Lí do chọn đề tài Phong trào Thơ Mới xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX đã thực sự làm nên một cuộc cách mạng thơ ca mạnh mẽ với nhiều tên tuổi đáng nhớ như Xuân Diệu, Huy Cận, B
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
LÊ MINH HIẾU
Phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử
qua Thơ điên
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phong trào Thơ Mới xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX đã thực
sự làm nên một cuộc cách mạng thơ ca mạnh mẽ với nhiều tên tuổi đáng nhớ như Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Chế Lan Viên…Và trong những con
người đã làm nên Thơ Mới đó có Hàn Mặc Tử, “một tài năng thơ ca lạ lùng,
phức tạp và đầy bí ẩn” [23, tr.5], người được mệnh danh là nhà thơ “cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định” [23, tr.3] và cũng là một phong cách, một diện mạo thơ mới lạ trong nền thi ca dân tộc
Hàn Mặc Tử hiện ra trên thi đàn Việt Nam bằng thơ Đường luật nhưng
lại khẳng định tài năng ở địa hạt Thơ Mới Hàn Mặc Tử là một hồn thơ độc
đáo và dị biệt “Giống như ánh sáo băng gấp gáp, chạy đua với thời gian”, từ
Lệ Thanh thi tập qua Gái quê, đến Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí
và cuối cùng là Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội,… thơ Hàn
Mặc Tử đã tung hoành từ vùng đất lãng mạn đến tượng trưng rồi men tới bờ siêu thực
Thơ điên “một nguồn thơ tân kỳ làm bằng máu, bằng hồn, bằng lệ với
tất cả say sưa, rung động của một người hoàn toàn đau khổ” [22, tr.10], là tập thơ xuất sắc và độc đáo nhất trong cuộc đời sáng tác thi ca của Hàn Mặc Tử
đã tạo nên diện mạo, cá tính và phong cách thơ rất riêng của Hàn Mặc Tử
Nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện và hệ thống những đặc sắc
nôi dung và nghệ thuật làm nên phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua
Thơ điên Đồng thời góp phần một lần nữa khẳng định sự độc đáo của phong
cách thơ đậm chất siêu thực cũng như vị trí của nhà thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Trang 32 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hàn Mặc Tử, “nhà thơ lạ nhất của phong trào Thơ Mới” đã đi vào cõi
vĩnh hằng trên suốt 60 năm, nhưng cuộc đời và thơ ông, đặc biệt là tập Thơ
điên luôn là một đề tài được quan tâm trong đời sống văn nghệ hiện đại
Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và người yêu thích thơ với nhiều ý kiến đánh giá, bình luận khác nhau
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Phong cách nghệ thuật thơ Hàn
Mặc Tử qua Thơ điên”, chúng đã tập hợp được một số bài viết và các công
trình nghiên cứu liên quan
Chế Lan Viên là người nghiên cứu khá sâu thơ Hàn Mặc Tử Trong
công trình Hàn Mặc Tử, anh là ai ? Chế Lan Viên cho rằng Hàn Mặc Tử “Từ
một nhà thơ biến ngẫu theo lối phương Đông, anh đã hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất Châu Âu” [1, tr.210]
Và theo Chế Lan Viên thì Hàn Mặc Tử “chỉ có một, thật Như một Rimbaud của Pháp, một Holderlin của Đức, một Edgar Poe của Mỹ, một Bồ Tùng Linh của Trung Quốc, một Maiakovsky trước cũng như sau cách mạng tháng Mười của Liên Xô” [1, tr.211]
Tác giả Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh và Hoài Chân thực sự đã rất
nhạy cảm tinh tế khi đi vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử “Ngót một tháng trời tôi
đọc thơ Hàn Mặc Tử Tôi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên hội Và tôi đã mệt lả Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài tựa Thơ điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ không bến
càng đi xa càng ớn lạnh” [22, tr.196]
Quách Tuấn trong bài viết Đôi nét về Hàn Mặc Tử, đã nhận định khái quát về âm hưởng chủ đạo của phong cách nghệ thuật Hàn Mặc Tử qua Thơ
điên: “Đau thương tức tập Thơ điên phần nhiều chứa đựng những niềm đau
khổ, rối loạn…phát ra những khúc nhạc buồn thương, day dứt và tỏa ra một
Trang 4bầu không khí ảm đạm của mùa đông Thơ trong tập này đi từ lãng mạn đến tượng trưng” [14, tr.182]
Phan Cự Đệ đã hết mực ca ngợi tài năng của Hàn Mặc Tử Theo ông:
“Trong khoảng trên chục năm trời hoạt động trên thi đàn, Hàn Mặc Tử đã đi
từ cổ điển, lãng mạn tiến nhanh sang tượng trưng, siêu thực góp một phần quan trọng vào trong quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam” [1, tr.237]
Đỗ Lai Thúy lại nhấn mạnh nét đặc sắc của thơ Hàn Mặc Tử so với các thi sĩ cùng thời: “Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Bính là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng, Đinh Hùng, Bích Khê chủ yếu là tượng trưng, thì Hàn Mặc Tử là sự hoà sắc của cả lãng mạn lẫn tượng trưng, thậm chí siêu thực nữa” [6, tr.162]
Đỗ Lai Thúy cũng nhấn mạnh tư duy độc đáo của Hàn Mặc Tử qua Thơ
điên: “Với Nguyễn Trọng Trí, tín đồ Thiên Chúa giáo, đau thương là một
phương tiện cứu chuộc tội lỗi Còn với Hàn Mặc Tử, nhà thơ, giải phẫu đau thương là hành vi sáng tạo Thơ Hàn Mặc Tử là kinh nghiệm đau thương
“Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ hay nhất của ông là Đau thương: Hương
thơm là đau thương của khứu giác, Mật đắng là đau thương của vị giác, Máu cuồng là đau thương của thân thể rỉ ra để biến thành những dòng chữ”
[6, tr.176-177]
Chu Văn Sơn trong công trình Hàn Mặc Tử - chàng thi sĩ khao khát cái
tột cùng đã khái quát được sự biến đổi không ngừng của cái Tôi trữ tình trong
thơ Hàn Mặc Tử: “Thơ Hàn Mặc Tử khi bước sang Đau thương đã có một
diện mạo khác hẳn Cái tôi khao khát ái tình đắm mình trong nhục cảm, tưởng tượng đã chuyển thành cái tôi đau thương, mang trong mình những giằng xé, dằn vặt về thân phận Cái tôi nguyên phiến bị phá vỡ nhiều mảnh với các thực thể phản trái nhau: xác-hồn, máu-thơ…Và thiên nhiên ở đây cũng bị phá vỡ
Trang 5thành những mảng đối chọi tương phản gay gắt: thiên đường trần gian, địa ngục trần giới, ngoài kia thắm tươi, trong này u ám, thiên giới, trời sâu, ” [6, tr.118-119]
Trong một công trình khác, Chu Văn Sơn đã đưa ra thêm một nhận xét
sát đáng về phong cách thơ Hàn Mặc Tử cũng như cái “lạ” của Thơ điên Ông khẳng định: “Có thể nói chính Thơ điên chứ không phải gì khác là phần đặc
