1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Chuyên đề hóa học: Phân loại các chất vô cơ

38 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 231,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hóa học, kim loại (tiếng Hy Lạp là metallon) là nguyên tố có thể tạo ra các ion dương (cation) và có các liên kết kim loại, và đôi khi người ta cho rằng nó tương tự như là cation trong đám mây các điện tử. Trong bảng tuần hoàn các nguyên tố, đường chéo vẽ từ bo (B) tới poloni (Po) chia tách các kim loại với các phi kim. Các nguyên tố trên đường này là các á kim, đôi khi còn gọi là bán kim loại; các nguyên tố ở bên trái của đường này là kim loại; các nguyên tố ở góc trên bên phải đường này là các phi kim.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: PHÂN LOẠI CÁC CHẤT VÔ CƠ

tố ở góc trên bên phải đường này là các phi kim

2. Phân loại

- Nhóm IA (trừ H), nhóm IIA: các kim loại này là những nguyên tố s

- Nhóm IIIA (trừ B), một phần của các nhóm IVA, VA, VIA: các kim loại này lànhững nguyên tố p

- Các nhóm B (từ IB đến VIIIB): các kim loại chuyển tiếp, chúng là những nguyên

tố d

- Họ lantan và actini (xếp riêng thành hai hàng ở cuối bảng): các kim loại thuộc hai

họ này là những nguyên tố f

3. Ví dụ mở rộng

Trang 2

Magie _ Kim loại “dễ phát khùng”:

Tên gọi của nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, khi chỉ tới một khu vực ở Thessaly gọi là Magnesia Người Anh Joseph Black nhận ra magie là một nguyên tố vào năm 1755, Năm 1808, Sir Humphrey Davy bằng điện phân đã cô lập được kim loại magie nguyên chất từ hỗn hợp của magnesia và HgO Năm 1831, A A B Bussy điều chế được nó trong dạng cố kết Magie là nguyên tố phổ biến thứ 8 trong vỏ Trái Đất Nó là một kim loại kiềm thổ, vì thế không tồn tại trong tự nhiên

ở dạng đơn chất Nó được tìm thấy trong các khoáng chất như magnesit, dolomit v.v.

Magie được sử dụng để làm cho hợp kim nhẹ bền, đặc biệt là cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, và cũng được sử dụng trong flashbulbs và pháo hoa bởi

vì nó đốt cháy với một ngọn lửa trắng rực rỡ.

II. Phi kim

- Các halogen: Nhóm VII A (fluor, chlor, brom, iod, astatin)

- Các phi kim còn lại: Nhóm VI A (oxy, lưu huỳnh, selen, telu), nhóm V A (nitơ,photphor, arsenic), nhóm IV A (carbon, silic), nhóm III A (bor)

3. Ví dụ mở rộng

Photphor _ Vật mang ánh sáng:

Photphor (từ tiếng Hy Lạp phosphoros, có nghĩa là "vật mang ánh sáng" và nó cũng là tên gọi cổ đại của Sao Kim) đã được nhà giả kim thuật người Đức là Hennig Brand phát hiện năm 1669 thông qua việc điều chế nước tiểu Làm việc ở Hamburg, Brand đã cố gắng chưng cất các muối bằng cách cho bay hơi nước tiểu, và trong quá trình đó ông đã thu được một khoáng chất màu trắng phát sáng trong bóng đêm và cháy sáng rực rỡ Kể từ đó, chữ lân quang, liên quan đến các

Trang 3

ánh sáng lân tinh của photphor, đã được sử dụng để miêu tả các chất phát sáng trong bóng tối mà không cần cháy Tuy nhiên bản chất vật lý của hiện tượng lân quang không trùng với cơ chế phát sáng của photphor: Brand đã không nhận ra rằng thực tế photphor cháy âm ỉ khi phát sáng.

- Oxide là hợp chất của của hai nguyên tố, trong đó có một nguyên tố là oxy

- VD: FeO, NO, ZnO, Al2O3, P2O5,

• Oxide acid tạo thành bởi phi kim và oxy:

• Oxide acid tạo bởi kim loại có hóa trị cao và oxy:

+ Ví dụ mở rộng:

Khí carbonic:

Carbon dioxide hay dioxide carbon (các tên gọi khác thán khí, anhydride carbonic, khí carbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử carbon và hai nguyên tử oxy Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO 2 Trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô.

