1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập học kỳ môn Luật hình sự 2_ ĐHLHN_2018_ 7,5 điểm: giải quyết tình huống

9 305 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 25,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HUỐNG:A (25 tuổi, là đối tượng không nghề nghiệp) thường xuyên lên mạng làm quen với các cô gái trẻ, giả vờ yêu đương để lừa bán sang Trung Quốc. A đã thực hiện trót lọt 4 vụ lừa được 3 cô gái (một cô 19 tuổi, một cô 17 tuổi và một cô 15 tuổi) đưa bán cho chủ chứa mại dâm người Trung Quốc. Sau đó, A bị bắt và thừa nhận toàn bộ các hành vi phạm tội nêu trên.Câu hỏi:1. Xác định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội của A.2. Giả sử A mới chấp nhận xong hình phạt 3 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 2 Điều 174 BLHS) chưa được xóa án tích lại thực hiện liên tiếp 3 vụ phạm tội trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Trang 1

MỞ ĐẦU

Từ năm 2011 đến năm 2017, tại Việt Nam, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện, xử lý 2748 vụ mua bán người, trung bình mỗi năm co 900 người bị mua bán Tình hình tội phạm mua bán người trên các tuyến đường biên giới diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng với các thủ đoạn ngày càng tinh vi Đối tượng phạm tội thường lợi dụng hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ hạn chế của một

số phụ nữ, trẻ em để dụ dỗ, lừa gạt sau đó mua bán ra nưới ngoài vì nhiều mục đích khác nhau như: bóc lột tình dục, hôn nhân trái pháp luật, bóc lột sức lao động,

… Tội phạm này đã trực tiếp xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người mà nạn nhân thường là phụ nữ và trẻ em Để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội phạm này, em xin tìm hiểu và giải quyết tình huống được nêu ra trong bài tập học kỳ số 3

NỘI DUNG

TÌNH HUỐNG:

A (25 tuổi, là đối tượng không nghề nghiệp) thường xuyên lên mạng làm quen với các cô gái trẻ, giả vờ yêu đương để lừa bán sang Trung Quốc A đã thực hiện trót lọt 4 vụ lừa được 3 cô gái (một cô 19 tuổi, một cô 17 tuổi và một cô 15 tuổi) đưa bán cho chủ chứa mại dâm người Trung Quốc Sau đó, A bị bắt và thừa nhận toàn

bộ các hành vi phạm tội nêu trên

Câu hỏi:

1 Xác định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội của A

2 Giả sử A mới chấp nhận xong hình phạt 3 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 2 Điều 174 BLHS) chưa được xóa án tích lại thực hiện liên tiếp 3 vụ phạm tội trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Trang 2

3 Giả sử trước khi lừa bán các cô gái qua biên giới, vì giả vờ yêu nên A đều có quan hệ tình dục với các cô gái thì hành vi này của A có phạm tội không? Tại sao?

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

Câu 1: Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.

Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải định tội được theo tội danh mà Luật hình sự quy định Cơ sở của việc định tội phải dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm Viện kiểm sát khi quyết định truy tố bị can ra trước toà án xét xử phải xác định cụ thể tội danh trong bản cáo trạng theo điều luật hình sự quy định

I Xác định tội danh đối với hành vi phạm tội của A

Trả lời: A phạm tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 và mua bán người

dưới 16 tuổi tại Điều 151 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS)

1.1 Tội mua bán người (Đ150 BLHS)

Khoản 1 Điều 150 BLHS quy định về cấu thành tội phạm (CTTP) cơ bản của tội mua bán người như sau:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy

bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

Trang 3

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.”

