Bồi thường thiệt hại là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp luật hoặc của các chủ thể khác.
Trang 1A/ Đặt vấn đề.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trongluật dân sự Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phátsinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm đượchiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường chongười bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảođảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người ý thức tuânthủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợppháp của người khác Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâmhại
B/ Giải quyết vấn đề.
I/ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Xét về nguồn gốc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làmột trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự Tuynhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế định gâynhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật pháp cũngnhư các cán bộ làm công tác thực tiễn Trải qua các giai đoạn lịch sử khácnhau, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn được hoàn thiện bởicác chuyên gia pháp lý nước ta, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng đã được quyết định trong Quốc triều hình luật, Hoàng việt luật lệ Phápluật mỗi nước có thể có những quy định khác nhau liên quan đến xác định
mức bồi thường tuy nhiên một nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại : “Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại” Bộ luật Hồng Đức
và Bộ luật Gia long đều chưa có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồithường thiệt hại dân sự Sự phân biệt giữa trách nhiệm hình sự và tráchnhiệm dân sự chỉ ra đời trên cơ sở ba bộ luật đầu tiên (bộ luật Nam kỳ ban
Trang 2hành ngày 10/3/…, bộ dân luật Bắc kỳ ban hành 1/4/1931, bộ dân luật Trung
kỳ ban hành ngày 31/10/1936) và các nguyên lý chung về trách nhiệm bồithường dân sự lần đầu được ghi nhận một cách cụ thể tại Điều 712 đến Điều
716 (Bộ dân luật Bắc kỳ), Điều 761 đến Điều 767(Bộ dân luật Trung kỳ) vàcho đến năm 1972 chính quyền Sài Gòn có ban hành dân luật Sài Gòn từĐiều 729 đến Điều 739 đề cập về trách nhiệm bồi thường dân sự
Cách mạng tháng 8 thành công đánh dấu một bước ngoặt mới: Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hànhđược văn bản quy phạm pháp luật Để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn rahang ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký sắc lệnh số 90/SL ngày10/10/1945 và sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950
Việc giải quyết các quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của ngành Toà án Qua thực tiễn xét
xử, vân dụng, kế thừa những quy định pháp luật đã có, Toà án nhân dân tốicao ban hành thong tư 173/UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫn công tác xét
xử, trong đó nói rõ điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại,nguyên tắc, cách xác định thiệt hại
Thông tư số 03/ngày 5/4/1983 bổ sung giải quyết bồi thường thiệt hạitrong các vụ tai nạn giao thông … đều là văn bản dưới luật, lại ban hànhtrong điều kiện nền kinh tế tập trung bao cấp, tuy đề cập đến nhiều vấn đềxong chỉ mong tính định hướng, chưa cụ thể…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những trách nhiệm dân sựđược áp dụng với những hành vi trái pháp luật gây ra thực hiện cho người
khác Theo khoản 5 Điều 281 Bộ Luật dân sự: “ gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là
“gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” Theo quy định tại Điều 604 BLDS
Trang 3năm 2005: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Như vậy, bồi thường thiệt hại là
quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền lợi ích hợppháp khác của cá nhân xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp luật hoặccủa các chủ thể khác Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sựnhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải bù đắp, đền bù những tổn thất
về vật chất, tinh thần cho bên bị thiệt hại
Do vây, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại tráchnhiệm pháp lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gâythiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đóđược thực hiện với những lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới tài sản, sức khoẻ,nhân phẩm khác của cá nhân, tài sản, danh dự uy tín của pháp nhân hoặccủa chủ thể khác
Trang 4đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác chủ thể trong quan hệ xã hội khác nhau.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phầnđảm bảo công bằng xã hội: Nguyên tắc chung của pháp luật là một ngườiphải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại Bằngviệc buộc người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dohành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại Chế định bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng đã góp phần bảo đảm công bằng xã hội Đây cũng là nguyêntắc, mục tiêu mà pháp luật đặt ra Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng đã cụ thể hoá và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thườngthiệt hại Theo chế định này, ai gây thiệt hại thì người ấy phải bồi thường.Tuy nhiên sẽ có trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hạinhư nguyên tắc giảm mức bồi thường, bồi thường thiệt hại trong trường hợpvượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phầnrăn đe, giáo dục phòng ngừa các hành vi vi phạm nói chung, gây thiệt hạitrái pháp luật nói riêng
