1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

19 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 482,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng giáo dục đào tạo lệ thủy Tr ờng tiểu học số 2 phong thủy Tên đề tài: Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1... Mục tiêu dạy học giải toán ở tiểu học

Trang 1

Phòng giáo dục đào tạo lệ thủy

Tr ờng tiểu học số 2 phong thủy

Tên đề tài:

Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

  

Ng ời thực hiện: Đỗ Thị Tình

Trang 2

Tên đề tài:

Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học

sinh lớp 1.

A - Phần mở đầu:

i lý do chọn đề tài:

Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con ngời môn Toán có một vị trí rất quan trọng bởi các kiến thức-kĩ năng của môn học ở Tiểu học nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho ngời lao động và cần thiết để học môn học khác cũng nh môn toán ở Trung học Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lợng

và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống Hơn nữa môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp giải quyết vấn đề đồng thời phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo đóng góp vào việc hình thành phẩm chất cần thiết của ngời lao động mới Môn toán có vị trí quan trọng nh vậy nên nó đợc cụ thể hóa rõ nét thông qua việc thực hành giải toán Mục tiêu dạy học giải toán ở tiểu học không chỉ đem

đến cho các em học sinh những kiến thức nhất định mà còn dạy cho các em cách học và phơng pháp học để các em có thể tự học, tự vận dụng kiến thức về Toán

-Thông qua học môn toán học sinh đợc rèn luyện kỹ năng thực hành với những yêu cầu

đợc thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực t duy và những phẩm chất cần thiết cho học sinh

nh tinh thần hợp tác, độc lập sáng tạo có ý chí vợt khó, cẩn thận , kiên trì Nh vậy, việc hớng dẫn học sinh ở lớp tôi, trờng tôi giải toán có lời văn là việc làm rất cần thiết đăc biệt là lớp 1 - Khối đầu cấp nhằm góp phần nâng cao chất lợng dạy học toán Chính vì

vậy tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh

lớp 1.

II mục đích nghiên cứu:

Mục đích góp phần nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1, giúp học sinh nắm chắc chắn hơn cách giải, trình bày một bài toán, tạo hứng thú say mê học tập và học tập đạt kết quả cao về phần giải toán có lời văn

III nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu tìm hiểu nội dung dạy học ,yêu cầu về kiến thức, kỹ năng môn toán lớp 1

Trang 3

-Tìm hiểu nội dung phơng pháp giải toán có lời văn lớp 1

-Điều tra thực trạng của giáo viên và học sinh khi dạy học phần giải toán có lời văn lớp 1

ở trờng Tiểu học số 2 Phong Thủy Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm khi dạy học phần giải toán có lời văn lớp 1

IV Phạm vi và đối t ợng nghiên cứu:

-Nội dung kiến thức toán lớp 1- đi sâu vào phần giải toán có lời văn

-Đối tợng:Học sinh lớp 1B trờng Tiểu học số 2 Phong Thủy ,huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

V Các ph ơng pháp nghiên cứu:

- Phương phỏp trực quan

- Phương phỏp thực hành luyện tập

- Phương phỏp gợi mở, vấn đỏp

- Phương phỏp giảng giải, minh hoạ

- Phơng pháp thực nghiệm:Thực hành soạn giảng, khảo sát các bài có nội dung về

giải toán có lời văn lớp 1B tại trờng Tiểu học số 2 Phong Thủy

B- Phần nội dung Chơng I: Cơ sở lí luận :

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc đang đòi hỏi giáo dục có những bớc dài trong hội nhập Chính sự đòi hỏi đó mỗi một cán bộ giáo viên phải

đổi mới giáo dục.Trong đó có sự đổi mới cơ bản về phơng pháp dạy học Mục tiêu

giáo dục của Đảng đã chỉ rõ: “ Đào tạo có chất lợng tốt những ngời lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ ngh ĩa, có trình độ văn hoá phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt ”

Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra, Giáo dục và đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi về nội dung chơng trình, đổi mới phơng pháp giảng

dạy cho phù hợp Hội nghị BCH trung ơng khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: " Đổi mới mạnh mẽ pơng pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện t duy sáng tạo của ngời học Từng bớc áp dụng phơng pháp tiên tiến, phơng pháp hiện đại vào quá trình dạy học" Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi: " Phơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dỡng phơng

Trang 4

pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" Đổi mới cách thực hiện PPDH

là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò - chủ nhân tơng lai của đất nớc Nh vậy, đổi mới PPDH sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo của nớc nhà Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phơng pháp, đổi mới phơng tiện và hình thức triển khai phơng pháp trên cơ sở khai thác triệt để u điểm các phơng pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số

ph-ơng pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngời học Mục

đích của đổi mới PPDH chính là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh Chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng cơ bản cần thiết cho các em b ớc vào cuộc sống

Môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của các

bộ môn khoa học Là chìa khóa mở tung các cánh cửa các bộ môn khoa học khác

-Mạch kiến thức : "Giải toán có lời văn", là một trong năm mạch kiến thức cơ bản

xuyên suốt chơng trình Toán ở bậc tiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em đợc phát triển trí tuệ, đợc rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn- là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán

có lời văn các em sẽ đợc giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lợng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác

Nội dung và chơng trình môn Toán lớp 1 cụ thể nh sau:

1 Số học:

1.1 Các số đến 10 Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10

-Nhận biết quan hệ số lợng ( nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau)

- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10

- Bớc đầu giới thiệu khái niệm về phép cộng

- Giới thiệu khái niệm về phép trừ

- Bảng cộng và bảng trừ các số trong phạm vi 10

- Số 0 trong phép cộng và phép trừ

- Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ

Trang 5

- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ.

1.2 Các số đến 100 Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100

- Đọc, đếm , viết so sánh các số đến 100 Giới thiệu hàng chục, hàng đơn vị.Giới thiệu tia số

- Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100.Tính nhẩm và tính viết trong phạm

vi 100

- Tính giá trị biểu thức số có đến hai phép tính cộng trừ(các trơng hợp đơn giản)

2 Đại lợng và đo đại lợng

- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăng- ti- mét: đọc, viết thực hiện phép tính với các số đo theo đơn vị đo xăng- ti- mét.Tập đo và ớc lợng độ dài

- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: tuần lễ, ngày trong tuần Bớc đầu làm quen với đọc lịch (loại lịch hằng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ( khi kim phút chỉ vào số

3 Yếu tố hình học

- Nhận dạng bớc đầu về hình vuông, hình tam giác , hình tròn

-Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, ở ngoài một hình: đoạn thẳng

-Thực hành vẽ đoạn thẳn, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông;gấp, cắt, ghép hình

4 Giải bài toán

- Giới thiệu bài toán có lời văn

- Giải các bài toán đơn bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là các bài toán thêm bớt một số đơn vị

Để thực hiện đề tài này, tôi tìm hiểu bắt đầu từ học sinh ở trờng, các giáo viên đồng nghiệp dạy lớp 1 và rút ra từ thực tế, một số vấn đề bất cập sau:

Kết quả thu đợc qua 2 lần kiểm tra khảo sát lớp 1B

Xếp

Số học sinh

Tỉ lệ

%

Giỏi 9 , 10 7/30 Trình bày còn bẩn 23.3 Khá 7 , 8 8/30 Câu lời giải cha chuẩn 26.7 Trung

bình 5 , 6 10/30 Chỉ làm đúng phép tính, và đáp số đúng, sai câu lời giải 33.4 Yếu duới 5 5/30 Không biết làm bài 16.7