Carbon dioxide là một trong các khí đầu tiên được miêu tả như là chất hiện hữu trong không khí Vào thế kỷ XVII, nhà hóa học người Flanders là Jan Baptist van Helmont đã quan sát thấy khi ông đốt than củi trong bình kín thì khối lượng còn lại của tro là thấp hơn so với khối lượng nguyên thủy của than củi Diễn giải của ông là phần còn lại của than củi đã được biến tố thành chất không nhìn thấy mà ông gọi là "khí" hay "linh hồn hoang dã" (spiritus sylvestre).

Trang 4

Carbon điôxít thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả khí thoát ra từ các núi lửa, sản phẩm cháy của các hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí Nó cũng được một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và

sự hô hấp của tế bào Các loài thực vật hấp thụ carbon dioxide trong quá trình quang hợp, và sử dụng cả carbon và oxy để tạo ra các carbohydrate Ngoài ra, thực vật cũng giải phóng ôxy trở lại khí quyển, oxy này sẽ được các sinh vật dị dưỡng sử dụng trong quá trình hô hấp, tạo thành một chu trình Nó có mặt trong khí quyển Trái Đất với nồng độ thấp và tác động như một khí gây hiệu ứng nhà kính Nó là thành phần chính trong chu trình carbon.

Carbon dioxide có nhiều ứng dụng trong cuộc sống như:

+ Làm lạnh thực phẩm, các mẫu sinh học và các mặt hàng mau hỏng khác.

+ Sản xuất "sương mù băng khô" để tạo các hiệu ứng đặc biệt.

+ Cần thiết trong các hệ thống như thùng nhiên liệu hệ thống trơ trong các máy bay B-47.

Tuy nhiên nó cũng gây ra một số tác hại như:

+ Hít nhiều khí CO2 làm con người phát phì (Nhà khoa học Lars- Georg Hersoug tại Trung tâm nghiên cứu phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe Đan Mạch sau khi nghiên cứu thể trọng của một lượng lớn người gầy và béo phì trong suốt

Trang 5

cũng được sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp hóa chất và xây dựng Nó được sử dụng để tạo các hợp kim nhôm - magie dùng trong sản xuất vỏ đồ hộp, cũng như trong các thành phần cấu trúc của ô tô và máy móc Magie oxide còn được sử dụng trong kỹ thuật chế tạo pháo hoa do tạo ra các tia rất sáng và lập lòe, magiê là một ví dụ, hoàn toàn trái ngược với các kim loại khác nó cháy ngay

cả khi nó không ở dang bột.

Magie oxide được dùng trong vật liệu gốm nhờ hai đặc tính quan trọng là độ giãn

nở nhiệt thấp và khả năng chống rạn men Trong men nung nhiệt độ cao, chất này

là một chất trợ chảy (bắt đầu hoạt động từ 1170 độ C) tạo ra men chảy lỏng có độ sệt cao, sức căng bề mặt lớn, đục và sần Cũng như CaO, tác động làm chảy men của nó gia tăng rất nhanh khi nhiệt độ càng cao.

MgO không nên dùng cho men có màu sáng Nó cũng có thể tác hại đến một số chất tạo màu phía dưới MgO dùng làm chất điều chỉnh bề mặt – tạo mặt men matte.

Carbon monoxide đã được nhà hóa học người Pháp là de Lassone điều chế lần đầu tiên năm 1776 bằng cách đốt nóng oxide kẽm (ZnO) với than cốc, nhưng ông

đã sai lầm khi cho khí thu được là hydro do nó cũng cháy với ngọn lửa màu xanh lam Sau này, nó được nhà hóa học người Anh là William Cruikshank xác định là một hợp chất chứa carbon và oxy năm 1800 Nhà sinh lý học người Pháp là Claude Bernard vào khoảng năm 1846 đã lần đầu tiên nghiên cứu kỹ lưỡng các thuộc tính độc hại của carbon monoxide Ông cho các con chó hít thở khí này và nhận ra rằng máu của chúng tại tất cả các mạch máu là đỏ hơn.

