Trong nền kinh tế Việt Nam, KTNQD là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân bao gồm hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp, HTX đến các công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần.... Đ
Trang 1KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH.
1.1.1 Khái quát về kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong nền kinh tế Việt Nam, KTNQD là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân bao gồm hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp, HTX đến các công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần hoạt động trên tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Với lĩnh vực tham gia rộng rãi như vậy, thành phần KTNQD đã tạo ra một phần không nhỏ GDP, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hút lao động, tận dụng khai thác tiềm năng của đất nước.
Ở nước ta, Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định nước ta có các thành phần kinh tế như sau: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước Trong đó kinh tế quốc doanh thực hiện tốt vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể để trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Đảng ta xuất phát từ thực tế của đất nước và vận dụng quan điểm của V.I.Lênin: "Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ" Từ đó sở hữu tư nhân được thừa nhận, KTNQD được tồn tại
và phát triển bình đẳng cùng kinh tế Nhà nước.
Kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị mà toàn bộ vốn thuộc về nhà nước hoặc phần của nhà nước chiếm tỷ trọng khống chế Đại diện của các thành phần kinh tế này là các DNNN, đó là các TCKT do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích
Trang 2nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao (Luật DNNN - Điều 1).
Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm những đơn vị kinh tế do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi Nòng cốt của loại hình này là các HTX Đây là các tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Là các cá nhân kinh doanh đầu tư vốn thấp và có quy mô kinh doanh nhỏ Thành phần kinh tế này có vị trí quan trọng lâu dài Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ
vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm
ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các DNNN hay HTX.
Kinh tế tư bản nhà nước: Là hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế Nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và giữa kinh tế Nhà nước với tư bản nước ngoài Kinh tế tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực cho các DN Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài Cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động
Trang 3trong các xí nghiệp hợp tác, liên doanh Kinh tế tư bản Nhà nước nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, công nghệ tiên tiến, kỹ thuật và phương pháp quản lý để phát triển đất nước thông qua các loại hình DN.
Kinh tế tư bản tư nhân: Các nhà kinh doanh đầu tư vốn thuộc sở hữu tư nhân để thành lập DN hoạt động dưới hình thức DN tư nhân hoặc công ty TNHH, công ty cổ phần được pháp luật quy định.
Công ty TNHH, công ty cổ phần: Gọi chung là công ty, là DN trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi vốn góp của mình vào công ty.
DN tư nhân: Là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN.
Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản kể trên cũng còn một số hình thức kinh tế khác cùng song song tồn tại đó là những hình thức liên doanh liên kết giữa các chủ thể trong nước cũng như trong nước với nước ngoài.
1.1.2 Đặc điểm và xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.1 Đặc điểm của khu vực KTNQD.
Suốt một thời gian dài, nước ta xây dựng kinh tế XHCN theo mô hình
"Quốc doanh hoá" và "Tập thể hoá", các thành phần KTNQD gần như bị xoá bỏ KTNQD mới thực sự khởi sắc sau khi có Luật DN tư nhân và Luật công ty được Nhà nước ban hành năm 1991 Chính những biến cố lịch sử nói trên đã quyết định nên đặc điểm của thành phần KTNQD ở nước ta.