Hành vi của A thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội mua bán người:

a) Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội mua bán người là chủ thể thường Trong trường hợp này, A (25 tuổi) là người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên), đủ tuổi chịu để chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1_ Điều 12 BLHS Do tình huống không đề cập nên có thể xác định A có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự Như vậy A đã thỏa mãn các điều kiện về để trở thành chủ thể của tội mua bán người

b) Mặt khách quan của tội phạm

Thủ đoạn: trong mô tả CTTP cơ bản, chủ thể của tội mua bán người sử dụng các thủ đoạn: “ dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác” Ở đây, A đã dùng thủ đoạn lừa gạt nạn nhân, cụ thể là: A đã lên mạng làm quen, giả

vờ yêu đương, lợi dụng sự tin tưởng của các cô gái để thực hiện hành vi bán họ cho chủ chứa mại dâm người Trung Quốc

Hành vi khách quan: theo khoản 1 Điều 150 BLHS, người phạm tội mua bán

người có các hành vi: “Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.” Cụ thể với tình huống trên, A đã thực

hiện hành vi “chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác”

Vì A “bán” các cô gái cho chủ chứa mại dâm người Trung Quốc nên A chắc chắn

sẽ nhận được tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác và đây cũng là mục đích của

Trang 4

hành vi mua bán người của A A chỉ quan tâm đến việc nhận được lợi ích, chứ không quan tâm các nạn nhân có bị bóc lột tình dục hay không Tội phạm được coi

là hoàn thành khi khi đã thực hiện xong hành vi mua bán người Việc truy cứu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào người bị hại có biết hay không là mình bị bán

Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: các cô gái bị bán cho chủ chứa mại dâm Sau khi hành vi phạm tội của A được thực hiện, thì họ có thể bị bóc lột tình dục, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân Hậu quả đó là do hành vi của A gây ra Tuy nhiên, tội mua bán người là tội có CTTP hình thức_ chỉ nêu ra dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không nói đến hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Có thể hiểu, do tính chất nghiêm trọng của tội phạm, xâm phạm vào khách thể có tầm quan trọng đặt biệt, chỉ cần người nào thực hiện hành vi được mô tả là đã đủ điều kiện để CTTP

c) Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi: lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp

A biết hành vi bán người sang Trung Quốc của mình là gây nguy hiểm cho

xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi đó bằng thủ đoạn lừa gạt nạn nhân Do tội mua bán người có CTTP hình thức nên chỉ cần chủ thể nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành vi đang thực hiện, vẫn cố tình thực hiện là đã đủ điều kiện hình thành lỗi cố ý trực tiếp mà không đòi hỏi chủ thể phải nhận thức được hậu quả hay mong muốn hậu quả xảy ra

d) Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội của A xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân

Trang 5

Do đó, A phạm tội mua bán người theo Điều 150 BLHS.

1.2 Tội mua bán người dưới 16 tuổi ( Điều 151 BLHS)

CTTP của tội mua bán người dưới 16 tuổi giống với CTTP của tội mua bán người (chỉ khác về độ tuổi của nạn nhân) Trong tình huống trên, ngoài bán hai cô gái 19 tuổi và 17 tuổi, A còn bán một cô gái 15 tuổi Do đó, A phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi ( Điều 151)

II Xác định khung hình phạt đối với hành vi của A và B

2.1 Khung hình phạt đối với tội mua bán người của A là: Từ 08 năm đến 15 năm

tù theo Khoản 2 Điều 150 BLHS

A phạm tội Mua bán người theo quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 150 BLHS 2015: “2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

08 năm đến 15 năm: e ) Phạm tội 02 lần trở lên.” A đã bán một cô gái 19 tuổi và một cô gái 17 tuổi cho chủ chứa mại dâm

2.2 Khung hình phạt đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi của A là: Từ 07

năm đến 12 năm tù theo Khoản 1 Điều 151 BLHS

A đã thực hiện hành vi lừa bán cô gái 15 tuổi, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 151 BLHS 2015: “1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm: b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;” ta xác định được khung hình phạt với tội danh này của là từ 07 năm đến 12 năm tù giam

Câu 2:

Trả lời: Trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm.