Carbon monoxide là cực kỳ nguy hiểm, do việc hít thở phải một lượng quá lớn CO

sẽ dẫn tới thương tổn do giảm oxy trong máu hay tổn thương hệ thần kinh cũng

Trang 6

như có thể gây tử vong Nồng độ chỉ khoảng 0,1% carbon monoxide trong không khí cũng có thể là nguy hiểm đến tính mạng.

CO là chất khí không màu, không mùi và không gây kích ứng nên rất nguy hiểm vì người ta không cảm nhận được sự hiện diện của CO trong không khí CO có tính liên kết với hemoglobin (Hb) trong hồng cầu mạnh gấp 230-270 lần so với oxy nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do đó máu không thể chuyên chở oxy đến tế bào CO còn gây tổn thương tim do gắn kết với myoglobin của cơ tim.

Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác bần thần, nhức đầu, buồn nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê Nếu ngộ độc CO xảy ra khi đang ngủ say hoặc uống rượu say thì người bị ngộ độc sẽ hôn mê từ từ, ngưng thở và tử vong Ngộ độc CO có thể xảy ra ở những trường hợp chạy máy nổ phát điện trong nhà kín, sản phụ nằm lò than trong phòng kín, ngủ trong xe hơi đang nổ máy trong nhà hoặc gara

Từ lâu, người ta đã biết ZnO là một sản phẩm phụ trong quá trình luyện đồng Người La Mã dùng nó để luyện đồng thau, làm thuốc mỡ Các nhà giả kim còn nghĩ rằng có thể biến kẽm oxide thành vàng Giữa thế kỉ XIII, nhà hóa học Đức Cramer mới khám phá ra rằng đốt cháy kẽm kim loại sẽ thu được kẽm oxide Năm

1781, tại Pháp, Courtois mới bắt đầu điều chế ZnO, nhưng mãi đến năm 1840 người ta mới áp dụng phương pháp này để sản suất ZnO và càng ngày càng áp dụng rộng rãi do nhu cầu dùng ZnO ngày càng cao Đó là vì người ta đã dùng kẽm oxide thay thế cho chì trắng (khi đó là tên gọi của chì oxide) Kẽm oxide có

Trang 7

ưu điểm là không độc, không bị sẫm màu trong môi trường khí Năm 1850, S.Wetherill (New Jersey) hoàn thành một lò nung Trong đó có một lưới lọc được phủ bởi một hỗn hợp quặng kẽm và than Khi đốt than, kẽm bị oxy hóa thành ZnO

ở cửa ra của lò Những lò nung này càng ngày càng được cải tiến nhưng bây giờ người ta không còn dùng nữa Trong suốt nửa sau thế kỷ 19 người ta dùng ZnO trong sản xuất cao su để giảm bớt thời gian cần thiết trong quá trình lưu hóa cao

su Năm 1906, các nhà hóa học điều chế ra chất xúc tác hữu cơ đầu tiên cho phản ứng lưu hóa cao su Phát hiện này góp phần làm tăng thêm tầm quan trọng của kẽm oxide, vì nó là một trong những hóa chất để điều chế chất xúc tác này.

II. Acid

1. Khái niệm

- Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước phân li ra cation H+

- Theo thuyết Bronsted: Là chất nhường proton H+ Có thể là phân tử hoặc ion

- Theo Lewis: Là phần tử có khả năng nhận cặp e- tạo ra liên kết cộng hóa trị

2. Phân loại

- Theo số nấc phân li: (thuyết Arrhenius)

+ Acid một nấc: Là acid mà khi tan trong dung dịch nước chỉ phân li một nấc raion H+ VD: HCl, CH3COOH,

Acid nhiều nấc: Là acid mà khi tan trong dung dịch nước phân li nhiều nấc ra ion

H+ VD: H3PO4, H2S,

- Theo thành phần nguyên tố:

+ Acid có oxy: Là acid mà trong thành phần phân tử có chứa nguyên tố oxy VD: + Acid không có oxy: Là acid mà trong thành phần phân tử không chứa nguyên tốoxy VD:

Trang 8

Không có nhiều tài liệu rõ ràng cho thấy acid chlorhydric được điều chế vào thời kỳ Trung cổ Có vẻ như nguồn đầu tiên đề cập đến việc điều chế vào thế

kỷ XV và XVI, nhưng vẫn còn là vấn đề tranh cãi Một số tác giả vẫn giữ quan điểm rằng acid này được Basil Valentine, thầy tu dòng Be-ne-dict Đức, phát hiện vào thế kỷ XV, bằng cách nung muối ăn (NaCl) và acid sulfuric (H 2 SO 4 ) lục Nước cường toan, một hỗn hợp giữa acid nitric và acid chlorhydric đã được mô tả bởi nhà giả kim thuật châu Âu thế kỷ XIII Pseudo-Geber (Paul of Taranto).

Acid chlorhydric có nhiều ứng dụng như:

+ Tẩy gỉ thép

+ Tổng hợp các chất hữu cơ và cô cơ: PVC, hóa chất xử lí nước (sắt (III) clorua và polyaluminium clorua (PAC)).

+ Điều chỉnh pH môi trường OH− + HCl → H2O + Cl−

Tuy nhiên đây là một acid mạnh nên cần chú ý an toàn khi tiếp xúc:

Acid chlorhydric đậm đặc tạo thành các sương mù axit Cả dạng sương mù và dung dịch đều có khả năng gây ảnh hưởng ăn mòn các mô con người, có khả năng gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột Khi trộn acid chlorhydric với các chất ôxy hóa phổ biến khác như natri hypoclorit (NaClO) hoặc kali permanganat (KMnO 4 ) làm giải phóng khí độc clo.

Khi tiếp xúc cần mang đồ bảo hộ như găng tay cao su, kính bảo vệ mắt, và quần áo, giày.

Mức độ nguy hiểm của dung dịch acid chlorhydric phụ thuộc vào nồng độ của

nó Bảng bên dưới liệt kê theo cách phân loại của EU về nồng độ axit này.

III. Base

1. Khái niệm

- Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước phân li ra cation OH-

- Theo thuyết Bronsted: Là chất nhường proton OH- Có thể là phân tử hoặc ion

- Theo Lewis : Là phần tử có khả năng cho cặp e- tạo ra liên kết cộng hóa trị

Trang 9

2. Phân loại

- Theo số nấc phân li (thuyết Arrhenius)

+ Base một nấc: Là base mà khi tan trong dung dịch nước chỉ phân li một nấc raion OH- VD: NaOH, KOH,

Base nhiều nấc: Là base mà khi tan trong dung dịch nước phân li nhiều nấc ra ion VD: Mg(OH)2, Ca(OH)2,

- Theo tính tan:

+ Base tan: LiOH, KOH, Ba(OH)2, Ca(OH)2, NaOH

+ Base không tan: các hidroxit của nhiều kim loại (gồm Mg và các kim loại đứngsau Mg trong dãy hoạt động hóa học của kim loại): Be, Al, Mn, Zn, Cr, Fe, Co, Ni,

Sn, Pb, Cu, Riêng Mg(OH)2 tan được trong nước nóng hoặc đun sôi cònBe(OH)2 thì tan được trong kiềm

Natri hydroxide có nhiều ứng dụng trong đời sống cũng như sản xuất như: + Sản xuất xà phòng, chất tẩy, bột giặt.

+ Sản xuất tơ nhân tạo.

+ Sản xuất giấy.

+ Sản xuất nhôm (làm sạch quặng nhôm trước khi sản xuất).

+ Chế biến dầu mỏ và nhiều ngành công nghiệp hóa chất khác.

Tuy nhiên đây là một base mạnh nên cần chú ý an toàn khi tiếp xúc:

Giống như các acid ăn mòn và kiềm khác, các giọt dung dịch natri hydroxide

có thể dễ dàng phân hủy protein và chất béo trong các mô sống thông qua thủy

Trang 10

phân amide và thủy phân este, do đó gây ra bỏng hóa học và có thể gây mù vĩnh viễn khi tiếp xúc với mắt Chất kiềm rắn cũng có thể thể hiện tính chất ăn mòn nếu có nước, chẳng hạn như hơi nước Do đó, thiết bị bảo hộ , như găng tay cao su , quần áo an toàn và bảo vệ mắt, luôn luôn nên được sử dụng khi xử

lý hóa chất này hoặc các giải pháp của nó.

