1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

BD đề tài sử dụng hợp lý tài nguyên vũng vịnh 2006

56 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 424,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển giao thông - cảng còn tạo ra quá trình phát triển kinh tế lan toả trên các "vùng hấp dẫn" rộng lớn, tạo nên mạch máu giao lưu kinh tế chảy khắp Với tổ hợp tài nguyên cảnh q

Trang 1

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam Viện Tài nguyên và Môi trường biển

_

Đề tài cấp Nhà n ước KC 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động

và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu

ven bờ biển Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Trần Đức Thạnh Phó chủ nhiệm: TS Mai Trọng Thông

TS Đỗ Công Thung Thư ký: TS Nguyễn Hữu Cử

báo cáo tổng kết chuyên đề

Phương pháp luận nghiên cứu

sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

Thực hiện: TS Trần Đức Thạnh, TS Nguyễn Hữu Cử

CN Bùi Văn Vượng, KS Nguyễn Thị Kim Anh

Trang 2

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam Viện Tài nguyên và Môi trường biển

Đề tài cấp Nhà nước KC 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động

và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu

ven bờ biển Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Trần Đức Thạnh Phó chủ nhiệm: TS Mai Trọng Thông

TS Đỗ Công Thung Thư ký: TS Nguyễn Hữu Cử

Chuyên đề

Phương pháp luận nghiên cứu

sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

Thực hiện: TS Trần Đức Thạnh, TS Nguyễn Hữu Cử

CN Bùi Văn Vượng, KS Nguyễn Thị Kim Anh

Hải Phòng, 2005

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 3

Mở đầu

Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên là một chủ đề trọng tâm của phát triển bền vững Vũng - vịnh là một bộ phận của vùng biển ven bờ, nên việc sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh cũng nằm trong khuôn khổ của sử dụng hợp

lý tài nguyên dải ven bờ Tuy nhiên, ở dải ven bờ biển tồn tại các thực thể tự nhiên khác nhau như cửa sông, đầm phá, vũng - vịnh và vùng biển hở Mỗi thực thể có chủng loại và cấu trúc tài nguyên khác nhau, đồng thời, đặc điểm động lực

và tiến hoá chúng, những vấn đề môi trường nảy sinh khi khai thác tài nguyên, mức độ rủi ro do thiên tai khi sử dụng tài nguyên cũng rất khác nhau, đòi hỏi những cách thức riêng cho từng loại hình thuỷ vực ven bờ ở Việt Nam, vũng - vịnh là đối tượng địa lý khá quen thuộc, nhưng còn ít được nghiên cứu có hệ thống Vì vậy, còn rất thiếu các phân tích, đánh giá quy chuẩn về khoa học để có các mô hình quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý

Do tính chất mới mẻ của vấn đề, đề tài KC.09 - 22 “Đánh giá hiện trạng,

dự báo biến động và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng

phương pháp luận cho nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh Nội dung chủ yếu chuyên đề nhằm làm rõ các luận cứ sau đây:

- Phân loại hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển và các thuộc tính cơ bản của chúng

- Các chỉ tiêu hình thái động lực vũng - vịnh và phân vùng tự nhiên chúng

- Nhận thức mới về giá trị, phương thức và mục đích sử dụng tài nguyên vũng - vịnh

- Tiếp cận quản lý tổng hợp đối với sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

- Nhận thức về mô hình sử dụng hợp lý cho một đối tượng vũng - vịnh cụ thể

Nhận thức về phương pháp luận là một quá trình Vì vậy, những ý tưởng đề xuất trong chuyên đề này mới chỉ là bước đầu Thực tiễn sử dụng cho những nghiên cứu, đánh giá chuyên sâu sau này hy vọng sẽ đóng góp và hoàn chỉnh Phương pháp luận nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

I Những vấn đề chung

1 Tầm quan trọng của vũng - vịnh đối với phát triển kinh tế - xã hội

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 4

Các vũng - vịnh rất phổ biến ở bờ biển nhiều quốc gia trên thế giới, vì thế tài nguyên của chúng là đối tượng điều tra nghiên cứu quan trọng và chủ yếu nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Các nước phát triển có nhiều vũng - vịnh như: Mỹ, Nga, Nhật Bản, Canada và Italia từ lâu

đã tiến hành điều tra nghiên cứu toàn diện và chi tiết tài nguyên phi sinh vật và sinh vật ở các nước này các hoạt động điều tra khảo sát hiện nay tập trung vào giám sát, bảo vệ nguồn tài nguyên và đặc biệt chú trọng đến các dạng tài nguyên môi trường nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn tự nhiên biển Do có chiến lược quy hoạch và sử dụng tài nguyên hợp lý, nhiều vũng - vịnh có cảng thuộc loại lớn nhất thế giới (ví dụ cảng: Yakohama, Osaka, Kobê ở Nhật, Pusan

ở Hàn Quốc, Cao Hùng ở Đoài Loan, Vancourver ở Canada, Los - Angeles và Long Beaches ở Mỹ, v.v), đồng thời là các trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng

Các vũng - vịnh thuộc các nước trong dải nhiệt đới có tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng cho phép phát triển nghề cá biển Cảnh quan đẹp và tài nguyên sinh vật các vịnh, đặc biệt là các rạn san hô trong vịnh đã mang lại lợi ích kinh tế du lịch biển rất lớn cho các nước trong khu vực Đông Nam á như Malaysia, Indonesia, Philippin Tuy nhiên, cũng ở nhiều nơi, tài nguyên vũng - vịnh bị khai thác cạn kiệt hoặc bị suy thoái nghiêm trọng do tác động tiêu cực của con người Vịnh Manila (Philippin) bị ô nhiễm do hoạt động cảng và công nghiệp gần như hủy hoại hoàn toàn tài nguyên sinh vật trong vịnh và có một dự

án dự kiến 3 tỉ USD để phục hồi tài nguyên và môi trường cho vịnh này

Hiện nay, trên thế giới có những quan điểm mới về quản lý và sử dụng hợp

lý tài nguyên vũng - vịnh cho mực đích phát triển bền vững Theo đó, tài nguyên môi trường vũng - vịnh là một nhóm tài nguyên đặc biệt liên quan đến chất lượng cuộc sống và khả năng khai thác du lịch, dịch vụ Giá trị tài nguyên cũng

được đánh giá theo phương thức sử dụng trực tiếp, gián tiếp, lưu lại và bảo tồn Việc sử dụng hợp lý tài nguyên có xu hướng đặt trong khuôn khổ quản lý tổng hợp vũng - vịnh và dung hoà các mâu thuẫn lợi ích Định hướng này thể hiện trong kết quả của một số dự án trình diễn của UNDP đối với trường hợp vịnh

Batangas ở Philippin, vịnh Hạ Môn ở Trung Quốc

Những kết quả điều tra, nghiên cứu đã có cho thấy, mặc dù diện tích mặt nước các vũng - vịnh chỉ bằng khoảng 1,1% diện tích đất liền và khoảng 0,4% diện tích vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm, vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước

Các vũng - vịnh là cửa mở hướng ra biển, đối ngoại, khai thác biển và bảo

vệ chủ quyền lãnh hải Các khu bờ vũng - vịnh, thường là đồng bằng thềm biển hoặc đồng bằng aluvi - biển tập trung các trung tâm dân cư, kinh tế của dải ven biển Nhiều thành phố và thị xã nằm trên bờ vịnh như: Cẩm Phả, Hạ Long, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, Rạch Giá Nhiều thành phố, thị xã lớn khác nằm cạnh bờ vũng - vịnh trong tầm dưới 30 km như Hải Phòng, Đà Nẵng, Dung Quất, v.v Nhiều vũng - vịnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với an ninh quốc phòng như Cam Ranh, Bái Tử Long, Hạ Long, Đà Nẵng

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 5

Sức hấp dẫn phát triển kinh tế - xã hội nói trên là nhờ có tài nguyên thiên nhiên vũng - vịnh giàu và đa dạng, kể cả tài nguyên phi sinh vật, sinh vật và tài nguyên môi trường Điều kiện kín gió, nước sâu, ít bị sa bồi cho phép nhiều cảng biển lớn đã và đang được quy hoạch xây dựng ở các vũng - vịnh như: vịnh Bái Tử Long, Cửa Lục, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Quy Nhơn, Văn Phong và đặc biệt là quân cảng ở vịnh Cam Ranh Sự phát triển của cảng vũng - vịnh là tiền đề phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ khu vực ven bờ vịnh kèm theo đô thị hoá Sự phát triển giao thông - cảng còn tạo ra quá trình phát triển kinh tế lan toả trên các "vùng hấp dẫn" rộng lớn, tạo nên mạch máu giao lưu kinh tế chảy khắp

Với tổ hợp tài nguyên cảnh quan rất đẹp, nổi và ngầm (hầu hết các vũng - vịnh đều có rạn san hô), nước biển trong sạch, bãi tắm tốt, nhiều vũng - vịnh trở thành các trung tâm du lịch nổi tiếng như: Hạ Long - Bái Tử Long, Chân Mây, Văn Phong, Phan Thiết, v.v Hiện nay, du khách đến biển, phần lớn gắn với vũng

