1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTN Luật Lao động: bài tập tình huống

14 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 47,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh H làm việc tại công ty xây dựng Y có trụ sở chính tại Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội từ năm 2006. Tháng 8/2018, do nhu cầu công việc, giám đốc công ty Y ra quyết định chuyển anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty đặt tại thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) trong thời hạn 1 năm, bắt đầu từ ngày 15/8/2018. Anh H thực hiện quyết định và không có thắc mắc gì. Ngày 20/6/2019, trên đường đi từ chỗ làm về nơi ở tại thành phố Vinh, anh H bị tai nạn giao thông phải vào bệnh viện điều trị 2 tháng. Sau khi ra viện, anh H được giám định mức suy giảm khả năng lao động, kết quả suy giảm là 45%. Anh H yêu cầu được quay trở về làm việc tại trụ sở chính tại Hà Nội song công ty Y không đồng ý vì cho rằng công việc tại Hà Nội đã có người khác đảm nhiệm, yêu cầu anh tiếp tục làm việc tại thành phố Vinh. Anh H không đồng ý với quyết định này và nghỉ việc 1 tuần không có lí do. Ngày 9/9/2019, giám đốc công ty triệu tập Ban chấp hành công đoàn cơ sở tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật anh H (H tham dự phiên họp nhưng bỏ về giữa chừng) và ra quyết định sa thải anh H vì lý do nghỉ việc 5 ngày không có lý do chính đáng. Anh H không đồng ý với quyết định sa thải nên đã làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Câu 1. Việc anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty tại thành phố Vinh trong thời hạn 1 năm có phải điều chuyển công việc khác không, tại sao? Câu 2. Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị tai nạn giao thông? Câu 3. Quyết định sa thải anh H của công ty Y đúng hay sai, tại sao? Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải? 3.1. Quyết định sa thải anh H của công ty Y là trái pháp luật 3.2. Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải Câu 4. Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp?

Trang 1

Trang

Câu 1 Việc anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty tại thành phố

Vinh trong thời hạn 1 năm có phải điều chuyển công việc khác không,

tại sao?

1

Câu 2 Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị tai nạn giao thông? 3 Câu 3 Quyết định sa thải anh H của công ty Y đúng hay sai, tại sao?

Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải?

5

3.1 Quyết định sa thải anh H của công ty Y là trái pháp luật 5 3.2 Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải 7

Câu 4 Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp? 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Anh H làm việc tại công ty xây dựng Y có trụ sở chính tại Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội từ năm 2006 Tháng 8/2018, do nhu cầu công việc, giám đốc công ty Y ra quyết định chuyển anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty đặt tại thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) trong thời hạn 1 năm, bắt đầu từ ngày 15/8/2018 Anh H thực hiện quyết định và không có thắc mắc gì

Ngày 20/6/2019, trên đường đi từ chỗ làm về nơi ở tại thành phố Vinh, anh H bị tai nạn giao thông phải vào bệnh viện điều trị 2 tháng Sau khi ra viện, anh H được giám định mức suy giảm khả năng lao động, kết quả suy giảm là 45% Anh H yêu cầu được quay trở về làm việc tại trụ sở chính tại Hà Nội song công ty Y không đồng ý vì cho rằng công việc tại Hà Nội đã có người khác đảm nhiệm, yêu cầu anh tiếp tục làm việc tại thành phố Vinh Anh H không đồng ý với quyết định này và nghỉ việc 1 tuần không có lí do

Ngày 9/9/2019, giám đốc công ty triệu tập Ban chấp hành công đoàn cơ sở tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật anh H (H tham dự phiên họp nhưng bỏ về giữa chừng)

và ra quyết định sa thải anh H vì lý do nghỉ việc 5 ngày không có lý do chính đáng Anh H không đồng ý với quyết định sa thải nên đã làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Câu 1 Việc anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty tại thành phố Vinh trong thời hạn 1 năm có phải điều chuyển công việc khác không, tại sao?

