Có thể hình dung đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chung của ngành thủy sản như sau: Thứ nhất, thuỷ sản là ngành kinh tế - kỹ thuật có đặc thù bao gồm các lĩnh vực: Khai thác, nuôi trồng, chế
Trang 1Phát triển thuỷ sản đối với phát triển kinh tế
I VAI TRÒ CỦA NGÀNH THUỶ SẢN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN
1 Đặc trưng kinh tế - kỹ thuật và tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản Việt Nam
1.1 Đặc trưng kinh tế- kỹ thuật của ngành thuỷ sản
Thuỷ sản là một trong những ngành sản xuất kinh doanh, một ngành hoạt động kinh tế biển quan trọng trong tổng thể kinh tế - xã hội loài người Có thể hình dung đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chung của ngành thủy sản như sau:
Thứ nhất, thuỷ sản là ngành kinh tế - kỹ thuật có đặc thù bao gồm các lĩnh vực: Khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại Trong đó :
- Khai thác và nuôi trồng hải sản giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến và xuất khẩu, đảm bảo việc tái tạo nguồn lợi thuỷ sản và cân bằng môi trường sinh thái.
- Chế biến và thương mại thuỷ sản tuy nhìn bề ngoài như chỉ là hậu quả của khai thác và nuôi trồng thuỷ sản vì đầu vào của ngành này do khai thác và nuôi trồng thuỷ sản quyết định Điều đó làm cho người ta nhầm lẫn rằng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tạo ra sản phẩm gì thì ngành chế biến và thương mại thuỷ sản chỉ có thể tạo ra các sản phẩm tương ứng mà thôi Trong cơ chế thị trường với ngành thuỷ sản tình hình lại hoàn toàn ngược lại Chính thương mại thuỷ sản (tức là xuất khẩu, buôn bán và tiêu thụ nội địa) phát hiện tạo ra những nhu cầu về mặt hàng Từ những nhu cầu về mặt hàng đó, nó đặt hàng với khu vực chế biến và đến lượt mình ngành chế biến lại đặt hàng với lĩnh vực khai thác và nuôi trồng.
Thứ hai, sự phát triển của ngành thuỷ sản phụ thuộc vào nhu cầu, thị hiếu và thu nhập của dân cư Nhu cầu, thị hiếu về các mặt hàng thuỷ sản của con người luôn luôn biến đổi tuỳ thuộc vào thu nhập của họ, cũng như tính dân
Trang 2tộc và tính truyền thống Nhu cầu và thị hiếu tạo ra thị trường Thị trường hàng hoá thuỷ sản cũng giống như tất cả các loại thị trường hàng hoá nào khác là cơ sở để cho xã hội giải quyết ba vấn đề cơ bản của kinh tế học là: sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai ? Ba vấn đề đó cũng là những yếu tố cơ bản của phát triển sản xuất ngành thuỷ sản trong từng giai đoạn…
Thứ ba, thuỷ sản là ngành phát triển phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thuỷ sản là tài nguyên sinh vật, tài nguyên biển
là một nguồn tài nguyên tự nhiên có thể tái sinh nhưng không vô hạn Ngày nay, với sự phát triển của nghề khai thác thuỷ sản ở vùng biển gần bờ nơi có điều kiện thuận lợi nhất đã bị lợi dụng một cách quá mức cho phép Làm cho nguồn lợi thuỷ sản đang ngày càng cạn kiệt, thậm chí bị huỷ diệt Việc phát triển của nghề nuôi trồng không có quy hoạch cụ thể đã và đang làm cho nhiều
ha rừng nguyên sinh và rừng ngập mặn bị tàn phá…Điều này đòi hỏi để phát triển ngành thuỷ sản phải có những giải pháp thích hợp trong thời gian tới.