Thứ nhất là cơ sở sản xuất phân tán, manh mún, thiết bị kỹ thuật công
nghệ lạc hậu rất nhiều so với thế giới Phần lớn các dây chuyền máy móc thuộc thập kỷ 60 - 70 nên năng suất lao động thấp, chất lượng xấu, giá thành cao, sức cạnh tranh của sản phẩm kém Hiện tại các DNNQD có công nghệ tiên tiến,
Trang 4hiện đại không nhiều chỉ có một số xí nghiệp liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài được trang bị máy móc dây chuyền mới, còn hầu hết các đơn vị có vốn đầu tư trong nước còn sử dụng công nghệ thủ công, dây chuyền thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ Theo các số liệu điều tra năm 1998 chỉ có 25% số DN và 20,5% số công ty tư nhân sử dụng công nghệ hiện đại, 33,5% số DN và 18,7%
số công ty tư nhân sử dụng công nghệ truyền thống, 38,5% số DN và 60,5% số công ty tư nhân kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Hơn nữa trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận trong nhiều năm trước đây nên thông tin về công nghệ, kỹ thuật mới còn thiếu, khả năng tiếp xúc với công nghệ hiện đại còn nhiều hạn chế Chủ yếu máy móc trong thời kỳ này là tự sản xuất ở trong nước hoặc nhập khẩu từ Đông Âu, Liên Xô cũ Trong thời gian gần đây Nhà nước đã thành lập uỷ ban quốc gia về chính sách công nghệ, đã nhập được một số dây chuyền công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, song còn hạn chế ở một số lĩnh vực nhất định
Thứ hai, khả năng tài chính nhỏ bé nghèo nàn Phần lớn các DNNQD
thường bị hạn chế về tài chính Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự tồn tại
và phát triển của DNNQD Trong giai đoạn đầu, phần lớn các DNNQD thường gặp phải vấn đề thiếu vốn, thể hiện ở tổng nguồn vốn kinh doanh và vốn tự có trong tổng vốn, một số DN kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay song số DN được xét duyệt vay vốn từ NH để tiến hành các hoạt động kinh doanh không nhiều Song có một thực tế là sổ sách kế toán của các DNNQD nói chung thường quá đơn giản, không cập nhật, không đầy đủ và thiếu chính xác Do vậy việc đánh giá DN thông qua phân tích tài chính để quyết định cho vay thực sự khó khăn đối với NH, nhất là hiện nay hầu hết các sổ sách của các DN đều chưa được kiểm toán Ngoài ra, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các DNNQD này vì họ chưa có uy tín, chưa thể tạo lập khả năng trả nợ, và hầu hết
họ không có tài sản thế chấp, dự án khả thi Do vậy, các DNNQD phần lớn phải dựa vào các nguồn vốn phi chính thức từ bạn bè, họ hàng, hay thu hút vốn qua
Trang 5hình thức mua bán chịu Việc mở rộng DN luôn bị ngăn cản bởi sự hạn hẹp về nguồn vốn.
Thứ ba là trình độ lao động thường không cao do đầu tư vào trình độ
công nghệ của các DNNQD không nhiều Do ảnh hưởng của cơ chế cũ là quan liêu bao cấp làm thui chột tính năng động, sáng tạo của người lao động, gây tâm lý thụ động, ỷ lại Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý chưa qua trường lớp đào tạo, không biết ngoại ngữ, chưa quen hoạt động trong môi trường cạnh tranh sôi động, chưa đủ bản lĩnh, trình độ làm đối tác liên doanh với nước ngoài, các DNNQD lại thường không có điều kiện để tự đào tạo lực lượng lao động của mình
Thứ tư là khả năng quản lý của DNNQD vừa yếu lại vừa thiếu, đặc biệt
trong việc lập kế hoạch tài chính Việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng phương
án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ, khả năng quản lý kinh doanh của các DN, khả năng dự đoán về sự biến động của ngành, của nền kinh tế Do vậy DNNQD khó có thể xây dựng được kế hoạch tài chính, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, trong khi thói quen sử dụng các dịch
vụ tư vấn mang tính chuyên nghiệp chưa hình thành Đa số các DN tư nhân quản lý DN bằng kinh nghiệm theo cách suy nghĩ, hiểu biết của riêng mình Nhiều người trong số họ chưa qua trường lớp đào tạo nên ít hiểu biết về pháp luật, yếu kém về năng lực và kiến thức.
Thứ năm, môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định Các thành phần
KTNQD phát triển thất thường lúc lên, lúc xuống tuỳ thuộc vào chính sách quản lý cụ thể của Nhà nước (chính sách thuế, lãi suất cho vay, chính sách xuất nhập khẩu ) Môi trường kinh doanh đối với các thành phần KTNQD không thuận lợi ngay từ khâu ban đầu là thủ tục đăng ký kinh doanh và thành lập
DN Thủ tục này kể từ khi có Luật DN (được bắt đầu thực hiện từ ngày 1.1.2000) đã giảm đi được nhiều khâu, song vẫn còn gây khó khăn cho các nhà kinh doanh muốn thành lập DN, như đăng ký kinh doanh đối với các loại hình
Trang 6DN thuộc mọi ngành nghề đều phải tập trung về Sở kế hoạch - đầu tư tỉnh, gây khó khăn cho các tổ chức cá nhân muốn thành lập DN ở địa phương xa tỉnh Bên cạnh đó còn có sự sách nhiễu, phiền hà của các cán bộ đăng ký kinh doanh làm cho các cá nhân, tổ chức tốn kém cả về thời gian lẫn tiền bạc.