Trả lời: Việc anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty Y tại thành phố Vinh

trong thời hạn 1 năm là điều chuyển công việc khác

Hành vi điều chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động được pháp luật quy định tại Điều 31 Bộ Luật Lao động năm 2012 (BLLĐ) và Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số nội dung của Bộ Luật Lao động (NĐ 05/2015/NĐ-CP) Theo quy định tại Điều

31 BLLĐ và NĐ 05/2015/NĐ-CP, người sử dụng lao động được quyền chuyển người lao động sang làm công việc khác với hợp đồng lao động khi có một trong các căn cứ sau:

- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh;

Trang 3

- Áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Sự cố điện, nước;

- Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh1 Riêng trường hợp này phải được quy định

cụ thể trong nội quy doanh nghiệp

Bên cạnh đó, BLLĐ cũng quy định thời hạn chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động không được quá 60 ngày làm việc cộng

dồn trong một năm Trong trường hợp tiếp tục phải tạm thời chuyển người lao động đó làm công việc khác so với hợp đồng lao động thì phải được sự đồng ý của người lao động bằng văn bản 2 Theo tình huống, vào tháng 8/2018, giám đốc công

ty Y quyết định chuyển anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty đặt tại thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) trong thời hạn một năm Về bản chất, hành vi điều chuyển công việc khác chỉ cần đáp ứng được hai yếu tố, đó là có sự thay đổi về công việc và có tính chất tạm thời Do đó, nhóm em xác định, trường hợp của anh

H là điều chuẩn công việc khác vì những lý do sau:

Thứ nhất, anh H đã có sự thay đổi địa điểm làm việc từ quận Hoàng Mai

(thành phố Hà Nội) đến thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) theo quyết định của giám đốc công ty Y Tuy nhiên, nội dung công việc có thay đổi hay không thì không được nhắc đến Qua tìm hiểu, về vấn đề điều chuyển công việc hay chỉ là thay đổi địa điểm làm việc, hiện nay có hai quan điểm như sau:

- Quan điểm 1: Yếu tố địa điểm làm việc luôn đi kèm với yếu tố nội dung công việc, nên khi có sự thay đổi về địa điểm làm việc sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi nội dung công việc

- Quan điểm 2: Địa điểm làm việc và nội dung công việc là hai yếu tố độc lập

Vì vậy, chỉ thay đổi về nội dung công việc mới là điều chuyển công việc khác, nếu chỉ dừng lại ở thay đổi địa điểm sẽ không được hiểu là nội dung công việc cũng sẽ được thay đổi

Nhóm chúng em xin lựa chọn quan điểm thứ nhất, bởi vì nội dung công việc

là công việc mà người lao động phải thực hiện Một trong những yếu tố ảnh

1 Lưu Bình Nhưỡng (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2012, NXB Lao động, tr 76, 77

2 Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP

Trang 4

hưởng đến nội dung công việc chính là điều kiện làm việc Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh tế, tổ chức thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động,

Khi thay đổi địa điểm sẽ làm thay đổi điều kiện lao động từ đó dẫn đến thay đổi nội dung công việc Do đó Nội dung công việc và địa điểm công việc là 2 yếu tố không thể tách rời trong hợp đồng lao động Như vậy, thay đổi địa điểm sẽ làm thay đổi nội dung công việc

Thứ hai, yếu tố tính chất tạm thời Theo tình huống, công ty Y quyết định

chuyển anh H sang làm việc tại chi nhánh trong thời hạn 1 năm Như vậy, thời hạn

1 năm này đã chứng minh việc anh H sang làm việc tại chi nhánh là tạm thời

Câu 2 Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị tai nạn giao thông?

Trả lời: Khoản 1 Điều 142 BLLĐ quy định “Tai nạn lao động là tai nạn gây

tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” Ngoài ra, căn cứ theo Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao

động năm 2015 (Luật ATVSLĐ), để trường hợp của anh H được coi là tai nạn lao động phải đáp ứng hai điều kiện:

Một là, người lao động bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc

hoặc ngược lại, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý1 Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn cách hiểu hai thuật ngữ “tuyến đường hợp lý” và “khoảng thời gian hợp lý” Từ thực tế, có thể hiểu hai thuật ngữ này như sau:

- Khoảng thời gian hợp lý là khoảng thời gian cần thiết để người lao động đến nơi làm việc trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc;

- Tuyến đường hợp lý là tuyến đường được phép đi mà người lao động thường xuyên đi từ nơi ở hoặc nơi đăng ký tạm trú đến nơi làm việc và ngược lại

Hai là, suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc những

trường hợp trên2

Đối chiếu quy định của pháp luật với trường hợp của anh H như sau:

1 Điểm c Khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động

2 Khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động

Trang 5

Thứ nhất, tai nạn giao thông của anh H xảy ra trên đường đi làm, trùng với

điều kiện tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi từ nơi làm việc đến nơi ở