Thứ tư, sản xuất thủy sản có tính chất liên ngành và diễn ra trong phạm
vi rộng, từ cung cấp các điều kiện sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm Quá trình phát triển ngành thuỷ sản gắn liền với sự phát triển của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp cả về tính chất và nền tảng sinh thái của sản xuất Vì thế phát triển ngành thuỷ sản rất cần thiết trong một thể thống nhất với những ngành và lĩnh vực kinh tế nông thôn khác Ngoại ra, tự bản thân ngành thuỷ sản hàm chứa cả công nghiệp Đó là: công nghiệp chế biến, công nghiệp đóng
và sửa tàu thuyền, công nghiệp xây dựng cơ sở hậu cần dich vụ nghề cá…Vì thế phát triển thuỷ sản phải có sự kết hợp giữa ngành Nông- Lâm và Công nghiệp.
Thứ năm, sự phát triển thuỷ sản gắn liền với sự tồn tại của các thành phần kinh tế Vai trò và các hình thức kinh doanh của nó trong ngành thuỷ sản rất đa dạng và khách quan, từ kinh tế hộ gia đình đến kinh tế trang trại, kinh
tế tiểu chủ và kinh tế tư bản trong khai thác - nuôi trồng - chế biến và thương mại thuỷ sản
Trang 3Ngoài những đặc điểm tổng quát nói trên, ngành thủy sản Việt Nam còn
có những đặc điểm đáng quan tâm sau:
- Việt Nam có bở biển dài trên 3 nghìn km, với nhiều sông lạch, ao hồ thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản Tuy nhiên những năm gần đây với sự cạn kiệt nguồn tài nguyên do khai thác bừa bải trong khi tốc độ tăng trưởng lao động vẫn tăng cao đã làm cho hiệu quả khai thác thủy sản giảm sút và lao động trong lĩnh vực khai thác đang có xu hướng giảm và chuyển dần sang các lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản.
- Do nằm trong khu vực nhiệt đới giáo mùa, nước ta có thảm động thực vật phong phú, đa dạng, có tiềm năng sinh khối lớn, có điều kiện bố trí và sử dụng lao động, công cụ sản xuất tốt hơn và mang lại hiệu quả cao.
- Đối tượng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ta chủ yếu là các loại Tôm, các loại Cá, các loại Nhuyễn Thể có giá trị kinh tế cao Nhưng hiện tại với việc khai thác bừa bãi thiếu khoa học cộng với việc đánh bắt có sử dụng mìn, điện đã làm giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản Mặt khác, ngành thủy sản chưa có kế hoạch một cách khoa học và cụ thể trong việc công nghiệp hóa- hiện đại hóa quá trình sản xuất nên vấn đề phát triển bền vững và hiệu quả, môi trường sinh thái mất cân đối ở nước ta cần được coi trọng.
- Trình độ của lực lượng lao động nghề cá còn yếu kém đã tác động tiêu cực tới cả đầu vào và đầu ra của sản phẩm thủy sản Vai trò của Nhà nước trong tìm kiếm, mở rộng thị trường chưa được quan tâm đúng mức làm cho người nông dân bị thiệt thòi về lợi ích kinh tế, không yên tâm đầu tư vốn và công nghệ để mở rộng sản xuất.
Như vậy, từ những đặc trưng chung và riêng của ngành thủy sản Việt Nam cho thấy Thủy sản là một tổng thể các yếu tố tự nhiên - kinh tế - kỹ thuật
- xã hội gắn bó mật thiết với nhau Vì vậy, trong kế hoạch phát triển ngành thủy sản các kế hoạch cần được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học; trong quản lý, các chính sách cần được ban hành một cách đồng bộ, bổ sung,
hỗ trợ cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên sức mạnh tổng thể đưa nền
Trang 4kinh tế thủy sản đi lên thực hiện tốt kế hoạch phát triển ngành thủy sản Việt Nam.