sắc nhất đã làm nên cái “lạ” kia, làm nên tên tuổi và ngôi vị Hàn Mặc Tử” [6, tr.134]
“Thơ điên không phải là một phát minh mới về thể loại Nó vẫn thuộc
phạm trù Thơ mới, nhưng là một dạng thức Thơ mới đặc biệt Nghĩa là bên cạnh những đặc trưng của “loài” Thơ mới, nó vẫn có những đặc trưng về
“giống” riêng” [6, tr.136]
Lê Thị Minh Giang với công trình Tìm hiểu tư tưởng thơ Hàn Mặc Tử
trong tập Đau thương đã nhận thấy trong Đau thương “một sắc thái đau
thương được dồn nén, cô đọng đến đậm đặc Nhưng không chỉ có đau thương (dẫu đó là cảm xúc chủ đạo) ngay trong môi trường của đau thương vẫn có sắc điệu của hoan lạc” [6, tr.249-250]
Nói về khao khát sống tột cùng của Hàn Mặc Tử, tác giả này đã khẳng định: “Ngay cái lúc nghĩ đến việc chia lìa trần gian, Tử vẫn tha thiết với cuộc sống, với tình yêu, với hạnh phúc trần thế Niềm tha thiết này cũng là một phương cách cứu rỗi không kém” [6, tr.259]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Khung đã hoàn toàn có lý khi cho rằng:
“Trong tuyệt vọng cùng cực, linh hồn đau khổ ấy đã không rơi vào đọa lạc mà vẫn có tìm về những biểu hiện sự sống con người, cố hướng với tình yêu quê hương trong trẻo mộng ảo” [6, tr.260]
Nguyễn Toàn Thắng trong công trình Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình
Định đã có nhận định hết sức tinh tế về giọng điệu thơ chủ đạo của Hàn Mặc
Trang 6Tử qua Thơ điên: “Trong thơ Hàn Mặc Tử, từ Thơ điên trở đi, nỗi đau thương
vò xé khiến giọng thơ là tiếng kêu của một linh hồn” đã “vui buồn giận hờn đến gần đứt sự sống” (Quan niệm thơ) Hàn Mặc Tử khẳng định; Không rên
xiết là thơ vô nghĩa lý Cho nên Đau thương là chủ âm của giọng điệu Thơ
điên Hàn Mặc Tử” [22, tr.284]
Như vậy, đề cập đến phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua Thơ
điên đã có nhiều công trình nghiên cứu song do nhiều lí do việc nghiên cứu
vẫn còn dàn trải ở nhiều khía cạnh khác nhau
Cho đến nay, theo khảo sát của chúng tôi, chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách hệ thống về phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua
Thơ điên Vì thế, việc nghiên cứu vấn đề này nếu được tiến hành thành công
sẽ không chỉ làm nổi rõ nét đặc sắc phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử
qua Thơ điên nói riêng, phong cách thơ Hàn Mặc Tử nói chung mà còn khẳng
định thêm được tài năng, đóng góp và vị trí của Hàn Mặc Tử trong thơ ca Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những biểu hiện đặc sắc của nội dung và hình thức nghệ thuật làm nên
phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua Thơ điên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập Thơ điên của Hàn Mặc Tử được in trong cuốn Hàn Mặc Tử thơ và
đời do Lữ Huy Nguyên sưu tầm và tuyển chọn, được Nhà xuất bản Văn học
ấn hành năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp khảo cứu, thống kê, phân loại:
Trang 7Khảo cứu, thống kê, phân loại những biểu hiện của phong cách nghệ
thuật thơ Hàn Mặc Tử qua Thơ điên
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Qua việc khảo sát tập Thơ điên của Hàn Mặc Tử, tìm ra những đặc sắc
nội dung và nghệ thuật của văn bản thơ, người viết sẽ đưa đến những kết luận
về những đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua Thơ điên
4.3 Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh cũng được sử dụng như một tấm gương đối chiếu,
để thấy rõ nét sự tương đồng và cá biệt, nét riêng của Hàn Mặc Tử so với các nhà thơ cùng thời Nó cũng sẽ chỉ ra sự vận động và phát triển của chính bản
thân hồn thơ Hàn Mặc Tử qua Thơ điên
5 Giới thuyết thuật ngữ :
5.1 Khái niệm Phong cách
Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm phong cách xuất hiện từ thời kỳ
Hy Lạp và La Mã cổ đại cùng với sự xuất hiện của khoa học về hùng biện Phong cách ngôn ngữ là sự kết hợp của hai nhân tố : “nói gì” và “nói như thế nào”, có nghĩa đây là sự tổng hòa các phương tiện ngôn ngữ Trong đó, “nói gì” là phạm trù về nội dung và “nói như thế nào” là phạm trù về hình thức
Lại Nguyên Ân coi: “Phong cách là những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học nào đó” [7, tr.212]
Còn Đỗ Lai Thuý thì quan niệm “ Phong cách là cá tính của chủ thể sáng tạo, và sự tự do lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện nó trong tác phẩm Cá tính, cái chút riêng biệt nhỏ nhoi ấy, là tất cả” [11, tr.334]
Trang 8Như vậy, có thể thấy, dù được giải thích khác nhau nhưng phong cách
chính là nét riêng, là sự khu biệt, bản sắc của một cá nhân, một tác phẩm, hay
một thời đại
5.2 Khái niệm Phong cách tác giả
Phong cách tác giả là nét riêng, nét độc đáo, nét ổn định tạo thành hệ thống trong sáng tác của một tác giả Tính độc đáo và tính ổn định thể hiện trong tư tưởng, quan điểm nghệ thuật, hình thức thể hiện làm nên phong cách một nhà văn Đó là cách nhìn, cách cảm, cách đánh giá, cách lựa chọn và cách thể hiện các sự vật hiện tượng
Phong cách tác giả chịu ảnh hưởng của yếu tố dân tộc - lịch sử - thời đại; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương Tất cả những điều này đã chi phối, định hướng và tạo nét riêng độc đáo không thể pha lẫn với ai trong phong cách của mỗi tác giả
Chương 2: Thơ điên - sự độc đáo trong rung động, cảm tri thế giới
Chương 3: Thơ điên - sự sáng tạo trong phương thức biểu hiện của Hàn Mặc
Tử
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1 HÀN MẶC TỬ
- GIỌNG THƠ LẠ CỦA THƠ CA LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930 – 1945
1.1 Một số đặc điểm nổi bật của thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 1.1.1 Sự hòa trộn của nhiều khuynh hướng, trường phái thơ
Sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học Phương Tây và những quy định chật hẹp của Nho giáo khắt khe tồn tại trong lòng văn học Việt Nam đã tạo nên cuộc xung đột giữa cái mới và cái cũ đòi hỏi văn học phải có sự cách tân
và Thơ Mới ra đời như một tất yếu
khởi phát từ bài viết Một lốt thơ mới bình chánh giữa làng thơ đăng trên Phụ
Nữ tân văn cùng bài thơ Tình già ngày 10/3/1932 của Phan Khôi Từ đây,
“dòng thơ tân kỳ” đã ra đời phá vỡ thành trì kiên cố của văn học trung đại tồn tại dai dẳng ở Việt Nam
