đương 1 tấn khí CO2

11

CERs được coi là một loại hàng hóa đặc biệt có thể dùng để bán cho các quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu cầu giảm phát thải KNK

Về phần người bán CERs thì các công ty tư nhân hoặc quốc doanh của tất cả các nước đang phát triển đều có thể là người bán CERs thu được từ dự án CDM thực hiện tại nước mình Khi được bán cho một nước phát triển, CERs đó có thể được tính trực tiếp vào phần thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải KNK của nước phát triển

đó, có thể được bán cho một bên thứ ba cần có CERs để thực hiện cam kết theo Nghị định thư Kyoto hoặc giữ lại để sử dụng về sau Vì thế, bất cứ cơ quan nào sở hữu CERs chưa sử dụng, được để dành hoặc đem mua bán và tìm kiếm cơ hội bán phần phát thải định lượng này đều có thể trở thành người bán CERs

Riêng về, người mua CERs có thể là Tổ chức trực tiếp sử dụng hoặc là Tổ chức

có nhu cầu sử dụng đồng thời có kế hoạch kinh doanh hoặc là Nhà đầu tư CERs Thông thường Người mua phải thỏa mãn điều kiện là có đăng ký hoạt động tại một quốc gia thuộc Phụ lục I, hoặc ít nhất là có tài khoản CERs mở tại các nước này Sự trao đổi CERs giữa Chủ dự án với Người mua và giữa các Bên mua với nhau tạo ra

tương ứng là thị trường CERs sơ cấp và thứ cấp

11

Căn cứ Khoản 22 Phần D Nghị quyết 3/CMP.1

Trang 21

Giảng viên HD: Dương Văn Học -16- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Bên cạnh đó, theo tài liệu Thông tin tóm tắt về Cơ chế phát triển sạch và thị trường Các-bon Quốc tế năm 2012 của Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam (CNECB) thì Người mua lớn nhất là các Doanh nghiệp Tài chính Carbon (CFB, đại diện cho nhiều chính phủ và một số công ty ở Châu Âu) của Ngân hàng Thế giới (World Bank) thông qua một số quỹ như Quỹ Carbon ban đầu (PCF), Quỹ Carbon phát triển cộng đồng (CDC), Quỹ Carbon sinh học và các quỹ riêng của các chính phủ, như quỹ carbon của Tây Ban Nha và của Ý Chính phủ Hà Lan là khách hàng mua lớn nhất với số vốn khoảng 800 triệu € và sử dụng một số công cụ để mua Các cơ quan,

tổ chức của Nhật Bản là khách hàng tư nhân lớn nhất muốn mua các giảm phát thải CDM Theo cơ chế mua bán phát thải của Châu Âu, các công ty có thể sử dụng CERs để thực hiện nghĩa vụ của mình, vì thế nhu cầu của các công ty Châu Âu rất

Các yếu tố ảnh hưởng đến Người mua CERs và giá mua CERs

Là một loại hàng hóa, CERs có giá cả và hình thức mua bán vận hành theo nguyên tắc của thị trường - cụ thể là thị trường Tín dụng Carbon Thị trường CERs liên quan chặt chẽ, thường là tỷ lệ thuận với thị trường dầu thô, thị trường tài chính

và hiện trạng của nền kinh tế toàn cầu

Điều khác biệt là giá cả CERs bị ảnh hưởng rất nhiều từ các quyết định chính trị của các quốc gia thuộc Phụ lục I và các nước phát thải nhiều; thứ hai là sự thay đổi các tiêu chí ưu tiên, đôi khi rất khác nhau của các Bên mua CERs (ví dụ như loại hình hoạt động cụ thể và sự đánh giá độ tin cậy của dự án CDM, nhu cầu tuân thủ cam kết cắt giảm khí thải, nhu cầu đầu tư, nhu cầu mở rộng quan hệ hợp tác với bên bán….); và thứ ba là hạn ngạch được phép chuyển đổi CERs tại các quốc gia thuộc Phụ lục I để dùng thay thế cho nỗ lực cắt giảm phát thải nội tại

Trang 22

Giảng viên HD: Dương Văn Học -17- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Khi tham gia dự án CDM, Bên mua CERs sẽ phải phòng ngừa các rủi ro và sẽ khấu trừ vào giá mua, ngoài các chi phí phát triển dự án và tạm ứng tiền nếu Bên mua yêu cầu, về cơ bản là:

 Dự án có điều chỉnh và không chứng minh được đầy đủ các tiêu chí bổ sung để được đăng ký thành công là dự án CDM, chủ yếu do Chủ dự án không nhận thức và xác định rõ các mục tiêu, trong đó mục tiêu tự nguyện giảm phát thải phải được ưu tiên hàng đầu;

 Dự án vận hành không thể đúng theo công suất thiết kế (do kế hoạch sản xuất hoặc do điều kiện khách quan) nên không thể nhận được một số lượng CERs như kỳ vọng;

 Dự án vận hành không tuân thủ các qui tắc CDM (do chủ quan của Chủ

dự án) nên có nhiều khó khăn khi thẩm tra định kỳ hoặc tổn thất khi ban hành CERs;

 CERs không được ban hành vào đúng thời điểm mà Bên mua cần có để

sử dụng chuyển đổi, tuân thủ cam kết giảm phát thải buộc Bên mua phải chịu thêm chi phí mua CERs dự phòng hoặc mua CERs từ thị trường thứ cấp;

 Loại hình hoạt động dự án trong tương lai có thể không còn được các quốc gia thuộc Phụ lục I hoặc quốc gia có dự án khuyến khích hoặc thừa nhận là hoạt động đóng góp vào giảm phát thải và vì vậy CERs từ các

dự án đó sẽ không được chấp nhận chuyển đổi;

 Như vậy có thể thấy giá mua CERs sẽ thay đổi theo thời điểm của tiến trình, hiện trạng dự án khi Thỏa thuận mua bán CERs được đàm phán,

ký kết

1.3.8 Ban chấp hành của Cơ chế phát triển sạch

Khoản 4 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có quy định:“Cơ chế phát triển sạch sẽ chịu sự điều hành và hướng dẫn của Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của Nghị định thư này và sẽ được giám sát bởi một ban chấp hành về cơ chế phát triển sạch”

Bên cạnh đó dựa theo Khoản 5 Phần C Nghị quyết 3/CMP.1 thì:

Ban chấp hành CDM (The CDM Executive Board - EB) là cơ quan giám sát

Cơ chế phát triển sạch của Nghị định thư Kyoto dưới thẩm quyền và hướng dẫn chỉ đạo của Hội nghị các Bên (COP) phục vụ như là cuộc họp của các Bên tham gia

Trang 23

Giảng viên HD: Dương Văn Học -18- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Nghị định thư Kyoto (CMP) CDM EB là chịu trách nhiệm hoàn toàn trước CMP Báo cáo hoạt động của mình cho mỗi phiên họp của COP/CMP Phê duyệt các phương pháp mới liên quan đến đường cơ sở, kế hoạch giám sát Quy định các loại phí đối với các thủ tục xin cấp CERs Chịu trách nhiệm với những quyết định chứng nhận CERs cho các dự án CDM mà mình phê duyệt Quyết định tái chứng nhận, đình chỉ và thu hồi chứng nhận CERs Ban hành các thủ tục và tiêu chuẩn công nhận Công bố công khai các thông tin về các hoạt động của những dự án CDM Xác nhận đăng ký hoạt động dự án là dự án CDM CDM EB sẽ là điểm liên hệ cuối cùng của người tham gia đăng ký dự án CDM và sẽ cấp CERs

Ban chấp hành được sự ủy quyền của các Bên để giám sát các dự án CDM Dựa theo Khoản 7 Phần C của Nghị quyết 3/CMP.1 thì Ban chấp hành gồm 10 thành viên trong đó mỗi khu vực (Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La tinh và Caribean, Trung và Đông Âu, và OECD) cử 01 đại diện, 01 đại diện của các quốc gia đảo nhỏ,

02 đại diện của các Bên thuộc Phụ lục I và 02 đại diện của các Bên không thuộc Phụ lục I Ban Chấp hành đã tổ chức cuộc họp mở rộng tại Marrakech vào tháng 11 năm

2011 đánh dấu sự khởi đầu của CDM

1.3.9 Vấn đề tài chính của các dự án Cơ chế phát triển sạch

Khoản 8 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có qui định: “Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của Nghị định thư này sẽ bảo đảm rằng một phần của thu nhập từ các hoạt động dự án được xác nhận được sử dụng để chi trả cho công tác hành chính cũng như giúp các nước phát triển đặc biệt dể bị ảnh hưởng do tác động có hại của biến đổi khí hậu, nhằm đáp ứng các chi phí ứng phó”