1.2 Tiềm năng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam
Trong các ngành kinh tế quốc dân, ngành thuỷ sản là ngành có nhiều tiềm năng phát triển Do đó, vấn đề của chúng ta trong những năm tới phải có những chính sách về đầu tư, quy hoạch sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.1 Tiềm năng về khai thác thuỷ sản tời gian tới
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km trải dài suốt 13 vĩ độ theo hướng Bắc Nam có 112 cửa sông, lạch Vùng Biển nội thuỷ và lãnh hải rộng 228.000 km2, vùng biển kinh tế đặc quyền rộng khoảng 1 triệu km2 với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ…là nguồn tiềm năng quý giá để phát triển ngành thuỷ sản nói chung
và lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thuỷ sản nói riêng của nước ta Với 2038 loài
cá đã biết, trong đó cá hơn 100 loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng khoảng 3,1 triệu tấn/ năm, sản lượng khai thác cho phép từ 1,2 -1,4 triệu tấn/ năm Giáp xác có 1647 loài trong đó Tôm có hơn 70 loài, Nhuyễn Thể 2500 loài với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như Mực, Hải sản, Bào Ngư Tuy gần đây sản lượng bị giảm sút một cách nhanh chóng do sự khai thác bừa bải thiếu tính khoa học nhất là những vùng gần bờ Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thuộc Viện kinh tế thủy sản thì sản lượng tiềm năng phát triển thủy sản vẫn còn nhiều, đặc biệt là sản lượng những loài vùng xa bờ, sản lượng cá đáy và các loài nhuyễn thể…có thể đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành thời kỳ tiếp theo.
Cùng với chương trình đánh bắt xa bờ Các cơ sở đóng sửa tàu thuyền đã đóng mới nhiều tàu thuyền hàng năm và bổ sung hàng loạt các tàu thuyền đã
củ, có công suất dưới 45 CV cộng với sự chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá, trang thiết bị và công nghệ hiện đại vv thì chắc chắn trong tương lại khả năng khai thác hải sản Việt Nam là rất lớn
1.2.2 Tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản
Trang 5Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản đế năm 2010 là 1.700.000 ha Trong đó có 120.000 ha ao
hồ nhỏ, mương vườn, chiếm 7%; 340.000 ha mặt nước lớn (20%); 580.000 ha ruộng trũng (34%); 660.000 ha vùng nước triều (39%) Ngoài ra còn có khoảng 300.000- 400.000 ha sông vùng vịnh quanh Đảo có thể nuôi trồng hải sản
Với sự hoàn thiện đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội ngành thuỷ sản đến năm 2010” tháng 3 năm 2000, đây chính là cơ sở cho việc lập các dự án khả thi để đầu tư vào nuôi trồng của ngành thuỷ sản Theo hướng đó, chúng ta đầu tư các trang thiết bị cũng như công nghệ hiện đại vào việc nuôi trồng theo quy mô công nghiệp Thực tế cho chúng ta thấy rằng, năng suất nuôi trồng thuỷ sản hiện nay của ta còn thấp; diện tích khai thác nuôi trồng chưa được khải thác một cách triệt để… Trong những năm tới, nếu đầu
tư đổi mới công nghệ, phát triển nghiên cứu giống…Năng suất nuôi trồng thuỷ sản sẽ tăng lên góp phần vào thực hiện kế hoạch phát triển ngành thuỷ sản trong tương lai.
1.2.3 Tiềm năng về xuất khẩu thủy sản
Thực tế thị trường hàng thủy sản thế giới, xét về tổng thể là một thị trường còn có khả năng mở rộng và luôn có xu hướng cung chưa đáp ứng được cầu Theo dự báo, trong thời gian trung hạn tới trọng tâm nhập khẩu thủy sản thế giới vẫn tập trung vào vào Nhật Bản, Bắc Mỹ và EU Đặc biệt, EU với khả năng mở rộng liên minh thành 30 nước và đầu thế kỷ 21 so với 15 nước năm 2000 sẽ là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới Mặc dù thời gian qua thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam gặp phải một số khó khăn như: thị trường Nhật Bản nhìn chung đã ở mức bảo hòa và đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế; thị trường các nước Đông Á và Đông Nam Á tạm thời trì trệ do cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thời gian từ 1997 trở lại đây Với những đặc điểm như vậy, việc duy trì thị phần của Việt Nam ở đây là rất khó
Trang 6khăn và phụ thuộc rất lớn vào cạnh tranh của các nước xuất khẩu khác trong khu vực và các nước trên thế giới.