- vịnh, ngày càng tăng, mang lại lợi ích lớn cho kinh tế du lịch

Các vịnh là nơi có nhiều khoáng sản quan trọng như: cát thủy tinh, cát xây dựng, đá vôi, đá ốp lát, mĩ nghệ, sa khoáng titan - zircon - monazit, v.v Các vũng - vịnh có tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng Đa dạng sinh học các vũng - vịnh đều cao với các hệ sinh thái đặc thù như: rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi cát biển, bãi triều đá đáy cứng và đáy mềm Các hệ sinh thái vũng - vịnh có cấu trúc, chức năng khác nhau nhưng nhìn chung đều là nơi cư trú, bãi giống, bãi

đẻ của hàng ngàn loài sinh vật biển, vì thế có đa dạng sinh học cao và tiềm chứa nguồn tài nguyên sinh vật lớn ở dải ven biển

Với tài nguyên vật thể phong phú, đặc biệt là đa dạng sinh học cao, nhiều loài quý hiếm và cảnh quan thiên nhiên đẹp, chất lượng môi trường còn tốt, nhiều vũng - vịnh có giá trị và tiềm năng lớn bảo tồn tự nhiên Tại đây tất cả các loài động, thực vật quý hiếm, các giá trị cảnh quan, giá trị tự nhiên khác sẽ được bảo vệ, phát triển và gìn giữ cho các thế hệ mai sau Vịnh Hạ Long hai lần được công nhận là di sản thế giới về mỹ học và địa chất học Nhiều vũng - vịnh khác chứa đựng hoặc kề cận các khu bảo tồn thiên nhiên biển đã hoặc đang được xây dựng như: Bái Tử Long; Lan Hạ - Hạ Long (Cát Bà); Chân Mây (Sơn Chà - Hải Vân), Nha Trang (Hòn Mun), v.v

2 Nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 6

Hiện nay, sức ép phát triển kinh tế - xã hội và dân số đã dẫn đến những vấn

đề bất hợp lý và bức xúc về quản lý và khai thác, sử dụng tài nguyên vũng - vịnh Nhiều loại tài nguyên kể cả tái tạo và không tái tạo có nguy cơ bị khai thác quá mức, cạn kiệt Một trong những ví dụ tiêu biểu là sự huỷ hoại các rạn san hô tại các vũng - vịnh gây tổn hại rất lớn trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài Một số loại tài nguyên quý, chưa được sử dụng có hiệu quả đã bị suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động của con người hủy hoại trực tiếp, hoặc thông qua tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là ô nhiễm, phá vỡ cảnh quan, cân bằng động lực và sinh thái vũng - vịnh

Việc khai thác sử dụng tài nguyên nhiều khi không đúng mục đích và giá trị dẫn đến hiệu quả thấp và chịu nhiều rủi ro, thiên tai, hoặc gây ra các tác động môi trường tiêu cực, hoặc hậu quả xấu cho hoạt động kinh tế khác

Mâu thuẫn lợi ích sử dụng tài nguyên ngày càng căng thẳng, đặc biệt giữa các lĩnh vực giao thông cảng, du lịch và nghề cá Nhu cầu bảo vệ tài nguyên ngày càng bức xúc Một trong những ví dụ điển hình là vấn đề tương quan phát triển cảng với du lịch và bảo tồn tự nhiên ở các vịnh Hạ Long và Văn Phong Một số điều tra, nghiên cứu bước đầu cho thấy, sau nhiều năm, tài nguyên các vũng - vịnh đã có những biến động đáng kể do tác động của tự nhiên và con người Nhận thức về tiềm năng và giá trị sử dụng của chúng cũng thay đổi theo thời gian Mặt khác, áp lực phát triển và mâu thuẫn lợi ích sử dụng ngày càng lớn,

đòi hỏi phải có một nhận thức mới về tài nguyên vũng - vịnh đặt ra yêu cầu cấp bách phải dự trữ, duy trì và bảo vệ tài nguyên để phát triển bền vững kinh tế - xã hội các khu vực vũng - vịnh, tâm điểm của kinh tế - xã hội dải ven bờ Trước tình hình như vậy, việc thực hiện đề tài này là hết sức cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu sử dụng hợp lý vũng - vịnh

3.1 Đối với kinh tế - x∙ hội

Kết quả nghiên cứu sẽ phục vụ trực tiếp cho các dự án đầu tư phát triển kinh

tế vũng - vịnh, các dự án bảo vệ môi trường, bảo tồn tự nhiên và các phương án phòng thủ quốc gia; sẽ được sử dụng cho các cơ quan quản lý, lập qui hoạch trung ương và địa phương, đặc biệt là các tỉnh trọng điểm có vũng - vịnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, v.v (các Sở Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Du lịch, Thủy sản, Công nghiệp, v.v.), các cơ quan nghiên cứu khoa học và bảo vệ tài nguyên và môi trường, các chủ dự án đầu tư và các đơn vị quốc phòng (Hải quân,

Biên phòng, Bộ đội địa phương)

- ứng dụng các kết quả nghiên cứu và thực hiện các giải pháp, mô hình đề xuất của sẽ giúp cho sử dụng tài nguyên vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

- Nâng cao hiệu quả kinh tế khai thác, sử dụng các dạng tài nguyên, giảm tổn thất tài nguyên, tránh và giảm thiểu các rủi ro xuất hiện trong quá trình sử dụng, đầu tư phát triển

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 7

- Mô hình sử dụng hợp lý và tối ưu giải quyết được những mâu thuẫn gay gắt trong các hoạt động phát triển, hài hòa giữa kinh tế và quốc phòng, hợp lý giữa phát triển và bảo vệ, mang lại lợi ích tổng thể và có trị số tổng hợp cao nhất

- Duy trì khả năng tái tạo tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên sinh vật, đảm bảo đời sống ổn định, thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương, nhất là ngư dân

- Khai thác và chuyển đổi các giá trị gián tiếp của tài nguyên thành lợi ích kinh tế cao tạo cơ hội việc làm và nâng cao đời sống cộng đồng

- Thực hiện đảm bảo an ninh tài nguyên và dự trữ chiến lược tài nguyên cho phát triển tương lai, lưu tồn và để giành tài nguyên cho các thế hệ mai sau

- Có thêm những căn cứ để điều chỉnh, bổ sung thể chế, chính sách có liên quan đến quản lý tài nguyên vũng - vịnh Có căn cứ và cơ sở để giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị và ý thức bảo vệ tài nguyên vũng

- vịnh

3.2 Đối với khoa học

Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh nhằm đưa ra những nhận

định, đánh giá hệ thống và liên kết các mối quan hệ về bản chất tự nhiên, tài nguyên, kinh tế - xã hội, môi trường và quan hệ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường và bảo tồn tự nhiên vũng - vịnh, đưa ra những nhận

định tầm vĩ mô đối với sử dụng hợp lý tài nguyên hệ thống vũng - vịnh ven biển

và các mô hình đặc thù cho các vũng - vịnh cụ thể, nhưng có thể áp dụng mở rộng cho các vũng - vịnh có bản chất tự nhiên tương tự

- Kết quả nghiên cứu nhằm đóng góp tư liệu và gắn kết các lĩnh vực khoa học liên quan đến dải ven biển như thủy văn và thủy động lực, địa chất -

địa mạo, sinh học và sinh thái học, khoa học môi trường và kinh tế dải ven biển

- Góp phần làm sáng tỏ bản chất sinh thành và giá trị tài nguyên các vũng - vịnh nhiệt đới gió mùa với các tính chất địa đới và phi địa đới

- Nâng cao hiểu biết và tiếp cận một số định hướng khoa học mới của thế giới như tương tác lục địa - biển ở dải ven bờ và biến động bờ, tác động tài nguyên và môi trường dải ven biển

- Tiếp cận tư duy mới về hệ thống tài nguyên dải ven biển, kể cả nhận dạng

và đánh giá giá trị tài nguyên

- Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để tiến tới quản lý tổng hợp vũng - vịnh hướng tới phát triển bền vững

- Phương pháp luận và hệ phương pháp triển khai của đề tài có thể tham khảo mở rộng cho các loại hình thuỷ vực khác ở ven biển Việt Nam như các vùng cửa sông và đầm phá

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 8

4 Cách tiếp cận nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh

Để sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh, cần phải có phương pháp tiếp cận mới về nghiên cứu, phân tích, đánh giá giá trị và khả năng sử dụng tài nguyên vũng - vịnh

- Tiếp cận hệ thống: bản thân mỗi vũng - vịnh ven bờ biển cần được xem là một dạng tài nguyên tổng hợp ven bờ, một hệ thống tài nguyên hoàn chỉnh Đi vào các dạng cụ thể, tài nguyên vũng - vịnh được xem như là các hợp phần cấu trúc trong một địa hệ - hệ sinh thái ven bờ biển Việc khai thác, sử dụng một dạng tài nguyên nào đó có thể phá vỡ cân bằng địa hệ - sinh thái và gây tổn hại cho dạng tài nguyên khác trong hệ thống Vì thế, khai thác, sử dụng tài nguyên phải dựa trên quan điểm động, không phá vỡ cân bằng tự nhiên - sinh thái và cơ cấu của hệ thống tài nguyên

- Tiếp cận nhận thức mới về kiểu loại và giá trị tài nguyên Ngoài các

nhóm tài nguyên sinh vật, phi sinh vật truyền thống còn có tài nguyên môi trường Giá trị tài nguyên môi trường của vũng - vịnh được hiểu là giá trị thay thế mà con người phải chịu để đảm bảo an toàn môi trường và phát triển bền vững Ngoài cách đánh giá truyền thống tài nguyên tái tạo và không tái tạo, giá trị tài nguyên được đánh giá theo các nhóm giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng

- Tiếp cận nhận thức mới về tiềm năng và khả năng sử dụng tài nguyên

Một dạng tài nguyên có thể được sử dụng cho một hay nhiều mục tiêu, lợi ích khác nhau Ngược lại, nhiều dạng tài nguyên có thể sử dụng kết hợp cho một mục tiêu, lợi ích

- Tiếp cận sử dụng hệ sinh thái trong vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên

vũng - vịnh, trên nguyên tắc tài nguyên là các hợp phần của hệ sinh thái và việc khai thác, sử dụng chúng không gây tổn thương, không làm đảo lộn cân bằng

sinh thái vũng - vịnh

- Tiếp cận liên ngành đối với sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh Tài

nguyên một vũng - vịnh có thể sử dụng phát triển một số lĩnh vực kinh tế quan trọng như thuỷ sản, giao thông - cảng, du lịch sinh thái, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đô thị hoá, phòng thủ bờ biển đảm bảo cho an ninh - quốc phòng Việc

sử dụng tài nguyên phải bảo đảm tổng hiệu quả hiệu kinh tế, dung hòa mâu thuẫn lợi ích sử dụng, đảm bảo tôn trọng các yếu tố cấu trúc cộng đồng, truyền

thống sử dụng, bảo tồn và phát huy được các giá trị tự nhiên và nhân văn

- Tiếp cận quản lý tổng hợp vũng - vịnh trong sử dụng, quản lý tài

trong khuôn khổ, hoặc hướng theo, tới quản lý tổng hợp nhằm phát triển bền

vững vũng - vịnh và dải ven bờ biển

II Bản chất tự nhiên vũng - vịnh

1 Phân tích hệ thống

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 9

Xuất phát từ quan điểm mỗi vũng - vịnh là một dạng tài nguyên tổng hợp, một hệ thống tài nguyên, nên việc sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh theo cách tiếp cận nêu trên cần phải hiểu rõ được bản chất tự nhiên vũng - vịnh, tức là cần phải hiểu rõ bản chất vật chất, hình thể, cấu trúc, phân bố, động thái của các hợp phần và quan hệ giữa chúng với nhau và tiến hoá của vũng - vịnh

Việc xác định đúng phạm vi, ranh giới của vũng - vịnh có ý nghĩa quyết

định xác định đúng đắn bản chất của chúng (Pritchard D W, 1967) Trong

trường hợp phạm vi vũng - vịnh được xác định rộng hơn hoặc hẹp hơn ranh giới thật của nó, nó sẽ bớt đi hoặc thêm vào một số thuộc tính, hợp phần làm sai lệch bản chất hệ Bốn chiều ranh giới của thủy vực vũng - vịnh có khả năng phân định khác nhau Chiều phía lục địa, thường là biên cứng dễ phân định đối với các vũng - vịnh (trường hợp với vùng cửa sông đôi khi khá phức tạp, có khi theo hình thái, có khi theo thủy văn - ảnh hưởng của triều, xâm nhập mặn và có khi phải theo chỉ thị sinh học, như sự xuất hiện của các động thực vật ưa mặn lợ Hai chiều phía dọc bờ được phân định cũng tương đối đơn giản, vì thường vũng - vịnh được phân định bằng các mũi nhô Tuynhiên, ranh giới chiều phía biển đôi khi phân định khá phức tạp trong trường hợp có nhiều đảo tham gia che chắn phía ngoài vũng - vịnh như trường hợp vịnh Hạ Long, Bái Tử Long

Trong trường hợp này phải sử dựng tổ hợp các yếu tố: biến đổi địa hình đáy, trầm tích đáy, tính chất hóa, lý của các khối nước, chỉ thị sinh học (sự có mặt của các rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, sự thay đổi cấu trúc quần xã động vật đáy, v.v.)

Cần thiết phải tiến hành nghiên cứu quan hệ của vũng - vịnh với các thủy vực, địa hệ bên cạnh, đặc biệt quan hệ với lưu vực thượng nguồn vì vũng - vịnh

ven bờ là nơi xảy ra tương tác mạnh mẽ giữa lục địa và biển (Trần Đức Thạnh,

1999)

1.1 Đánh giá các yếu tố tự nhiên của vũng - vịnh

Nhờ tài liệu thu thập và khảo sát, có thể đánh giá có hệ thống các yếu tố tự nhiên của vũng - vịnh Theo truyền thống, các yếu tố tự nhiên được đánh giá lần lượt theo các vấn đề hình thái, địa mạo - địa chất, khí tượng - khí hậu, thủy văn

và sinh vật Một bức tranh tổng thể, toàn diện các yếu tố tự nhiên là hết sức cần thiết Tuy nhiên, theo loại hình vũng - vịnh và tư tưởng định hướng sử dụng mà

có thể lựa chọn đánh giá sâu các yếu tố trọng điểm Ví dụ, chỉ riêng với các yếu

tố thủy văn, đối với vịnh biển cần ưu tiên chế độ sóng, khác với cửa sông hình phễu ưu tiên chế độ thủy triều và với cửa sông châu thổ rất chú trọng dòng chảy sông, còn đối với đầm phá nên quan tâm đến dòng mật độ và tính phân tầng của khối nước, dù rằng độ sâu đầm phá rất nhỏ

1.2 Nghiên cứu cấu trúc và các hợp phần cấu trúc của vũng - vịnh

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 10

Các vũng - vịnh ven bờ biển, đương nhiên bao gồm các hợp phần của 4 quyển (địa quyển, thủy quyển, khí quyển và sinh quyển) Tuy nhiên sự khác biệt

về bản chất giữa chúng được bắt đầu từ nền tảng địa quyển Đồng thời khác biệt

về địa quyển của các vũng - vịnh dễ nhận biết và có tính ổn định cao Vì thế, nghiên cứu cấu trúc vũng - vịnh, căn bản nên dựa trên phân tích cấu trúc địa hệ

(Ixachenco A G, 1979)

Cấu trúc thẳng đứng của địa hệ được xem xét theo phần móng đá cứng gần

bề mặt, lớp phủ trầm tích bở rời, lớp phủ nước và sinh vật Lớp phủ trầm tích có thể phân định thành các thành tạo nhỏ hơn như trầm tích Pleistocene, Holocene

và trầm tích mới nhất Lớp phủ nước theo chiều thẳng đứng có thể gần đồng nhất, phân tầng hoặc thậm chí xuất hiện các nêm, các khối nước phủ chờm lên nhau Cấu trúc nằm ngang của địa hệ được xem xét theo mối quan hệ phân bố của các phụ hệ hoặc các tiểu phụ hệ tùy theo mức độ chi tiết Chúng thường tương ứng với các phụ hệ sinh thái nằm trong hệ sinh thái vực nước Một vịnh biển, theo cấu trúc ngang có thể bao gồm các tiểu hệ (hợp phần) như bờ đá gốc, bãi tảng, bãi cát, đáy cứng, đáy mềm, rạn san hô áp sát bờ hoặc chắn bờ, v.v Trong khi ở vùng cửa sông hình phễu yếu tố quan trọng là các kênh, lạch triều và bãi triều, còn ở đầm phá yếu tố quan trọng nhất lại là vực nước đầm phá, cồn chắn và lạch cửa

1.3.Nghiên cứu tương tác giữa các hợp phần và động lực, tiến hóa vũng - vịnh

Bản chất tự nhiên của thủy vực ven bờ có thể bị thay đổi phụ thuộc vào tương tác giữa các hợp phần tự nhiên Xác định được các mối tương tác quyết

định bản chất động lực hệ là rất quan trọng (Permetta et all, 1995)

Các mối tương tác ở tầm vĩ mô ở một vũng - vịnh cần được xem xét là: nội sinh - ngoại sinh, lục địa - biển, biển - khí Sản phẩm của quá trình tương tác là

sự thay đổi về hình thể, dòng vật chất và năng lượng của hệ cũng cần được đánh giá kèm theo Mỗi loại hình thủy vực ven bờ biển có thể có những tương tác có tính quyết định đến động lực và tiến hóa hệ Ví dụ, ở các vùng cửa sông, tương tác lục địa - biển có vai trò rất quan trọng, trong khi ở các vũng - vịnh ven biển, tương tác biển - khí, tạo nên các tác nhân sóng, nước dâng trong bão có thể gây biến cải sâu sắc hình thể (đáy, bờ) và phân bố vật chất trong vũng - vịnh

Tác động tương tác của các yếu tố, hợp phần tự nhiên có thể ở qui mô nhỏ hơn và gây ra những hệ quả cụ thể Đối với tương tác vật chất, cần quan tâm đến các dòng vật chất trầm tích, nước, dinh dưỡng bao gồm các quá trình cung cấp, phân tán, tập trung, đặc biệt là sự chuyển hóa vật chất giữa môi trường tự nhiên

và sinh vật Đương nhiên, mục tiêu định hướng sử dụng vũng - vịnh cho phép phân tích lựa chọn tương tác động lực chủ đạo Nếu là định hướng sử dụng vũng