Tiếp sau Phụ nữ tân văn, các báo như Nam Phong, Phong Hóa, Nhật
Tân, Bạn Trẻ cũng đăng, cổ vũ và và bênh vực, khích lệ, ủng hộ các bài thơ
mới Trong giai đoạn này, rất nhiều diễn giả đã lên tiếng ủng hộ Thơ Mới
(Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Đỗ Đình Vượng, Trương Tửu…)
Sự ra đời của Thơ Mới là hợp lý và cần thiết Tản Đà khẳng định:
“Nhân thế càng biết phải tìm thêm điệu mới thực sự là cần thiết trong việc văn Duy đã gọi là văn vần và phải có điệu Đã gọi là điệu mới mà mình lập lấy ra được cũng khó, cho nên có thể tìm kiếm ở những văn ngoại quốc Ở
Trang 10văn Pháp, chắc nhiều điệu có thể bắt chước mà lấy cho văn ta, cái công giảng luyện như sao là phần của các nhà văn về phái mới Tây học vậy” [3, tr 41]
Được xem là “cuộc cách mạng tân kỳ” của thơ ca Việt Nam, Thơ Mới
đã đem lại cho thơ ca một tinh khí mới giữa lúc thơ cũ đang chết khô trong xiềng xích của niêm luật Sự tiếp biến và giao lưu với nền văn học phương
Tây đã đem lại cho Thơ Mới những màu sắc riêng biệt, đậm đà và thú vị hơn,
giúp nó phá tan những khuôn khổ chật hẹp, những quy tắc gò bó để mở đường cho những cảm hứng thăng hoa phát xuất từ những nhịp điệu con tim đang thao thức, khao khát sống mãnh liệt
Sự ra đời của Thơ Mới “vô tình” bỏ quên những quy luật, khuôn phép
của thơ cũ để đem lại nhiều khuynh hướng đa dạng và phong phú hơn Trong
quá trình hình thành và phát triển, Thơ Mới chịu ảnh hưởng của nền thơ ca
Phương Tây, đặc biệt là thơ Pháp Ở nhiều phương diện của hình thức và nội dung Tất nhiên, ở từng giai đoạn, mức độ ảnh hưởng đậm nhạt của thơ Pháp
đối với Thơ Mới cũng có phần khác nhau Ở những đoạn đầu, Thơ Mới chịu
ảnh hưởng của thơ lãng mạn với những tên tuổi tiêu biểu như Novalis, Alfred
de Vigny, Victo Huygo, Alfred de Musset
Cùng sự ghê tởm, dị ứng với thực tại tầm thường, thô tục và khát khao
thoát khỏi thực tại cực kỳ mãnh liệt, thơ lãng mạn đề cao “cái tôi trữ tình”, đề
cao tự do cá nhân, dựng xây những lâu đài nghệ thuât kỳ vĩ, tráng lệ, phi thường trong mộng tưởng của con người Giữa con người và vạn vật dường như không còn sự phân chia biên giới: “Ai bất hạnh ở trần thế này , ai không đạt tới những gì mà mình tìm kiếm thì hãy thoát vào thế giới của những pho sách và của nghệ thuật, vào thế giới của thiên nhiên” [23, tr.83]
Con người được khơi gợi cảm hứng sáng tạo và trí tưởng tượng nghệ thuật, được giải phóng để phát huy cái tôi cá nhân Tất cả đã tạo ra những
Trang 11chân trời rộng mở, bao la cho thi ca mới Có thể nhận thấy những đặc điểm
nổi bật này trong Thơ Mới
Sau lãng mạn, trường phái Thi sơn cũng để lại dấu ấn trong lòng Thơ
Mới “Các nhà Thi sơn nắm bắt được sự vật trong toàn bộ và trình bày ra hết,
do đó xóa mất hết bí ẩn; họ bỏ cái niềm vui lớn nhất của tâm hồn người đọc, tức là tìm vào những gì họ sáng tạo Gọi tên đối tượng có nghĩa là phá hủy ba phần tự sự hưởng thụ bài thơ, và nó tạo niềm lạc thú được đoán ra dần dần” [23, tr.96]
Và sau Thi sơn, trường phái tượng trưng xuất hiện Thơ tượng trưng các nghệ thuật tinh vi, đi sâu vào nội tâm, giàu nhạc điệu, cảm xúc tinh tế, giàu hình tượng, các nhà thơ tượng trưng đã bày tỏ khát vọng muốn vượt qua nguyên tắc miêu tả trực tiếp sự vật và bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của nhà thơ lãng mạn
Nói như Trần Đình Sử đã nói khi phân biệt thơ lãng mạn và thơ tượng trưng “Thơ lãng mạn là sự thổ lộ của trái tim, của khát vọng giải phóng, khẳng định cá tính lý tưởng Còn thơ tượng trưng là tiếng nói của thế giới, là khát vọng tìm kiếm cái bí ẩn ở đằng sau bao gồm bản chất thế giới các hiện tượng tâm linh của con người, của thế giới cảm giác và vô thức” [23, tr.95]
Chủ nghĩa tượng trưng với khát khao khám phá đến chốn “sơn cùng thủy tận” của những khu vực bí ẩn “của những cái vô hình và thế lực định
mệnh” đã mang lại những gam màu chủ đạo tô sắc cho bức tranh Thơ Mới
Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên…được coi là những bông hoa tươi thắm góp phần trang trí cho bức tranh đó
Trên con đường tiếp thu, tiếp biến văn hóa, văn học Phương Tây của người Việt chủ nghĩa siêu thực cũng du nhập vào Việt Nam, theo “chiếc hài vạn dặm thần kỳ” về quan niệm thi ca Khi “Cái thực hòa trộn với cái mê sảng, cái bình thường với cái ảo giác, cái trần thế với cái tinh thần [23,
Trang 12tr.120], Thơ Mới đã đưa người đọc đến những chân trời lạ lẫm của bí ẩn vô thức, tiềm thức và chiêm bao Thơ Mới mang thêm trong nó cái mông lung,
kỳ ảo, mơ hồ được thể hiện rõ qua những vần thơ của Xuân Thu nhã tập và nhóm Dạ đài…
Trong gần 15 năm, thơ lãng mạn Việt Nam mà cụ thể là Thơ Mới, đã
chịu ảnh hưởng của gần 100 năm thơ Pháp: từ trường phái lãng mạn đầu thế
kỷ XIX (Satô-briăng, Lamactin, Muytxê, Vinhi, Huygô đến nhóm Thi sơn (Têôphin Gôchiê qua Bôđơle, đến trường phái tượng trưng (Veclen, Ranebô, Manlacmê…) và trường phái siêu thực…Chính vì thế, trong nó có sự đan hòa của nhiều khuynh hướng, trường phái thơ khác nhau Nó không chỉ là sản phẩm của cái mới trong sự kết hợp kế thừa truyền thống mà còn là hiện tượng đặc biệt có một không hai trong tiến trình thơ Việt Nam
1.1.2 Sự khẳng định của nhiều phong cách thơ nổi bật
Thơ Mới đã góp cho thơ ca Việt Nam nhiều tên tuổi với những phong
cách thơ vô cùng mới lạ Với những phong cách ấn tượng, mỗi nhà thơ đã thực sự trở thành những nốt nhạc trầm bổng góp phần vào bản nhạc đa âm, đa
giọng điệu mang tên Thơ Mới Đó là Thế Lữ, vầng sao đột ngột hiện ánh sáng
chói khắp cả trời thơ Việt Nam; là Xuân Diệu, “nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ Mới”; là Huy Cận lượm nhặt chút buồn rơi rớt để sáng tạo những vần thơ ảo nảo; là Chế Lan Viên “đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” và nhiều tên tuổi đặc biệt khác
Thế Lữ “người khách của cuộc đời” với những bài thơ đầu tiên vừa ra đời năm 1932-1932 như “vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam”
Bước vào Thơ Mới, Thế Lữ đã làm rạn vỡ, khơi nên vết nứt của khuôn khổ thơ cũ ngàn năm không xê dịch Với Thế Lữ, Thơ Mới là nơi “cái tôi”
của ông kiếm tìm cái đẹp, thoát ly hiện thực:
Trang 13Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc câu cười…
