Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình Dạy Học. Tuy nhiên, trong hóa học có nhiều khái niệm khó và trừu tượng, nhiều phản ứng diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, diễn tiến của các quá trình và hiện tượng rất khó quan sát, một số thí nghiệm lại độc hại, nguy hiểm vv.. Vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của ICT. Xuất phát từ vai trò quan trọng của ứng dụng tin học trong dạy học hóa học và nghiên cứu, tiểu luận dưới đây sẽ giới thiệu một số phần mềm nhằm khắc phục bớt những khó khăn thường hay gặp phải của GV cũng như những người nghiên cứu về Hóa học do vậy, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nội dung phần halogen và các hợp chất vô cơ có chứa halogen”.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THẾ KIÊN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC NỘI DUNG PHẦN HALOGEN
VÀ CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ CÓ CHỨA HALOGEN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM HÓA HỌC
Hà Nội, 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC NỘI DUNG PHẦN HALOGEN
VÀ CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ CÓ CHỨA HALOGEN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hoàng Trang
Sinh viên thực hiện khóa luận: Vũ Thế Kiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo,
các cán bộ trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm khoá luận
Đặc biệt, với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS Nguyễn Hoàng Trang, người đã dành cho tôi những lời chỉ bảo ân cần cùng với
những kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành khoá luận
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, cùng tập thể cán bộ giáo
viên, học sinh trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai đã tham gia đóng góp ý kiến, cung
cấp thông tin, tư liệu, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Mặc dù bản thân đã cố gắng, song khoá luận khó tránh khỏi những thiếu xót Kính
mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn
thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020
Sinh viên
Vũ Thế Kiên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu – Khách thể nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Khách thể nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Câu hỏi nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
8.3 Phương pháp xử lý thống kê toán học kết quả thực nghiệm 3
9 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2 Đổi mới giáo dục trong thời đại công nghiệp 4.0 9
1.3 Các khái niệm cơ bản 10
1.3.1 Công nghệ thông tin 10
1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 10
1.4 Một số hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 12
1.4.1 Sử dụng các thiết bị điện tử trong dạy học 12
1.4.2 Bài giảng điện tử 12
1.4.3 Sách điện tử 13
1.4.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí giáo dục 13
1.4.5 Giáo dục trực tuyến 13
Trang 51.7 Các phương pháp dạy học 17
1.7.1 Dạy học dự án 17
1.7.2 Dạy học WebQuest 18
1.7.3 Dạy học giải quyết vấn đề 18
1.8 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai – Bắc Từ Liêm – Hà Nội 19
1.8.1 Mục đích điều tra 19
1.8.2 Nội dung điều tra 19
1.8.3 Địa bàn và đối tượng điều tra 19
1.8.4 Kết quả điều tra 19
TỔNG KẾT CHƯƠNG I 23
CHƯƠNG II: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ E – BOOK VÀO DẠY HỌC PHẦN HALOGEN VÀ CÁC HỢP CHẤT CHỨA HALOGEN 24
2.1 Phân tích, mục tiêu, cấu trúc nội dung chương halogen – Hoá học 10 24
2.1.1 Mục tiêu chương halogen 24
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương halogen 25
2.1.3 Những điểm cần chú ý về nội dung và phương pháp dạy học khi dạy chương halogen- Hoá học 10 25
2.1.3.1 Những điểm cần chú ý về nội dung dạy học 25
2.1.3.2 Những điểm cần chú ý về phương pháp dạy học 26
2.2 Nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử 27
2.2.1 Các nguyên tắc về nội dung 27
2.2.2 Các nguyên tắc kĩ thuật 28
2.3 Thiết kế bài giảng điện tử 30
2.3.1 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 30
2.3.2 Mẫu kế hoạch xây dựng giáo án điện tử ở trường trung học phổ thông 35
2.3.3 Thực hiện thiết kế bài giảng điện tử trên powepoint 37
2.3.3.1 Phân tích nội dung bài dạy 37
2.3.3.2 Xây dựng kịch bản sư phạm cho việc thiết kế bài giảng trên máy tính 37
2.3.3.3 Thiết kế kịch bản trên máy tính 38
2.3.3.4 Chạy thử (Show slide) và hiệu chỉnh 44
2.3.4 Hệ thống bài giảng điện tử trong chương Halogen và các hợp chất có chứa halogen 44 2.4 Nguyên tắc thiết kế và các hướng sử dụng sách điện tử e-book 44
2.4.1 Nguyên tắc thiết kế sách điện tử e-book 44
2.4.2 Các hướng sử dụng e-book trong học tập 46
2.5 Thực hiện thiết kế e-book bằng Microsoft Word 47
Trang 62.6 Một số giáo án dạy học sử dụng bài giảng điện tử và e-book trong phần Halogen và
các hợp chất có chứa halogen 51
2.6.1 Giáo án bài: Tóm tắt lý thuyết chương halogen - Bài giảng điện tử (phần 1-flo) 51
2.6.2 Giáo án bài: Ứng dụng của halogen trong đời sống 60
2.7 Thiết kế bộ công cụ đánh giá thực nghiệm 67
2.7.1 Đánh giá qua bài kiểm tra 67
2.7.2 Đánh giá thông qua phiếu hỏi 79
TỔNG KẾT CHƯƠNG II 81
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 82
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82
3.2 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 82
3.2.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 82
3.2.2 Chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 83
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 83
3.3 Kết quả thực nghiệm 83
3.3.1 Quy trình thực nghiệm 83
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 84
3.4 Xử lí kết quả thực nghiệm 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 95
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG (ITC) CỦA GIÁO VIÊN TRONG DẠY Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 95
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG VIDEO BÀI GIẢNG SỐ 1 98
PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ SỐ 2… 101
PHỤ LỤC 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG SÁCH ĐIỆN TỬ (E-BOOK) … 104
PHỤ LỤC 5: ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT SỐ 2 – CHƯƠNG 5: HALOGEN 107
PHỤ LỤC 6: ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT SỐ 2 – CHƯƠNG 5: HALOGEN 109
Trang 7THUẬT NGỮ VIẾT TẮT STT Kí hiệu viết tắt Diễn giải/ cụm từ đầy đủ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Địa điểm điều tra 19
Bảng 1.2 Thâm niên công tác 19
Bảng 1.3 Điều kiện cơ sở vật chất 20
Bảng 1.4 Các phương pháp thường xuyên sử dụng 20
Bảng 1.5 Đánh giá các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên 21
Bảng 2.1 Ma trận đề kiểm tra 15 phút 67
Bảng 2.2 Ma trận đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan – chương 5: Halogen 70
Bảng 2.3 Phiếu hỏi về tình hình học tập của học sinh có sử dụng công nghệ thông tin 79 Bảng 3.1 Thống kê điểm kiểm tra cuối chương halogen của học sinh 84
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra cuối chương halogen – Hoá học 10 86
Bảng 3.3 Bảng phân loại kết quả học tập của học sinh 87
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng 88
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về tình hình học tập có sử dụng công nghệ thông tin 89
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức mới chương “Nhóm halogen” 25
Hình 2.2 Sơ đồ nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử 27
Hình 2.3 kế hoạch bài giảng bài 22: Clo 37
Hình 2.4 Giao diện chính của chương trình PowerPoint 2013 38
Hình 2.5 Hộp thoại nhắc nhở lưu các thông tin trong bài 39
Hình 2.6 Cách thêm slide mới trong PowerPoint 39
