Để đảm bảo cho đất nước trong vòng 20 năm tới có thể hoàn thành thắng lợi giai đoạn đầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá ,rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa nước ta với các nước khác trong
Trang 1PHƯƠNG HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KINH TẾ NHẰM TẠO SỰ PHÙ HỢP GIỮA CƠ CẦU SINH VIÊN ĐÀO TẠO BẬC
ĐẠI HỌC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I - XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
Cho đến nay nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh và vững chắc với sự tăng trưởng cao về kinh tế hàng năm và mức độ ổn định của nền kinh
tế Trong mấy năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của chúng ta luôn đạt mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới.Năm 1996 ,1997,1998 con số tăng trưởng là 9,3% ; 8,2% và 5,8% so với tốc độ tăng trưởng của thế giới là 2% ; 3,5% ; 3,8% trong cùng thời điểm (Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới).Trong các năm đó tốc độ lạm phát của chúng ta luôn ở mức nhỏ hơn một con
số là 4,5% ;3,6% ;và 9,2%.Trong thời gian tới, mục tiêu của chúng ta là đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.Vì vậy, xem xét đánh giá đúng điểm xuất phát của chúng ta hiện nay từ đó vạch ra chiến lược cụ thể trong các lĩnh vực phát triển để lựa chọn bước
đi đúng đắn trong thời gian tớilà một việc làm hết sức cần thiết Mục tiêu phát triển chung của chúng ta trong thời gian tới là:
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh
tế bình quân của chúng ta phải đạt từ 7-9%/năm,cần phải tạo ra cho nền kinh tế một sự dịch chuyển hợp lý giữa các thành phần trong nền kinh tế nhằm tạo ra sự tương tác giữa các thành phần của cơ cấu trong từng giai đoạn phát triển nền kinh
tế Phát triển các ngành mũi nhọn để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trên trường quốc tế ,tạo động lực phát triển các lĩnh vực khác.Trong thời gian từ nay đến năm 2020 chúng ta phải tạo sự chuyển biến cơ bản trong cơ cấu bằng cách tăng nhanh tỷ trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ làm cho hai khu vực kinh tế
Trang 2này chiếm tỷ trọng là từ 80 -90%, đồng thời giảm tỷ trọng của nông nghiệp xuống còn từ 10-15%.Trong lĩnh vực công nghiệp tạo sự đổi mới trong nhóm ngành sản xuất chế tạo bằng việc nhập và xây dựng các nhà máy và dây chuyền sản xuất hiện đại tránh phụ thuộc vào việc nhập máy móc sản xuất từ nước ngoài Đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực trình độ trong các lĩnh vực để tiếp thu các tiến bộ khoa học
kỹ thuật công nghệ mới đồng thời sử dụng rộng rãi công nghệ có hàm lượng lao động cao nhằm tăng tính cạnh tranh quốc tế nhằm phát huy lợi thế so sánh về nguồn nhân lực trong điều kiện thương mại tự do
Trang 3Bảng 12 Phương hướng phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian tới STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
GDP(109 đ-Giá hiện hành
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
485566 157551 95851 232614
1555890 579228 190678 785984
4200129 1604378 328029 2267722 Nhịp độ tăng %
GDP
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
8,2 12 4,5 8,3
7 9 4 7,1
6,5 7,5 3 7,1
Cơ cấu (%)
GDP
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
100 32,4 19,7 47,9
100 37,2 12,3 50,5
100 38,2 7,8 54
( Nguồn -Bối cảnh xu hướng và động lực phát triển -Viện nghiên cứu phát triển giáo dục )