Tôi chỉ là một khách tình si Ham cái đẹp muôn hình muôn vẻ (Cây đàn muôn điệu) Mang khí chất của một tài tử, say sưa thoát ly hiện thực để chinh phục
cái đẹp - cõi mơ mộng, huyền ảo, Thế Lữ mang tới cho Thơ Mới những màu
sắc mới, với tiếng sáo thiên thai, với tiên nga ngọc nữ, với hàng tùng, hàng liễu Ông phiêu diêu, say sưa thoát ly và hưởng thụ nhưng không tránh khỏi cái “tôi” buồn thi vị vốn đang là cái “mốt” thịnh hành trong giai đoạn này
Nhưng mộng cũng chỉ là mộng, giấc mơ huyền ảo được Thế Lữ dựng lên để rồi vỡ tan Tâm sự đau khổ, uất của con hổ ở trong vườn bách thú mang một “khối căm hờn trong cũi sắt” chính là tâm sự của cả một lớp người “hành khất phóng lãng” đương thời:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thưở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cõi sơn lâm bóng cả cây già, Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng…
(Nhớ rừng)
Là một trong những nhà thơ mở đầu của Thơ Mới, dưới sự tiếp thu của
thơ ca lãng mạn Pháp - với những cách táo bạo về hình ảnh, ngôn ngữ, nhạc điệu qua những “đứa con tinh thần của mình”, Thế Lữ đã tạo một “nốt nhạc
khó lẫn lộn” trong bài ca Thơ Mới
Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” lại gây được sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trong lòng người đọc khi xuất hiện trên thi đàn
Trang 14Nhắc tới Xuân Diệu – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã không ngoa khi
nhận xét: “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống quống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết Nhưng sự sống muôn hình thức
mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào” [22, tr.106]
Xuân Diệu bước vào vào Thơ Mới, “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng
mây”, vượt lên những lề thói quen thuộc, mòn nhạt để tìm tới sự mới lạ của cuộc sống, và sống hết mình với khát vọng, mơ ước, “cái tôi” thi sĩ của mình
“Cái tôi” của Xuân Diệu là phát ngôn của những tâm hồn được tháo cũi
sổ lồng, khát khao tận hưởng và cả những hốt hoảng, cuống quýt trước thời gian “vội vàng” “giục giã” Thơ Xuân Diệu là sự chân thành, táo bạo, là khát khao hưởng thụ cuộc sống trần tục :
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(Giục giã)
Xuân Diệu đã đến với Thơ Mới và hình thành ở đây một phong cách
độc đáo, hấp dẫn Với những cách tân táo bạo về hình thức thơ và những khát khao cuồn cuộn “rất Tây” trong tình yêu, cuộc sống, Xuân Diệu đã đóng góp rất lớn trong sự nghiệp hiện đại hóa thơ ca dân tộc Xuân Diệu chính là nốt
nhạc không thể thiếu trong bản nhạc Thơ Mới
Trong khi đó, Huy Cận lại mang theo một nỗi buồn mênh mang vào
Thơ Mới Huy Cận đã tạo cho thơ mình một “nổi sầu thiên cổ”, “cái mạch sầu
mấy nghìn sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”
Đó là nỗi buồn sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn nhớ bạn, buồn đêm mưa…gợi ít đường nét, lạc lõng và hoang vắng:
Trang 15Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Chiều về nước lại sầu trăm ngả
Củi một nhành khô lạc mấy dòng
Cái tôi Huy Cận luôn trơ trọi như hòn đảo lạc loài giữa đại dương bao
la rộng lớn và dường như không khỏi rùng mình trước những đợt gió giá băng, cô độc Trước sự nghiệt ngã của số phận, cái tôi đã cầu xin sự giải thoát:
Hỡi Thượng đế! tôi cúi đầu trả lại Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái!
Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường
Ở Huy Cận, “tâm hồn non tơ, nguyên vẹn được bộc bạch ở những vần thơ thật tươi mát phát xuất từ thiên nhiên, tạo vật” Để rồi giữa vũ trụ bao la,
mênh mông nhà thơ cảm thấy mình lạc loài, xa vắng Trong tiến trình Thơ
Mới, Huy Cận cứ “đi lượm nhặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên
những vần thơ ảo nảo Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cái bụi trần thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc” [22, tr.26]
Chế Lan Viên xuất hiện “giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế
kỷ XX , nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật”
[22, tr.217] Đến với Thơ Mới, Chế Lan Viên mang theo một nỗi buồn, sự
khóc thương cho một dân tộc đã lùi vào quá khứ
Thơ Chế Lan Viên đầy ắp những đối lập giữa mộng và thực, giữa quá khứ và hiện tại Có ai buồn đau khổ cho bằng Chế Lan Viên Thế giới thơ đầy
ắp nỗi đau khổ và sự tuyệt vọng vô bờ bến :
Trang 16Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
Chế Lan Viên đã bước vào Thơ Mới như “lạc giữa sao trời”, đầy hoang
mang bi đát Thi sĩ được coi là đại diện cho một phong cách nghệ thuật thần
bí, siêu nhiên “Ai bảo giùm ta có ta không? ”
Mỗi một tác giả với một phong cách đặc trưng đã tạo nên bức tranh Thơ
Mới đa chiều - đa diện - đa sắc màu
1.2 Hàn Mặc Tử - từ Gái quê đến Thơ điên
1.2.1 Hàn Mặc Tử - sự đột sáng của thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930 -
1945
Trang 17Hàn Mặc Tử là phong cách thơ đặc biệt Tiến trình thơ Hàn Mặc Tử có thể xem là bức tranh thu nhỏ của toàn bộ khung cảnh cuộc hành trình cách tân
Thơ Mới đương thời Ngay từ buổi đầu sự nghiệp với ba bài thơ Thức khuya, Chùa hoang, Gái ở chùa Hàn Mặc Tử đã tạo nên dư chấn đặc biệt trong lòng
bạn đọc “Từ khi về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều song chưa gặp được bài báo nào hay đến thế…ôi hồng Nam nhạn Bắc, ước ao
có ngày gặp gỡ, để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó” [10, tr.20]
Ngay từ những ngày đầu sáng tác, thơ Hàn Mặc Tử mang hơi thở của lời thơ già dặn, sầu não, da diết khiến ai đó tưởng lầm là thơ của một bậc lão nho :
Ấp úng không ra được nửa lời…
Chỉ có thông kia chịu với trời
(Buồn thu)
Trước sự ảnh hưởng của những khuynh hướng sáng tác trên thế giới Hàn Mặc Tử vẫn giữ được cái hồn, một tình yêu lớn đối với dòng thơ cổ điển Thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử ngoài sự phong phú về số lượng, sâu sắc và hấp dẫn về cảm xúc còn là sự vững vàng về kỹ thuật Nó thể hiện được phong thái của cổ điển nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ sự tiếp giao, chuyển đổi lý
thú giữa những yếu tố vừa lạ vừa quen nơi ranh giới thơ cũ và Thơ Mới