Theo Điều 53 BLHS quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm Những trường hợp để coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm là:

Tái phạm:

Trang 6

- Trường hợp 1: Chủ thể phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý

- Trường hợp 2: Chủ thể phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

Tái phạm nguy hiểm:

- Trường hợp 1: Chủ thể phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý

- Trường hợp 2: Chủ thể phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại

thực hiện hành vi phạm tội do cố ý

Trước hết, A vừa chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 BLHS, khoản này quy định mức phạt cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù, đối chiếu với điểm b, khoản 1 Điều 9, thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà A bị kết án thuộc loại tội phạm nghiệm trọng

Trường hợp của A không thỏa mãn cả 2 trường hợp của tái phạm nguy hiểm

vì A chỉ phạm tội nghiêm trọng theo Khoản 2 Điều 174 và trường hợp của A cũng không phải là đã tái phạm nên trường hợp phạm tội của A không được coi là tái phạm nguy hiểm

Theo nội dung của tình huống, A vừa chấp hành hành xong hình phạt 03 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 và chưa được xóa

án tích, lại phạm tội mua bán người và mua bán người dưới 16 tuổi với lỗi cố ý trực tiếp (như đã phân tích ở trên) Trường hợp phạm tội của A thỏa mãn trường hợp 1 của tái phạm: “Chủ thể phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại

Trang 7

thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” Do đó, trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm

Câu 3:

Giả sử trước khi lừa các cô gái bán sang Trung Quốc, vì giả vờ yêu nên A điều có quan hệ tình dục với các cô gái thì tuỳ các trường hợp sau đây mà A bị coi là phạm tội

I Trường hợp 1

Nếu như việc quan hệ tình dục là sự thuận tình giữa A và các cô gái thì A chỉ phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ

đủ 13 tuổi đến dươi 16 tuổi ( theo Điều 145 BLHS 2015) với cô gái 15 tuổi Ở tội này điều luật không xác định thủ đoạn để chủ thể thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân như các tội hiếp dâm và cưỡng dâm, cũng như là thái độ của nạn nhân Quy định về độ tuổi của chủ thể và nạn nhân bởi người dưới dưới 16 tuổi còn chưa trưởng thành hết về nhận thức và hành vi của mình vì vậy mà dễ dàng tin tưởng, nhẹ dạ cả tin vào người khác Tội này được quy định nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người dưới 16 và đã

đủ 13 tuổi, ngăn chặn hành vi lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ để đẩy họ vào những quan hệ tình dục quá sớm, gây ảnh hưởng xấu về mọi mặt cho họ Trường hợp này

A trực tiếp lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ cũng như sự nhận thức chưa đầy đủ của cô gái để có được sự thuận tình được BLHS quy định là phạm tội

II Trường hợp 2

Nếu việc quan hệ tình dục là không phải sự thuận tình giữa các cô gái với A thì, tùy vào hành vi mà A đã thực hiện, A có thể phạm tội hiếp dâm (Điều 141), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi ( Điều 142), tội cưỡng dâm (Điều 143) hay tội cưỡng

Trang 8

dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144) Đặc điểm chung của những tội phạm này là chủ thể đều thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nạn nhân

KẾT LUẬN

Qua phân tích, đánh giá trên đã có thể xác định tội danh , khung hình phạt, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tình huống Qua đó có thể thấy được sự nguy hiểm của hành vi buôn bán người kéo theo đó là các tội xâm phạm đến thân thể, danh dự nhân phẩm của người khác Từ đó đòi hỏi các nhà làm luật trong quá trình điều tra xét xử cần có những quy định mang tính răn đe kịp thời, xử lý đúng người đúng tội để giảm thiểu số lượng tội phạm của đất nước

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm (Quyển 1) – Trường ĐH Luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân

2 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 – NXB Chính trị quốc gia sự thật

3 Bình luận khoa học BLHS 2015, TS Trần Văn Biên, TS, Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên), NXB Thế giới

4 Những điểm mới của tội mua bán người theo BLHS năm 2015 -https://baomoi.com/nhung-diem-moi-cua-toi-mua-ban-nguoi-theo-blhs-nam-2015/ c/27619424.epi

Trang 9

5 Tìm hiểu nội dung về “Tội mua bán người” tại Điều 150 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - https://conganquangbinh.gov.vn/tim-hieu-noi-dung-ve-toi-mua-ban-nguoi-tai-dieu-150-blhs-nam-2015-sua-doi-bo-sung-nam-2017/

6

Ngày đăng: 19/04/2020, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w