II/ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của cá nhân
1 Khái niệm danh dự, nhân phẩm.
Trong đời sống hàng ngày, thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh
dự nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức, có thểxảy ra do nhiều tác động khác nhau Đó có thể là những tác động khách quansong cũng có thể do các hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại Do đó,Nhà nước ta đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngănchặn và khắc phục những hậu quả đó Điều 604 Bộ luật Dân sự nước Cộng
Trang 5hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Điều 611 Bộ luật Dân sự có đề cập đến thiệt hại về danh dự,
nhân phẩm, uy tín nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự, nhânphẩm, uy tín Điều này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực
tế Do đó, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành vinào được coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín
Theo chúng tôi, danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân vềcác mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó
Sự đánh giá của xã hội có thể về mặt lao động như nói người cần cù,siêng năng hay lười nhác, có thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việcđược giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cư xử với mọi người xung quanh nhưngười đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong quan hệ với mọi người thìthân ái đoàn kết hay ích kỷ
Như vậy, danh dự của một con người được hình thành từ những hànhđộng và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó cóđược qua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theonhững tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa
Danh dự là một khái niệm rộng gắn liền với một cá nhân hoặc một tổchức nhất định Danh dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau:
- Lòng tự trọng: tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí củamình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của người khác chính là xúcphạm đến danh dự của người đó)
Trang 6- Uy tín: chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ởmột cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi ngườitrong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo.Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự.Ngoài ra có thể hiểu danh dự bao gồm cả nhân phẩm Nhân phẩm làphẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là mộtcon người Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đếndanh dự người đó.
Danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm củamọi người đối với hoạt động của tổ chức đó
Nhưng cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là một yếu tố của danh dự,song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau nhất định:Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được
xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủnghĩa thì nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra Danh dự có thể củamột cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân phẩm chỉ là một khái niệm được ápdụng đối với cá nhân Mặc dù danh dự của một con người được hình thành
từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và thành tích của người đó cóđược qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mọingười dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm như nhaukhông phân biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của người
có quyền; những người không có năng lực hành vi dân sự, những người mấtnăng lực hành vi dân sự cũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm nhưmọi cá nhân khác
Cũng giống như những quyền dân sự khác, quyền được bảo vệ danh dự
và nhân phẩm của cá nhân chấm dứt khi cá nhân đó chết Tuy nhiên, cũng có
Trang 7trường hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩmcho một cá nhân mặc dù cá nhân đó đã chết.
Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thường thể hiện bằng cách: Dùngnhững lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhụcngười khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hộiđánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó Sự đánh giá sai sự thật khôngphụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý
Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa
là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, tính chất nghiêmtrọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân củangười bị hại
2 Cở sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại xâm hại danh dự, nhân phẩm.
a/ Có thiệt hại xảy ra:
Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mựcđích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người
bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt vấn đề bồi thường cho dù
có đầy đủ các điều kiện khác.Theo Luật Dân sự Việt Nam thì thiệt hại lànhững tổn thất thực tế được tính thành tiền do xâm phạm đến tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân và các chủ thể khác.Pháp luật Dân sự nói chung mà chế định bồi thường thiệt hại do danh dự,nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề nhạy cảm và vôcùng phức tạp bởi vì những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vậtchất không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trườnghợp việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần,cũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm dịu đi nỗi đau cho chính nạn nhân Đây
Trang 8là vấn đề rất khó nhưng cho đến nay về căn bản các cơ quan có thẩm quyềnchưa có ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho thống nhất, vìvậy khi áp dụng vào thực tiễn còn gây nhiều tranh cãi.
Tại khoản 3 Điều 307 về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “ Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại tinh thần là tổng thể nói
chung những ý nghĩ, tình cảm… những hoạt động thuộc về đời sống nội tâmcủa con người và thiệt hại về tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạngcủa con người, thể hiện bằng việc con người phải chịu những lo lắng, đauđớn về tinh thần Ví dụ như: đau đớn do người thân bị mất, băn khoăn lolắng do uy tín, nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm, mặc cảm do bị tàn phế, do
bị bôi nhọ, làm nhục, bắt giam khi không có tội… Thậm chí chỉ một xâmphạm nhỏ như gán cho một tên gọi rất xấu hoặc cưỡng ép kết hôn hay “quấynhiễu” sau khi ly hôn cũng làm cho người ta rất khổ tâm Đây chính lànhững đau đớn, dằn vặt của nội tâm mà người ta phải chịu Sự đau khổ nàybiểu hiện cũng không giống nhau Những thiệt hại về tinh thần do bị xâmphạm sức khỏe, tính mạng cũng khác với thiệt hại về tinh thần do bị xâmphạm danh dự, nhân phẩm, uy tín
Vì vậy, để tránh tùy tiện khi xét xử thì ngoài những thiệt hại thực tế tính
ra được thành tiền, đối với những thiệt hại về tinh thần do xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín chỉ nên bồi thường có tính chất tượng trưng Người bịthiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín sau khi đã được ngườigây thiệt hại xin lỗi, cải chính công khai thì sự thiệt hại về tinh thần trongcác trường hợp thông thường có thể coi là đã được khôi phục Làm việc đó
Trang 9chính là đề cao giá trị của con người, khôi phục con người trở lại vị trí cao
cả của nó
Ngoài ra, do trong Bộ luật Dân sự chỉ xác định thiệt hại danh dự, nhânphẩm, uy tín mà không coi đây là một trường hợp riêng biệt của trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thiệt hại xảy ra được đánh gia một cách khách quan, trung thực, đảm bảocông bằng xã hội Trên thực tế, mọi thiệt hại đều mang tính khách quan tuynhiên tiên lượng và định giá tính khách quan của sự thiệt hại lại thông qua ýthức chủ quan của cong người Điều đó có nghĩa là trong điều kiện, hoàncảnh thực tế ai cũng công nhận thiệt hại là có và mọi người đều chấp nhânạviệc đánh giá mức độ thiệt hại
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền xác địnhđảm bảo đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường Tuy nhiên đối với thiệt hại vềtinh thần không thể thanh toán bằng tiền, bởi tinh thần làm sao có thể cân,đong, đo, đếm cụ thể để xác định thiệt hại
b/ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản làmột quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức Mọi người đều phải tôntrọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành
vi nào “xâm phạm” đến các quyền tuyệt đối đó Bởi vậy, Điều 604 BLDS
quy định: “Người nào… xâm phạm đến… mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Điều này xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 10 BLDS “không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” Việc
“xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm phápluật hình sự,dân sự, hành chính kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của
Trang 10Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dâncư… Hành vi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng đang hànhđộng Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện cáchành vi đó.