Nhìn chung, khả năng hội nhập của Việt Nam vào ASEAN và AFTA, APEC thời gian tới sẽ mở ra những cơ hội hợp tác và những thuận lợi cho việc tăng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam vào khu vực Đó là chưa kể tới sự
mở rộng nhanh chóng của thị trường thủy sản Trung Quốc - là một thị trường láng giềng đầy tiềm năng Với EU và Bắc Mỹ, trở ngại lớn nhất của thủy sản Việt Nam thâm nhập là việc đảm bảo chất lượng và an toàn hàng thủy sản theo những điều kiện HACCP Những diễn biến gần đây cho phép chúng ta có cơ
sở lạc quan rằng những năm tiếp theo, hàng thủy sản Việt Nam sẽ tăng cường mạnh sự hiện diện ở hai khu vực này Mới đây nhất, sau hội nghị thưởng đỉnh Á-Âu ASEM, EU đã xếp Việt Nam vào nhóm I (nhóm nước đã được thanh tra của EU khảo sát và công nhận có đủ các điều kiện tương đương cho phép xuất khẩu thủy sản vào EU Còn xuất khẩu vào thị trường Mỹ cũng sẽ được cải thiện rất nhiều khi hiện nay Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã được ký kết Do vậy,
dự đoán tỷ trọng sang EU và Mỹ đến 2005 có thể sẽ đạt mức 35%- 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước Ngoài ra các thị trường thuyền thống cũ của Việt Nam ở Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi và các thị trường khác, tuy không lớn nhưng có thể có cơ hội tốt cho xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam nhờ vào hàng rào mậu dịch và chất lượng không quá khắt khe và nền kinh tế đang được phát triển mạnh mẽ Như vậy, tiềm năng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam thời gian tới là rất lớn Chúng ta cần có những chính sách khai thác hợp
lý để thu được kết quả cao hơn nữa.
1.2.4.Một số tiềm năng khác để phát triển ngành thuỷ sản
* Nguồn nhân lực đồi dào:
Việt Nam với số dân đông và rẻ là một tiềm năng dồi dào cho phát triển ngành thuỷ sản Hiện nay số lao động nghề cá hiện có gần 6,5 triệu người, dự tính tới năm 2010 sẽ tăng lên 10 triệu người.
Trang 7Nguồn nhân lực cho phát triển thuỷ sản dồi dào với hàng chục triệu hộ nông dân vừa làm nông nghiệp vừa khai thác thuỷ sản Trên 5 triệu dân sinh sống ở vùng triều và có khoảng 1,5 triệu dân sống ở các đầm phá, tuyến đảo thuộc 29 tỉnh và thành phố có Biển Lao động nghề cá Việt Nam có truyền thống cần cù, sáng tạo, có khả năng tiếp thu nhanh những cái mới nói chung, khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến nói riêng Trong thời gian tới, chính sách đào tạo nguồn nhân lực là một trong những quyết sách quan trọng của ngành nhằm đáp ứng đòi hỏi của thời đại cộng với giá cả sức lao động của nhân công nghề cá tương đối rẻ cũng là những tiềm năng rất lớn cho phát triển thuỷ sản Việt Nam.
* Lợi thế người đi sau:
Với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ và hội nhập quốc
tế Để ngành thuỷ sản Việt Nam có thể phát triển nhanh bền vững và có vị thế ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới trước thực tế nền kinh
tế và khoa học kỹ thuật nước nhà còn nghèo nàn và lạc hậu Xuất phát điểm là những nước đi sau, chúng ta cần tăng cường hơn nữa xu thế hội nhập thế giới này để kêu gọi đầu tư, nguồn vốn nước ngoài, chuyển giao công nghệ hiện đại đặc biệt trong công nghệ khai thác hải sản xa bờ và công nghệ sinh học phục
vụ nuôi trồng thuỷ sản, công nghệ chế biến sản phẩm xuất khẩu…
Ngoài ra, được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và sự nỗ lực không ngừng của các Ban, Bộ, Ngành liên quan cộng với vận dụng khoa học có hiệu quả các tiềm năng sẵn có của mình Hy vọng trong thời gian tới ngành thuỷ sản Việt Nam sẽ phát triển nhanh và vươn xa hơn.