- vịnh cho phát triển cảng - giao thông cần chú trọng tương tác biển - khí và

động lực biến dạng luồng đáy Nếu là sử dụng theo hướng phát triển nghề cá hay bảo vệ tự nhiên, vấn đề tương tác vật chất dinh dưỡng và động lực hệ sinh thái, quan hệ chuỗi thức ăn trở thành quan trọng hàng đầu

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 11

Tương tác động lực dẫn đến những thay đổi về hình thể và cấu trúc tiến hóa của vũng - vịnh Để hiểu tiến hóa vũng - vịnh phải hiểu được nguồn gốc hình thành nó, những diễn biến phát triển trong quá khứ để dự báo tương lai thủy vực

không thể không hiểu tiến hóa của nó (Roy P S, 1984), nhất là tiến hóa tự nhiên

thủy vực có thể rút ngắn thời khoảng do những tác động sâu sắc của hoạt động nhân sinh Như vậy, đặc điểm phát triển, tiến hóa vũng - vịnh phải được coi là cơ

sở quan trọng đánh giá khả năng sử dụng bền vững, tránh được những sai lầm khi chỉ căn cứ vào hiện trạng

2 Phân loại hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam

2.1 Tổng quan hệ thống vũng - vịnh ven bờ Việt Nam

ở ven bờ Việt Nam có mặt 3 loại địa hệ ven bờ tiêu biểu là các vũng - vịnh, vùng cửa sông (hình phễu, châu thổ và liman) và đầm phá Chúng là kết quả tương tác giữa các quá trình nội sinh và ngoại sinh, là kết quả tương tác giữa các yếu tố động lực ngoại sinh sông, sóng và triều ở dải bờ biển Mỗi loại có những

đặc trưng riêng không chỉ về hình thái mà về quá trình tiến hóa bờ, động lực hình thành và tổ hợp các dạng địa hình phản ánh đặc trưng hình thái đó.Dưới góc độ

địa lý tự nhiên - địa mạo chúng là các địa hệ ven bờ; Dưới góc độ địa chất đó là các thể địa chất hiện đại; Dưới góc độ trầm tích học, chúng là các nhóm tướng trầm tích theo nguồn gốc phát sinh; Dưới góc độ sinh thái, chúng đó là các hệ sinh thái lớn và quan trọng ở dải bờ biển, bao gồm các tiểu hệ thành phần

Bảng 1 Tính chất hình thái động lực đặc trưng của các thuỷ vực ven bờ biển Việt Nam

Các vùng cửa sông Tính chất Vũng - vịnh

Liman Hình phễu Châu thổ

Đầm phá

Yếu tố thuỷ động

Bồi tụ - xâm thực chậm, kiểu bồi tụ rất

lấp đầy

bồi tụ khá

mạnh, kiểu lấp đầy

xâm thực xói

lở ưu thế bồi tụ mạnh, kiểu lấn tiến

bồi tụ mạnh, kiểu lấp đầy

Độ ổn định cửa ổn định lâu dài mùa mạnhbiến động khá ổn định biến động mạnh biến động mạnh

Phân bố ưu thế Trung Bộ và Bắc Bộ Trung Bộ Bắc Bộ và Nam Bộ Nam Bộ, Bắc Bộ và Trung

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 12

2.1.1 Các vùng cửa sông

Hình thái và nguồn gốc các vùng cửa sông thể hiện mối quan hệ động lực sông - sóng - triều, động lực nội sinh đóng vai trò nền

- Các vùng cửa sông châu thổ (deltas)

Việt Nam có hai châu thổ lớn là sông Hồng phía Bắc (diện tích 17 000 km2)

và Mê Kông (diện tích 35 000 km2 thuộc Việt Nam) Ngoài ra còn có các châu thổ ở Trung bộ (Mã, Cả, Thu Bồn, Đà Rằng, v.v) Đặc trưng của châu thổ là quá trình sông ưu thế đối với phát triển bờ và nói chung bờ châu thổ bồi lấn ra phía biển Châu thổ có hai phần: phần nổi (kể cả vùng triều rất rộng) và phần ngầm (Delta front) trải rộng đến độ sâu 15 - 20m ở sông Hồng, 20 - 30m ở sông Cửu Long Về nguồn gốc, châu thổ được tạo nên do sự bồi đắp từ phù sa của các dòng sông Các châu thổ lớn như sông Hồng và Mê Kông đều hình thành trên nền sụt võng của các bồn trũng Kainozoi, có bồi tụ đền bù trầm tích Bề dày trầm tích

Đệ tam ở đây đạt đến hàng nghìn mét và trầm tích Đệ tứ đạt tới bề dày hàng trăm mét Về động lực phát triển, các vùng cửa sông châu thổ là nơi tương tác của ba quá trình động lực ngoại sinh chủ yếu Đó là quá trình sông, sóng và triều Sự thống trị hoặc kết hợp của mỗi một quá trình này tạo nên hình dáng tương ứng của châu thổ Điển hình cho châu thổ sông thống trị là Missisipi, triều thống trị

là Hằng - Brastama pur và điển hình cho sóng thống trị là châu thổ Xênêgan Tuy nhiên, quá trình bồi đắp hiện tại không đồng đều đôi khi tạo ra hình thái lồi lõm của đường bờ và tạo nên các vũng - vịnh không điển hình, như trường hợp vụng mũi Cà Mau và vịnh Rạch Giá - Cây Dương ở ven bờ đồng bằng châu thổ

Mê Kông

- Vùng cửa sông hình phễu (estuarie)

Còn gọi là các cửa sông châu thổ âm Những cảng lớn nhất thế giới thường nằm ở cửa sông hình phễu Việt Nam có hai vùng cửa sông hình phễu điển hình

là cửa sông Bạch Đằng và cửa sông Đông Nai, cũng là nơi có hai cảng lớn là Sài Gòn và Hải Phòng

Cho đến nay, còn có những quan điểm khác nhau về cấu trúc vùng cửa sông hình phễu Định nghĩa Estuary của Pritchard (1967) được nhiều người chú ý nhất Theo ông “Estuary là một thuỷ vực nửa kín ven bờ thông với biển khơi, trong đó

có sự hòa trộn nhất định giữa nước biển và nước ngọt đưa đến từ lục địa” Ông

chia Estuary thành 4 kiểu Kiểu 1 là các thung lũng ngập chìm, thuộc kiểu kinh

điển, hay gặp ở các đồng bằng rộng lớn ven biển và do các yếu tố địa chất khống

chế Kiểu 2 là các fjord nguồn gốc sông băng ngập chìm Kiểu 3 là các Estuary

có đê cát (bar - built) chắn ngoài, ví dụ như Estuary Carolina ở Bắc Mỹ Kiểu này có hình thái đầm phá và thường năng lượng gió có vai trò xáo trộn nước tích

cực thay cho vai trò của thủy triều Kiểu 4 là các Estuary hình thành do các quá

trình kiến tạo tạo nên các vùng sụt hạ ven bờ, ví dụ như vịnh San - Fransisco Day, J (1981) còn mở rộng hơn nữa khái niệm Estuary, coi đó là “ một thuỷ vực ven bờ đóng kín từng phần Nước của nó thường xuyên hoặc có chu kỳ giao lưu với biển, trong đó có sự biến đổi rõ ràng về độ mặn do sự hoà trộn giữa nước

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 13

biển và nước ngọt từ lục địa đưa tới” Dựa theo quan điểm này, Xaphianov (1987)

đề nghị chia Estuary thành 3 nhóm: bình thường, siêu mặn và kín Các nhà địa chất úc, đại diện là Roy, P (1984) Phân chia Estuary ở úc thành 3 kiểu: kiểu thung lũng sông ngập chìm, kiểu có đê cát chắn ngoài và kiểu các hồ nước mặn

đóng kín ven bờ Leeder, M R (1984) cho rằng, động lực của nước và trầm tích trong Estuary liên quan với tương quan cường độ của các quá trình triều, sông và sóng Cũng dựa theo quan điểm của Pritchard, ông chia Estuary thành 4 kiểu

theo cân bằng độ muối thể hiện tính phân tầng Kiểu A, phân tầng mạnh, quá trình lòng sông thống trị, bồi tụ mạnh Kiểu B, hòa trộn từng phần, nghiêng về bồi tụ, là kiểu phổ biến Kiểu C, đồng nhất theo phương thẳng đứng trên mặt cắt ngang, dòng triều mạnh và không bồi tụ đáy Kiểu D, đồng nhất theo phương

thẳng đứng và theo dọc luồng chảy, chuyển động vật chất hoàn toàn do dòng triều thống trị và xâm thực mạnh luồng

Dưới góc độ địa chất, phổ biến quan niệm coi Estuary là một vùng hạ lưu sông, thường có dạng hình phễu, bị ngập chìm không đền bù trầm tích, và thuỷ triều có vai trò quan trọng Những đặc điểm này mang tính phổ biến, phù hợp với những Estuary lớn và điển hình của thế giới như Xen, Jironda (Pháp), Thame, Mersey (Anh), Rein, Maas (Hà Lan), Potomac(Mỹ), La - plata (Nam Mỹ), Dương Tử (Trung Quốc) (Xamoilov, 1952) Theo quan điểm tướng và môi trường trầm tích, luôn có sự phân biệt rõ ràng Estuary với vùng cửa sông châu

thổ và đầm phá (Krasenhinnhikov, 1971; Leeder, 1984)