Thứ hai, mức suy giảm khả năng lao động của anh H được giám định sau khi ra

viện là 45%, cao hơn 40% so với mức suy giảm tối thiểu theo luật định

Theo đó, trường hợp của anh H đã thỏa mãn hai điều kiện về mức độ suy giảm khả năng lao động và nơi xảy ra tai nạn, nhưng dữ kiện đề bài không đủ để chứng minh điều kiện về tuyến đường hợp lý và khoảng thời gian hợp lý Vì vậy, nhóm

em xác định có 2 trường hợp

Trường hợp 1: Tai nạn giao thông của anh H là không là tai nạn lao động, anh

H được hưởng chế độ ốm đau Chế độ ốm đau được quy định cụ thể tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Luật BHXH) và Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH Anh H là đối tượng được hưởng chế độ ốm đau theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật BHXH1

Về điều kiện hưởng chế độ ốm đau, vì anh H bị tai nạn giao thông mà không

phải tai nạn lao động, phải nghỉ việc, điều trị tại bệnh viện 2 tháng nên thỏa mãn điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật BHXH

Về thời gian và mức hưởng đối với chế độ ốm đau được thực hiện theo bảo

hiểm xã hội bắt buộc Trách nhiệm này thuộc về công ty Y và bảo hiểm xã hội Trong khoảng thời gian 02 tháng anh H nằm viện, công ty Y không phải chi trả tiền viện phí và tiền lương2 Chi phí điều trị và nằm viện của anh H trong thời gian 02 tháng do bảo hiểm y tế chi trả với mức chi trả do bảo hiểm y tế xác định Trường hợp bảo hiểm y tế không chi trả hết, anh H sẽ tự trả phần vượt quá này

Trường hợp 2: Tai nạn giao thông của anh H là tai nạn lao động, anh H được

hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật ATVSLĐ:

Thứ nhất, về chi phí từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định sẽ do BHYT

chi trả, trong trường hợp BHYT không chi trả hết hoặc người lao động không tham

1 Điểm a khoản 1 Điều 2 Luật BHXH “Người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động

xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động”

2 Khoản 2 Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 6

gia bảo hiểm y tế anh H sẽ được công ty Y chi trả phần vượt quá hoặc toàn bộ tương ứng1

Thứ hai, về tiền lương trong 02 tháng nằm viện, anh H sẽ được công ty Y trả

đầy đủ tiền lương đối với 02 tháng đó2

Thứ ba, về giám định y khoa, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, thì

anh H sẽ được công ty giới thiệu đến Hội đồng giám định y khoa3, chi phí giám định sẽ được Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả

Thứ tư, về trợ cấp tai nạn lao động, anh H sẽ được hưởng trợ cấp lao động với

mức hưởng bằng 6,2 (bằng chữ: sáu phẩy hai4) tháng lương5 Và khoản trợ cấp này phải được thực hiện trong khoảng thời gian 05 ngày tính từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động Ngoài ra, trong trường hợp công ty Y đã mua bảo hiểm tai nạn cho anh H tại các đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, thì khoản trợ cấp này sẽ được chi trả bởi đơn vị đó, nếu mức chi trả thấp hơn mức 6,2 tháng lương nói trên thì công ty Y sẽ phải chi trả phần còn thiếu Còn trong trường hợp công ty Y không mua BHXH bắt buộc cho anh H, thì công ty Y còn phải trả thêm khoản tiền tương ứng mức trợ cấp do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động của cơ quan BHXH chi trả theo quy định của Luật BHXH, các khoản chi trả được quy định tại Điều 42 Luật ATVSLĐ Việc chi trả này thực hiện một lần hoặc hàng tháng theo thỏa thuận các bên, trường hợp không thống nhất thì thực hiện theo yêu cầu của anh H

Thứ năm, về việc làm sau tai nạn, anh Y sẽ được công ty sắp xếp công việc phù

hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa6

Thứ sáu, công ty Y sẽ có trách nhiệm lập Hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao

động (hồ sơ được quy định tại Điều 57 Luật ATVSLĐ) từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong trường hợp anh H có được hưởng từ quỹ này7

1 Khoản 2 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

2 Khoản 3 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

3 Khoản 6 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

4 Công thức tính: (1,5 + 35 × 0,4) × 40% = 6,2

5 Khoản 2 Điều 39 và Khoản 5 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

6 Khoản 8 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

7 Khoản 9 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

Trang 7

Trong đó, tiền lương dùng để tính trợ cấp và chi trả lương trong trường hợp này bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo pháp luật về lao động1

Câu 3 Quyết định sa thải anh H của công ty Y đúng hay sai, tại sao? Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải?