Về nhân lực cho nền kinh tế định hướng phân bố hợp lý nguồn nhân lực giữa các vùng khu vực tạo hiệu qủa năng suất lao động cao nhất bằng việc xây dựng cơ cấu đào tạo Đại học-Cao đẳng/Trung học chuyên nghiệp/Công nhân kỹ thuật hợp
lý Trong cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo này chúng ta cố gắng đạt đến mức
Trang 4chuẩn của điều kiện phát triển là 1/4/10 tránh tình trạng tập trung một lượng lớn cán bộ có trình độ cao trong ngành nhưng tỷlệ công nhân và cán bộ kĩ thuật không tương xứng.Khuyến khích sự di chuyển lực lượng lao động giữa các vùng nhằm khắc phục tình trạng thừa thiếu cục bộ lao động giữa các vùng
Để đảm bảo vấn đề công bằng xã hội cần rút ngắn khoảng cách giữa tầng lớp dân cư có mức sống cao và mức sống thấp xuống còn 2-3 lần và khoảng cách giữa người giàu nhất và nghèo nhất là 4-5 lần ,nhằm tạo ra sự tương đối đồng đều trong việc hưởng thụ các chính sách phúc lợi Rút ngắn khoảng cách giữa các vùng kinh
tế khác nhau về mức sống và sinh hoạt bằng các chính sách phát triển bền vững
Tăng cường hợp tác đầu tư với nước ngoài nhằm thu hút các nguồn vốn đầu
tư hợp tác và nguồn vốn phát triển FDI và ODA để phát triển và xây dựng các
điều kiện cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế
II - PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN BẬC ĐẠI HỌC CỦA CHÚNG TA TRONG THỜI GIAN TỚI.
Để đảm bảo cho đất nước trong vòng 20 năm tới có thể hoàn thành thắng lợi giai đoạn đầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá ,rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa nước ta với các nước khác trong khu vực, ngành giáo dục đào tạo nước ta phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài tạo nên sức mạnh cần thiết cho nhiệm vụ phát triển đất nước và đáp ứng yêu cầu học tập, nâng cao nhân
Trang 5cách thực hiện các mục tiêu về cuộc sống của mỗi người dân Trongvăn kiện hội nghị lần IV của Ban chấp hành TW Đảng khoá VII đã xác định :
“Phải có quyết tâm cao và chính sách đầu tư hữu hiệu để sớm nâng cao cả mặt bằng vật chất lẫn tinh thần, dân trí nước ta lên trình độ của mỗi quốc gia phát triển”
Dựa trên định hướng phát triển về giáo dục của Đảng và nhà nước ,Bộ giáo dục -Đào tạo xác định:
“Nhanh chóng nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, tiếp tục phát triển quy
mô hệ thống giáo dục nước ta đạt trình độ phát triển của thế giới, có khả năng giáo dục, đào tạo bồi dưỡng con người Việt Nam có đủ phẩm chất và năng lực thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá, giữ được tư thế và vị trí thích hợp của nước ta trong phân công, hợp tác và cạnh tranh quốc tế”
Nhằm đáp ứng nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý cho nên kinh tế thì Bộ giáo dục-Đào tạo có một số phương hướng phát triển trong thời gian tới như sau
** Về cơ cấu đầu vào đối với hệ thống giáo dục bậc Đại học do yếu tố cầu trong nền kinh tế vẫn là nhân tố chủ lực trong việc hình thành và thu hút nguồn đầu vào theo học ở các nhóm trường nên định hướng trong thời gian tới của chúng ta nhằm hình thành một cơ cấu đầu vào hợp lý là phải tạo ra khả năng thích ứng với khối trường và định hướng phù hợp về khối trường trong việc đáp ứng yêu cầu về nhân lực
Trang 6*Đối với những khối trường mà xã hội cần (ví dụ những ngành khoa học cơ bản,) thì nhà nước áp dụng biện pháp phân công công việc khi tốt nghiệp Chỉ có như vậy mới có thể tránh cho các ngành Khoa học cơ bản thiếu nguồn đầu vào chỉ
vì lý do khó xin việc