Và tại Điểm a Điều 15 Nghị quyết 17/CP.7 có qui định:“Phần tài chính để giúp các nước phát triển dể bị ảnh hưởng do tác động có hại của biến đổi khí hậu, như quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định thư Kyoto, sẽ được trích ra 2% từ các thu nhập từ CERs cấp cho mỗi hoạt động của dự án CDM”

Vậy, CERs từ dự án CDM phải chịu mức phí 2% – khoản thu nhập này sẽ được đưa vào Quỹ thích ứng mới để giúp các nước đang phát triển dễ nhạy cảm đối với các tác động tiêu cực của Biến đổi khí hậu

Các khoản thu về CERs sẽ góp phần thành toán các chi phí quản lý CDM Để thúc đẩy phân bổ công bằng dự án giữa các nước đang phát triển, dự án CDM tại các nước kém phát triển không phải chịu khoản thu về thích ứng và chi phí quản lý12

Trang 24

Giảng viên HD: Dương Văn Học -19- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

1.3.10 Chu trình thực hiện dự án Cơ chế phát triển sạch

Nhằm thúc đẩy các hoạt động CDM, việc xây dựng chu trình dự án CDM thích hợp cũng là yêu cầu chủ yếu tại các nước Chu trình dự án CDM gồm 7 giai đoạn cơ bản được xây dựng dựa vào Phụ lục Phương thức và thủ tục cho một cơ chế phát triển sạch của Nghị quyết 3/CMP.1:

Chú thích:

Hình 1 Chu trình dự án CDM13 minh họa theo Nghị quyết 3/CMP.1

13

Finn Hagen Madsen (2003), Cơ chế phát triển sạch (CDM) (bản dịch), Trung tâm Hợp tác về

Năng lượng và Môi trường của UNEP, Đan Mạch, trang 12

Trang 25

Giảng viên HD: Dương Văn Học -20- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Chu trình dự án CDM trên đây gồm 7 giai đoạn cơ bản: thiết kế và xây dựng

dự án, phê duyệt quốc gia, thẩm định và đăng ký, tài chính của dự án, giám sát, thẩm tra/chứng nhận và ban hành CERs Bốn giai đoạn đầu được tiến hành trước khi chuẩn bị dự án , ba giai đoạn sau được thực hiện trong suốt thời gian thực hiện dự

án

1.3.10.1 Xác định và xây dựng dự án

Bước đầu tiên của chu trình dự án CDM là xác định và xây dựng dự án CDM tiềm năng Dự án CDM phải xác thực, có thể đo đếm được Để tạo ra sự bổ sung, các phát thải của dự án phải được so sánh với các phát thải của trường hợp tham chiếu hợp lý, được coi là đường cơ sở Các Bên tham gia dự án xây dựng đường cơ

sở theo phương pháp đã được thông qua trên cơ sở dự án cụ thể Các phương pháp luận đường cơ sở được tiếp cận dựa trên 3 hướng trong Khoản 48 của Phần G Nghị quyết 3/CMP.1:

(A) Các phát thải hiện nay hoặc quá khứ phù hợp;

(B) Các phát thải từ công nghiệp do đầu tư thiện hữu với môi trường; (C) Các phát thải trung bình của hoạt động dự án tương tự được tiến hành trong năm năm trước đó, trong cùng hoàn cảnh xã hội, kinh tế, môi trường và công nghệ tượng tự, và các hoạt động đó thuộc mức cao của 20% tổng các loại dự án Các dự án CDM phải có kế hoạch giám sát để thu thập số liệu phát thải chính xác Kế hoạch giám sát là cơ sở của thẩm tra trong tương lai, nó đảm bảo rằng các giảm phát thải và mục tiêu của dự án sẽ đạt được trong tương lai và đồng thời có thể kiểm soát những rủi ro gắn liền với đường cơ sở và phát thải của dự án Kế hoạch giám sát có thể do bên thực hiện dự án hoặc đội chuyên gia xây dựng Đường cơ sở

và kế hoạch giám sát phải phù hợp với phương pháp luận đã được thông qua Nếu các Bên tham gia dự án sử dụng phương pháp luận mới thì phương pháp này phải được Ban chấp hành chấp thuận và cho phép

Bên cạnh đó, tại Khoản 49 của Phần G Nghị quyết 3/CMP.1 thì các Bên tham gia dự án chọn thời kỳ tín dụng là 7 năm thì khả năng có thể được gia hạn 2 lần (trong khoảng thời gian tối đa là 21 năm) và mỗi lần gia hạn phải thông báo cho EB Với dự án chọn thời kỳ tín dụng là 10 năm thì không được gia hạn