Trả lời:

3.1 Quyết định sa thải anh H của công ty Y là trái pháp luật

Xét tính hợp pháp của quyết định sa thải về nội dung: Việc áp dụng hình thức

xử lý kỷ luật sa thải được quy định tại Khoản 3 Điều 126 BLLĐ, cụ thể hơn là tại Điều 31 VBHN số 4753/VBHN-BLĐTBXH về kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc Theo đó, công ty Y chỉ được phép sa thải anh H khi đáp ứng đủ

hai điều kiện:

(i) Anh H tự ý bỏ việc trong 05 ngày làm việc cộng dồn trong khoảng thời gian tối đa 01 tháng hoặc 20 ngày làm việc cộng dồn trong khoảng thời gian tối đa

01 năm, kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc;

(ii) Anh H nghỉ việc không có lý do chính đáng

Theo đề bài, anh H đã tự ý nghỉ 1 tuần (07 ngày) và “không có lý do”2 Do đó, công ty Y đã quyết định sa thải anh H với lý do nghỉ việc quá 5 ngày không có lý

do chính đáng Ngoài hai điều kiện trên, công ty Y cũng không được xử lý kỷ luật nếu anh H rơi vào các trường hợp quy định tại khoản 43 và khoản 54 Điều 123 BLLĐ 2012 Tuy nhiên, dựa vào những dữ kiện mà đề bài đưa ra, nhóm em có cho rằng anh H không thuộc vào các trường hợp tại hai khoản trên và sẽ bỏ qua, không xem xét

1 Khoản 10 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015

2 Sau khi hết hạn thời gian làm việc tại Vinh thì công ty Y cũng không ra bất cứ quyết định đối với công việc cho anh H Do đó việc anh H nghỉ việc liên tục một tuần sau đó kể từ ngày ra viện là hoàn toàn hợp pháp.

3 Khoản 4 Điều 123 BLLĐ 2012: “4 Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời

gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.”

4 Khoản 5 Điều 123 BLLĐ 2012: “5 Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động

trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.”

Trang 8

Trong tình huống đề bài, anh H bị tai nạn ngày 20/6/2019 và điều trị ở bệnh viện 2 tháng, tức là anh sẽ ra viện ngày 20/8/2019 Trong khi đó, phía công ty Y ra quyết định chuyển anh H sang làm việc cho chi nhánh công ty đặt tại thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) trong thời hạn 01 năm từ ngày 15/8/2018 nên anh H sẽ chấm dứt thời hạn làm việc tại Vinh vào ngày 15/8/2019 Như vậy thì tính từ ngày 16/8/2019 anh H không có nghĩa vụ đến làm việc tại chi nhánh công ty tại Vinh, tại thời điểm anh H xuất viện thì thời hạn làm việc tại Vinh theo quyết định điều chuyển của công ty đã kết thúc được 5 ngày

Về hợp đồng lao động, anh H làm việc cho công ty Y từ năm 2006 đến năm 2019 nên theo khoản 2 Điều 22 BLLĐ 2012 có thể xác định được thì hợp đồng lao động giữa anh H và công ty Y là hợp đồng không xác định thời hạn Do đó, hợp đồng lao động giữa anh H và công ty Y vẫn còn hiệu lực sau thời điểm chấm dứt thời hạn làm việc 01 năm của anh H ở công ty đặt chi nhánh tại Vinh Sau khi hết hạn thời gian làm việc tại Vinh thì công ty Y cũng không ra bất cứ quyết định đối với công

việc cho anh H Bởi những lẽ trên nên việc anh H nghỉ việc liên tục một tuần sau

đó kể từ ngày ra viện là hoàn toàn hợp pháp Tuy còn hiệu lực hợp đồng, nhưng

nội dung của hợp đồng tại thời điểm này sẽ là bố trí công việc của anh H tại Hà Nội, và anh H cũng đưa ra yêu cầu về Hà Nội là hợp lý Do công ty Y từ chối yêu cầu quay trở về làm việc tại trụ sở chính tại Hà Nội của anh H vì lý do công việc tại Hà Nội đã có người khác đảm nhiệm khiến anh H không thể thực hiện đúng hợp

đồng đã giao kết Như vậy, xét về nội dung, việc công ty Y sa thải anh H trong trường hợp này là trái pháp luật