*Những khối trường và ngành học mà cá nhân cần thì mở theo nhu cầu và quy định những khoản đóng góp tương xứng với quá trình đào tạo, tự tìm việc làm khi tốt nghiệp
*Những ngành học mà xã hội cần và cá nhân cũng cần như y tế, sư phạm thì chúng ta phải có chế độ về học bổng, học phí thích hợp, theo yêu cầu của từng nhóm ngành mà phân công công việc một phần cho lượng đào tạo đó Tránh sự lãng phí và thất thoát về kinh phí đào tạo trong bậc đại học của chúng ta
*Phương hướng về hệ thống các trường đại học thì chúng ta phải có sự củng
cố lại các trường đại học đã có Nhà nước nên tập trung giúp các trường có đủ điều kiện phát triển thành các trường đại học chuyên ngành với quy mô lớn hoặc các Viện đại học đa ngành Như trường Đại học quốc gia Hà Nội sẽ phải có các trường thành viên khối kinh tế , đại học công nghiệp và các Viện nghiên cứu khoa học Với Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chính Minh sát nhập 9 trường quanh thành phố để thành lập một viện đại học đa ngành xứng đáng là 1 trung tâm khoa học tiêu biểu về học thuật đa ngành, lực lượng theo học v.v Vì vậy Nhà nước phải tập trung xây dựng lại hai đại học quốc gia cho thực sự đúng ý nghĩa: “Đại học quốc gia”
Trang 7*Phương hướng về nội dung đào tạo bậc đại học nhằm đáp ứng yêu cầu về trình độ trong điều kiện mới thì chúng ta phải có sự thiết kế lại nội dung, chương trình đào tạo đại học Các khối trường trong hệ thống giáo dục bậc đại học phải thiết kế lại nội dung đào tạo trên tinh thần vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại với những nội dung phải mang tính chất chung của thế giới như khoa học , công nghệ , môi trườg, quản lý v.v và mang tính chất đậm đà bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam Đáp ứng mục tiêu đào tạo thay đổi từ diện hẹp sang diện rộng, đào tạo ra những con người
tự chủ , lập nghiệp trong cơ chế thị trường
*Có một bộ phận giáo dục đào tạo bậc Đại học có chất lượng cao ,quy mô tương đối nhỏ ,được ưu tiên về nguồn lực và điều kiện chỉ đạo quản lý Chọn lọc những sinh viên ưu tú đật trình độ giáo dục -đào tạo tiên tiến của các nước trên thế giới trong một số ngành ,tạo nên chất lượng của toàn hệ thống và tiềm lực khoa học,công nghệ của đất nước trong cạnh tranh quốc tế, chuẩn bị đội ngũ lãnh đạo kế cận trong các cơ quan của tổ chức Đảng vàNhà nước
**Phương hướng về cơ cấu sinh viên theo các tiêu thức khác nhau thì chúng
ta phải có những phương hướng tổng quan và các biện pháp liên quan nhằm tạo ra
sự thích ứng cao nhất của cơ cấu sinh viên đó đối với sự phát triển kinh tế trong cơ cấu về khối trường và cơ cấu vùng
Trong xu hướng phát triển nền kinh tế trong giai đoạn tới chúng ta phải có
sự phát triển cao về số lượng lao động và qua đaò tạo về trình độ kỹ thuật và quản
lý nhằm cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật tăng qua các năm trong tổng số lực
Trang 8lượng lao động của cả nước Trong thời gian tới tỉ trọng lao động qua đào tạo phải đạt 6% vào năm 2000, 20% vào năm 2010 và 25% vào năm 2020 trong tổng số lực lượng lao động(Các định hướng phát triển giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2020-Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục) Số lượng sinh viên bậc Đại học hệ chính qui trong thời gian tới của chúng ta phải đạt 25 người vào năm 2000; 40 người vào năm 2010 và 50 vào năm 2020 trên 1 vạn dân so với lượng sinh viên bậc cao đẳng và đại học hệ chính quy và không chính quy là 105 sinh viên vào năm