1.3.10.2 Phê duyệt quốc gia

Theo Khoản 29 Phần F Phụ lục Phương thức và thủ tục cho một cơ chế phát triển sạch của Nghị quyết 3/CMP.1 thì tất cả các nước tham gia CDM phải thành lập

Trang 26

Giảng viên HD: Dương Văn Học -21- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Cơ quan Quốc gia về CDM (DNA) để đánh giá, phê duyệt các dự án và đồng thời cũng là đầu mối để liên hệ

Dựa vào Khoản 31 Phần F Nghị quyết 3/CMP.1 và dựa vào Phụ lục B của Nghị quyết 3/CMP.1 thì cùng với các nhà đầu tư, nước chủ nhà phải chuẩn bị văn kiện xây dựng dự án mới cấu trúc sau:

 Mô tả chung về dự án

 Mô tả về phương pháp đường cơ sở

 Thời gian kéo dài và thời kỳ tín dụng

 Kế hoạch và phương pháp kiểm soát

 Tính toán các phát thải khí nhà kính từ các nguồn phát thải

 Báo cáo về tác động môi trường

 Ý kiến của các Bên liên quan

Cơ quan Quốc tế về CDM phải công bố các báo cáo cần thiết về sự tham gia dự

án tự nguyện của chính phủ, đồng thời khẳng định rằng hoạt động dự án còn hỗ trợ nước chủ nhà đạt được sự phát triển bền vững

1.3.10.3 Phê duyệt và đăng ký

Vấn đề Phê duyệt và đăng ký được quy định trong Phần G Nghị quyết 3/CMP.1 Theo đó, tổ chức tác nghiệp được ủy nhiệm sẽ duyệt văn kiện dự án và sau khi có những ý kiến chung sẽ quyết định có phê duyệt văn kiện dự án hay không Các tổ chức tác nghiệp này là các công ty tư nhân đặc thù như công ty kế toán và kiểm toán, công ty tư vấn và công ty luật có khả năng thực hiện những đánh giá các phát thải một cách độc lập và tin cậy nếu văn kiện dự án được phê duyệt, tổ chức tác nghiệp sẽ chuyển giao cho Ban Chấp hành để đăng ký chính thức

1.3.10.4 Giám sát, thẩm tra và cấp chứng nhận

Dựa theo Phần H (Giám sát), Phần I (Thẩm tra và Chứng nhận) và Phần J (Ban hành CERs) thuộc Nghị quyết 3/CMP.1 thì vấn đề Giám sát, thẩm tra và cấp chứng nhận được ghi nhận như sau:

Lượng Carbon của dự án giảm nhẹ không có giá trị trên thị trường carbon quốc

tế trừ khi được đệ trình để thẩm tra rõ ràng nhằm đo lường và kiểm toán lượng carbon này Do đó, khi dự án đang trong quá trình hoạt động, các bên tham gia phải chuẩn bị báo cáo giám sát gồm ước tính lượng CERs cần ban hành và đệ trình báo cáo để Tổ chức tác nghiệp thẩm tra

Trang 27

Giảng viên HD: Dương Văn Học -22- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

Thẩm tra là quyết định hoàn toàn độc lập của Tổ chức tác nghiệp đối với các giảm phát thải đã được kiểm soát Tổ chức tác nghiệp phải đảm bảo rằng CERs tuân thủ theo đúng hướng dẫn và các điều kiện đã được thông qua trong bước phê duyệt ban đầu của dự án Sau khi phê duyệt lại một cách chi tiết, Tổ chức tác nghiệp sẽ đưa ra báo cáo thẩm tra và sau đó chứng nhận lượng CERs của dự án CDM

Việc cấp chứng nhận được đảm bảo bằng văn bản rằng dự án đã thực hiện giảm phát thải như thẩm tra Báo cáo chứng nhận là cơ sở đề nghị ban hành CERs Ban Chấp hành sẽ chỉ thị cho cơ quan đăng ký ban hành CERs trong vòng 15 ngày trừ khi bên tham gia dự án hoặc có 3 thành viên của Ban Chấp hành đề nghị duyệt lại