ở Việt Nam, từ lâu Xamoilov (1952) đã xếp cửa sông Đồng Nai vào kiểu Estuary Kiểu loại Estuary của vùng cửa sông Bạch Đằng đã được đề cập trong một số công bố (Trần Đức Thạnh, 1991; 1993) Xét về mặt hình thái, có một số vùng cửa sông hình phễu có hình thái vịnh và tên gọi dân gian có khi vẫn quen gọi là “vịnh” như trường hợp vịnh Tiên Yên - Hà Cối (Trần Đức Thạnh, 1991; Nguyễn Hữu Cử và nnk, 2003), vịnh Cửa Lục (Nguyễn Hữu Cử và nnk, 1996), vịnh cửa sông Bạch Đằng (Lê Bá Thảo, 1990) hay cả vịnh Ghềnh Rái ở vùng cửa sông hình phễu Đồng Nai Tuy nhiên, về bản chất nguồn gốc hình thành,

động lực nội tại và tiến hoá, chúng thuộc về vùng cửa sông hình phễu (Estuary) Những trường hợp tương tự cũng gặp nhiều trên thé giới như trường hợp vịnh San-Fransisco và Cheasepeare ở Mỹ và vịnh Componthom ở Campuchia

- Cửa sông Liman

Sukin, C.(1938) cho rằng bản chất nguồn gốc hình thành Liman tương tự vùng cửa Estuary và những Estuary ở vùng không có thuỷ triều và thường có doi

cát chắn cửa thì được gọi là cửa sông Liman Sau này, Krasenhinnhikov (1971)

cũng có quan điểm tương tự Theo Vũ Văn Phái (1988), cửa sông Liman khá phổ biển ở ven bờ miền Trung Như vậy, bản chất hình thành của Liman cũng là do ngập chìm không đền bù bồi tích vùng cửa sông ven bờ trong điều kiện thuỷ triều biên độ nhỏ và động lực sóng đáng kể Thường thì các doi cát dọc bờ chắn cửa sông do dòng bồi tích di chuyển dọc bờ tạo nên do sóng Xét về hình thái, một số cửa sông kiểu Liman ở miền Trung được một số người gọi là “Châu thổ trung tính” Nó đôi khi cũng có hình thái vịnh theo nghĩa dân gian Tuy nhiên,

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 14

tính chất khép kín vực nước lại do các doi cát tạo ra, không phải từ các mũi nhô

đá gốc

2.1.2 Đầm phá (Coastal lagoons)

Theo Phleger (1981), là một loại hình thủy vực ven bờ nước lợ, mặn hoặc

siêu mặn, được ngăn cách với biển bởi một đê cát và có cửa (inlet) ăn thông với biển phía ngoài Cửa có thể mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa, thậm chí bị đóng kín nhưng vẫn trao đổi với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấm qua chính đê cát chắn Đầm phá là một loại hình thủy vực ven bờ có mặt phổ biến ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờ đại dương thế giới (Nichols and Allen, 1981)

Đầm phá ven bờ Việt Nam tập trung ở Trung bộ, chiếm khoảng 21% chiều dài đường bờ biển Việt Nam với 12 chiếc (Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô, Trường Giang, An Khê, Nước Mặn, Thị Nại, Cù Mông, Trà ổ, Nước Ngọt, Ô Loan, Thủy Triều và Nại) Đầm phá hình thành ở vùng sóng mạnh, giàu bồi tích cát để tạo nên các cồn cát phân cách vực nước đầm phá với biển Đầm phá thường có hình dạng kéo dài, thông với biển qua một cửa Riêng hệ Tam Giang - Cầu Hai thông với biển qua hai cửa (đột biến tới 5 cửa như vào trận lũ tháng 11 năm 1999) vực nước đầm phá thường nông, trung bình chỉ 1 - 2m Đầm phá là những ốc đảo giàu có nằm ở vùng bờ nghèo kiệt ở đây giàu tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển cảng, bến cá Hiện tượng dịch chuyển, lấp cửa của một số cửa đầm phá (Tam Giang - Cầu Hai, Trà ổ, Ô Loan) gây nhiều hậu quả môi trường sinh thái Tổng diện tích của 12 đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam vào khoảng 457,8 km2, trong đó hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế) là lớn nhất và cũng thuộc loại lớn trên thế giới (đứng sau các lagun Mard (dài 200 km) và Santo Domingo (dài 100 km)

Theo hình thái động lực, Nichols, M and Allen, G (1981), đã phân biệt lagun ven bờ đại dương thế giới thành 4 kiểu - Lagun cửa sông (estuarine lagoon), lagun hở (open lagoon), lagun kín từng phần (partly closed lagoon) và lagun đóng kín (closed lagoon)

Cũng theo nguyên tắc đó, đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam được phân biệt thành 3 kiểu: gần kín (Tam Giang - Cầu Hai, Trường Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều và Nại); kín từng phần (Lăng Cô, Nước Mặn, Nước Ngọt và Ô Loan) và đóng kín (An Khê và Trà ổ)

Theo tính chất độ mặn, kết quả của các quá trình động lực trao đổi nước, các đầm phá ven bờ miền Trung hình thành 3 nhóm: nhóm lợ và lợ - nhạt (Tam Giang - Cầu Hai, Trường Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều và Nại); nhóm

lợ - mặn (Nước Mặn, Nước Ngọt) và nhóm mặn - siêu mặn (Lăng Cô, An Khê,

và Ô Loan)

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 15

2.1 3 Vũng - vịnh (bay and embayment)

Vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam được hiểu là “một phần của biển lõm

vào lục địa hoặc do đảo chắn tạo thành một vùng nước khép kín ở mức độ nhất định mà trong đó động lực biển thống trị ”

Các vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam được tạo nên do có các mũi nhô, bán

đảo, đảo chắn Động lực phát triển bờ vịnh chủ yếu là sóng thống trị, trừ vịnh Hạ Long đông bắc triều thống trị Trao đổi nước trong vịnh thường rất tốt, hay có mặt bãi cát biển, thềm mài mòn và vách đá, rạn san hô Bờ vách nói chung khá

ổn định

Hệ thống vũng - vịnh ven bờ gồm 48 chiếc, phân bố kéo dài trên 10 vĩ độ bắc trên dọc bờ biển, từ Bắc vào Nam, thuộc các vùng địa lý khác nhau (bảng 2) Mặc dù diện tích mặt nước các vũng - vịnh chỉ bằng 1,4% diện tích đất liền và 0,44% diện tích vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm, vô cùng quan trọng

đối với phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước

Bảng 2 Kiểm kê hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam theo hải đồ tỷ lệ 1:100 000

Trang 16

15 Vông An Hoµ Nam Qu¶ng Nam: Nói Thµnh 1515029’- 31’ 108108 040’-41’ 3

16 VÞnh Dung QuÊt B¾c Qu¶ng Ng·i: B×nh S¬n 15150023’- 29’ 108

Trang 17

42 Vũng Phan Rí Bắc Bình Thuận: Tuy Phong 1111002’- 12’ 108108 028’-43’ 135

43 Vịnh Phan Thiết Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 10100042’- 57’ 107

2.2 Phân loại vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam

2 2 1 Kiểu loại và tính chất chuyển tiếp về hình thái và bản chất với các kiểu

thuỷ vực khác

Theo tất cả các từ điển tiếng Việt và nước ngoài, Vịnh (cả trường hợp Bay

và Gulf) thường chỉ được định nghĩa một cách đơn giản theo khái niệm hình thái,

đó là phần lõm vào phía lục địa của biển hoặc hồ ở phía hai đầu phần lõm, có thể xuất hiện một hoặc hai mũi nhô dạng bán đảo Như vậy, như vậy, quá trình thuỷ động lực trong vịnh là quá trình biển và sự khác biệt với biển hở bên ngoài chỉ là tính chất khép kín hơn và độ sâu có thể nhỏ hơn Trên thực tế, nhiều vịnh không phải hình thái lõm và là những khu vực biển có tính chất kín hơn nhờ hệ thống đảo che chắn như trường hợp Hạ Long và Bái Tử Long

Khái niệm vịnh thông dụng về mặt hình thái trong hệ thống tiếng nước ngoài bao gồm các từ chỉ cấp độ khác nhau là: Gulf, Bay và Bight Gulf và Bay trong tiếng Việt đều được gọi là Vịnh, còn Bight có thể tạm gọi là Vụng Tuy nhiên, trong các văn liệu nước ngoài chưa thấy có sự phân biệt nào về quy mô diện tích hay độ sâu để phân biệt giữa Gulf và Bay, nhưng về đặc trưng địa mạo

và địa chất thì có thể phân biệt rõ Gulf thường chiếm một không gian rộng lớn của thềm lục địa và nhiều vịnh chỉ phơi lộ trong điều kiện mực biển hạ thấp trong băng hà lần cuối (Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan ở Việt Nam) Trong khi

đó, hầu hết các Bay nằm ở dải ven bờ (theo nghiã hẹp), độ sâu không lớn và chỉ

được hình thành và phát triển trong thời gian biển tiến sau băng lần cuối (biển tiến Holocen)

Rất nhiều trường hợp, vịnh (Gulf) bao gồm khá nhiều vịnh (Bay) Vì thế, có thể gọi gulf là vịnh biển, còn bay là vịnh ven bờ Tuy nhiên, có thể gọi tắt cả hai trường hợp đều là vịnh