Hình 2.7 Cách nhập nội dung văn bản vào slide 40
Hình 2.8 Các mẫu thiết kế (themes) 41
Hình 2.9 Chèn ảnh, đồ hoạ, phim vào slide 42
Hình 2.11 Thêm tựa đề cho e-book trong Microsoft Word 48
Hình 2.12 Tạo tiêu đề và chân trang cho e-book trong Microsoft Word 49
Hình 3.1 Đồ thị biểu thị đường lũy tích bài kiểm 87
cuối chương halogen – Hoá học 10 87
Hình 3.2 Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS 87
Hình 4.1.(a, b, c, d, e, f) Một số hình ảnh trong video bài giảng số 1 101
Hình 4.2.(a,b,c,d,e) Một số hình ảnh trong bài giảng điện tử số 2 104
Hình 4.3.(a,b,c,d,e) Một số hình ảnh trong e-book về hợp chất vô cơ chứa halogen 107
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông - ICT (Information and Communication Technology) trong những năm gần đây đã tác động vào hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế, xã hội, đặc biệt là giáo dục Tuy nhiên, theo những thống kê mới nhất thì Việt Nam hiện đang nằm ở nhóm các nước kém nhất trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về ứng dụng ICT trong giáo dục, xét cả về vật lực, nhân lực và tài lực
Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho học sinh (HS) mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể sáng tạo
ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần làm giàu thêm nền kiến thức của nhân loại Vì vậy việc dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, nhất là đổi mới phương pháp dạy và học sao cho vai trò tự chủ của HS trong hoạt động xây dựng kiến thức ngày một nâng cao, để từ đó năng lực sáng tạo của họ được bộc lộ và ngày càng phát triển Tiến tới mục tiêu “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo”
Để đáp ứng được nhu cầu trên thì xã hội phải tăng cường tư liệu dạy học, đặc biệt phải hỗ trợ tư liệu dạy học cho cả HS, sinh viên lẫn giáo viên (GV) Muốn vậy, mỗi GV cần được đào tạo về công nghệ thông tin (CNTT) để biết khai thác những phần mềm chuyên môn đã được xây dựng ở các nước cũng như nước ta, kết hợp sử dụng chúng với các phương tiện dạy học hiện đại như máy vi tính, projector vào quá trình dạy và học nhằm giúp HS, sinh viên phát huy tính tích cực học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự
tổ chức, điều khiển của GV, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình Dạy - Học Tuy nhiên, trong hóa học có nhiều khái niệm khó và trừu tượng, nhiều phản ứng diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, diễn tiến của các quá trình và hiện tượng rất khó quan sát, một số thí nghiệm lại độc hại, nguy hiểm vv
Vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của ICT
Trang 11Xuất phát từ vai trò quan trọng của ứng dụng tin học trong dạy học hóa học và nghiên cứu, tiểu luận dưới đây sẽ giới thiệu một số phần mềm nhằm khắc phục bớt những khó khăn thường hay gặp phải của GV cũng như những người nghiên cứu về Hóa
học do vậy, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học nội dung phần halogen và các hợp chất vô cơ có chứa halogen”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin (ƯDCNTT) trong dạy học “Chương halogen và các hợp chất vô cơ có chứa halogen” trong chương trình Hóa học 10 nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần phát triển năng lực của HS ở trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm: tổng quan nghiên cứu vấn đề ƯDCNTT trên thế giới và ở Việt Nam, một số khái niệm cơ bản về CNTT, các hình thức ƯDCNTT trong dạy học nói chung và dạy học bộ môn hóa học nói riêng, một
số các PPDH phù hợp với việc ƯDCNTT ;
- Thực hiện điều tra khảo sát thực trạng ƯDCNTT tại trường trung học phổ thông;
- Đề xuất các nguyên tắc và quy trình thiết kế bài giảng điện tử và e – book trong dạy học hóa học;
- Thiết kế một số bài giảng điện tử và ebook cho nội dung halogen và các hợp chất
vô cơ có chứ halogen Hóa học 10
- Thiết kế một số giáo án dạy học có sử dụng bài giảng điện tử và e – book trong dạy học Chương Halogen và các hợp chất vô cơ có chưa halogen Hóa học 10;
- Thiết kế các công cụ đánh giá tính khả thi của đề tài nghiên cứu;
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất trong đề tài
4 Đối tượng nghiên cứu – Khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung chương Halogen và các hợp chất vô cơ Hóa học lớp 10
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT
Trang 125 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu ứng dụng CNTT trong dạy học Chương Halogen và các hợp chất vô cơ có chứa halogen Hóa học 10 một cách hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng dạy học, góp phần phát triển năng lực của HS ở trường THPT
6 Câu hỏi nghiên cứu
Ứng dụng CNTT một cách hiệu quả như thế nào trong dạy học nội dung phần halogen
và các hợp chất vô cơ có chứa halogen
7 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu Ứng dụng CNTT trong dạy học Hoá học chương halogen
và các hợp chất vô cơ chứa halogen trong chương trình Hoá học 10
- Địa bàn thực nghiệm: Tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai trong địa bàn thành phố Hà Nội
- Đối tượng: Học sinh lớp 10A2, 10A3, 10B8, 10B9
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tổng quan và hệ thống hóa các vấn đề lý luận được trình bày trong sách, báo, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng phương pháp điều tra, thu thập thông tin: sử dụng phiếu điều tra cho HS
và GV để điều tra thực trạng ƯDCNTT trong dạy học ở THPT
- Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT thông qua dạy học chương halogen và các hợp chất vô cơ chứa halogen – Hóa học 10
8.3 Phương pháp xử lý thống kê toán học kết quả thực nghiệm
Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lí các số liệu điều tra và các kết quả thực nghiệm sư phạm để rút ra những kết luận cần thiết
9 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Chương 2: Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử, e-book vào dạy học phần halogen
và các hợp chất vô cơ có chứa halogen
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, trên thế giới, các nước phát triển như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…đều sớm chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Và coi đó như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, Anh Ứng dụng CNTT trong dạy học (DH) đã được các nước trên thế giới nghiên cứu ứng dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước Họ cho rằng CNTT được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để cung cấp các chương trình học tập từ xa đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời thông qua mạng Internet Vì thế, CNTT đã được nghiên cứu ứng dụng mạnh mẽ trong DH ở những nước phát triển khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và những nước thuộc châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Ấn Độ
Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm Tại hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Á- Thái Bình Dương
(APEC) đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then
chốt Ứng dụng CNTT trong quá trình DH sẽ hỗ trợ đắc lực cho người học đặc biệt tạo cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi Từ đó chúng ta có thể tiến hành xây dựng xã hội học tập Năm 2009, tại Hội nghị Á – Âu về học tập suốt đời tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam đã thống nhất phối hợp nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người Năm 2010 diễn đàn về học tập suốt đời tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng đã có nhiều báo cáo về ứng dụng CNTT, ứng dụng CNTT trong giáo dục, trong đào tạo, bồi dưỡng GV