Hàn Mặc Tử đã tiếp nhận khuynh hướng sáng tác lãng mạn của chủ nghĩa lãng mạn Pháp một cách sáng tạo Trước nhiều biến động của cuộc đời, Hàn Mặc Tử đã tìm cho mình một mảnh vườn sáng tạo để gieo trồng và gặt lấy những hoa trái riêng Phương Tây có câu châm ngôn “Con thỏ muốn sống, cần phải bảy lần lột xác” Sự thoát thai luôn luôn đồng nghĩa với đấu tranh sinh tồn Đó là quy luật, là bản chất chấp nhận và cũng là sự hoàn thiện, vượt lên thực tại cũ mòn đã hao hụt và lùi lại dĩ vãng Hàn Mặc Tử sau nhiều thăng
Trang 18trầm, biến động của cuộc đời đã cho ra đời tập Gái quê (1936) như một tất
yếu Từ đây, đánh dấu sự xuất hiện của một ngôi sao ngời sáng trên bầu trời
thi ca Thơ Mới
Sớm nổi danh với những vần thơ cổ điển nhưng Hàn Mặc Tử lại “ghi
điểm” người đọc bằng những vần thơ lãng mạn Sự ra đời của Gái quê đánh
dấu cuộc thay đổi về quan niện thơ của Hàn Mặc Tử, để thi sĩ từ địa hạt thơ
cũ bước qua Thơ Mới Trong lãnh địa Thơ Mới, Hàn Mặc Tử đã lột bỏ y phục
cổ điển để diện lấy bộ cánh tân kỳ, cho mình một cõi thơ riêng không lẫn với bất cứ ai Có thể coi Hàn Mặc Tử là cái cầu nối giữa những bến bờ tâm linh văn hóa Đông Phương với tâm hồn thi ca hiện đại Với cái tôi khao khát tìm hiểu, khám phá và phát hiện những bí ẩn nằm trong chiều sâu tâm hồn người,
Gái quê đem đến cho thơ ca Việt Nam những hình ảnh mơ mộng, êm ái như
sợi trời Đó là sự mơ mộng thường bắt gặp ở những chàng trai mới lớn, niềm
ái ân trong sáng mang chút ngượng ngùng, ngây dại mà trọn vẹn thiêng liêng :
Từ gió xuân đi, gió hạ về Anh thường gởi gắm mối tình quê Bên em, mỗi lúc trên đường cái, Hóng mát cho lòng được thỏa thuê
(Âm thầm)
Hay là hình ảnh của những cô gái quê tươi tắn, hồn nhiên, đượm màu
chân thật :
Tiếng ca ngắt cành lá rung rinh…
Không hẹn, đồng nhau nở lẳng lơ
Trang 19chữ là một nguồn “hoạt động lực” nó bắt tay nhau mà nhảy lên một bản khiêu
vũ thần tiên” [2, tr.514]:
Trăng nằm sóng soải bên cành liễu Nghi ngờ đến cái tiết trinh em
(Bẽn lẽn)
Gái quê mang đậm âm sắc hồn quê, “tình ý vừa là của người trong
cuộc, vừa là của người không thuần quê nữa” [6, tr.118] Rõ ràng với Gái quê
Hàn Mặc Tử đã thổi vào đó một luồng sinh khí mới của thơ ca lãng mạn Ở
đó, cái tôi cá nhân đã hiện hình rõ nét từ trái tim chưa yêu đến yêu say đắm, nồng nhiệt Những khát vọng tưởng như rất đỗi bình thường đã được Hàn Mặc Tử kết tinh trong những trang giấy, con chữ, tạo ra trong thơ Hàn Mặc
Tử những điểm đột sáng lạ lùng : “Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính
là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng…thì Hàn Mặc Tử là sự hòa sắc của cả lãng mạn, tượng trưng, thậm chí là siêu thực nữa” [16, tr.62]
Thơ Hàn Mặc Tử đã mang đến niềm gợi cảm trong lòng người đọc, đã thức dậy thứ năng lượng lâu nay vốn tiềm ẩn trong mỗi độc giả Hàn Mặc Tử cũng là người đã tiên phong trong việc tích hợp ba trào lưu lãng mạn, tượng trưng, và siêu thực vào sáng tác thơ ca Với phong cách độc đáo này, Hàn Mặc Tử đã mang tới cho làng thơ Việt Nam những nguồn thơ dào dạt nhất
Đúng như Chế Lan Viên đã nói: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau những cái tầm thường, mực thước kia đã biến tan đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” [22, tr.196]
Từ những tập thơ đầu tiên cho đến những tập thơ về sau, Hàn Mặc Tử
đã đi một chặng đường dài từ cổ điển qua lãng mạn rồi từ lãng mạn chuyển nhanh sang tượng trưng, tiến chớm đến bến bờ của siêu thực Cái lãng mạn
Trang 20trong thơ Hàn Mặc Tử luôn mới lạ và nằm ngoài sự tưởng tượng của con người
1.2.2 Thơ điên - quan niệm thơ “niềm kinh dị”
Với chí nguyện suốt đời đi tìm sự lạ, Hàn Mặc Tử mải miết đi theo
“Tiếng gọi ở chốn xa xăm, thiêng liêng và huyền bí là rung động cõi lòng” Ông là một nhà thơ suốt đời cứ nhất định “Hưởng cái thơ trên cái thơ khác nữa”, suốt đời quyết đi đến cõi ước mơ hoàn toàn [1, tr.225]
Gái quê là tập thơ đầu tiên khơi ngòi cho một tài năng đặc biệt, đánh
dấu sự đặt chân của Hàn Mặc Tử vào lãnh địa thi ca lãng mạn Nếu ở Gái quê,
Hàn Mặc Tử đem lại một nguồn thơ trong trẻo, lời thơ dễ dàng, ý thơ bình dị;
một chút tình nồng nàn, đầy rạo rực thì với Thơ điên, Hàn Mặc Tử đã đạt
được độ chín, với một cái tôi được bộc lộ một cách toàn diện: “Cái gì của nó cũng tột cùng, nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy” [1, tr.225] Thơ ông bây giờ phát xuất từ con tim rạo rực tan chảy vì tình yêu, cô đơn và bệnh tật Lời thơ, nguồn thơ là sự rung cảm
trước sắc đẹp huyền diệu của tạo vật, là những rung gợi chói rạng lạ kỳ Thơ
điên đã đưa người đọc tiến xa ranh giới của hiện thực, mang lại sự hư ảo, mơ
hồ Ở đây “nghệ thuật chàng tựa một dòng sông dài đi xuyên qua thế kỷ chúng ta, và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau,
đẹp đẽ đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người” [10, tr.30] Có thể nói Gái quê
là điều kỳ diệu của hiền hòa trần thế, còn Thơ điên chính là tiếng kêu gào để phủ nhận thế gian đau đớn và bội bạc “Đau thương chính là ngọn nguồn của sáng tạo, còn Điên là hình thức của sự sáng tạo ấy Trong bản chất Đau
thương ở Tử là một tình yêu tuyệt vọng lớn Cho nên Thơ điên là tiếng nói
của một thân phận bị dồn đẩy đến miệng vực của nỗi chết, chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, nuối đời, níu đời” [1, tr.282]
Trang 21Bước vào thế giới Thơ điên, người đọc như bước vào thế giới quằn quại
của tinh thần Bắt đầu từ Thơ điên, Hàn Mặc Tử bắt đầu đổi sang một thế giới khác - một thế giới dành cho những con người thèm thuồng sự sống Trong
bài tựa tập thơ Điêu tàn, Chế Lan Viên viết: “Hàn Mặc Tử viết “Làm thơ tức
là điên” Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải Người
Nó là Người mơ, Người say, Người điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh,
là Yêu Nó thoát Hiện Tại Nó xáo trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai” [25, tr.13]
Hàn Mặc Tử xem thơ là nguồn sống duy nhất của chính mình Đó là nơi thi sĩ phơi bày cảm xúc, tâm hồn và cá tính Thi sĩ miêu tả cuộc sống bằng cái tôi gắn với trái tim xúc động Thơ “là sự thăng hoa của cảm giác, tri giác,