Trong tiếng nước ngoài còn có khái niệm Embayments, tạm dịch là vịnh bờ

đá Theo David A.R (2003) đó là các thung lũng sông ngập chìm, Embayments

đại dương, Rias và Fjords, là một trong 7 kiểu thuỷ đạo cơ bản, là một vùng lõm

bờ đá gốc tiêu biểu ở Auatralia, vịnh bờ đá xuất hiện dọc bờ đá cứng, là những

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 18

địa hình trũng hoặc vết lõm chưa bị trầm tích sông hoặc biển bồi lấp đáng kể Hình thái của vịnh bờ đá có thể là các vịnh (bay) rộng và tròn, có thể là các vịnh lõm sâu và uốn lượn, có thể là hệ thống thung lũng sông ngập chìm hẹp và có dạng nón Nói chung, vịnh bờ đá có bờ cấu tạo từ đá gốc, dốc, có cửa khá thoáng, rộng, trao đổi tự do với biển và tương đối sâu so với các thuỷ đạo khác ở ven bờ

Địa hình ngầm khá bằng phẳng và thoải dần ra phía biển Lưu lượng sông đổ vào tương đối nhỏ so với tổng khối nước chứa trong vịnh và nước trao đổi với biển

Có thể coi vịnh Xuân Đài ở Phú Yên thuộc kiểu vịnh bờ đá Vịnh này hầu như toàn bộ là bờ đá gốc, diện tích khá lớn (61 km2), độ sâu trung bình 10m và sâu nhất 20m

Bảng 3 So sánh thuật ngữ tương đương các vũng - vịnh có mặt tại Việt Nam

Gulf Vịnh biển Nằm trên một vùng rộng lớn của thềm lục địa, hoặc vùng biển nước sâu Trên đáy có thể có mặt trầm tích di tích hoặc

các di tích các dạng địa hình cổ

Nằm trong dải bờ biển, độc lập hoặc là một phần của vịnh biển độ sâu thường không vượt quá 30m, là nơi xảy ra quá trình bờ mạnh mẽ và tương tác lục địa và biển rất rõ Thường không có mặt các trầm tích di tích

Embayment Vịnh bờ đá Nằm trong dải bờ biển, độc lập, hoặc là một phần của vịnh biển Bờ xâm thực mài mòn ưu thế Bờ đá gốc là chủ yếu Bight (vụng) Vũng Nằm trong dải bờ biển, độc lập hoặc là một phần của vịnh ven bờ Vùng lõm khá thoải và tương đối hở Đường bờ

Do không có sự phân biệt rõ ràng trong từ tiếng Việt chỉ các từ tiếng nước ngoài tương đương Gulf, Bay, Embayment, Bight, Shelter, mà chỉ được gọi chung là vũng - vịnh, chúng tôi đề nghị chia vũng - vịnh ven bờ Việt Nam thành

3 cấp cơ bản

- Cấp 1: vịnh biển (Gulf)

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 19

- Cấp 2: vịnh ven bờ (bay), trong đó có cả vịnh bờ đá

- Cấp 3: vũng hoặc vụng (Bight và Shelter), trong đó vũng chỉ hình thái hở

- Mối quan hệ về hình thái giữa cửa sông hình phễu và vũng - vịnh Một số

vùng cửa sông hình phễu có hình thái lõm vào giống vịnh và tên dân gian cũng gọi là vịnh, như trường hợp vịnh Ghềnh Rái, hoặc có người còn gọi là vịnh Đồ Sơn (Hải Phòng) Trường hợp này, sự khác biệt giữa hai kiểu loại là sự tương tác giữa biển và sông khác hẳn nhau giữa vịnh và cửa sông hình phễu, thể hiện qua

độ mặn và tính chất phân tầng nước (rõ hơn ở vùng cửa sông hình phễu) Trường hợp hình thái vịnh, nhưng bản chất động lực cửa sông hình phễu cũng gặp ở vụng Cửa Lục (có tài liệu ghi là vịnh Cửa Lục) và vịnh Tiên Yên - Hà Cối Có thể coi đây là dạng chuyển tiếp giữa vùng cửa sông hình phễu và vũng - vịnh mà

độ mặn thường cao cũng là một biểu hiện

- Mối quan hệ về hình thái giữa châu thổ và vũng - vịnh Do hình thái lõm

nhẹ vào phía lục địa mà gọi vịnh là trường hợp vịnh Cây Dương ở phía tây bán

đảo Cà Mau Thực chất, đây không phải là vịnh vì quá trình châu thổ (sông) thắng thế

- Mối quan hệ về hình thái giữa đầm phá và vũng - vịnh Một số đầm phá

(Lăng Cô), hoặc một phần của đầm phá (đầm Cầu Hai) có hình thái khá giống các vụng và trên một số bản đồ có ghi là “vụng”, thực chất đó là các đầm phá (lagoon) ngăn cách với biển qua các cồn cát chắn Nhưng sự khác biệt có tính bản chất chính là quá trình thuỷ động lực, mà rõ nhất là tính phân tầng cao ở

đầm phá và phân tầng rát yếu ở các vụng

Ngược lại có vịnh lấp đầy, nước nông do quá trình bồi tụ mạnh lại được gọi

là đầm như trường hợp đầm Nha Phu ở Phú Yên Tính chất này thể hiện xu thế tiến hoá của vịnh chuyển tiếp sang một hình thái khác, có thể là dạng cửa sông Trong các vũng - vịnh lớn có khi tồn tại các đầm phá như đầm Thuỷ Triều 16 ha, nằm trong vịnh Cam Ranh có diện tích tổng số 87 ha

3 Các đặc trưng cơ bản của vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam

3.1 Mối quan hệ giữa hình thái bờ với đặc điểm địa chất

Tính chất đóng kín vũng - vịnh chủ yếu do cấu tạo địa chất bờ và động lực nội sinh gây nên, động lực ngoại sinh đóng vai trò tham gia

Cấu trúc địa chất, đặc biệt là phương của các yếu tố kiến trúc chính, chuyển

động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại có vai trò quan trọng đối với đặc điểm phát triển, tiến hoá đới bờ nói chung và các mũi nhô nói riêng Chính các mũi nhô này là nền tảng cho sự hình thành và tạo dáng vũng - vịnh Hoạt động kiến tạo ở

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 20

nhiều đoạn bờ khá mạnh mẽ đã hình thành nên các bồn trũng lớn nhỏ bị ngập chìm nằm sát bờ, chính là các vịnh Chúng bị lấp đầy ở mức độ khác nhau trong biển tiến Holocen ở dải ven bờ Việt Nam có mặt các cấu trúc từ tiền Cambri

đến Kanozoit Các cấu trúc tiền Cambri có mặt ở Trung Bộ, từ mũi Ba Làng An

đến Tuy Hoà, nơi có thềm lục địa hẹp nhất Cấu trúc Paleozoit có mặt từ Móng Cái đến Hải Phòng Cấu trúc Mezozoit phân bố từ Thanh Hoá đến Vinh và từ Tuy Hoà về phía Nam Trung Bộ Có thể nhận thấy rõ mối quan hệ giữa kiến trúc

địa chất và hình thái vịnh

- ở nơi kiến trúc chính song song với bờ, vịnh được tạo nên do hàng loạt

đảo chắn như các vịnh Bái Tử Long và Hạ Long nằm ở bờ biển Dalmatic Trục lòng vịnh thường trùng các bồn trũng sụt hạ trong tân kiến tạo và kiến tạo hiện

đại

- ở nơi cấu trúc chính xiên góc với bờ, vịnh được tạo nên nhờ một hoặc một số các mũi nhô và hình thái bờ mang sắc thái kiểu Rias Trục lòng vịnh thường trùng trục các thung lũng sông bị ngập chìm

Như vậy, tính chất đóng kín của vũng - vịnh do cấu tạo địa chất bờ quyết

định Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vài trò của yếu tố ngoại sinh cũng rất quan trọng khi tạo ra các dạng tích tụ kiểu cồn đụn, doi cát tự do hay doi cát nối

đảo làm vịnh kín thêm Trường hợp vịnh Văn Phong và cả vịnh Cam Ranh có doi cát nối đảo phát triển thành cồn đụn đã làm vịnh kín thêm nhiều

Hình thái bờ vịnh Việt Nam có thể được chia thành một số nhóm như sau:

- Nhóm bờ vũng - vịnh chịu ảnh hưởng rõ của các yếu tố kiến tạo, ít chịu

ảnh hưởng của các quá trình biển hiện tại Đặc trưng cho kiểu này là vịnh đảo ở khu vực Bái Tử Long Nhiều đoạn bờ đá gốc thẳng và khá đơn giản, phản ánh những nét chính của kiến trúc địa chất (đứt gãy, khối nâng, hạ)

- Nhóm bờ vũng - vịnh đá gốc chủ yếu chịu tác động của các quá trình xâm thực và bào mòn do sóng, tạo nên hình thái dạng răng cưa Nhóm này phổ biến ở Trung Trung bộ và Nam Trung Bộ với chiều dài bờ đá gốc lớn hơn bờ tích tụ bãi cát biển Đây thường là nơi nguồn bồi tích từ lục dịa đưa ra hạn chế

- Nhóm bờ vũng - vịnh đá gốc chịu tác động của quá trình xâm thực, ăn mòn hoá học gặp ở các khu vực vịnh Hạ Long và Lan Hạ, nơi phổ biến các đảo