Việc thanh tra, kiểm soát chồng chéo hiện nay của các lực lượng thanh tra, kiểm tra đang gây nhiều khó khăn cho các DN Mỗi lực lượng tiến hành thanh tra, kiểm tra theo cách của mình, thậm chí sai pháp luật, vượt quá quyền hạn và phạm vi thanh tra.
Một trong những lĩnh vực mà khu vực DNNQD không có nhiều ưu đãi so với các DNNN là quan hệ TD với NH DNNQD luôn bị coi là những khách hàng nhỏ, hoạt động theo kiểu chộp giật, quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có thấp và
uy tín chưa cao, ngoài trừ DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN liên doanh Ngoài
ra, phần lớn các DNNQD gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do thị trường trong nước còn hạn hẹp, thu nhập của người dân thấp, hàng ngoại nhập, nhất
là hàng nhập lậu cạnh tranh tràn ngập Nguyên nhân hầu hết là máy móc thiết
bị và công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin của thị trường thế giới (về sản phẩm, giá cả, nhu cầu, thị hiếu, kỹ thuật công nghệ ) Như vậy, cạnh tranh trong nước đã khó, trên thị trường quốc tế lại càng khó hơn đối với sản phẩm của các DNNQD.
Từ những đặc điểm trên cho thấy DNNQD có những lợi thế và bất lợi như sau:
* Về lợi thế:
- Do quy mô vừa và nhỏ nên các DN này có tính năng động, linh hoạt, tự
do sáng tạo trong kinh doanh.
- Có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường và sự tiến
bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật.
- Vốn đầu tư ban đầu thấp, hiệu quả thu hồi vốn nhanh.
Trang 7- DNNQD có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động lớn hơn nhiều so với DN lớn
cho nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều
hành mang tính trực tiếp, chặt chẽ.
- Sự đình trệ thua lỗ, phá sản của các DNNQD có ảnh hưởng rất ít hoặc
không gây nên khủng hoảng kinh tế - xã hội Đồng thời ít chịu ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế dây chuyền.
* Những mặt bất lợi:
- Nguồn vốn hạn chế dẫn tới cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công
nghệ thường yếu kém, lạc hậu.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNNQD bị hạn chế rất
nhiều.
- Trình độ quản lý của các DNNQD còn bị hạn chế.
- Các DNNQD có năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp hơn nhiều so
với DN lớn.
1.1.2.2 Xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.2.a Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư trong nước.
Với chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã kích thích phát huy nội lực trong nền kinh tế Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật Thành phần KTNQD có vốn đầu tư trong nước đã phát huy được thế mạnh của nó, khu vực này bao gồm hai loại hình: DNNQD và Kinh tế
hộ gia đình.
Loại hình DN: Bao gồm những công ty đăng ký với số vốn không thấp hơn mức vốn pháp định do Nhà nước quy định, hoạt động theo Luật doanh nghiệp DNNQD hoạt động dưới nhiều hình thức: DN tư nhân do một tư nhân làm chủ, công ty cổ phần do những người nắm giữ cổ phiếu làm chủ, hoặc tham gia dưới hình thức HTX Trong điều kiện nước ta hiện nay phổ biến nhất là hai loại hình công ty tư nhân và công ty TNHH bởi nhiều lý do, trong đó lý do quan
Trang 8trọng nhất là số vốn cần thiết cho việc thành lập và hoạt động nhỏ, còn sự phát triển của công ty cổ phần vẫn còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam
Trong những năm qua số lượng DNNQD tăng lên khá nhanh, theo ước tính hiện nay có khoảng 25.000 DNNQD đang hoạt động Trong khi đó số DNQD lại có xu hướng giảm xuống do tiến trình cổ phần hoá hoặc do kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến giải thể, phá sản của một loạt các DNNN Vì vậy một bộ phận lớn người lao động có trình độ, tay nghề đã chuyển từ DNNN sang làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân do khu vực này đang làm ăn có hiệu quả.