nó không chứng minh gì mà làm nảy sinh một trạng thái ý thức, nó phá vỡ mọi ngẫu nhiên, nó là biểu hiện cao nhất, tinh thần nhất mà nghệ thuật có thể
có được” (Vecharon) Hàn Mặc Tử đã kéo thơ ra khỏi thế giới cảm xúc thơ mộng để kiến tạo một thế giới tân kỳ, ma quái và điên loạn Cái đẹp bây giờ được đẩy qua một địa hạt khác, bao gồm cái kinh dị, cái ghê rợn của hồn, của não, của máu:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt Như mê man chết điếng cả làn da
Thi nhân đem hết sức mình để bám víu cái sống trong cõi chết vô bờ bến Nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần hội tụ nơi não cân, máu huyết muốn trào ra, quay cuồng theo lời thơ mà mê man chết đi Hàn Mặc Tử đã để cho bản năng thúc giục, thấu cảm sự vô nghĩa lý của thế giới xung quanh, khơi gợi
Trang 22khao khát tự do, tưởng tượng và ở vùng đất ấy thi sĩ chìm đắm đến “gần đứt
sự sống”
Trong lời tựa Thơ điên, Hàn Mặc Tử đã nói: “Tôi làm thơ Nghĩa là tôi yếu đuối quá Tôi bị cám dỗ, tôi bị phản bội tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật Và cùng có nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú, có ai ngăn cản được lòng tôi” [14, tr.153] Thế nên thơ Hàn cũng có nhiều vần thơ chân chất, phát xuất tự tâm hồn yếu đuối nhưng đầy mãnh liệt của nhà thơ:
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh
(Rướm máu)
Thơ điên tạo nên âm hưởng rên xiết “Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý”, sự rên xiết của tâm hồn đang tìm về sự sống, tìm về một cõi mơ khác Hàn Mặc Tử đã thả hồn lạc vào mê cung của sự phi thường, cái dị thường
“Tôi sống mãnh liệt và đầy đủ Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn, tôi đã phát triển hết các cảm giác của tình yêu Tôi đã vui, buồn giận, hờn đến gần đứt sự sống Thôi mời cô vào… Ánh sáng lạ trong thơ tôi
sẽ là cho gò má cô đỏ gấc Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vườn thơ tôi
rộng rinh không bờ bến Càng đi xa, càng ớn lạnh” (Tựa Thơ điên)
Tiếng thơ bi thương của Hàn Mặc Tử chính là tiếng lòng của một trái tim đau khổ Đó là nguồn thơ làm bằng máu, bằng lệ, bằng hồn, với tất cả say sưa, rung động của một con người hoàn toàn đau khổ
Với Thơ điên, thi sĩ đã đưa độc giả vào một thế giới đầy trăng, đầy
mộng Tất cả tạo nên một thế giới hão huyền, “mà người say sưa đi trong mơ ước, trong Huyền diệu, trong Sáng láng và vượt hẳn ra ngoài Hư linh…Và
Trang 23một khi đã vào sẽ lạc, vì vườn thơ rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn
lạnh” [22, tr.196] Như tác giả Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “Cuộc tình duyên ra đời với tập Hương thương, hấp hối với tập Mật đắng, đến đây thì đã
chết thật rồi, nhưng khí lạnh còn tỏa ra nghi ngút” [22, tr.198]
Quả thực, những vần thơ nhịp nhàng, đầy hương thơm và mật đắng, toàn máu cuồng và hồn điên; những lời châu ngọc say sưa trong Thơ điên của
Hàn Mặc Tử mang đến cho biết bao người đọc “khoái chí ngây ngất và rung động bồi hồi”
Trang 24Chương 2 THƠ ĐIÊN
- SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG RUNG ĐỘNG, CẢM TRI THẾ GIỚI
2.1 Thơ điên - Thế giới của đau thương tuyệt vọng mà hoan lạc vô biên
2.1.1 Sự dồn nén của đau thương, cô đơn và tuyệt vọng
Nhà thơ bao giờ cũng là những con người nhạy cảm nhất trước biến động của cuộc sống Dường như trong tù ngục của cuộc đời, thi sĩ đã mơ hồ cảm nhận được nỗi vong thân Và giả sử nếu không bắt rễ vào cuộc đời giữa
“cơn lâm lụy” kia, làm sao nhà thơ có thể phơi bày nỗi nhức nhối, quặn thắt của lòng mình? Hàn Mặc Tử hơn ai hết cảm nhận được tất cả nỗi tủi cực đắng cay của người cầm bút
Trong Thơ điên, Hàn Mặc Tử “thường xuyên rơi vào tình trạng cô đơn tuyệt đối, tinh thần bị vây khốn giữa một cõi sống đơn độc, luôn bị ám ảnh bởi nỗi chết của riêng mình, và dường như lúc nào cũng có thể cảm thấy mười mươi cái bóng đen úa, cái âm khí lạnh ngắt cùng đôi mắt rùng rợn của tử thần, cho nên tinh thần của thi sĩ luôn lạc giữa cái trùng vây của những biểu tưởng kinh loạn nhất của thế giới khác” [18, tr.236]
Thơ điên là những tiếng khóc nức nở thoát ra từ trái tim đau khổ, là sự
gào rú, than khóc điên cuồng của một linh hồn bị tổn thương và yếu đuối Có thể nói đó là những vần thơ điên loạn vì cùng quẫn, vì thất vọng, vì những khát khao, mơ ước của mình bị thực tế phũ phàng nhấn chìm đi, xé tan trong
đau thương và uất hận Đọc Thơ điên, người ta phần nào hình dung ra được
nỗi đau đớn vất vả mà Hàn Mặc Tử phải trải qua do sự hành hạ của bệnh tật, của sự hủy hoại thể xác và linh hồn:
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Trang 25Thịt da tôi sượng sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
(Hồn là ai)
Đoạn thơ có rất nhiều những từ ngữ thể hiện cảm giác đau đớn đến điên dại về thể xác: “sượng sần”, “tê điếng”, “rùng rợn” Căn bệnh phong quái
ác đã giết chết một con người tràn đầy sức sống và hoài bão Chính Hàn Mặc
Tử có lần đã nói: “Mỗi lần tôi làm được một bài thơ, là héo hắt đi một ít ở tâm hồn, và xác thịt cũng hao mòn dần đi Khi nào tôi òa lên khóc, hay gào thét như người điên, lúc bấy giờ tôi mới làm thơ được” [2, tr.522]
Làm thơ dưới lưỡi hái của tử thần, Hàn Mặc Tử luôn phải đối diện với
sự phân rã cơ thể hàng ngày Hàn Mạc Tử như ngọn đèn sắp tắt, như cây non yếu ớt trước trời giông tố bão bùng Những bài thơ mà Hàn Mặc Tử gọi là
“Thơ điên, thơ loạn” ấy thực ra không điên loạn chút nào Hàn Mặc Tử đã mở
ra một thế giới của những cơn đau vật vã, của cuộc sống vụn nát, xa rời dần
mà không sao níu giữ:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
(Rướm máu) Trong Thơ điên, Hàn Mặc Tử mang nặng một khối tình đời, tình yêu
đôi lứa Thi sĩ cũng giống biết bao người bình thường, cũng muốn được yêu, được hạnh phúc nhưng tình duyên không đến, để rồi “chửa gặp nhau mà đã biệt ly” Trong tình yêu, Hàn Mặc Tử bị xô đẩy theo những đợt sóng ái tình
mà đau khổ đã lấn át niềm vui Dường như đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta luôn bắt gặp những bóng hồng đi qua đời thi sĩ Có những lúc đau khổ, tuyệt vọng khiến nhà thơ muốn lẩn tránh những hình ảnh yêu thương đã từng làm cho lòng ông tan nát:
Cái gì kết lại mới thành tinh tú
Và uyên ương bởi đâu không đoàn tụ?