đá vôi lớn Hình thái bờ vô cùng phức tạp phản địa hình Karstơ trước biển tiến Holocen và quá trình ăn mòn hoá học của biển hiện đại

Độ sâu trung bình của các vịnh phổ biến 10 - 15m Độ sâu trung bình lớn nhất là các vịnh Phan Rang (28m); Phú Yên (25m) và Bình Cang (22m)

3.2 Các yếu tố hình thái cơ bản của vũng - vịnh

Các yếu tố hình thái cơ bản của một vũng - vịnh có thể phân biệt như sau:

- Bờ vịnh: bờ đá gốc, bờ cát (bãi cát biển) và có thể có những đoạn bờ bùn

Nói chung bờ đá gốc phổ biến nhất Trong trường hợp bờ vũng - vịnh hầu như là

đá gốc thì gọi là vịnh bờ đá Bờ cát phổ biến ở một số vịnh, nơi tác động của

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 21

sóng mạnh và nguồn bồi tích cát phong phú cung cấp tờ phá huỷ các mũi nhô hoặc đưa ra từ các sông gần đấy Bờ bùn có thể xuất hiện ở vịnh thuỷ triều thống trị (ven bờ Đông Bắc), hoặc khu vực lân cận cửa sông đổ vào vịnh

- Mũi nhô: thường cấu tạo từ đá gốc rắn chắc và có khi vươn xa ra phía biển tạo nên hình thái bán đảo Các vũng - vịnh thường có ít nhất một mũi nhô che chắn, có khi hai mũi nhô chính che chắn Một số vịnh lớn có thể thêm những mũi nhô nhỏ trong cung bờ vịnh

- Lòng vũng - vịnh: là phần không gian chủ yếu của vũng - vịnh và bao gồm

nhiều dạng địa hình khác nhau như luồng lạch ngầm, các mỏm đá ngầm, các rạn san hô (kiểu viền bờ là chính, hiếm khi gặp kiểu chắn bờ) Địa hình lòng vịnh thường thoải, sâu dần ra phía trục lòn chính của vũng - vịnh và sâu dần ra phía cửa Một số vịnh ven bờ Đông bắc như Hạ Long và Bái Tử Long có các luồng lạch rất sâu

- Cửa vũng - vịnh: đó là khoảng không gian nằm giữa hai mũi nhô xa nhất

của vịnh Phía ngoài cửa vũng - vịnh là chế độ biển hở Phía trong cửa vịnh, chế

độ hoàn lưu nước mang đặc điểm khác

- Đảo chắn hoặc đảo nằm trong vịnh: có thể một hoặc nhiều, góp phần

khép kín vịnh và làm phức tạp hoàn lưu nước trong vịnh Bờ các đảo vùng nước trong thường là nơi phát triển các rạn san hô ngầm Phổ biển bờ đảo đá gốc Một

số đảo lớn có thể có các bãi cát biển quy mô lớn như trường hợp Ngọc Vừng, Cô Tô

Các dạng địa hình cơ bản của vũng - vịnh, về nguồn gốc phát sinh thuộc về hai nhóm chính

- Nhóm các dạng địa hình kế thừa ít chịu ảnh h ưởng của quá trình biển Đó

là hệ thống bờ biển kiểu Dalmatic, các đảo và hệ thống luồng lạch ngầm ở các vịnh ven bờ Đông bắc và một số vũng - vịnh nhỏ bờ đá gốc ở Trung và Nam Trung Bộ

- Nhóm các dạng địa hình hình thành do các nhân tố động lực biển trong

biển tiến sau băng hà lần cuối Có thể kể ra các dạng hình thành do động lực sóng thống trị như bãi cát biển, đụn và doi cát ven bờ vũng - vịnh, vách đá tạo nên do sóng phá sập và quá trình trọng lực, thềm mài mòn, v.v Các dạng địa hình thành tạo do ưu thế quá trình triều như doi cát triều, lạch triều, bãi triều lầy, v.v

Bảng 4 Phân bố các dạng địa hình cơ bản ở các thuỷ vực ven bờ biển Việt Nam

Dạng địa hình

Vũng - vịnh

Đầm phá Cửa sông

hình phễu

Châu thổ Nhóm tích tụ

Bãi cát biển (beaches) xxx xxx x x

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 22

Doi cát (sand spits) x xx xx x

Cồn đụn cát (sand dune) x xxx x x

Đê cát, giồng cát (sand beach ridges) 0 0 xx xxx Bãi lầy sú vẹt (mangrove marshes) x x xxx xx Bãi triều (tidal flats) x xx xxx xxx Rạn san hô (coral reefs) xxx 0 0 0

Nhóm xâm thực

Lạch triều nhỏ (Tidal creeks) x x xxx xx Lạch triều lớn (Tidal channel) x x xxx xx

Bờ đá gốc và thềm mài mòn (Rocky

3.3 Đặc trưng điều kiện thuỷ động lực của vịnh

Điều kiện động lực biển và độ mặn biển thống trị trong vũng - vịnh Do nằm ở ven bờ, vũng - vịnh chịu ảnh hưởng của dòng chảy sông, sóng và thuỷ triều ảnh hưởng của dòng chảy sông thường nhỏ và không đáng kể so với động lực biển

Các vũng - vịnh ven bờ Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của cả quá trình sóng và thuỷ triều Tuy nhiên, mức độ tác động của mỗi yếu tố phụ thuộc vào các vùng phân bố và cả hình dạng, mức độ đóng kín và độ sâu của vũng - vịnh Nếu các vịnh có nhiều đảo chắn, hoặc có các mũi nhô vươn ra ra phía biển thì tác

động của sóng giảm hẳn

Các vũng - vịnh ven bờ Đông bắc thường có triều thống trị và các vũng - vịnh ven bờ Trung bộ có sóng thống trị Yếu tố động lực sông có vai trò quan trọng hơn đối với các vịnh Bắc Trung Bộ, ví dụ như trường hợp vịnh Diễn Châu

Về cơ bản, trong vũng - vịnh, quá trình biển thống trị Khối nước ngọt đưa

ra vũng - vịnh tuỳ thuộc diện tích lưu vực và điều kiện khí hậu (khô nóng hay mưa nhiều) Nói chung, khối nước ngọt rất nhỏ so với khối nước biển và sự hoà trộn nước biển - nước ngọt xảy ra nhanh chóng, ít gây hiện tượng phân tầng khối nước Do tác động của lực coriolis, dòng triều lên xuống thường gây nên hoàn lưu xoáy trong vũng - vịnh Cộng hưởng triều có thể xảy ra trong vũng - vịnh Dòng chảy gió trong vũng - vịnh đôi khi có vai trò quan trọng Bay hơi nước không gây tác động lớn

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 23

3.4 Quá trình và đặc trưng thành phần trầm tích bờ và đáy

Phần lớn các vũng - vịnh có nguồn cung cấp bồi tích hạn chế, từ các sông suối nhỏ lục địa đưa ra, từ di chuyển ngang từ đáy vào bờ và nguồn phá huỷ đá gốc từ các mũi nhô Tại nhiều vịnh, nguồn cung cấp trầm tích nguồn gốc sinh vật vỏ vôi như thân mềm, san hô có vai trò khá quan trọng ít vịnh có nguồn trầm tích từ sông đổ vào đáng kể như trường hợp vịnh Đà Nẵng Những vịnh có thủy triều thống trị, dòng triều hoà cùng dòng chảy ven bờ mang đến và lắng đọng vật chất mịn như bùn bột nhỏ hoặc bùn sét bột, như trường hợp các vịnh Hạ Long và Bái Tử Long

Môi trường trầm tích trong vũng - vịnh khá đa dạng, mặc dù có diện phân

bố rất khác nhau Có thể phân biệt các dạng môi trường chính như bãi biển, bãi triều (có thể có hoặc phổ biến bãi lầy sú vẹt), cửa sông, lạch triều và lòng vịnh Trầm tích vũng - vịnh có thể thấy rõ sự khác biệt qua hai nhóm động lực sóng thống trị và động lực triều thống trị Đối với các vịnh động lực sóng thống trị như phổ biến ở miền Trung, trầm tích hạt thô cát và bột lớn là thành phần chủ yếu và đặc điểm phân bố mang tính quy luật là mịn dần khi xa bờ Trầm tích thô phân bố ở các bãi biển, thậm chí có mặt tảng, khối nằm phủ trên mặt thềm mài mòn ở các đoạn bờ đá gốc Trầm tích nhóm mịn phân bố ở các cửa sông, bãi triều hoặc đáy kênh lạch trong vịnh

Đối với các vịnh thuỷ triều thống trị, trầm tích có thành phần rất phức tạp, mặc dù hợp phần mịn chiếm ưu thế và quy luật phân bố trầm tích thường không

rõ do ảnh hưởng của các yếu tố kế thừa và của hoạt động sóng và dòng triều Trong các vịnh kiểu này khá phổ biến các lạch triều kế thừa, vốn là các thung lũng sông cổ được duy trì bằng xâm thực sâu của dòng triều hiện nay và trầm tích phủ có khi rất mịn (bùn sét bột)