IV. Hydroxide lưỡng tính

1. Khái niệm

- Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước vừa có thể phân li như acid, vừa

có thể phân li như base

VD: : Phân li theo kiểu base

: Phân li theo kiểu acid

- Theo thuyết Bronsted: Là chất vừa có thể nhận, vừa có thể nhường proton H+.VD: : Nhận proton H+

Nhôm hydroxide cũng được sử dụng như một chất độn chống cháy cho các ứng dụng polymer trong một cách tương tự như magiê hydroxide và hỗn hợp của huntite và hydromagnesite Nó phân hủy khoảng 180 °C (356 °F), hấp thụ một lượng đáng kể nhiệt trong quá trình và tỏa ra hơi nước Ngoài vai trò là một chất làm chậm cháy, nó rất hiệu quả như một thuốc giảm khói trong một loạt các polyme, đặc biệt nhất trong polyeste, acrylics, ethylene vinyl acetate, epoxy, nhựa PVC và cao su.

Trang 11

Chú ý: trong gốc acid của một số muối như Na2HPO3, NaH2PO2 vẫn còn hiđro,nhưng là muối trung hòa vì các hiđro đó không có khả năng phân li ra H+

+ Muối kép: Là muối kết tinh từ dung dịch hỗn hợp hai muối đơn giản

VD: Phèn: M2SO4.E2(SO4)3.24H2O (Trong đó M là Na, Li, K, Rb, ; E là Al,Crom, Fe, NH4 , )

Phèn chua có nhiều tên gọi khác nhau như trong Hán việt gọi là vũ nát, vũ trạch, mã xĩ phàn, nát thạch, minh thạch, muôn thạch, trấn phong thạch, tất phàn, sinh phàn, khô phàn, minh phàn, phàn thạch

Trang 12

DANH PHÁP CÁC CHẤT VÔ CƠ

A. Giới thiệu chung

1. Cách phiên chuyển các thuật ngữ

- Các nguyên tố H, O viết hydrogen, oxygen, không viết hydro, oxy Các từ hydro

và oxy dành cho các hợp chất có hydrogen và oxygen Tuy nhiên, do tên này quáphổ biết nên có thể viết H, O là hydro, oxy

- Bỏ các dấu thanh, dấu mũ; các âm tiết viết liền; không thay d bằng đ, không thay y

bằng i

- Bỏ ký tự e ở cuối tự, ký tự h câm (cloroform, cholesterol) nhưng h được giữ lại

nếu nằm trong ký hiệu nguyên tử (rhodium – Rh) và trong thiol (thiouracil), mộtphụ âm viết hai lần liền nhau bỏ đi một (penicillin)

- Giữ nguyên các vần ase (amylase), ose (glucose), ge (viết gen, không viết gien).

- Giữ nguyên các tổ hợp nguyên âm, ví dụ: eu (leucin); au (aureomycin).

- Chấp nhận các vần ngược: al (aldehyde), ad (cadmium), af (hafnium), ar (carbon), eur (pasteur), os (phosphate), id (glucoside), oid (alcaloid), od (iod).

- Chuyển ul thành un, ique thành ic (acid sunfuric).

- Tên người, tên nước và tên địa danh không phiên chuyển

- Giữ nguyên cách gọi đối với các nguyên tố đã có tên Việt hoặc Hán-Việt đangđược sử dụng rộng rãi, kèm theo tên Latin trong dấu ngoặc đơn

Ví dụ: bạc (Argentum)

a. Các quy tắc sử dụng phụ âm

- Phụ âm g đứng trước nguyên âm e không chuyển thành gi hoặc gh.