Trang 26Và tình yêu sao lại dở dang chi ?
Bị nỗi đau thể xác dày vò lại bị người yêu phụ bạc, Hàn Mặc Tử rơi vào hố sâu của sự cùng quẫn, chán chường Một trái tim luôn thiết tha, rạo rực, đập từng nhịp cho tình yêu nhưng lại không được hưởng những phút giây hạnh phúc thì đau khổ biết chừng nào Để rồi tâm hồn thi sĩ chỉ còn là dại khờ, thờ dại, lòng vỡ hai, không bao giờ gắn kết lại:
Người đi: một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
(Sầu vạn cổ)
Nhà thơ đang rơi vào tâm trạng cô đơn, hoài nghi cuộc sống và tình yêu Tất cả đã trở nên vô nghĩa Suốt trọn cuộc đời nhà thơ luôn thiết tha yêu thương, tương tư nhớ, tương tư ngóng bao bóng hồng vậy mà đáp lại chỉ
là sự cô đơn, ghẻ lạnh Sự đau đớn của bệnh tật, sự tan vỡ trong tình yêu và cả những khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống vật chất đã khiến Hàn Mặc Tử phải chịu đựng biết bao nỗi đau Sự bất hạnh đó như chất xúc tác tạo nên đỉnh điểm của một hồn thơ luôn bị ám ảnh vì bi kịch thể xác lẫn tinh thần Đối diện với sự đau đớn hành hạ thể xác và sự mâu thuẫn giày vò tinh thần đã khiến nhà thơ cuồng loạn triền miên, bất hạnh tột độ
Trang 27Có thể nói, những nỗi đau trong đời riêng của Hàn Mặc Tử đã hóa thân thành nỗi đau trong tinh thần và cất lên thành những lời thơ nghe như điên
dại Thơ điên là một niềm tuyệt vọng lớn, niềm tuyệt vọng được dâng lên từ
một thực thể bệnh hoạn và gia nhập vào cõi tinh thần Thơ điên cũng là tiếng kêu rỏ máu của con chim sắp lìa trần, là tiếng nói của những hụt hẫng, tan hoang của một thân phận bị đè nén đến miệng vực cái chết:
Trời hỡi! Bao giờ tôi chết đi Bao giờ tôi hết được yêu vì…
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si
(Những giọt lệ)
Đối diện với bóng tối và cả cái chết đang chực chờ, trong nỗi đau quằn quại bên miệng vực cái chết, linh hồn Hàn Mặc Tử gào thét, khóc lóc vật vã, thảm thiết, điên cuồng:
Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa Hồn mất xác hồn sẽ cười nghiêng ngã
Và kêu rên thảm thiết khắp bao la
(Hồn lìa khỏi xác)
Tâm hồn nhà thơ ngất ngư đến cuồng loạn, nó thoát ra ngoài thể xác
để nhìn về thi thể đang bị bệnh tật và thời gian vô tình gặm nhấm, rồi lại càng điên cuồng, tuyệt vọng hơn:
Máu đã khô rồi, thơ cũng khô Tình ta chết yểu tự bao giờ!
(Trút linh hồn)
Linh hồn rướm máu ấy đã lang thang trong thế giới hoang lạnh đầy chết chóc, đi tìm ảo vọng giữa thực tại đau thương và nghiệt ngã Với Hàn
Trang 28Mặc Tử, cuộc sống hiện tại của ông là sự cô đơn, đau khổ triền miên cùng năm tháng Sự dồn nén đau thương, cô đơn và tuyệt vọng được khẳng định rõ
rệt hơn qua lời nhận xét của Chu Văn Sơn: “Nếu Thơ Mới là hành trình đi mãi vào địa hạt của cái tôi, thì Thơ điên mang cái tham vọng muốn… mãnh liệt
đến cuồng tâm dại trí” [6, tr.134]
2.1.2 Khát vọng sống và ý niệm về cõi mơ, miền cực lạc
Hồ Thế Hà trong Những khoảnh khắc đồng hiện đã từng nói: “Trên
bước đường khao khát sáng tạo của trí tuệ, con người thường ưu tư và hoài nghi về sự hiện hữu của chính họ Có lúc họ đã bơ vơ và bất lực nhìn lại gương mặt sầu muộn của mình và không khỏi nghi vấn về những kinh nghiệm sống đã qua Và hình như có một nghịch lý nào đó khiến con người không ngừng từ bỏ khát vọng sống của mình dù họ có cảm tưởng như họ đang bị lạc lõng giữa dòng thời gian vô định đang cuồn cuộn chảy”
Đối với Hàn Mặc Tử, Thơ điên đã khơi nguồn cho sự sáng tạo và cũng chính Thơ điên đã thúc giục khát vọng vươn lên Hàn Mặc Tử cũng
giống như bao người khác, ông muốn sống những nhịp sống chân thành Nhà thơ từng nói: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu, tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống”
Nguyễn Xuân Hoàng trong tập san Văn số 73-74 đã nhấn mạnh:
“Trong những lời than vãn của tuyệt vọng đó, người ta tưởng chừng như nghe
âm vang từ một phương trời xa nào những tiếng cười rạn rỡ và đau xót, tiếng nói thầm thì buồn thảm không phải như một trối trăn mà chính là thứ ngôn ngữ của một ý thức sáng suốt, lời vọng âm của một tâm hồn khắc khoải…” [10, tr.100]
Khao khát sống là hoạt động bản năng của con người Đối với Hàn Mặc Tử sự đe dọa của bệnh tật, sự cô đơn về tình cảm,cũng như cái chết luôn
Trang 29rình rập khiến nhà thơ càng khao khát sống hơn bao giờ hết Nếu không mất mát thì đâu có kiếm tìm, nếu không có khổ đau thì có ai lại mơ ước hạnh phúc
và nếu không có cái chết, con người bất tử thì có ai lại đi tìm sự sống làm gì? Thấu hiểu được điều đó, Hàn Mặc Tử hơn ai hết muốn níu kéo thời gian, muốn quay ngược kim đồng hồ số mệnh để có thể tự do thỏa thuê sống mà không cần bận tâm, sợ hãi bất cứ điều gì :
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé!