2000, 256 sinh viên vào năm 2010 và 527 sinh viên năm 2020 trên một vạn dân (Dự báo quy mô phát triển giáo dục và đào tạo cho thời kỳ2000-2020.Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục)
*Định hướng cơ cấu sinh viên theo khối trường của chúng ta trong thời gian tới thì có sự điều chỉnh tương ứng với tỉ trọng các nhóm ngành trong nền kinh tế Trong lĩnh vực nông nghiệp vào năm 2020 duy trì tỉ trọng trong các ngành kinh tế
ở mức 10 -15% trong cơ cấu kinh tế nhưng phaỉ đáp ứng đủ yêu cầu về lương thực trong nước,đồng thời có nguồn xuất khẩu vững chắc.Muốn vậy thì số cán bộ có trình độ đại học làm việc trong lĩnh vực đó phải đạt khoảng 1,5 triệu người chiếm 5% trong tổng số lực lượng lao động của lĩnh vực nông nghiệp , cơ cấu sinh viên trong lĩnh vực này đào tạo hàng năm phải đạt 4-5% trong tổng số sinh viên đào tạo Sinh viên phục vụ trong khối ngành công nghiệp kỹ thuật và dịch vụ phải chiếm tỉ trọng khoảng 75-80% trong tổng số sinh viên đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực khi tỉ trọng của các nhóm ngành này chiếm 80-90% trong toàn bộ hệ thống kinh tế vào năm 2020
Trang 9Trong thời gian tới việc xây dựng các biện pháp và chính sách phục vụ cho việc tăng tỉ trọng sinh viên đào tạo của khu vực nông thôn, vùng kinh tế có nhiều khó khăn nhằm nâng tỉ trọng cơ cấu sinh viên các vùng kinh tế như đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên, Miền núi Bắc trung du Bắc bộ lên mức 12%, 8%, 13% vào năm 2010 và mức 15%, 10%; 14% vào năm 2020 trong tổng số sinh viên đào tạo bậc đại học của cả nước là cần thiết Đối với khu vực nông thôn chúng ta duy trì ở mức 60 -65% trong toàn bộ cơ cấu sinh viên bậc đại học và nâng dần lượng sinh viên trên 1 vạn dân của khu vực này lên mức 230 người vào năm 2000,
30 người 2010 và con số này phải đạt tới mức 35 người vào năm 2020: rút ngắn dần khoảng cách về số lượng bình quân sinh viên trên 1 vạn dân của khu vực nông thôn với khu vực thành thị xuống khoảng 2-3 lần, nhằm tạo ra sự cân đối và số lượng, tương ứng về mặt bằng dân trí ,hợp lý về cơ cấu sinh viên giữa hai khu vực
III - ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KINH TẾ CHO VIỆC HÌNH THÀNH CƠ CẤU SINH VIÊN HỢP LÝ
Đinh hướng xây dựng của hệ thống giáo dục - đào tạo và đặc biệt trong hệ thống giáo dục bậc Đại học từ nay đến năm 2020 là tăng quy mô nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đạt đến trìnhđộ của các nước phát triển và bố trí một cơ cấu đào tạo hợp lý về cấp học, các khu vực khối trường tạo khả năng thích ứng cao nhất với nhu cầu về nguồn nhân lực qua đào tạo của nền kinh tế Để làm được điều
đó chúng ta phải có những chính sách vĩ mô mang tính điều chỉnh những nhân tố khách quan tác động đến hệ thống giáo dục và các chính sách có chủ định của Nhà nước như chính sách hỗ trợ kinh tế đối với hệ thống giáo dục Đại học Đồng
Trang 10thời chúng ta phải xây dựng các định hướng sử dụng chính sách kinh tế đó cho phù hợp với định hướng phát triển giáo dục
1 - Chính sách đầu tư giáo dục
Trong lĩnh vực đầu tư ngân sách của Nhà nước đối với giáo dục đào tạo thì nguồn vốn đầu tư phải có sự mở rộng về số lượng và qui mô trong các cấp học bậc tiểu học , trung học v.v nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng cho nguồn hình thành cơ cấu sinh viên đào tạo bậc đại học Với việc tăng nguồn chi của ngân sách đầu tư cho một sinh viên trong các cấp học trong giai đoạn từ nay đến 2020