Việc ứng dụng CNTT được coi như là một công cụ để sử dụng trong DH Ở các nước phát triển như Mỹ, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp đã trang bị máy tính cho các trường học, thư viện cộng đồng, nhờ đó, nhiều người có thu nhập thấp
đã có cơ hội tiếp cận với CNTT Nhiều trường học đã tập trung cho các dự án cung cấp
Trang 14giáo dục từ xa cho người học có thể học tập bất cứ nơi nào, thời gian nào và với bất cứ đối tác nào Tại Anh cũng có các chương trình ứng dụng CNTT trong việc DH cho người lớn Mọi người có cơ hội tiếp cận trực tiếp với mạng Internet thông qua mạng lưới 2000
trung tâm “học tập trực tiếp” và 6000 trung tâm qua mạng Internet ở tại cộng đồng
Các chương trình hành động về giáo dục của Đức và Ấn Độ, chính phủ các nước này đã tin tưởng vững chắc vào việc ứng dụng CNTT trong DH như là một phần để tạo dựng xã hội học tập Những ý tưởng này bao gồm cả vấn đề nâng tỷ lệ tiếp cận máy tính
và Internet cho tất cả mọi người đặc biệt là những người đang làm việc, khuyến khích các nhà chính trị và các nhà giáo dục liên kết với nhau và có sự quan tâm hơn tới giáo dục người lớn Sử dụng những công nghệ mới để khắc phục những bất công bằng tồn tại trong giáo dục hướng tới xây dựng xã hội học tập suốt đời
Nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã thấy cần phải có quan niệm rộng về giáo dục: giáo dục người lớn, giáo dục không chính quy phải được coi là một bộ phận chủ yếu, quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời Xã hội ngày càng phát triển thì khái niệm "xã hội học tập" và việc phát triển một nền "Giáo dục suốt đời" càng có ý nghĩa
Jeannette Vos – Gorden Dryden (2004) [1], trong cuốn Cách mạng học tập những
yếu tố và phương pháp để học tập tốt có nói đến vai trò mới của những phương tiện liên
lạc điện tử: “Chính sự kết hợp Internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang
được định hình lại toàn bộ thế hệ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trước đây khi báo chí, in ấn, radio và TV đã tạo ra” Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối
với GV và HS: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả năng phục vụ những
người thầy phụ đạo và như những thư viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng học sinh”
Có thể nói, cuốn sách Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt
đã được hai tác giả nổi tiếng (Jeannette Vos và Gorden Dryden) đưa ra thông điệp: chúng ta cần có một cuộc cách mạng về học tập để tương xứng với cuộc cách mạng tri thức
Tại Canađa, gần đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematics) đã đem lại thành tích nổi bật so với những em HS
Trang 15lớp 9 đề cập kiến thức về toán học và những kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng Nhưng phần mềm này mới chỉ đưa vào DH bộ môn toán, nếu áp dụng cho các môn học khác thì có lẽ lại không phù hợp và hiệu quả
Ở các nước phát triển họ đều đưa những nội dung kiến thức tin học cơ bản, kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức khác nhau Nhằm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ việc học tập các môn học khác Đồng thời trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về máy tính, mạng internet và cách sử dụng chúng cho hiệu quả
Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo được thực hiện chưa đồng bộ Các nước như Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình DH nhằm xây dựng trường học thông minh Đối với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ chính sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia Ở Thái Lan, Nhật Bản từ năm 1998 đã triển khai mạnh mẽ việc thành lập các cơ sở DH Nhưng ngay ở những nước này người ta cũng chưa nghiên cứu sâu về vấn đề ứng dụng CNTT trong DH
Tóm lại, để có được sự thành công về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo cần phải đảm bảo các yếu tố về cơ sở hạ tầng CNTT, về nhân lưc, vật lực và tài lực
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Từ năm 2004 đến năm 2007 chương trình DH cho GV ở các trường phổ thông của Intel tại Việt Nam đã hỗ trợ cho chúng ta rất hiệu quả trong việc đổi mới PPDH Góp phần vào công cuộc đổi mới PPDH, GV ở các trường phổ thông đã biết cập nhật, tổ chức DH bằng các phương tiện DH mới, phù hợp với xu thế phát triển giáo dục của các nước trong khu vực Tuy nhiên, để hoàn thiện được quá trình này, thì yêu cầu lớn nhất đặt ra cho GV đó là phải có trình độ tin học cơ bản và phải biết ứng dụng, tích hợp vào các khâu của quá trình DH
Với dự án SREM, hỗ trợ đổi mới công tác quản lí cho hiệu trưởng ở các trường phổ thông cũng nhấn mạnh đến vai trò của CNTT trong việc xây dựng hệ thống thông
Trang 16tin quản lí Mục tiêu của dự án này có nội dung ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực quản lí cho hiệu trưởng ở các trường THPT
Dự án CNTT trong giáo dục và quản lí nhà trường – ICTEM được triển khai thực hiện ở các trường phổ thông tại Viêt Nam, bước đầu đã mang lại những thành công nhất định Thông qua dự án này, đã nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, GV ở các trường phổ thông về lợi ích mà CNTT mang lại trong quản lí và DH Nếu ứng dụng CNTT hiệu quả sẽ giúp chúng ta cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời, đáp ứng mọi yêu cầu trong việc điều hành và ra quyết định của người quản lí
Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài khoa học nghiên cứu về CNTT
đã đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ở Việt Nam Phần lớn những cuộc hội nghị, hội thảo đều tập trung bàn về vai trò của CNTT đối với giáo dục và các giải pháp nhằm ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH Các tác giả như Nguyễn Quốc Hưng, Đặng Văn Đức, Nguyễn Đức Chuy, Vương Dương Minh… đều khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học
Với quan niệm CNTT nên được đưa vào sử dụng ở các cơ sở đào tạo với tư cách
là công cụ hỗ trợ công tác quản lí: Như quản lí quá trình DH, quản lí nhân sự, quản lí kết quả học tập cũng như hỗ trợ việc xếp thời khoá biểu… Về các nội dung này đã được một số tác giả viết trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học và trên các tạp chí uy tín của ngành giáo dục như bài của Lê Hồng Sơn, Lưu Lâm, Nguyễn Thị Thanh Bình, Vương Thanh Hương, Trần Khánh…
Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người, CNTT sẽ là phương tiện và điều kiện tất yếu để tiến hành quá trình DH đạt hiệu quả Đã có nhiều nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau về vai trò và những ưu điểm nổi bật của CNTT mang lại nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học cụ thể như: Lý Huy Hoàng, Cao Cự Giác [2], Nguyễn Thị Hương Dung [4], Vũ Oanh Kiều [7]… các nghiên cứu đều đánh giá thực trạng việc ứng dụng CNTT trong các nhà trường học ở Việt Nam Từ
đó khẳng định việc ứng dụng CNTT trong DH là rất cần thiết và là xu hướng của xã hội Các tác giả Phó Đức Hoà – Ngô Quang Sơn trong cuốn Phương pháp và công nghệ
Trang 17tương tác cũng như các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực được thực hiện có hiệu quả trong môi trường giàu tính công nghệ, môi trường dạy học đang phát triển (ĐPT) Chúng ta nhận thấy, có sự hỗ trợ của CNTT đã giúp GV giảng bài hấp dẫn hơn và HS tiếp thu kiến thức đỡ trừu tượng hơn
Việc ứng dụng CNTT trong DH ở từng bộ môn cụ thể cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Lý Huy Hoàng, Cao Cự Giác, Lê Hải Đăng [3], Ngô Quang Sơn [5], Vũ Oanh Kiều [7], Đào Thái Lai [8], … Đặc biệt với đề tài cấp Bộ “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” do tác giả Đào Thái Lai làm chủ nhiệm đã chỉ