Xin đừng luân chuyển để thời gian Chậm đi – cho kẻ tôi yêu dấu Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân
(Thời gian)
Ở Thơ điên, Hàn Mặc Tử thể hiện một lòng ham sống vô biên, thể
hiện ước mơ cực kì giản đơn của một con người hết sức bình thường, đó là ước mơ được sống khi ý thức rằng mình đang chết dần Cho nên, thi sĩ phải
“nhanh chân”, “sống gấp”, sống bằng thơ vì thơ đối với ông là tất cả :
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta Bao nét chữ quay cuồng mơ máu vọt Như mê man chết điếng cả làn da
(Rướm máu)
Hay sống dồn dập, sống hối hả như sóng biển :
Dâng cao lên, cao tột tới trên trời
(Biển hồn ta)
Trải qua những năm tháng cuối đời đầy đau đớn và nghiệt ngã, tưởng chừng như cuộc sống khắc nghiệt ấy sẽ giết chết những ước mơ, khát vọng và hoài bão trong Hàn, thế nhưng chính khi cận kề cái chết, phải đấu tranh với cái chết để giành giật sự sống thì con người ta lại khao khát sống hơn bao giờ
Trang 30hết Tỉnh giấc sau những cơn điên cuồng, Hàn Mặc Tử đã tự thắp lên ngọn lửa
hi vọng cho cuộc đời đen tối của mình Hàn Mặc Tử đã dồn hết sức sống còn lại của cơ thể để say với hương sắc thiên nhiên, để tận hưởng dư vị ngọt ngào của cuộc sống Linh hồn đau khổ ấy đã nhập vào thiên nhiên, đã siêu thoát lên tới thượng tầng không khí, nơi chỉ có không gian huyền ảo, mát dịu và êm đềm Hàn Mặc Tử mở một cuộc viễn du ngây ngất cùng trăng sao, sum vầy cùng muôn tinh tú để tìm đến cõi mộng, để quên đi nỗi đau thực tại, vượt khỏi
sự hành hạ và trói buộc của bệnh tật Thơ điên giờ đây là thế giới riêng của thi
sĩ, một thế giới chỉ có trong mơ trong mộng :
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu : Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ ! Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ
( Đà Lạt trăng mờ)
Ước mơ và thực tại đã tạo ra một thế giới đầy hình thái đối lập, đó là chất ngất đau thương, là tột cùng sâu thẳm của sự sống và bên kia là khát vọng về cái đẹp, về tình yêu, về hạnh phúc của con người Một bên là cái chết còn bên kia là sự sống, một bên là tuyệt vọng đến điên cuồng, còn bên kia là khát khao vô bờ bến
Phan Cự Đệ đã nhận xét : “Chịu ảnh hưởng của những quan niệm thẩm
mỹ của Edgar Poe, kẻ chuyên ca ngợi những vẻ đẹp của tử thần, và của Baudelaire, kẻ đã mỹ hóa cái độc ác, cái ghê tởm, cái vô đạo đức Trường thơ Loạn bắt đầu đi tìm cái Đẹp ở những bến bờ xa lạ của cảm giác, tìm những khoái lạc bệnh tật ở những vùng đất hoang dại chưa được khai phá” [23, tr.95] Dường như không có một thứ ràng buộc nào của đời thường có thể trói buộc được hồn thơ Hàn Mặc Tử Sự cởi trói bản thân, mở rộng chiều hướng ngoại cũng là một cách để nhà thơ đi vào trung tâm của cái tôi bản ngã của
Trang 31chính mình Hàn Mặc Tử muốn thoát khỏi thực trạng nghiệt ngã để hướng tới cuộc sống ở chốn Thiên Đường: “có con sông tuyệt vời đang chảy, các loại chim muông đẹp hót vang, vàng bạc đá quý nhiều vô kể Tiếng nhạc quyến rũ bởi âm thanh của nó làm rung động các sinh thể ngoài trái đất Nơi nào cũng hạnh phúc và bình yên”
Hàn Mặc Tử ngay trong tập Thơ điên cũng viết : “Trí người đã dâng
cao và thơ người đang cao hơn nữa Thì ra người đang say sưa đi trong mơ ước, trong huyền diệu, trong sáng láng và vượt ra hẳn ngoài hư linh”
Nhà thơ mở ra một thế giới huyền bí, đầy mầu nhiệm :
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu
(Đà Lạt trăng mờ)
Một thế giới của những “bến xa mơ”, “nẻo mơ”, “xứ mộng” :
Từ đầu canh một đến canh tư Tôi thấy trăng mờ biến hóa như Hương khói ở đâu ngoài xứ mộng
Cứ là mỗi phút mỗi nên thơ
(Huyền ảo)
Và đôi khi là thế giới kì lạ của chốn “Cửu trùng” của nhà Phật:
Lòng ta tản khắp bốn phương trời Cửu trùng là chốn xa xôi lạ…
Giây phút, ôi chao ! Nguồn cực lạc
(Ghen)
Trong Thơ điên, “Hàn Mặc Tử phiêu du bay vù từ diệu vợi đến xanh
mơ”, bay đi khắp vạn nẻo đường, “từ bến Ngọc dời sang châu Dủ lý”, từ sông
Trang 32Mê Hà đến bến Hàn Giang của con sông Ngân Biếc, vượt qua cầu Ô Thước của dải Ngân Hà, đến cung Quảng Hàn, về lại dưới chân Bàn Thành, xuống động Huyền Không, rồi bay lên nước Trời, tới cung Thiềm, ra ngoài Vũ trụ, lên tận chin tầng trời cao ngất…Thần hồn mải miết trong Hư Vô, Thinh Không, trong cái thế giới ngưng đọng cả thời gian lẫn không gian” [8, tr.46]
Con người Hàn Mặc Tử đã bay bổng, chơi vơi trong giấc “chiêm bao ngoài sự thực”:
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm…
Cả thiên đường, trần gian và địa ngục
Hay “tắm gội ở trong nguồn ánh sáng” chan hòa:
Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt
Để chập chờn trong ánh sáng mông lung
Có thể nói, Thơ điên xuất hiện như một khát vọng sống mãnh liệt của một con tim rực cháy Hương thơm đã khiến thi sĩ như say mê đi trước vẻ đẹp
lộng lẫy của thê giới mộng Bên cạnh vẻ đẹp của cõi mộng là nỗi khát khao
sống đến tột cùng trong Mật đắng Để rồi đến Máu cuồng và hồn điên, nhà
thơ đã thoát khỏi thế giới thực tại để đi vào thế giới mộng, cõi mơ, nguồn cực