Nhưng một hạn chế lớn nhất đối với các DNNQD ở nước ta là vốn cho đầu
tư mở rộng sản xuất Với nguồn vốn tự có chủ yếu dưới dạng nhà xưởng, máy móc thiết bị do vậy sau một thời gian hoạt động sản xuất trang thiết bị trở nên lỗi thời không còn thích ứng được với nhu cầu thị trường Để tồn tại và phát triển thì phải đổi mới dây chuyền thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại Trong khi đó nguồn vốn tự có lại có hạn, nguồn vốn đi vay cũng bị hạn chế bởi quy mô
và tài sản có Như vậy, trong tương lai không xa một xu hướng tất yếu xảy ra đối với các DN này là sự sát nhập cùng chung vốn vào sản xuất kinh doanh Đó
là tiền đề cho sự phát triển của công ty cổ phần, ưu điểm của công ty cổ phần
là có thể tự huy động vốn trên thị trường thông qua phát hành cổ phiếu Nhưng tốc độ phát triển của các công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các NH, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay các công ty chứng khoán còn chưa phát triển Ngoài ra, khi các NH phát triển đến một mức nhất định thì các NH không chỉ là người bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu của công ty mà còn có thể mua các cổ phiếu, trái phiếu đó để công ty có đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Loại hình không phải DN (kinh tế hộ gia đình): Là khu vực sản xuất kinh doanh nhỏ bao gồm tất cả các hoạt động của tư nhân nằm ngoài khu vực DN như: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại vận
Trang 9tải và các dịch vụ khác Trong giai đoạn đầu của cơ chế quản lý mới khu vực kinh tế này phát triển rất nhanh, thu hút mọi đối tượng tham gia, tận dụng triệt để các nguồn lực sản xuất của xã hội nhằm tăng thêm thu nhập cho người lao động Đối với nước ta hiện nay ngành nông - lâm nghiệp giữ vai trò quan trọng thì sự phát triển của khu vực này hiện nay là tất yếu Trong tương lai với công cuộc CNH và HĐH đất nước thì khu vực này sẽ từng bước giảm dần chuyển sang lao động trong các ngành công nghiệp hiện đại.
Theo cơ chế mới của nền kinh tế nhiều thành phần đã có những chuyển biến tích cực Theo dự đoán của các nhà kinh tế Việt Nam và thế giới, nếu tốc
độ phát triển của KTNQD nhanh hơn tốc độ phát triển của nền KTQD bình quân 1%/năm thì xu hướng biến động về tỷ trọng các thành phần kinh tế trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội nước ta trong 10 - 20 năm nữa là: Kinh tế quốc doanh 10%, kinh tế ngoài quốc doanh 90% Trong đó thành phần kinh tế
tư bản Nhà nước không quá 30%, kinh tế tư nhân 20%, kinh tế tập thể 20%, kinh tế cá thể và gia đình 30% Mô hình kinh tế hộ gia đình, các xí nghiệp vừa
và nhỏ là phù hợp với đặc điểm KTNQD Sẽ xuất hiện những tập đoàn kinh tế
tư bản tư nhân bên cạnh những tập đoàn kinh tế Nhà nước trong môi trường cạnh tranh tự do, bình đẳng cùng tham gia quá trình phân công lao động trong nước và hợp tác quốc tế.
1.1.2.2.b Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư nước ngoài.
Kể từ khi Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các quan
hệ kinh tế quốc tế, đã xuất hiện nhiều tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, hàng năm khu vực này đóng góp một tỷ lệ lớn vào GDP, góp phần chuyển giao công nghệ, khoa học quản lý hiện đại, thu hút lao động trong nước với mức lương cao, đào tạo công nhân kỹ thuật, rèn luyện phong cách lao động công nghiệp hoá.
Trong những năm gần đây, hoạt động đầu tư nước ngoài đang được nhiều người quan tâm và trên thực tế hoạt động này đã và đang đóng góp một
Trang 10phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước, mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu từ cuối năm 1987 và được đánh dấu bằng sự ra đời Luật đầu tư nước ngoài Từ đó tới nay hoạt động đầu tư nước ngoài ngày một tăng lên cả về tổng số vốn đầu tư, số lượng dự án đầu tư,
số nước tham gia và các lĩnh vực đầu tư Tuy vậy, từ năm 1997 đến nay hoạt động đầu tư nước ngoài có phần giảm sút so với các năm trước, đây đang là vấn đề được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà kinh tế Phải thừa nhận rằng đầu tư nước ngoài giảm sút trong mấy năm qua có nhiều nguyên nhân như ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, môi trường đầu tư chưa hấp dẫn, thủ tục hành chính rườm rà, chính sách thuế thiếu ổn định Nhưng với lợi thế ở nước ta có nguồn lao động dồi dào, chịu khó, có nguồn nguyên liệu rẻ, cùng với việc thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu
tư nước ngoài của Chính phủ như cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế, giảm giá cho thuê đất Chắc chắn trong tương lai khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài sẽ phát triển một cách nhanh chóng, sẽ có ngày càng nhiều những dự án kinh doanh có hiệu quả tạo công ăn việc làm cho người lao động
và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3 Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song được sự khuyến khích của Đảng và Nhà nước, khu vực KTNQD đã dần dần khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế Với tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo, KTNQD đã sớm thích nghi với những biến đổi thường xuyên của thị trường, đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, sự phát triển của KTNQD đã tạo ra sự cạnh tranh, góp phần
phát triển kinh tế.