1) Về học sinh

Trang 6

Trong kiến thức toán ở chơng trình toán bậc Tiểu học thì tuyến kiến thức “Giải toán

có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, càng khó khăn hơn ở học sinh lớp Một Bởi vì : đối với học sinh lớp 1 vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng t duy của các em còn rất hạn chế, có thể nối đang nh một tờ giấy trắng Khi thực hiện lọai toán này các em học sinh có lúc biểu hiện và hành động một cách máy móc không suy nghĩ Có lúc với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có đợc phép tính nh vậy Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em cha biết tóm tắt bài toán, cha biết phân tích đề toán để tìm ra cách giải , cha biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về Một số học sinh cha biết cách đặt câu lời giải phù hợp với phép tính, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, cha có biện pháp, phơng pháp giải toán một cách rập khuôn, bắt chớc, sáo rỗng Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán dẫn đến không làm đợc bài

2) Về giáo viên

Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1

là đơn giản, dễ dàng nên cha tìm tòi nghiên cứu để có phơng pháp giảng dạy có hiệu quả

3) Những sai lầm và khó khăn thờng gặp của giáo viên và học sinh khi dạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp 1.

- Giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 là

đơn giản, dễ dàng nên chủ quan cha tìm phơng pháp giảng dạy có hiệu quảcho bộ môn

- Vốn từ thực tế của học sinh lớp 1 còn rất hạn chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt nh với các lớp trên làm cho các em khó hiểu, không thể tiếp thu đợc kiến thức dẫn đến không đạt kết quả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn

- Cha khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng nh các đối t-ợng học sinh trong quá trình học

- Khả năng kiên trì của học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chung cũng nh học “Giải

toán có lời văn” nói riêng còn cha cao

Từ cơ sở lý luận và qua thực tế giảng dạy tôi xin mạnh dạn đề xuất : “Một số biện

pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 nhằm nâng cao chất l”nhằm nâng cao chất l ợng dạy học.

Chơng III : “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn

cho học sinh lớp 1”

1 Nắm bắt nội dung chơng trình

Trang 7

Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lời văn" nói riêng,

điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung ch ơng trình, sách giáo khoa Nhiều ngời nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp 1 thì ai mà chả dạy

đợc Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tơng tự nh vậy

a) Trong chơng trình toán lớp Một giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên cha thể đa ngay "Bài toán có lời văn" Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới đ ợc chính thức học cách giải "Bài toán có lời văn" song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị

từ xa cho việc làm này ngay từ bài "Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập) " ở tuần 7

* Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Nhìn tranh nêu phép tính" ở đây học sinh đợc làm quen:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)

Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời : "Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi có tất cả mấy quả bóng?" rồi tập nêu miệng câu trả lời : "có tất cả 3 quả bóng", sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phép tính :

* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh đợc làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu

đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài 3b - trang 87, bài 5 - trang 89)

* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậy ngay sau các bài tập "nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống" chúng ta chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng

Ví dụ: Từ bức tranh "3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới" ở trang 47 - SGK,

sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống:

Giáo viên nên hỏi tiếp: "Vậy có tất cả mấy con chim?" để học sinh trả lời miệng:

"Có tất cả 4 con chim" ; hoặc "Số chim có tất cả là bao nhiêu? (Số chim có tất cả là 4)

Trang 8

Cứ làm nh vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giải bằng miệng.

Do đó các em sẽ dễ dàng viết đợc các câu lời giải sau này

* Tiếp theo, trớc khi chính thức học "Giải các bài toán có lời văn" học sinh đ ợc học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thành phần chính là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (ch a biết) Vì khó có thể giải thích cho học sinh "Bài toán là gì?" nên mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán:

+ Những cái đã cho (dữ kiện)

+ Và cái phải tìm (câu hỏi)

Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằng dấu ) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó điền số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn để trống) Từ đó giáo viên giới thiệu cho các em " Bài toán thờng có hai phần ":

+ Những số đã cho

+ Số phải tìm (câu hỏi)

Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của "Bài toán có lời văn"

b) Các loại toán có lời văn trong chơng trình chủ yếu là hai loại toán "Thêm -Bớt" thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

- Bài toán "Thêm" thành bài toán gộp, chẳng hạn: "An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?", dạng này khá phổ biến

- Bài toán "Bớt" thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn : " Lớp 1A có 35 bạn, trong

đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?", dạng này ít gặp vì dạng này hơi khó (trớc đây dạy ở lớp 2)

* Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ theo quy

định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:

- Câu lời giải

- Phép tính giải

- Đáp số

* Về số lợng bài toán trong một tiết học đợc rút bớt để dành thời gian cho viết câu lời giải Chẳng hạn trớc đây trong 1 tiết " Bài toán nhiều hơn" học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập) , thì bây giờ trong tiết " Giải toán có lời văn (thêm) " học sinh phải giải 4 bài (1 bài mẫu, 3 bài luyện tập)

Trang 9

* Để lờng trớc về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi "Giải bài toán có lời văn" chơng trình toán 1 đã có những giải pháp:

- Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán nh : thuyền, quyển, tăng cờng dùng các vần và tiếng dễ đọc , dễ viết nh : cam, gà, Lan, trong các đề toán

- Lựa chọn câu hỏi trong đề toán ngắn gọn, phù hợp

- Cài sẵn "cốt câu" lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết câu lời giải

- Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán : "An có 4 quả bóng Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?"; Học sinh có thể đặt lời giải theo rất nhiều cách nh :

+ Cả hai bạn có:

+ Hai bạn có:

+ An và bình có:

+ Tất cả có:

+ Số bóng tất cả là:

2) Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học

Nh chúng ta đã biết, con đờng nhận thức của học sinh tiểu học là: "Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, rồi từ t duy trừu tợng trở lại thực tiễn" Đồ dùng thiết

bị dạy học là phơng tiện cần thiết khi dạy "Giải toán có lời văn" cho học sinh lớp Một Cũng trong cùng một bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùng lời

để hớng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất vả tốn công, vừa không hiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng đồ dùng thiết bị, tranh ảnh, vật thực để minh hoạ Chính vì vậy rất cần thiết phải sử dụng đồ dùng thiế bị dạy học để dạy học sinh

"Giải bài toán có lời văn"

3) Dạy "Giải bài toán có lời văn" ở lớp Một.

3.1/ Quy trình " Giải bài toán có lời văn " thông thờng qua 4 bớc:

- Đọc và tìm hiểu đề bài

- Tìm cách giải bài toán

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra lại bài giải

a) Đọc và tìm hiểu đề toán

Muốn học sinh hiểu và có thể giải đợc bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu đợc nội dung bài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em

đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng nh " thêm , và , tất cả, " hoặc

Trang 10

"bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , " (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại " Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán

Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ, với bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:

- Em thấy dới ao có mấy con vịt? ( có 5 con vịt)

- Trên bờ có mấy con vịt? ( có 4 con vịt)

- Em có bài toán thế nào? ( )

Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa

Trong trờng hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, ) để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán

Tóm tắt bằng lời:

Ví dụ1: Nga: 3 quyển

Hằng: 2 quyển

Cả hai bạn có: quyển? (A)

Ví dụ 2: Hạnh có: 35 que tính

? que tính

Vịnh có: 43 que tính

- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:

5 bạn

Ví dụ: Bạn trai

Bạn gái

Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng

Có thể lồng "cốt câu" lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể viết ngay câu lời giải là : "Cả hai bạn có:" hoặc "Số vở cả hai bạn có:" hoặc: "Cả hai bạn có số

vở là:

Trong tóm tắt học sinh thờng có thói quen cứ thấy dấu là điền số (dấu) vào đó

nên giáo viên cần lu ý các em là: "Riêng trong trờng hợp này (trong tóm tắt ) thì dấu

Ngày đăng: 22/06/2020, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w