Kết luận chương

Nghị định thư Kyoto KP đã xây dựng ba cơ chế mềm dẻo đó là: Cơ chế đồng thực hiện, Cơ chế Buôn bán phát thải và Cơ chế phát triển sạch (CDM) Trong đó, CDM có mục đích là giúp các nước đang phát triển (không thuộc phụ lục I) phát triển bền vững và bên cạnh đó giúp các nước đang phát triển (thuộc phụ lục I) tuân thủ các cam kết giảm và hạn chế phát thải KNK Các điều kiện tham gia, ngành lĩnh vực đầu tư, vấn đề tài chính, quy định về CERs, công tác điều hành của EB và chu trình thực hiện dự án đều được quy định chi tiết trong KP và Nghị quyết 3/CMP.1

Từ đó, giúp cho các Bên tham gia áp dụng tốt Cơ chế phát triển sạch vào trong quá trình hoạt động phát triển kinh tế bền vững và đồng thời góp phần giảm phát thải KNK chống biến đổi khí hậu

Trang 28

Giảng viên HD: Dương Văn Học -23- SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi

CHƯƠNG 2 CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM Dẫn nhập chương

Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam ta đã tham gia tích cực vào các hoạt động hạn chế những biến đổi khí hậu toàn cầu bằng việc tham gia và phê chuẩn UNFCCC, KP và áp dụng CDM vào các dự án Trong đó, áp dụng CDM vào các dự

án sẽ mang lại những lợi ích rất to lớn Nhận thức được điều này, về mặt pháp lý, Việt Nam đã ban hành và có tích cực đổi mới các văn bản pháp quy liên quan đến vấn đề đầu tư các dự án CDM và dần hoàn thiện các vấn đề pháp lý là một trong những biện pháp tăng cường thu hút đầu tư các dự án CDM Do đó, ở phần tiếp theo của luận văn này sẽ tìm hiểu và phân tích các vấn đề pháp lý của Việt Nam liên quan đến CDM Từ đó, tác giả sẽ chỉ ra những điểm tích cực và những bất cập nhằm hoàn thiện các vấn đề pháp lý liên quan đến CDM của Việt Nam

2.1 Cơ chế phát triển sạch trong pháp luật Việt Nam

2.1.1 Cơ sở pháp lý về Cơ chế phát triển sạch

Chính phủ Việt Nam ký Công uốc khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) ngày 11 tháng 6 năm 1992 và phê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994; ký Nghị định thư Kyoto vào ngày 03 tháng 12 năm 1998 và phê chuẩn vào ngày 25 tháng 9 năm 2002, trở thành thành viên chính thức của nghị định thư này14 Tháng 3 năm 2003, theo yêu cầu của Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận bổ sung Marrekech, Việt Nam đã thành lập Cơ quan thẩm quyền quốc gia về CDM (DNA)

và Vụ Hợp tác quốc tế (ICD) của Bộ Tài nguyên - Môi trường đã được chỉ định làm DNA của Việt Nam

Trên nền tảng đó, Chính phủ Việt Nam ngày càng hoàn thiện các chính sách và pháp luật về Cơ chế Phát triển sạch

Về tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thì cụ thể là ngay sau khi Nghị

định thư Kyoto có hiệu lực vào tháng 2 năm 2005, ngày 17 tháng 10 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 35/CT-TTg về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu

14

Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư

Kyoto tại Việt Nam (2005), Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch và vận hội mới, Hà Nội,

trang 8

Ngày đăng: 14/10/2015, 14:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Chu trình dự án CDM 13  minh họa theo Nghị quyết 3/CMP.1 - cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam
Hình 1. Chu trình dự án CDM 13 minh họa theo Nghị quyết 3/CMP.1 (Trang 24)
Hình 2. Sơ đồ trình tự, thủ tục cấp Thư xác nhận PIN, minh họa theo Thông tư - cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam
Hình 2. Sơ đồ trình tự, thủ tục cấp Thư xác nhận PIN, minh họa theo Thông tư (Trang 34)
Hình 3. Sơ đồ trình tự, thủ tục cấp Thư phê duyệt PDD, minh họa theo Thông - cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam
Hình 3. Sơ đồ trình tự, thủ tục cấp Thư phê duyệt PDD, minh họa theo Thông (Trang 35)
Bảng  2.  Mức  thu  lệ  phí  bán  CER  ban  hành  theo  Thông  tư  liên  tịch - cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam
ng 2. Mức thu lệ phí bán CER ban hành theo Thông tư liên tịch (Trang 40)
Hình 4. Biểu đồ tỉ lệ các dự án CDM của các quốc gia trên thế giới đã được chứng - cơ chế phát triển sạch trong nghị định thư kyoto và pháp luật việt nam
Hình 4. Biểu đồ tỉ lệ các dự án CDM của các quốc gia trên thế giới đã được chứng (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w