ra những phương pháp tiếp cận mới về hình thức tổ chức DH có ứng dụng CNTT, đồng thời tận dụng tối đa các tiện ích mà CNTT mang lại trong quá trình DH
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả đều tập trung bàn về vai trò của CNTT trong giáo dục và các giải pháp đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT trong DH
Hiện nay nền giáo dục Việt Nam đang cần đến công tác ứng dụng CNTT ở nhiều khía cạnh đó là: quản lí đào tạo kiến thức, kĩ năng về CNTT và sử dụng CNTT để hỗ trợ trong giảng dạy, góp phần thực hiện đổi mới PPDH
Trong một nghiên cứu gần đây, tác giả Phó Đức Hoà, Ngô Quang Sơn [5] đã đưa
ra cho chúng ta một cách nhìn tổng quan về mô hình hoạt động tương tác sư phạm và việc ứng dụng phương pháp và công nghệ DH trong môi trường này ở các loại hình nhà trường khác nhau Đồng thời tác giả cũng đưa ra quan niệm về công nghệ DH và những biện pháp quản lí nâng cao hiệu quả sử dụng ở trường phổ thông Tác giả còn nhấn mạnh đến việc phải hướng tới ứng dụng CNTT hiệu quả, tránh lạm dụng CNTT từ đó
sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Nghiên cứu về công nghệ DH với việc thiết kế giáo án dạy học (GADH) có ứng dụng CNTT và giáo án điện tử (GAĐT) tác giả Phó Đức Hoà, Ngô Quang Sơn [5] đã nhận định:
“So với phương tiện DH cũ chỉ có bảng đen, phấn trắng và SGK thì việc thiết kế nội dung bài giảng trên máy vi tính với sự hỗ trợ của hệ thống dạy học ĐPT là một bước đột phá lớn Bài giảng điện tử đã hỗ trợ cho GV, đem đến cho HS phổ thông nhiều thông tin hơn, hấp dẫn hơn qua các kênh thông tin đa dạng và phong phú: nội dung văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, động Các Video Clip sống động” Tác giả đánh giá cao về tác dụng tích cực của CNTT đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
Trang 18Nghiên cứu [2], [6], [12] lại đề cập đến thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng CNTT trong DH ở các trường THPT, cao đẳng, đại học Các tác giả có chung một nhận định đó là các cơ sở giáo dục bước đầu đã triển khai công tác ứng dụng CNTT vào DH song hiệu quả còn chưa cao Việc khai thác và phát huy hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất,
thiết bị dạy học (TBDH) có ứng dụng CNTT còn rất thấp Đặc biệt công tác ứng dụng
CNTT vào DH chưa được thực hiện đồng bộ, từ việc xây dựng kế hoạch tới việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện cũng như kiểm tra đánh giá…
Đến nay, chúng ta nhận thấy việc ứng dụng CNTT trong DH tại các cơ sở giáo dục
ở nước ta chủ yếu mới được thực hiện lồng ghép trong các hoạt động chung khác chứ chưa thành một hoạt động chuyên sâu, khoa học
Nhờ có CNTT đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Việc tổ chức, triển khai ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở các trường THPT, cao đẳng, đại học được người ta xem nó như là một phương tiện DH mới, hiện đại và hiệu quả Đối với thời đại thông tin hiện nay việc ứng dụng CNTT trong DH nên được đội ngũ cán bộ quản lý quan tâm thực hiện Ứng dụng CNTT trong DH hiệu quả sẽ tạo ra những thay đổi tích cực cho nền giáo dục hiện đại
1.2 Đổi mới giáo dục trong thời đại công nghiệp 4.0
Trong kỷ nguyên số hóa, giáo dục đại học (GDĐH) sẽ thay đổi sâu rộng từ môi trường giáo dục, vai trò của người dạy, người học đến phương pháp dạy học Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với thách thức lớn về thiếu hụt lao động trình độ cao, có chuyên môn, kỹ năng
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang diễn ra một cách nhanh chóng, mạnh mẽ, gây tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong kỷ nguyên số hóa, GDĐH sẽ thay đổi sâu rộng từ môi trường giáo dục, vai trò của người dạy, người học đến phương pháp dạy học Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với thách thức lớn về thiếu hụt lao động trình độ cao, có chuyên môn, kỹ năng Do đó, để đổi mới giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, cần nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về phát triển GDĐH; đổi mới chương trình và phương thức đào tạo; áp dụng công nghệ vào quá trình giảng dạy; đổi mới mô hình liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý [14]
Trang 191.3 Các khái niệm cơ bản
1.3.1 Công nghệ thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ thông tin (CNTT) được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 4 tháng 8 năm 1993: "Công nghệ thông tin
là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
CNTT trước hết là công nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin CNTT là thuật ngữ bao gồm tất cả những dạng công nghệ được dùng để xây dựng, sắp xếp, biến đổi và
sử dụng thông tin trong các hình thức đa dạng của nó Để thúc đẩy hoạt động CNTT phát triển thì Luật CNTT đã đưa ra khái niệm CNTT như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”
Tóm lại, CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người và xã hội
1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Ứng dụng CNTT trong DH là quá trình ứng dụng CNTT vào hoạt động DH một cách hợp lí Trong quá trình DH ứng dụng CNTT phải đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ và cường độ Ứng dụng CNTT trong DH nhằm đổi mới PPDH
Luật CNTT thì cho rằng: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”
Việc ƯDCNTT trong DH được biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau Căn cứ vào hoạt động của quản lí, của người dạy và người học, cùng với xu thế phát triển có thể phân chia ra 4 mức ứng dụng CNTT cơ bản nhất ở trung tâm GDTX như sau:
Trang 20Mức 1, ứng dụng CNTT để thiết kế kế hoạch DH Ứng dụng CNTT để trợ giúp
GV một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án, in ấn tài liệu Đây là khâu vô cùng quan trọng để chuẩn bị cho quá trình đứng lớp của GV Đây là mức ứng dụng CNTT trong DH phổ biến nhất ở các trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) hiện nay
Mức 2, ứng dụng CNTT trong quá trình DH (hỗ trợ phương pháp và kĩ năng dạy
học của GV) Ứng dụng CNTT để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó trong toàn bộ quá trình DH GV sử dụng một số phần mềm như MS PowerPoint hoặc Violet để giúp cho việc thiết kế bản trình chiếu, nội dung trình chiếu đẹp và hiệu quả, tuy nhiên đây không phải là đã thiết kế được một GADH điện tử
Mức 3, ứng dụng CNTT trong quản lí để hỗ trợ và khuyến khích học tập GV cần sử
dụng phần mềm dạy học (PMDH) chuyên dùng để tổ chức DH cho từng bộ môn Một số PMDH dành cho đồ họa trắc địa, hoặc dùng để vẽ như Autocard, phần mềm Total Video Converter 3.12 dùng để thiết kế các đoạn Video; Phần mềm Proshow Gold 4.51 dùng để thiết kế và trình chiếu các bức ảnh, các đoạn Video Clip… Cũng có một số phần mềm ứng dụng được xây dựng để ứng dụng cho từng môn học riêng biệt, như phần mềm Cabri, Mapble, Geometer’s Sketchpad … được ứng dụng trong DH môn Toán; Phần mềm Study English 1.0 được ứng dụng trong DH môn Tiếng Anh; Phần mềm Crocodile Physics 605 được ứng dụng trong DH môn Vật Lý…Để sử dụng hiệu quả những phần mềm này đòi hỏi GV phải có trình độ cơ bản về CNTT cũng như phải có kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo Làm được điều này sẽ góp phần khuyến khích tạo động lực để người học say
mê học tập
Mức 4, ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng nhằm mục đích để tích
hợp CNTT vào quá trình DH Hướng tới việc GV ứng dụng CNTT trong tất cả các khâu của quá trình DH, từ việc xây dựng kế hoạch DH, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá đối với mức này, yêu cầu GV phải có trình độ CNTT ở mức cao và phải được trang