⇒ Như vậy, tiềm năng phát triển thuỷ sản Việt Nam thời gian tới là rất lớn, chúng ta cần tận dụng và khai thác triệt để hơn nữa những tiềm năng này cho mục tiêu phát tiển thuỷ sản Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
2 Vai trò của ngành thuỷ sản đối với phát triển kinh tế đất nước
Thuỷ sản là ngành sản xuất kinh doanh quan trọng nhất của kinh tế biển Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho
Trang 8nhân loại, là ngành tạo công ăn việc làm cho những cộng đồng nhân dân đặc biệt là những vùng nông thôn và những vùng ven Biển; là nguồn thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho một bộ phận nhân dân làm nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ, cũng như các ngành dịch vụ cho nghề cá Ngoài ra thuỷ sản còn đóng góp rất đáng kể cho khởi động tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và bảo vệ an ninh chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
2.1 Vai trò của ngành thuỷ sản đối với tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu nền kinh tế quốc dân
* Vai trò ngành thuỷ sản đối với tăng trưởng kinh tế
Trong khoảng thời gian 1995 đến nay, ngành thuỷ sản Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về sản lượng và giá trị Đóng góp một cách rất to lớn tới sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Ngành thuỷ sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một trong những hướng ưu tiên chính của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay Trong những năm qua (1995-2001), ngành đã đóng góp cho nền kinh tế bình quân 3,22% tổng GDP hàng năm
Trang 9Bảng 1.1 Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân
Nguồn: Niên giám thống kê - năm 2001
Bên cạnh đó, thời gian qua, mặt hàng thuỷ sản đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đứng thứ ba chỉ sau xuất khẩu Dầu thô và Dệt May của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Bảng 1.2: Đóng góp của xuất khẩu thuỷ sản vào tổng kim ngạch xuất cả
nước
Đơn vị: Triệu USD
CHỈ TIÊU 1995 1998 1999 2000 2001 Tổng KNXK cả nước 5.448,6 9.360,3 11.541,4 14.482,7 15.027
XK Thủy sản 621.4 858,0 973,6 1.478,5 1.777,6
Nguồn: Niên giám thống kê - năm 2001
Như vậy, nhìn vào bảng ta có thể thấy kim ngạch xuất khẩu của thuỷ sản thời gian qua có xu hướng giảm nhưng hiện nay đã bắt đầu tăng nhanh, bình quân thủy sản chiếm 10,21% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Ngoài ra sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nghề cá cũng làm tăng thêm mức thu cho Ngân sách quốc gia Hiện nay, ngư dân và các thành phần kinh tế phải đóng các loại thuế như: Thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế doanh thu, Tuy nhiên con số cụ thể về mức đóng thuế từ nghề cá trong ngân sách chưa được thống kê một cách cụ thể
* Vai trò đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá kinh tế đất nước, cơ cấu kinh tế mức độ xã hội hoá, sự phân công lao động và các mối
Trang 10quan hệ về mặt số lượng trong sản xuất kinh doanh, trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định Chính vì thế, phát triển thuỷ sản là một trong những nội dung quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước của Việt Nam trong giai đoạn tới.