Bảng13 :Dự kiến ngân sách Nhà nước chi cho 1 học sinh ở cấp học hàng năm
Đơn vị (USD)
STT Năm Tiền học Trung học Chuyên nghiệp
1
2
3
2000
2010 2020
20
140 200
80
360 400
500
900 1200
(Nguồn:Bộ Tài Chính)
Để làm được điều đó định hướng nguồn vốn đầu tư ngân sách của Nhà nước cho hoạt động giáo dục phải đạt mức 15% năm 2000 và 2010, 20% năm 2020 trong tổng số nguồn chi hàng năm của ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó chúng ta phải có kế hoạch nhằm huy động một cách tối đa các nguồn vốn hỗ trợ của các cá
Trang 11nhân v.v nhằm khắc phục một số nhược điểm trong chính sách đầu tư của Nhà nước cho giáo dục
Trong hệ thống giáo dục bậc Đại học nguồn vốn đầu tư trong năm tới của chúng ta phải có sự tăng cao qua các năm nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo
và chất lượng đào tạo trong thời gian tới Định hướng nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo bậc Đại học trong các năm tới là ngang với mức của các nước trong khu vực khi chúng ta đã bước vào giai đoạn phát triển ,hay khi chúng ta có mức thu nhập quốc nội ngang với các nước đó
Bảng13: Định hướng nguồn vốn đầu tư cho giáo dục bậc Đại học
1
Tỉ trọng Ngân sách đầu tư cho giáo
2
Tỉ trọng đầu tư cho giáo dục đại học (% trong tổng nguồn vốn đầu tư cho giáo dục
15 20 25
3 Ngân sách chi cho 1 sinh viên (USD) 500 1500 2500
(Nguồn:Bộ Tài Chính)
*Tạo điều kiện cho các trường đại học mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế , tiếp nhận trực tiếp các nguồn tài trợ từ nước ngoài, đồng thời khuyến khích các cơ
sở đại học tiến hành các hoạt động sản xuất và dịch vụ khoa học với chế độ ưu đãi
để tăng thêm nguồn tài chính
Trang 12*Cho phép các trường Đại học điều chỉnh mức học phí ở mức phù hợp có sự tách bạch giữa việc đóng học phí và việc thực hiện các chính sách xã hội
*Có chính sách đầu tư vật chất nhằm tăng cường các phòng thí nghiệm hiện đại hóa dần các trường đại học Tập trung xây dựng hệ thống sách giáo khoa đại học theo phương châm viết và dịch các bộ sách có chất lượng cao phổ biến ở nước ngoài, nhằm tạo điều kiện trong thời gian tới chúng ta đáp ứng được yêu cầu về trình độ trong các khối ngành thông qua tài liệu trong nước và quốc tế xây dựng các phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn quốc tế, các thư viện trung tâm và dịch vụ thông tin tư liệu hiện đại để phục vụ sinh viên trong các trường đại học
*Tập trung nguồn vốn đầu tư của ngân sách và các nguồn vốn ngoài ngân sách, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đào tạo giữa các nhóm ngành thuộc khối trường như nông, lâm ngư nghiệp, khoa học cơ bản với các khối trường khác bằng những biện pháp tập trung vào viêc mở rộng khối trường, tạo các điều kiện thuận lợi cho sinh viên theo học các khối trường này về điều kiện sinh hoạt,
cơ sở trường lớp, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên thuộc khối trường này có sự kết hợp giữa kiến thức sách vở và những vấn đề trong thực tế bằng các thiết bị và
cơ sở thí nghiệm hợp lý
*Đối với nguồn đầu vào cho các trường Đại học trong việc khắc phục áp lực của nền kinh tế thị trường,làm xuất hiện tình trạng có trường quá đông và có trường quá ít người học.Những khối trường mà xã hội cần như khoa học cơ bảnthì Nhà nước nên có chính sách đài thọ thoả đáng,thậm chí đài thọ cho theo học tại các trường nổi tiếng trên thế giới.Tạo ra mức thu nhập hợp lý cho các đối tượng tốt