bị đầy đủ về cơ sở vật chất, TBDH có ứng dụng CNTT Như vậy, tích hợp CNTT phải được tính đến khi xem xét từng yếu tố của quá trình DH như mục tiêu DH, các PPDH, các hình thức DH, phương tiện và điều kiện DH…
Đối với các cở sở đào tạo cho HS chuyên về tự nhiên, về công nghệ đã tiến hành
Trang 21là tập trung vào người học, có sự hỗ trợ đắc lực của CNTT và truyền thông Chương trình được thiết kế phù hợp với trình độ, nguyện vọng của người học, tốc độ DH và PPDH phù hợp Người học phát hiện và giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của GV Trường học thông minh được hiểu là trường học được hỗ trợ bởi CNTT và truyền thông trong quá trình giảng dạy nhằm phát triển tốt nhất tiềm năng học tập của học viên và đào tạo nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao trong kỷ nguyên CNTT
Việc ứng dụng CNTT trong DH có thể được thực hiện với nhiều hình thức và mức
độ khác nhau: ứng dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ DH, học tập bằng phương tiện CNTT, học trong môi trường CNTT, môi trường ĐPT
Tóm lại, ứng dụng CNTT trong DH là việc sử dụng CNTT vào hoạt động DH một cách hợp lí nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HV đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình DH Từ đó, việc ứng dụng CNTT trong DH là quá trình ứng dụng CNTT vào việc dạy học môn hóa học
1.4 Một số hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.4.1 Sử dụng các thiết bị điện tử trong dạy học
Các nghiên cứu giáo dục cho thấy người học chỉ nhớ được 10% những gì đã đọc, 20% những gì đã nghe và khoảng 50% những gì họ nghe và thấy
Việc sử dụng một số thiết bị điện tử nghe thường dùng trong nhà trường như máy ghi âm (cassette) + băng từ, máy ghi âm kỹ thuật số; các thiết bị nhìn như máy đèn chiếu (slide projector) + phim dương bản, máy phóng hình (overhead projector) + phim (film) A4, + phim nhựa; các phương tiện nghe nhìn như máy chiếu phim video, băng từ + Ti
vi (television), đầu đĩa VCD, DVD ,Ti vi, máy chiếu đa chức năng (multimedia projector) giúp HS được học tập thường xuyên trong môi trường có các thiết bị điện tử
sẽ luôn tăng hứng thú học tập, phát huy khả năng tư duy sáng tạo
1.4.2 Bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài giảng dựa vào các thiết bị công nghệ như máy tính, điện thoại, dạy và học thông qua môi trường internet
Bài giảng điện tử được GV tạo ra nhờ dùng thiết bị ghi âm, ghi hình có sự giúp đỡ của phần mềm chuyên dùng, như Adobe senter, Captivate, Articulate, Camtasia… Mỗi bài giảng thường có âm thanh lời giảng, hình ảnh, video, được sắp theo logic giúp
Trang 22người học thu được những kĩ năng, kiến thức nhất định Người học tự định thời gian học
và nơi ngồi học, chỉ cần có kết nối Internet bằng máy tính hay bằng điện thoại thông minh
1.4.3 Sách điện tử
Sách điện tử (tiếng Anh: electronic book; viết tắt: e-book hay eBook) là một quyển sách được xuất bản và phát hành cho các thiết bị kỹ thuật số,bao gồm văn bản, hình ảnh hoặc cả hai, có thể đọc được trên màn hình phẳng của máy tính hoặc các thiết bị điện tử khác Mặc dù đôi khi được định nghĩa là "phiên bản điện tử của một cuốn sách in", một
số sách điện tử tồn tại mà không có một bản in tương đương Sách điện tử có thể được đọc trên các thiết bị e-reader chuyên dụng, nhưng cũng có thể trên bất kỳ thiết bị máy tính nào có màn hình xem có thể kiểm soát, bao gồm máy tính để bàn, laptop, máy tính bảng và điện thoại thông minh và pocket PC
1.4.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí giáo dục
CNTT có vai trò quan trọng, nó vừa là công cụ cần thiết, phục vụ hiệu quả các quy trình quản lý trong nhà trường Hiện nay, CNTT được xem là công cụ đắc lực nhất hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục
❖ Ứng dụng CNTT giúp tăng hiệu quả vận hành, quản lý nhà trường cụ thể: CNTT giúp thông tin được lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến tất cả các thành viên trong nhà trường một cách liên tục và nhanh chóng, nhờ đó Hiệu trưởng quản lý được mọi nguồn lực và có thể đưa ra quyết định chính xác, kịp thời Nhờ tính minh bạch, CNTT giúp các tiêu chí trong quản lý nhà trường được dịch chuyển từ định tính sang định lượng, nhưng mặt có vấn đề sẽ được thể hiện rõ nét và nguyên nhân, cách khắc phục cũng dễ dàng xác định được
❖ Giúp dễ dàng quản lý hồ sơ bằng máy tính
- Truy tìm nhanh cho việc thống kê, báo cáo
- Truy xuất nhanh các dữ liệu đã xảy ra
1.4.5 Giáo dục trực tuyến
Theo [13], Giáo dục trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính,điện thoại thông minh nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề
Trang 23truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN)
Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (e-school) mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác
1.5 Vai trò công nghệ thông tin trong dạy học
Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin
Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 và nhấn mạnh vai trò của CNTT: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ
kĩ thuật hiện đại – chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Một số vai trò quan trọng của CNTT trong quá trình dạy học:
❖ CNTT giúp mở rộng đường đến với giáo dục
CNTT là một công cụ mạnh mẽ, tiềm năng để mở rộng các cơ hội giáo dục, cả chính thức và không chính thức, cho cư dân những vùng sâu, vùng xa và nông thôn vốn không được học hành vì các lý do xã hội, văn hoá như: người thiểu số, người tàn tật, người già cũng như cho tất cả những người vì lý do kinh tế hay do eo hẹp về thời gian
đã không thể đăng kí đến học ở trường
Tiếp cận những tài nguyên đào tạo từ xa trên các phương tiện khác nhau, có thể tiếp cận được bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào trong ngày với số lượng người không hạn chế CNTT cũng tạo điều kiện tiếp cận với những nguồn tài nguyên con người như những chuyên gia, nhà nghiên cứu, giáo sư, lãnh đạo doanh nghiệp và các bạn bè quôc tế
❖ CNTT giúp chuẩn bị lực lượng lao động
Một trong những lý do phổ biến nhất cho việc sử dụng CNTT trong các lớp học là để chuẩn bị tốt hơn cho thế hệ HS hiện tại, khi họ làm việc trong môi trường CNTT, đặc biệt
là máy tính, internet và các công nghệ liên quan ngày càng trở nên phổ biến Kiến thức cơ bản về công nghệ hoặc khả năng sử dụng CNTT một cách có hiệu quả vì thế đã được xem như một lợi thế cạnh tranh trong thị trường công việc đang ngày càng toàn cầu hoá
Trang 24Tiền năng của CNTT nhằm củng cố quá trình thu nạp kĩ năng làm việc đã ràng buộc việc sử dụng CNTT như một công cụ để tăng chất lượng giáo dục, gồm cả việc chuyển sang giảng dạy theo kiểu lấy HS làm trung tâm
❖ CNTT có thể giúp tăng chất lượng giáo dục
CNTT có thể nâng cao chất lượng giáo dục bằng nhiều cách: Nâng cao động lực
và sự tham gia của người học, bằng cách tạo thuận lợi cho việc thu nhận các kĩ năng cơ bản và bằng cách tăng cường đào tạo GV Khi được sử dụng hợp lý CNTT có thể giúp chuyển sang cách dạy và học theo kiểu hướng về người học
Tạo động lực cho học tập Video và các phần mềm trong máy tính có thể được sử dụng để cung cấp những nội dung mới và có tính thử thách nhằm thu hút người học Hơn thế, các máy tính được kết nối với nhau thông qua mạng internet làm tăng động lực cho người học, đem lại cơ hội kết nối, trao đổi giữa một người với các sự kiện trên thế giới
Tạo thuận lợi trong việc thu nhận những kĩ năng cơ bản, chuyển tải kĩ năng và khái niệm cơ bản, và là cơ sở cho những kĩ năng ở mức cao hơn Khả năng sáng tạo có thể được nảy sinh thông qua việc luyện tập và thực hành
❖ CNTT làm chuyển đổi môi trường học tập sang môi trường mô hình lấy người học làm trung tâm