Trong những năm vừa qua, sự tồn tại và phát triển của khu vực KTNQD là cần thiết và phù hợp với quy luật phát triển kinh tế của nước ta trong giai
Trang 11đoạn mới Việc phát triển KTNQD không những không làm suy yếu KTQD mà còn tăng sức cạnh tranh, góp phần thúc đẩy KTQD phát triển mạnh mẽ hơn KTNQD phát triển ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề đã làm cho thị trường hàng hoá trở nên phong phú, đa dạng, sôi động Người tiêu dùng nhờ vậy mà có nhiều cơ hội để lựa chọn hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình Trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các DNQD hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước nên sản phẩm làm ra không đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của thị trường Bây giờ, với sự xuất hiện và phát triển của DNNQD thì các DNNN sẽ phải hoạch định lại chiến lược kinh doanh, thay đổi
cơ cấu tổ chức cho phù hợp với tình hình mới, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Như vậy, khu vực KTNQD đóng vai trò hỗ trợ cho khu vực KTQD phát triển, giải quyết những yêu cầu của nền kinh tế đặt ra mà khu vực KTQD không đảm nhiệm hết hoặc đảm nhiệm không tốt.
KTNQD không những là đối thủ cạnh tranh mà còn là đối tác làm ăn trong quá trình cung cấp sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp đầu vào cho KTQD Sự kết hợp sản xuất - tiêu thụ giữa KTQD và KTNQD tạo ra một dây chuyền sản xuất mới của xã hội, giúp cho thời gian sản xuất, tiêu thụ được rút ngắn và sản phẩm sản xuất ra được hoàn thiện với chất lượng ngày càng tốt hơn.
Như vậy sự phát triển của khu vực KTNQD đã thúc đẩy và tăng cường các mối quan hệ trong nước, đồng thời tạo ra sự ganh đua giữa các thành phần kinh tế, buộc các thành phần kinh tế nói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng phải luôn đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và phát triển.
Thứ hai, sự phát triển KTNQD đã thu hút một lực lượng lớn lao động,
giảm sức ép về tình hình thất nghiệp cho đất nước.
Như chúng ta đã biết, khu vực KTNQD với quy mô vốn đầu tư không nhiều
có thể dễ dàng thành lập bởi một cá nhân hay một số cổ đông liên kết lại dưới dạng công ty TNHH, công ty cổ phần có mặt trong tất cả các ngành nghề như:
Trang 12nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ nên rất linh hoạt, có khả năng tạo việc làm cho người lao động nhanh nhất, dễ dàng hơn nhiều so với khu vực KTQD.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, kinh tế tập thể đã thu hẹp lại, kinh
tế tư nhân, cá thể phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng cũng như quy mô hoạt động, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trong dân cư vào mọi lĩnh vực sản xuất vật chất và dịch vụ.
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động được giải quyết việc làm bằng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước chiếm 40% - 50% mỗi năm, và có 80
- 85 vạn lao động có thêm việc làm do các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh Hiện nay, với chủ trương giảm biên chế, khu vực KTNQD sẽ là nơi thu hút lao động dôi ra từ các đơn vị, cơ quan nhà nước và hành chính sự nghiệp.