Việc thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế trong nghề cá cũng có tác động tới thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng đa dạng hoá ngành nghề sản xuất Tất cả các chủ trương chính sách, tổ chức chỉ đạo thực hiện được đưa ra đều nhằm khuyến khích, động viên, huy động thúc đẩy sự phát triển của mọi tầng lớp, mọi thành phần kinh tế trong nghề cá, nhưng hộ gia đình vẫn là một thành phần kinh tế ưu tiên hơn cả Nghề cá hộ gia đình, tư nhân đã chứng minh được hiệu quả kinh tế cao và đặc biệt quan trọng trong việc huy động nguồn lực trong nội bộ ngành cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản nói riêng và ngành kinh tế nói chung Ngoài ra, có thể nói rằng trong thời gian qua, ngành thủy sản là một ngành công nghiệp có sự phát triển mạnh mẽ nhất, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến thủy sản Các nhà máy mới được ra đời
và ổn định trong những năm tiếp theo theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phảm và phù hợp với yêu cầu công nghệ của từng nhóm hàng và nhu cầu tiêu thụ khó tính của thị trường Nâng sức cạnh tranh của sản phảm xuất khẩu trên thị trường thế giới để thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước Như vậy, sự chuyển đổi cơ cấu của ngành thủy sản sẽ không chỉ bó hẹp trong phạm
vi bản thân của ngành, nó sẽ là mắt xích trong sự chuyển đổi cơ cấu chung của kinh tế và tạo nội lực cho sự phát triển chung của kinh tế đất nước.
2.2 Vai trò của ngành thuỷ sản đối với giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân
Ngành thuỷ sản góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu người dân Việt Nam Theo số liệu thống kê, dân số sống dựa vào nghề cá không ngừng tăng nhanh qua các thời kỳ Năm 1995 có khoảng 6,2 triệu người đến năm 2000 đã tăng tới 8,2 triệu người và ngày nay con số đó đã xấp xỉ 10 triệu người Thu nhập thường xuyên trong nghề cá tăng trung bình 16%/ năm trong thời gian qua (1995-2002) Nhiều cộng đồng dân cư nhất là các cộng
Trang 11đồng dân cư sống ở vùng ven biển, trên vùng đầm phá có cuộc sống phải dựa vào ngành thuỷ sản, trong số họ đại bộ phận rất nghèo khổ Đối với đời sống của người dân, hải sản cung cấp một lượng chất dinh dưỡng rất lớn không thể thiếu của cuộc sống Đặc biệt đối với người dân vùng ven biển, thuỷ sản hàng ngàn năm nay là một trong những nguồn sống chính của họ Thời gian qua, nhờ chuyển từ sản xuất cho tiêu dùng trong nước sang xuất khẩu , nhờ tác động của phát triển các lĩnh vực ngành thuỷ sản, giá cả và vị trí của các sản phẩm thuỷ sản tăng lên làm cho việc sản xuất các mặt hàng tăng lên, tạo ra nhiều việc làm và thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho người dân lao động Phát triển thuỷ sản là một hướng rất tích cực để giải quyết vấn đề dư thừa lao động đang rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
2.3 Vai trò đối với môi trường sinh thái
Ngành thuỷ sản gắn liền với điều kiện tự nhiên như ao hồ, sông suối, biển, tài nguyên sinh vật Vì thế phát triển thuỷ sản có ảnh hưởng rất lớn tới
sự biến động của tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái Với sự phát triển không ngừng của ngành thuỷ sản, khả năng khai thác được nâng cao, những vùng gần bờ nơi có điều kiện thuận lợi nhất đã bị khai thác tới trần, nhiều môi trường đã bị sử dụng quá mức cho phép Cộng với sự đánh bắt vô ý thức như đánh bắt bằng mìn, bằng lưới điện làm nguy hại nghiêm trọng tới môi trường sinh thái Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến dẫn tới sản lượng sản phẩm thuỷ sản chế biến tăng nhanh đồng nghĩa với việc tăng nhanh rác thải công nghiệp thuỷ sản trong khi các doanh nghiệp trong khi cơ sở chế biến chưa có chính sách đầu tư thích đáng để xử lý rác thải sao cho hợp lý.
Như vậy, phát triển thuỷ sản đòi hỏi chúng ta phải có trách nhiệm và biện pháp bảo vệ môi trường, để thế hệ tương lai không bị ảnh hưởng do hiện tại để lại.