Các nhà nghiên cứu cho rằng sử dụng CNTT hợp lý có thể gây xúc tác chuyển mô hình cả nội dung lẫn phương pháp giáo dục học, trung tâm của cải cách giáo dục trong thế kỉ XXI Nếu như được thiết kế và thực hiện đúng đắn, giáo dục được hỗ trợ bởi CNTT có thể thúc đẩy việc giành kiến thức và kĩ năng nhằm tạo khả năng cho các HS
có thể kéo dài công cuộc học tập của mình suốt đời
Khi áp dụng đúng đắn, CNTT tạo cho HS học tập năng động, khuyến khích sự trao đổi và hợp tác giữa học viên, GV và các chuyên gia trong cùng lĩnh vực, thúc đẩy sự tận dụng những thông tin đang có và tạo ra được những sản phẩm thực dụng hơn giúp cho quá trình học tập sáng tạo hơn
Tóm lại, với sự bùng nổ thông tin, ngày càng có nhiều phần mềm phục vụ việc dạy
và học rõ ràng không thể không đổi mới phương pháp dạy và học đã được các nhà giáo
Trang 25cứu về giáo dục Tuy nhiên, làm thế nào để việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp có hiệu quả, kết quả hơn hẳn cách dạy và học cũ, đó là cần phải trao đổi, bàn bạc
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người
sử dụng qua những mạng máy tính kể cả internet… có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, kênh âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và suy luận có lý, HS có thể
có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của CNTT và truyền thông trong quá trình đổi mới PPDH Có thể khẳng định rằng, môi trường CNTT và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
❖ Nhược điểm:
Theo nhận định của một số chuyên gia thì việc đưa CNTT và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực GD&ĐT bước đầu để đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề này sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:
Trang 26- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc DH nhưng trong một mức độ nào đó, công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực hiện hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân Cụ thể là, với những bài có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS
GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó để đủ một mặt bảng và HS dễ dàng củng cố bài học
từ đầu đến cuối mà không phải lật lại “slide” như trên dạy trên máy tính điện tử
- Bên cạnh đó, kiến thức, kĩ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa
đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, PPDH vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa hề xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người- máy, dạy theo nhóm, daỵ phương pháp
tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV Chính vì vậy đòi hỏi GV phải kết hợp hài hoà các PPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền thống
- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kĩ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa chính xác hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong trong thực hiện các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới, PPDH bằng phương tiện chiếu projector, …còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
Tóm lại, dù CNTT có tiến bộ đến mức độ nào GV cũng cần phải rèn luyện kĩ năng
sư phạm mới tổ chức được các tình huống có ứng dụng CNTT tốt Ngược lại, nếu GV
am hiểu về giáo học pháp, có kĩ năng sư phạm tốt nhưng không ứng dụng được CNTT thì việc thể hiện đối với PPDH này cũng bị giới hạn
1.7 Các phương pháp dạy học
1.7.1 Dạy học dự án
Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích HS tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực
Trang 27xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung
và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế
Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi cuốn được mọi đối tượng HS không phụ thuộc vào cách học của các em Thông thường
HS sẽ được làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề, hiểu sâu nội dung hơn Các phương tiện kỹ thuật cũng được sử dụng để
hỗ trợ việc học Trong quá trình thực hiện dự án có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp HStạo ra những sản phẩm có chất lượng
1.7.2 Dạy học WebQuest
Theo [17], WebQuest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sở phương tiện dạy học mới là CNTT và Internet Trong đó người học tự lực thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS trình bày và đánh giá
Trong tiếng Anh, Web ở đây nghĩa là mạng, Quest nghĩa là tìm kiếm, khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi WebQuest là phương pháp
“khám phá trên mạng” WebQuest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet
1.7.3 Dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống
có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có
Trang 281.8 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai – Bắc Từ Liêm – Hà Nội
1.8.1 Mục đích điều tra
Điều tra thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học hoá học trong trường THPT
1.8.2 Nội dung điều tra
Để thực hiện mục tiêu trên, tôi đã xác định các nội dung cần điều tra và xây dựng phiếu điều tra dành cho GV Phiếu điều tra được trình bày ở phần phụ lục 1
1.8.3 Địa bàn và đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 49 GV tại 5 trường THPT trên địa bàn thành phố
1.8.4 Kết quả điều tra
Bảng 1.2 Thâm niên công tác Thâm niên
giảng dạy
1 – 10 năm 11 – 20 năm 21 – 30 năm 31 – 40 năm
GV tham gia khảo sát là những GV tại các trường công lập trên địa bàn thành phố
Hà Nội và có thâm niên công tác được phân bố đều ở các mức 1-10 năm, 11-20 năm, 21-30 năm Như vậy khảo sát đã tiếp cận được đầy đủ và tương đối đồng đều các đối tượng GV với những mức thâm niên khác nhau Kết quả khảo sát cũng vì thế có tính đại diện và có độ tin tưởng cao
Trang 29Bảng 1.3 Điều kiện cơ sở vật chất Điều kiện cơ
có cơ sở vật chất khá/trung bình thì số GV ít sử dụng CNTT trong dạy học lại chiếm đa
số (50-60%) Tại các trường được đánh giá cơ sở vật chất kém thì GV không sử dụng CNTT trong dạy học Kết quả này phản ánh thực trạng rằng, một số trường đầu tư cho
cơ sở vật chất tốt thì cũng có những chính sách khuyến khích GV ứng dụng CNTT thông tin trong dạy học Những trường đầu tư cơ sở vật chất ở mức độ vừa phải thì thường phục vụ cho nhu cầu quản lý hành chính, ít chú trọng cho việc khuyến khích GV ƯDCNTT trong dạy học
Bảng 1.4 Các phương pháp thường xuyên sử dụng
Tỉ lệ % Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không dùng
Trang 30Khảo sát về các phương pháp dạy học, nhóm phương pháp dạy học truyền thống được GV sử dụng nhiều nhất như: thuyết trình, đàm thoại, giải quyết vấn đề Các nhóm phương pháp khác như: dự án, dạy học theo góc, phương pháp nghiên cứu thì ít được sử dụng hơn Một lưu ý rằng, các nhóm phương pháp dạy học truyền thống có thể triển khai mà không đòi hỏi phải ứng dụng CNTT cũng vẫn đạt hiệu quả cao Tuy nhiên ở các nhóm phương pháp như dạy học dự án, dạy học theo góc, hay phương pháp nghiên cứu thì ứng dụng CNTT sẽ giúp đạt hiệu quả tốt hơn
Bảng 1.5 Đánh giá các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên
Mức độ ƯDCNTT trong dạy học của giáo viên %
Mức độ 1: Chưa bao giờ sử dụng CNTT để tìm kiếm thông tin, hoặc soạn
Mức độ 2: Có sử dụng CNTT để tìm kiếm thông tin, sưu tầm tài liệu nhưng
Mức độ 3: Chưa biết cách tự soạn các giáo án điện tử nhưng biết sử dụng
Mức độ 4: Biết cách tự tìm kiếm thông tin, soạn giáo án điện tử nhưng chưa
Mức độ 5: Biết cách tự tìm kiếm thông tin, soạn giáo án điện tử thành thạo,
thường xuyên sử dụng tích hợp CNTT trong các tiết học, nhưng chưa biết
cách tổ chức dạy học trực tuyến
12,5
Mức độ 6: Biết cách tự tìm kiếm thông tin, soạn giáo án điện tử thành thạo,