- Phụ âm d không chuyển thành đ những vẫn đọc như đ trong tiếng Việt (hydro,

indi)

- Phụ âm c đứng trước các nguyên âm i, e, y trong những trường hợp cụ thể có thể

không chuyển thành x

Ví dụ: xeri/ceri, axeton/ aceton, xiclohexan/ cyclohexan, axit/ acid

- Không thay phụ âm s bằng x hoặc z ở âm vần cuối (ase, ose).

Phụ âm s này trong tiếng Pháp thường đọc là “zờ” nếu đứng giữa hai nguyên âm,

vì vậy được chuyển thành zơ hoặc za (bazơ, glucozơ, amilaza)

 Sửa lại thành base, glucose

- Những phụ âm kép tạo vần trong tiếng Việt được giữ nguyên

Trang 13

b. Thay đổi về hậu tố

- Đối với các nguyên tố B, Cl, F, I, P cần giữ nguyên các phụ âm r và d ở cuối

Ví dụ: Cloric, cloride, fluoric, boric, boran, iodic, phosphor …

- Chuyển đổi tên các nguyên tố :canxi/ calci, coban/ cobalt

Các thuật ngữ: entapy/ enthalpy, gen/ gel, sunfide/ sulfide, orbitan/ orbital, ancol/alcohol, ankan/ alkan, andehit/ aldehyde

Chú ý: Không viết nitrin, mà phải viết nitril Do nitrin là tên của dạng thù hình N3

- Không dùng hậu tố -ua mà dùng –ide

hiệu

Nguyên tử số

Trang 15

2. Các quy định về tên các hợp chất hóa học vô cơ

Có ba kiểu gọi tên các hợp chất hóa học:

- Kiểu lưỡng nguyên (binary-type nomenclature)

- Kiểu phối trí (coordination-type nomenclature)

- Kiểu thay thế (substitutive-type nomenclature)

Để gọi tên các hợp chất vô cơ, chủ yếu sử dụng danh pháp kiểu lưỡng nguyên(thành phần của hợp chất gồm hai hợp phần: hợp phần âm điện và hợp phần dương điện)

Do danh pháp kiểu lưỡng nguyên không cho biết đầy đủ các thông tin về cấu trúc, chonên, trong một số trường hợp người ta phải vận dụng danh pháp phối trí hoặc danh phápthay thế (trong đó nguyên tử hydro có thể được trao đổi hoặc thay thế với các nguyên tửhoặc nhóm nguyên tử khác)

Trang 16

Một hợp chất được hợp thành bởi các hợp phần âm và dương cùng với các tiền tốchỉ độ bội Hợp phần dương viết trước, hợp phần âm viết sau và được phân cách nhaubằng khoảng trống Các tiền tố có thể không cần viết nếu không có nó vẫn có thể hiểuđược.

Trong hợp chất:

- Tên của hợp phần dương: là tên nguyên tố

- Tên của hợp phần âm:

+ Đơn tố: kết thúc bằng hậu tố -ide

+ Dị tố: kết thúc bằng hậu tố -at

Các hợp phần dương và âm đều có thể là những nhóm và số lượng hợp phần cũng

có thể lớn hơn một Nếu có nhiều hợp phần thì tên các hợp phần được viết theo trình tựalphabet của ký tự đầu của tên các hợp phần hoặc ký tự thứ hai của tên các hợp phần nếu

ký tự đầu giống nhau

Vị trí của hydro luôn luôn nằm sau cùng trong số các hợp phần dương, có thể cókhoảng trống phân cách với hợp phần âm nếu không chắc nó có liên kết với anion haykhông Tên các hợp chất kép được viết sau tên hợp chất chính phân cách bởi gạch ngangdài và tiếp đó là tỉ lệ của chúng trong ngoặc đơn Cách viết tên các phân tử nước kết tinhcũng như vậy

Ví dụ:

HCl: hydro clorid

NaOH: natri hydroxide

KMgCl3: kali magnesi cloride

CaCl2.8NH3: calci cloride – amoniac (1/8)

B Hợp chất tạo bởi hai nguyên tố

I Hợp chất tạo thành bởi hai phi kim

- Ion có số oxi hóa dương được đọc trước

- Dùng các tiền tố (tiếp đầu ngữ) để chỉ số lượng nguyên tử của mỗi nguyên tốtrong phẩn tử