3.5 Các hệ sinh thái tiêu biểu trong vịnh

Trong các văn liệu thường gặp, chưa có văn liệu nào chính thức gọi “hệ sinh thái vũng - vịnh” (bay or embayment ecoystem), tương tự như cách gọi “hệ sinh thái cửa sông” (estuarine ecosystem) hay hệ sinh thái đầm phá (lagoonal ecosystem) Có lẽ xuất phát từ định nghĩa vũng - vịnh được coi là một phần lõm vào của biển, nên về cấu trúc và dòng vật chất không tạo nên một hệ sinh thái hoàn chỉnh, mặc dù trong vịnh có nhiều tiểu hệ sinh thái Tuy nhiên, trên thực tế

ở Việt Nam, nhiều vũng - vịnh có cấu trúc khá kín, tạo nên sự cách biệt rất lớn với bên ngoài, có những đặc trưng riêng và tính hoàn chỉnh về cấu trúc quần xã sinh vật, có dòng vật chất và quá trình sinh thái nội tại, thể hiện rõ sự trao đổi vật chất với không gian ngoài hệ vũng - vịnh Trong trường hợp này, ví dụ các tùng áng ở Cát Bà, hay vịnh kín nhưng kích thước lớn như vịnh Cam Ranh ở Khánh Hoà, có thể coi vũng - vịnh tương ứng với một hệ sinh thái độc lập

Dù trong trường hợp không tạo thành một hệ sinh thái độc lập, các tiểu hệ sinh thái trong vũng - vịnh cũng khá đặc thù và khác biệt với các hệ sinh thái ngoài phạm vi không gian vũng - vịnh Vì vậy, chúng tôi đề nghị cứ dùng khái niệm “hệ sinh thái vũng - vịnh” trong tiếng Việt, với hàm ý có thể là một hệ sinh

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 24

thái độc lập, có thể gồm một số tiểu hệ sinh thái đơn lẻ, nhưng đặc thù cho vũng

- vịnh

Hệ sinh thái vũng - vịnh bao gồm nhiều tiểu hệ sinh thái có quy mô phân

bố rất khác nhau Những hệ sinh thái đặc trưng cho vũng - vịnh thường là: hệ sinh thái bãi cát biển; hệ sinh thái đáy mềm; hệ sinh thái đáy cứng; hệ Sinh thái rạn san hô; hệ sinh thái thảm cỏ biển ở những vũng - vịnh thuỷ triều thống trị, những hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái bãi triều có thể chiếm vị trí quan trọng ở những vũng - vịnh có sông đổ vào, hệ sinh thái cửa sông có thể giữ vai trò quan trọng ở các vịnh có các đảo đá vôi lớn, có mặt một loại sinh thái

đặc thù Đó là hệ sinh thái tùng áng, bản chất là phát triển trên nền các hồ nước mặn hoặc các vũng hẹp có nguồn gốc là các phễu, giếng hoặc thung lũng Karstơ

bị ngập chìm nước biển Phần lớn các vịnh nước trong, độ mặn cao, ít biến động

về địa hình đáy, nên các hệ sinh thái ổn định hoặc diễn thế rất chậm Vì vậy, đa dạng sinh học khá cao, đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và đáy cứng

3.6 Nguồn gốc hình thành và tiến hoá vũng - vịnh

Hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam đều nằm ở rìa phía trong thềm lục địa, độ sâu thường không vượt quá 30m, vì thế tất cả chúng đều được hình thành trong biển tiến Holocen Tuy nhiên, tuỳ theo vị trí cấu trúc địa chất, chuyển động kiến tạo hiện đại và ảnh hưởng của các quá trình ngoại sinh tại khu vực bờ biển mà chúng có mặt (sông, sóng và dòng chảy ven bờ) và sự phát triển, tiến hoá của chúng rất khác nhau Chúng là những thung lũng xâm thực đá gốc trong giai đoạn trước biển tiến Holocen bị biển làm ngập chìm trong quá trình biển tiến Có thể phân biệt thành ba nhóm

- Nhóm thu hẹp dần: đây là nhóm phổ biến nhất

- Nhóm mở rộng dần: có mặt ở khu vực ven bờ Đông bắc (Bái Tử Long và

Hạ Long), nơi có những đồng bằng thấp ven vịnh, quá trình dâng cao mực biển trong điều kiện thiếu hụt bồi tích và xói lở bờ trầm tích bở dời đã dẫn

đến mở rộng vịnh

- Nhóm t ương đối ổn định

Trong quá trình phát triển và tiến hoá, kể từ biển tiến mở rộng cực đại vào Holocen giữa, xu thế ban đầu vịnh bờ đá phổ biển, rồi sau đó chuyển thành vịnh Cùng với sự phá huỷ dần mũi nhô đá gốc và bồi tụ bờ vịnh, nói chung, vũng - vịnh có xu thế hẹp dần, nông dần và san bằng địa hình đáy

4 Các chỉ tiêu hình thái - động lực cơ bản của vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam

Tổng hợp các chỉ tiêu hình thái động lực của từng vũng - vịnh trình bày ở bảng 5

nhieu.dcct@gmail.com

Trang 25

Bảng 5 Tổng hợp các chỉ tiêu động lực – hình thái các vũng-vịnh ven bờ biển Việt Nam

Đảo chăn

Mức độ

đóng kín

Thủy triều (độ lớn triều)

Cấu tạo thạch học

Trang 26

25 Vg Xu©n H¶i Nhá Lín x x Hë Mic C¸t x

Ghi chó: TB- trung b×nh; Mac- triÒu lín; Mes – triÒu võa; Mic – triÒu nhá

Trang 27

4.1 Kích thước (diện tích)

Các vũng - vịnh xuất hiện dọc theo chiều dài bờ và các đảo lớn Kết quả thống kê trên hải đồ tỷ lệ 1/100.000 [1] cho biết ven bờ biển Việt Nam có 48 cái với tổng diện tích khoảng 3 897 km2 ở mức độ khái quát, các vũng - vịnh này

có diện tích phổ biến từ 50 - 150 km2, lớn nhất là vịnh Bái Tử Long với diện tích

560 km2 và nhỏ nhất chỉ 1,5 km2 (vụng Ông Diên - Sông Cầu, Phú Yên) ở mức

độ chi tiết hơn, kích thước của chúng được chia thành các nhóm: rất nhỏ, nhỏ, trung bình, lớn Giá trị trung bình về diện tích của 48 vũng - vịnh ven bờ là trong phép thống là 81,1 km2 Phân cấp vũng - vịnh theo nhóm chỉ tiêu kích thước: diện tích rất nhỏ dưới 10 km2 ; nhỏ 10 - 50 km2 ; trung bình 50 - 100 km2 ; lớn trên 100 km2 (bảng 6)

Bảng 6 Đặc trưng các nhóm vũng - vịnh theo chỉ tiêu kích thước STT Nhóm Tổng diện tích (km 2 )

Số lượng (cái)

Phần trăm diện tích (%)

Phần trăm số lượng (%)

Bảng 7 Tỷ lệ nhóm vũng - vịnh phân loại theo độ sâu

TT Nhóm độ sâu Số lượng (cái) Tỷ lệ theo số lượng (%)

Trang 28

Giá trị độ sâu trung bình của toàn hệ thống vũng - vịnh là 11,5m, phổ biến trong khoảng 5 - 15m, lớn nhất không quá 30m Nhóm vũng - vịnh có độ sâu lớn

và trung bình chủ yếu tập trung tại Trung Bộ, từ Vịnh Diễn Châu (Nghệ An) đến vịnh Phan Thiết (Bình Thuận) và các đảo tương đối xa bờ (vịnh Cô Tô, vịnh Côn Sơn, v.v) Vũng - vịnh có độ sâu nhỏ chủ yếu phân bố ở phần đông bắc bờ biển

Việt Nam: vịnh Tiên Yên - Hà Cối, Quán Lạn (Vân Đồn), Bái Tử Long, v.v

4.3 Hình thái vũng - vịnh

Hình thái vũng - vịnh ven bờ Việt Nam rất đa dạng và có thể phân thành 2 nhóm cơ bản: đẳng thước và kéo dài (bảng 8) Một vũng - vịnh có hình thái đẳng thước, về mặt kích thước có chiều dài và chiều rộng tương đối bằng nhau, thông

ra biển có thể bằng một hoặc vài cửa Vũng - vịnh nhóm kéo dài có hình cánh cung, ít ăn sâu vào lục địa, hơi lõm vào so với xu thế chung của đường bờ, chiều dài lớn hơn rất nhiều so với chiều rộng, thông ra biển bằng một hay nhiều cửa và các cửa thường rất rộng

Bảng 8 Tỷ lệ nhóm vũng - vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thái

4.4 Hình thức tạo vịnh

Hình thức tạo vịnh được phân thành 2 nhóm, nhóm do mũi nhô tạo bán đảo

và nhóm do đảo chắn hỗn hợp (bảng 9) Hầu hết các vũng - vịnh tạo ra do có mũi nhô đá gốc tạo thành bán đảo Tiêu biểu cho hình thức này là vịnh Đà Nẵng với bán đảo Sơn Trà, vịnh Văn Phong với bán đảo Hòn Gốm Một số đảo được nối với đất liền bằng hình thức doi cát nối đảo (tombolo) như trường hợp vịnh Cam Ranh Một số ít các vũng - vịnh tạo ra do các đảo chắn hỗn hợp, điển hình

là vịnh Bái tử Long và Hạ Long

Bảng 9 Tỷ lệ nhóm vũng - vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thức thành tạo

nhieu.dcct@gmail.com

Ngày đăng: 23/06/2020, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w