Về hình thức: Xét trình tự, thủ tục ra quyết định sa thải của công ty Y đối với

anh H (có tuân thủ nguyên tắc, trình tự quy định tại khoản 1 Điều 123 BLLĐ hay không) Tuy nhiên, nhóm em cho rằng không cần xét đến phần này vì xét về nội dung, quyết định sa thải của công ty Y đã là trái pháp luật

3.2 Giải quyết quyền lợi cho anh H khi bị công ty sa thải

Trong trường hợp được nêu trong đề bài, như đã chứng minh, quyết định sa thải anh H của công ty Y là trái pháp luật và anh H không hề rơi vào trường hợp

“thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động” do nghỉ việc

Trang 9

1 tuần không có lí do1 Mặt khác, anh H cũng không thuộc trường hợp nào quy định tại điểm b, c, d khoản này, đồng nghĩa với việc công ty Y không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh H theo Điều 38 BLLĐ Song, thực tế

là công ty đã ra quyết định sa thải, tức là đã chấm dứt hợp đồng lao động với anh H (theo khoản 8 Điều 36 BLLĐ) Vì vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 41 Bộ luật này, công ty Y đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, công ty Y có nghĩa

vụ2:

(i) Nhận anh H trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết, nhằm khôi

phục lại hợp đồng, khôi phục lại quan hệ lao động hợp pháp ban đầu, với địa điểm làm việc là Hà Nội và công việc như thỏa thuận trong hợp đồng

(ii) Trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày

anh H không được làm việc (tính từ ngày ra quyết định chấm dứt hợp

đồng là 9/9/2019 đến ngày kết thúc hợp đồng theo quy định trong hợp

đồng lao động) Ngoài ra, công ty còn phải chi trả cho anh H ít nhất

02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

Trong trường hợp anh H không muốn tiếp tục làm việc tại công ty, thì theo

khoản 2 Điều 42 BLLĐ, ngoài khoản tiền bồi thường nói trên, công ty còn phải trả

thêm cho anh H khoản tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ Trong trường hợp công ty Y không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng (cũng là lý do công ty Y đã viện dẫn để từ chối anh H trở lại Hà Nội làm

việc) mà anh H vẫn muốn làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường nói trên, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động3

Trong trường hợp công ty không muốn nhận lại anh H và anh H đồng ý với điều này, thì ngoài hai khoản tiền bồi thường đã đề cập ở (ii), cùng với trợ cấp thôi việc,

thì anh H còn có quyền thỏa thuận với công ty Y khoản tiền bồi thường thêm

1 Điểm a Khoản 1 Điều 38 BLLĐ

2 Điều 42 BLLĐ

3 Khoản 4 Điều 42 BLLĐ

Trang 10

nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động1

Và trong trường hợp kết quả là chấm dứt hợp đồng, thì ngoài các khoản nói trên, anh H còn được công ty thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ2

Cụ thể hơn, về trợ cấp thôi việc, theo quy định tại Điều 48 BLLĐ và Điều 14

Điều 14 VBHN số 4753/VBHN-BLĐTBXH, anh H làm việc cho công ty liên tục

từ năm 2006 (tính là ngày 01/01/2006) đến ngày 9/9/2019, tổng là 13 năm 08 tháng, đã đáp ứng yêu cầu để được hưởng trợ cấp thôi việc (làm việc thường xuyên

từ đủ 12 tháng trở lên theo khoản 1 Điều 48 BLLĐ) Dựa vào khoản 2 Điều 48 BLLĐ, trợ cấp thôi việc được xác định như sau:

Thời

gian tính

trợ cấp thôi

việc

= Tổng thời gian làm việc thực tế

(13 năm

08 tháng)

- Thời gian anh H đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp

(10 năm 08 tháng,

từ ngày 01/01/2009 đến 9/9/2019)

- Thời gian anh H

đã được công ty Y trả trợ cấp thôi việc

(0 năm)

= 03 năm

Trợ cấp

thôi việc

= Thời gian tính trợ cấp thôi việc

(03 năm)

lương/năm

= 1,5 tháng lương

Tiền lương trong trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc3 Trong trường hợp anh H không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do công ty vi phạm nghĩa vụ nộp tiền bảo hiểm cho người lao động, thì thời gian tính trợ cấp thôi việc (03 năm) sẽ cộng

1 Khoản 3 Điều 42 BLLĐ

2 Khoản 1 Điều 114 BLLĐ

3 Khoản 3 Điều 48 BLLĐ

Ngày đăng: 15/06/2020, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w