Trang 17

Octa- Nona

-Deca-

- Kết thúc bằng hậu tố -ide

Tên hợp chất = Tiền tố - tên phi kim 1 + tiền tố - tên phi kim 2 – ide

Ví dụ:

CO: carbon monoxide CCl4: carbon tetracloride

CO2: carbon dioxide Ca3P2: calci phosphide

- Ta thường bỏ qua tiền tố mono- ở phần tử đầu tiên Nếu không có tiền tố trướcphần tử đầu tiên thì mặc định rằng nguyên tố đó chỉ có một nguyên tử

II Hợp chất tạo thành bởi một kim loại và một phi kim

- Cation (kim loại) luôn được đọc trước

- Anion (phi kim) được đọc sau cation, kết thúc bằng hậu tố –ide

- Các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều hóa trị, khi đó ta phải đọc tên hóa trịkèm theo

Tên hợp chất = tên kim loại + tên phi kim – ide

(Với kim loại nhiều hóa trị:Tên hợp chất = tên kim loại (hóa trị)+ tên phi kim – ide)

Ví dụ:

CaCl2: calci cloride CuCl2: đồng(II) cloride

BaS: bari sulfide FeBr3: sắt (III) bromide

III Acid không có oxy

Mặc dù HF có thể gọi tên là hydro floride, tuy nhiên còn có thể gọi tên là acidflohydric khi ta muốn nhấn mạnh rằng đây là một acid, một dung dịch

Tên hợp chất = acid + tên phi kim – hydric

Ví dụ:

HCl (k): hydro cloride => HCl (dd): acid clohydric

H2S (k): hydro sulfide => H2S (dd): acid sulfuhydric

C Hợp chất tạo bởi ba nguyên tố

Trang 18

H3BO3: trihydro trioxoborat HNO3: hydro trioxonitrat.

H2CO3: dihydro trioxocarbonat H2S2O4: dihydro tetraoxodisulfat

1 Trường hợp chất tạo acid có hai mức oxi hóa hóa dương thông dụng

Mức oxi hóa trên:

Tên hợp chất = acid + tên phi kim – ic

Mức oxi hóa dưới:

Tên hợp chất = acid + tên phi kim – ous

Ví dụ:

H2SO3: acid sunfurous H2SO4: acid sunfuric

2 Trường hợp chất tạo acid có nhiều mức oxy hóa dương thông dụng

ClO- Hypoclorit

e

Trang 19

Bảng tên thông dụng của một số acid

H3BO3

Acid boric H2CO3Acid carbonic HNO3Acid nitric

H3PO4Acidphosphoric

H2SO4Acid sulfuric

HClO3Acid cloric

H3AsO4Acid arsenic

H2SeO4Acid selenic

HBrO3Acid bromicHIO3

Acid iodicPhân nhóm B: H2MnO4: acid manganic

3 Trường hợp số oxi hóa của phi kim trong hai axit như nhau

+ Nếu trong phân tử có nhiều nhóm OH nhất thì khi đọc thêm tiền tố orto-

+ Nếu trong phân tử có ít nhóm OH nhất thì khi đọc thêm tiền tố meta-

+ Nếu trong phân tử số OH trung bình khi đọc thêm tiền tố pyro-

Ví dụ: H3P5O4: acid ortophosphoric

H4P2O7: acid pyrophosphoric

II Muối của acid có oxy (Kim loại + phi kim + oxy)

Tên hệ thống = Tên kim loại + tiền tố - oxo – tên phi kim – at

(Hóa trị nếu KL nhiều hóa trị)

- Nếu acid tương ứng kết thúc bằng hậu tố –ic => muối kết thúc bằng hậu tố –at

- Nếu acid tương ứng kết thúc bằng hậu tố -ous => muối kết thúc bằng hậu tố –it

- Các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều hóa trị, khi đó ta phải đọc tên hóa trịkèm theo

Tên hợp chất = tên kim loại + tên phi kim – [

(Hóa trị nếu KL nhiều hóa trị)

Ví dụ:

Ca(ClO)2: calci hypoclorit

Ngày đăng: 22/06/2020, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w