thường xuyên sử dụng tích hợp CNTT trong các tiết học, và đã tổ chức dạy
học trực tuyến thành công
7,2
Như vậy, qua kết quả điều tra tôi nhận thấy, trong địa bàn thành phố Hà Nội các
GV đã tích cực trong việc đổi mới PPDH Tuy nhiên, chủ yếu số lượng GV có thâm niên từ 10 năm trở lên chiếm đến gần 70% Tuy các thầy (cô) đã cố gắng triển khai áp dụng PPDH tích cực nhằm đạt được kết quả cao nhưng vẫn ở mức độ chưa thường xuyên
và chưa triển khai mội số phương pháp mới như PPDH theo góc, theo dự án hay sử dụng CNTT trong dạy học
Trang 31Đa số GV vẫn chỉ sử dụng các hoạt động đơn giản, ít sử dụng đến sự hỗ trợ của các thiết bị, máy móc đặc biệt và CNTT (Ví dụ dạng: Phiếu học tập, thảo luận câu hỏi, báo cáo thí nghiệm,…) Nếu có thì chỉ sử dụng CNTT như là công cụ để soạn giáo án, hay trình chiếu bài giảng bằng powerpoint thay cho viết bảng, dù đều công nhận vai trò của CNTT trong DH ngày nay Nguyên nhân chính của tình trạng trên là trình độ tin học và thời gian còn hạn chế; do HS thiết sự hợp tác, kết hợp nhịp nhàng, thiếu chủ động, cách
bố tró lớp học, bàn học của các trường làm việc chia nhóm, góc thiếu thuận lợi,…
Trang 32TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này tôi đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài đó là:
- Những vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
và trong thời đại 4.0
- Các khái niệm cơ bản về công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các phương pháp dạy học
- Một số hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Những điều tra thực tiễn về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hoá học
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn chương 1, chúng tôi tiếp tục triển khai nghiên cứu nội
dung chính của đề tài trong chương 2
Trang 33CHƯƠNG II: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ E – BOOK VÀO DẠY HỌC PHẦN HALOGEN VÀ CÁC HỢP CHẤT CHỨA HALOGEN 2.1 Phân tích, mục tiêu, cấu trúc nội dung chương halogen – Hoá học 10
2.1.1 Mục tiêu chương halogen
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới [10], mục tiêu chương halogen gồm:
❖ Về kiến thức:
- Mô tả được cấu tạo nguyên tử và số oxi hoá của halogen trong các hợp chất
- Trình bày được: Tính chất vật lý, tính chất hoá học cơ bản của các halogen và một
số hợp chât quan trọng của halogen
- Nêu được ứng dụng, phương pháp điều chế halogen và một số hợp chât quan trọng của halogen
- Giải thích được: tính oxi hoá mạnh của các nguyên tố halogen Nguyên nhân làm cho các halogen có sự giống về tính chất hoá học cũng như sự biến đổi có quy luật tính chất của đơn chất halogen và hợp chất của chúng
- Nêu được nguyên tắc chung và phương pháp điều chế các halogen và các hợp chất quan trọng của halogen
- Giải một số bài tập định tính và định lượng có liên quan đến kiến thức chương halogen
❖ Về tình cảm, thái độ:
- Tạo cho HS lòng say mê học tập, yêu thích môn Hoá học Từ đó yêu thích khoa học,
ý thức vươn lên chiếm lĩnh khoa học, kỹ thuật
- Có ý thức bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường và vận dụng kiến thức Hoá học vào thực tiễn
❖ Một số năng lực cần phát triển cho HS:
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Trang 34- Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực tính toán
- Năng lực giao tiếp và hợp tác
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương halogen
Chương 5- nhóm halogen [16] bao gồm 8 bài trong đó có 5 bài lý thuyết, 1 bài luyện tập
và 2 bài thực hành Cấu trúc nội dung kiến thức trong chương được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức mới chương “Nhóm halogen”
2.1.3 Những điểm cần chú ý về nội dung và phương pháp dạy học khi dạy chương halogen- Hoá học 10
2.1.3.1 Những điểm cần chú ý về nội dung dạy học
Khi nghiên cứu vị trí các halogen trong bảng tuần hoàn và cấu tạo nguyên tử của chúng, cần chú ý đến đặc điểm: có 1 electron không ghép đôi ở phân lớp ngoài cùng Từ đó hướng dẫn HS chú ý đến các nội dung:
- Giải thích sự giống nhau về tính chất của các halogen và các hợp chất của chúng dựa vào cấu tạo tương tự nhau của lớp electron ngoài cùng của các nguyên tử halogen Sự khác nhau định tính về tính chất của các halogen là do khoảng cách khác nhau từ hạt nhân đến lớp electron hoá trị
Trang 35- Giải thích sự thay đổi về tính chất vật lí của halogen cần chú ý đến khả năng tạo liên kết cộng hoá trị không phân cực trong phân tử đơn chất và lý thuyết về cấu tạo nguyên
tử để lí giải sự tạo thành liên kết cho - nhận gây ra sự đột biến về năng lượng liên kết giữa clo và flo cũng như độ bền phân tử giữa chúng
- Nghiên cứu tính hoạt động hoá học của các halogen cần làm rõ sự phụ thuộc của độ
âm điện, năng lượng liên kết, bán kính nguyên tử, …
+ Cần giải thích cho HS vì sao phản ứng của Cl2 với H2O là phản ứng thuận nghịch:
Cl2 + H2O → HCl + HClO Chính HClO là chất oxi hoá mạnh, nó oxi hoá HCl đến Cl2
+ Tính tẩy màu của clo ẩm là do tính oxi hoá mạnh của axit hipolorơ HClO (tính oxi hoá mạnh của gốc hipoclorit (ClO-) hay tính tẩy màu của nước Gia – ven cũng là do tính oxi hoá mạnh của ion này
- Trong các nhà máy giấy, nhà máy sợi người ta thường điều chế nước Gia – ven để dùng ngay, vì nước Gia – ven không để được lâu do có phản ứng với CO2 trong không khí:
NaClO + CO2 + H2O →NaHCO3 + HClO
Và 2HClO as 2HCl + O2
Trong dung dịch, axit hipocloro phân huỷ theo 3 hướng ở các điều kiện khác như:
2HClO → 2HCl + O2 (1) (có mặt chất xúc tác, chất khử hoặc ánh sáng) 2HClO → H2O + Cl2O (2)
3HClO → 2HCl + HClO3 (3) (có mặt chất hút nước)
- Điều này giúp HS hiểu vì sao có phản ứng hoá học:
Cl2 + 2NaOH ⎯⎯t0 → NaCl + NaClO + H2O 3Cl2 + 6NaOH ⎯⎯t0 → 5NaCl + NaClO3 + 3H2O
- Clorua vôi là hỗn hợp của hai muối CaCl2 và Ca(ClO)2 Để đơn giản, ta coi clorua vôi
là muối hỗn tạp CaOCl2 Chú ý phân biệt với muối kép (muối kết tinh từ dung dịch hỗn hợp hai muối đơn giản, ví dụ: phèn chua K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)
2.1.3.2 Những điểm cần chú ý về phương pháp dạy học
Theo Nguyễn Thị Sửu, Lê Văn Nam [11] khi dạy học phần halogen cần chú ý những điểm sau:
- Halogen là nhóm nguyên tố đầu tiên được nghiên cứu sau khi HS đã được học các lý
thuyết chủ đạo của chương trình Vì vậy, cần dùng phương pháp suy diễn hay diễn dịch
Trang 36( đi từ cái chung đến cái riêng) để dự đoán tính chất xuất phát từ vị trí trong bảng tuần
hoàn các nguyên tố hoá học → cấu tạo → tính chất
- Các thí nghiệm biểu diễn của GV trong chương trình này chủ yếu được tiến hành theo
phương pháp minh hoạ, kiểm chứng để khẳng định những dự đoán về tính chất dựa
trên cấu tạo của đơn chất và hợp chất của halogen
Phương pháp tưu duy này có tác dụng phát huy tính tích cực, rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức kĩ năng đã học, phát triển tưu duy của HS
- Trong bài dạy cần tăng cường sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để thây sự
giống và khác nhau giữa các halogen về cấu hình electron nguyên tử, độ âm điện, tính
chất vật lý và hoá học của các đơn chất và hợp chất quan trọng của halogen
Dù phương pháp so sánh có tác dụng khắc sâu, hệ thống hoá kiến thức và nêu bật sự
biến đổi tính chất vật lý và tính chất hoá học của các halogen
2.2 Nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử
Hình 2.2 Sơ đồ nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử
2.2.1 Các nguyên tắc về nội dung
- Thể hiện được mục tiêu bài giảng (kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực cần phát
Trang 37DH khác nhau, nhưng mục tiêu cần đạt đến chỉ là một Do vậy quá trình thiết kế
bài giảng các hoạt động phải hướng tới mục tiêu đặt ra