Thứ ba, KTNQD phát triển góp phần tăng thu ngân sách cho Nhà nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Khu vực KTNQD tồn tại và phát triển sẽ là nguồn đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế Hàng năm khu vực KTNQD đóng góp vào ngân sách Nhà nước khoảng 30% Nguồn ngân sách Nhà nước sẽ được dùng
để đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng hay giúp đỡ, hỗ trợ một số ngành kinh tế yếu kém Nói cách khác, khu vực KTNQD
có vai trò điều hoà thu nhập cũng như đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
Thứ tư, trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang thực hiện chính sách
mở cửa, từng bước hội nhập với kinh tế thế giới thì các DNNQD sẽ trở thành cầu nối cho sự hòa nhập đó.
Từ nay đến năm 2005, do có những thay đổi mạnh trong quan hệ kinh tế thế giới các DN sẽ phải đương đầu với các thách thức rất lớn Việt Nam sẽ xoá
bỏ hàng rào thương mại phi thuế quan và giảm thuế nhập khẩu cho phù hợp với quy định của AFTA vào ngày 01/06/2006, hạn chế định lượng và kiểm soát
Trang 13ngoại hối, mở rộng hơn con đường tiếp cận của bên ngoài vào thị trường nội địa, lúc đó các DN được Nhà nước bảo hộ sẽ chịu những tác động lớn Hơn nữa, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, chúng ta phải tuân thủ những hướng dẫn của WTO vào năm 2010 hoặc sau đó Do đó Nhà nước cần phải tạo ra những cơ hội kinh doanh bình đẳng cho các DN thuộc các thành phần kinh tế, nếu các DNNQD bị bỏ lại đằng sau hoặc chịu sự phân biệt đối xử thì doanh nghiệp Việt Nam khó có thể gánh vác được nền kinh tế đất nước vào năm 2005 và những năm sau đó Hơn nữa, thực hiện chính sách mở cửa tức là chấp nhận cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư, kinh doanh trong nước và như vậy chắc chắn sẽ thu hút được một nguồn vốn nước ngoài tương đối lớn Để tận dụng cơ hội này cho phát triển kinh tế thì phải chú trọng phát triển KTNQD vì các nhà đầu tư nước ngoài chỉ tham gia vào quốc gia có các thành phần kinh tế tư nhân phát triển bởi có như vậy họ mới có cơ hội để tồn tại và phát triển
Thứ năm, DNNQD góp phần quan trọng trong việc thu hút và sử dụng tối
ưu các nguồn lực trong nền kinh tế.
Việc tạo lập DNNQD không cần nhiều vốn, điều đó đã tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư; mặt khác trong quá trình hoạt động các DNNQD có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc Chính vì vậy, DNNQD được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khoản vốn đầu tư.
Từ thực tế ta thấy rằng sự tồn tại và phát triển của các DNNQD là một tất yếu khách quan và cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Trang 141.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KTNQD 1.2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng.
Từ tín dụng xuất phát từ tiếng La-tinh "credo" có nghĩa là "sự giao phó" hay "tôi đặt niềm tin vào đó", hoặc từ tiếng La-tinh "credittum" có nghĩa là "sự tín nhiệm".
TD NH là một phạm trù kinh tế tồn tại qua nhiều hình thức xã hội khác nhau Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau ta có những cách biểu hiện khác nhau Theo quan niệm truyền thống TD là mối quan hệ kinh tế trong đó một người chuyển giao cho người khác, TCKT khác quyền sử dụng một lượng giá trị hoặc một lượng hiện vật nào đó với những điều kiện được hai bên thoả thuận trước, những điều kiện đó thường về số lượng, chất lượng, thời gian hoàn trả và lượng giá trị tăng thêm Hay nói cách khác, TD là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Theo Luật các TCTD: Cấp tín dụng là việc TCTD thoả thuận để khách hàng
sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác.
Hoạt động TD có từ rất xa xưa và phát triển qua các chế độ xã hội khác nhau TD nặng lãi tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến và hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số nơi, một đặc điểm của hình thức tín dụng này là lãi suất cho vay rất cao từ vài chục cho đến hàng trăm % Tín dụng nặng lãi không thúc đẩy nền sản xuất mà nó chỉ nhằm mục đích phục vụ những nhu cầu tối thiểu của con người.
Nền sản xuất kinh doanh hàng hoá ngày càng phát triển, các nhà kinh doanh tư bản hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu, họ phải xem xét tới chi phí vay vốn của mình, để có lãi trong kinh doanh nhà tư bản không vay vốn với lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuận Do đó, xuất hiện một hình thức tín dụng phù hợp hơn đó là tín dụng thương mại.