- Nội dung kiến thức: Chính xác; Làm bật được kiến thức trọng tâm; Đảm bảo sự phù
hợp giữa nội dung trình chiếu với nội dung dạy học Do đó khi thiết kế phải phân
tích, xác định rõ đặc điểm của các yếu tố nội dung dạy học (đơn vị kiến thức, tư liệu
tham khảo, kĩ năng môn học,…), đặc điểm của PPDH bộ môn để lựa chọn một hình
thức trình chiếu phù hợp (giao diện, chế độ xuất hiện, thời gian, thao tác máy, )
- Thể hiện được sự tích hợp nhiều mục tiêu giáo dục: Về đạo đức, phẩm chất; về
giáo dục môi trường
Một trong những yêu cầu của PPDH mới là phải thông qua nội dung bài học để
giáo dục nhiều vấn đề liên quan đến việc bồi dưỡng kỹ năng sống, phẩm chất đạo đức
cho HS Các nội dung giáo dục tích hợp không nên gượng ép, khiên cưỡng, nhưng không
được bỏ qua nếu như trong nội dung bài học có thể kết hợp được [18]
- Tổ chức các hoạt động học tập của HS: Hoạt động nhóm; Hoạt động cá nhân;
Hoạt động trên lớp, hoạt động ngoài lớp
Trong thiết kế bài giảng điện tử (BGĐT) cần chú ý tổ chức các hoạt động học tập
nhóm, hoạt động cá nhân một cách phù hợp để tích cực hoá hoạt động của HS, để rèn
luyện các kỹ năng mà mục tiêu bài dạy đặt ra
- Tổ chức được các hoạt động kiểm tra đánh giá CNTT cho phép GV tổ chức đánh
giá kết quả hoạt động của HS ngay trên lớp và thời gian ngắn, đồng thời nhanh
chóng đưa ra các câu hỏi dưới nhiều hình thức để đánh giá kết quả học tập (theo
mục tiêu đặt ra) của HS sau khi hoàn thành tiết học Vì vậy, trong thiết kế bài soạn
cần phát huy thế mạnh này của CNTT
2.2.2 Các nguyên tắc kĩ thuật
Đây là nguyên tắc rất quan trọng đối với BGĐT Rất nhiều GV mặc dù có trình độ
và kỹ năng sử dụng CNTT, nhưng lúng túng trong khi thiết kế BGĐT Hầu hết các GV
thiết kế theo quan điểm riêng của mình, do đó một số vấn đề về kĩ thuật thiết kế chưa
phù hợp, làm giảm hiệu quả của CNTT
Sau đây là những vấn đề kĩ thuật cần đạt được đối với một BGĐT:
- Kiến thức tổ chức hệ thống, làm bật được nội dung trọng tâm
Trang 38Trong một tiết học kiến thức cần được tổ chức khai thác một cách có hệ thống, cấu trúc chặt chẽ, logic, nhưng phải làm bật được kiến thức trọng tâm của bài Những kiến thức nào chỉ cần thông báo, những kiến thức nào có thể chuyển thành bài tập cho HS về nhà tự nghiên cứu, kiến thức nào cần tổ chức cho HS tìm hiểu, khai thác tại lớp phải được thể hiện rõ trong bài soạn
- Các thông tin có sự liên kết, dễ dàng chuyển đến các slide, menu cần thiết
Khi thiết kế BGĐT GV cần thiết kế trên một phần mềm chính, các thông tin, tư liệu hay các phần mềm chuyên dùng khác được sử dụng với tư cách liên kết hỗ trợ (đa môi trường), các kỹ năng sử dung phần mềm đó của GV được đánh giá thông qua sự tích hợp trong bài giảng một cách hợp lý
- Giao diện nhất quán, cấu trúc đề mục bài giảng rõ ràng
Các slide phải có giao diện nhất quán, để khi chuyển slide không làm thay đổi giao diện này gây khó chịu cho người theo dõi Rất nhiều GV khi thiết kế thường không để ý đến điều này Ví dụ mỗi slide có một nền khác nhau, font chữ khác nhau, cỡ chữ khác nhau,…
Các đề mục phải được thể hiện cấu trúc của bài dạy để HS dễ theo dõi, dễ ghi chép
- Đa dạng cách truyền tải thông tin (nghe, nhìn,… )
Đây là thế mạnh của CNTT, những video clip, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, những hình ảnh, âm thanh,… đưa đến cho HS đúng lúc, mặc dù trong thời gian ngắn nhưng có tác dụng, hiệu quả cao về nhận thức của HS
- Tổ chức kiến thức trên một slide hợp lý (hình ảnh, bảng biểu, hình vẽ, mô hình hoá kiến thức,…)
Thông thường nên bố trí một đơn vị kiến thức nằm gọn trong một slide dể dễ dàng quan sát, theo dõi
Hạn chế sử dụng chữ để diễn giải Đặc biệt không đưa nguyên các ý có trong SGK lên slide để HS xem và chép
Nên sử dụng các kí hiệu, mô hình hoá kiên thức để HS dễ học, dễ nhớ
Các hình ảnh, bảng biểu, hình vẽ,… có kích thước vừa phải dễ quan sát
- Sử dụng font chữ, cỡ chữ, màu sắc, kĩ thuật xuất hiện thông tin trên slide hợp lý
Trang 39Font chữ, cỡ chữ cần thống nhất, nên sử dụng font chứ Times New Roman hoặc
Arial, vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, vừa nghiêm túc trong văn bản không nên sử dụng các kiểu chữ rườm rà
Màu sắc cần có sự phối hợp hài hoà giữa các màu trong một slide Dựa vào khả năng
thu nhận ánh sáng của mắt, người ta khuyên nên sử dụng không quá 3 màu trong một slide
và các cặp màu có bước sóng ánh sáng không quá gần nhau, cũng không nên quá xa nhau
Đối với màu chữ nên chọn màu chủ đạo xuyên suốt các slide và một màu cho các
tiêu mục, và một màu cho những ý cần làm nổi bật
Không nên lạm dụng hiệu ứng xuất hiện thông tin trên slide một cách tuỳ tiện, gây
mệt mỏi, phân tán sự tập trung của HS Những thông tin cần xuất hiện một lúc thì cho xuất hiện ngay, không nên cho xuất hiện từ từ, lần lượt hoặc sử dụng các hiệu ứng xuất hiện thông tin rối rắm, nhiều lần trên một slide không phù hợp cho việc quan sát học tập của HS
- Tư liệu phục vụ bài giảng
Tư liệu phải phù hợp với nội dung bài giảng, phong phú nhưng liều lượng phải vừa, có lựa chọn
Việc chèn tư liệu hợp lý, khi cần thì kích hoạt để sử dụng
Như vậy, nguyên tắc khi thiết kế BGĐT có thể tóm tắt lại nhưu sau:
- Đảm bảo truyền đạt được nội dung dạy học
- Đảm bảo tính sư phạm của quá trình dạy học
- Kỹ thuật thiết kế phù hợp, phát huy vai trò của CNTT trong dạy học
- Kích thích hoạt động nhận thức và trí tuệ của HS ở mức độ cao
2.3 Thiết kế bài giảng điện tử
2.3.1 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử (BGĐT) có thể xây dựng theo quy trình 6 bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
- Bước 2: Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm
- Bước 3: Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức
- Bước 4: Xây dựng thư viện tư liệu
- Bước 5: Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
- Bước 6: Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Trang 40Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước
a Xác định mục tiêu bài học
Đây là vấn đề then chốt khi lập kế hoạch bài dạy vì nó quyết định nội dung, các PPDH cùng các hoạt động của GV và HS, nội dung phương pháp đánh giá kết quả học tập Mục tiêu phải được xác định cho người học: Sau khi học xong HS phải đạt được kiến thức, kĩ năng thái độ gì?
Mục tiêu cần được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp
Mục tiêu phải cụ thể, có thể quan sát, thống kê được, HS có thể đạt được và GV
có thể đánh giá được sau khi học xong bài
Việc xây dựng mục tiêu bài học là một quá trình, gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân tích định hình
- HS đã có được những kinh nghiệm gì về chủ đề hay nội dung giảng dạy (thường dựa vào chương trình đào tạo của các trình độ trước) để từ đó xác định vấn đề cần giải quyết
- Vấn đề đó có thể được giải quyết như thế nào?
- Nếu có thì mục tiêu cần đạt cụ thể của việc giảng dạy là gì ?
Việc phân tích sơ bộ tình hình giúp GV hoàn chỉnh bài giảng cả về hình thức và nội dung, tránh trường hợp có nội dung không có HS hoặc thấy không cần thiết hoặc
đã được nghe nói dưới một hình thức khác
Giai đoạn 2: Xây dựng mục tiêu
- Phác hoạ những mục tiêu chính của bài giảng đó theo các cấp độ
- Những mục tiêu “con” có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng cụ thể trên cơ sở những mục tiêu “xương sống” đã dựng sẵn
Giai đoạn 3: Thực hiện và đánh giá việc đạt mục tiêu
- Giảng dạy bám theo mục tiêu và lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp
để đạt được mục tiêu đề ra,
- Nhất thiết phải kiểm tra và đánh giá mục tiêu đã chiếm lính bằng phương pháp đánh giá phù hợp
Như vậy, mục tiêu bài dạy là sự mô tả kết quả, sản phẩm mà bài dạy muốn đạt được chứ