Đặc điểm của hành vi trái pháp luật:
- Phải gây thiệt hại trái Pháp luật, nếu không trái pháp luật thì không phảibồi thường mặc dù có thiệt hại xảy ra Hành vi trái pháp luật ở đây đượchiểu là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật, ngoài ra những hành vi
vi phạm các quy tắc xử sự trong đời sống cũng có thể coi là hành vi trái phápluật nếu gây ra thiệt hại
- Hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặckhông hành động
- Là hành động có ý thức và ý chí Không thể có hành vi gây thiệt hạinhững biểu hiện bên ngoài của nó không được ý thức của chủ thể kiểm soáthay không được ý chí của họ điều khiển
c/ Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Mối quan hệ nhân quả chứa đựng nguyên nhân và kết quả Phải có sự vậnđộng của hiện tượng là nguyên nhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thểmới nảy sinh kết quả Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đếnthiệt hại là hậu quả Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi
vi phạm và ngược lại Nếu không có hành vi thì thiệt hại sẽ không xảy đến.Nếu không xác định được mối quan hệ này sẽ không xác định được tráchnhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi vi phạm và không buộcngười gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Trang 11Cần phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện: nguyên nhân trực tiếp gây
ra thiệt hại và điều kiện không trực tiếp gây thiệt hại nhưng có tác động đểcho thiệt hại xảy ra nhanh hơn Vậy trong mối quan hệ nhân quả, nguyênnhân là yếu tố quyết định còn điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả
Về nguyên tắc thì không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhân cònhiện tượng kia chỉ là điều kiện Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa rất quantrọng trong việc xác định thiệt hại Về mặt lý luận cũng như thực tế để xácđịnh mối quan hệ nhân quả là một vấn đề tương đối khó khăn Bởi vì sự thiệthại thông thường thì do nhiều nguyên nhân chứ không chỉ do một nguyênnhân gây ra Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối hợp vớinhau phát sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không cókết quả xảy ra
Tóm lại, mối quan hệ nhân quả là sự tồn tại khách quan, không phụ thuộcvào ý chí con người Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi viphạm và thiệt hại xảy ra phảo bảo đảm tính khách quan, phải đặt trong mốiliên hệ tất nhiên nội tại của các hiện tượng chứ không được chủ quan mà xácđịnh quan hệ nhân quả
d/ Có lỗi của người gây ra thiệt hại.
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi Điều 604
BLDS quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý … mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái
pháp luật của mình và đối với thiệt hại do hành vi gây nên, người có hành vitrái pháp luật gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạmcủa mình gây ra khi họ có lỗi Lỗi được cầu thành bởi hai yếu tố lý trí và ýchí Lý trí là sự thể hiện năng lực, nhận thức thực tại khách quan còn ý chí là
Trang 12yếu tố biểu hiên năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức thực tạikhách quan.
Nếu xét lỗi dưới góc độ quan hệ cá nhân thì lỗi của người gây thiệt hại là
sự biểu hiện giữa bản thân của người gây thiệt hại và xã hội mà nội dung của
nó là sự phủ định chủ quan những quy tắc ứng xử chung của xã hội, đòi hỏi
cá nhân phải tôn trọng, được thể hiện bằng các quy định của pháp luật
Lỗi cố ý biểu hiện trạng thái tâm lý của một người biết hành vi của mình
là sai, thấy rõ hậu quả của hành vi, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặckhông mong muốn nhưng có ý thực để mặc cho hậu quả của hành vi đó xảy
ra Lỗi vô ý là biểu hiện trạng thái tâm lý cỉa người gây thiệt hại thấy trướcđược hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại
đó không thể xảy ra, hoặc có thể xảy ra nhưng không ngẳn ngừa được
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung Nhưng lỗitrong trách nhiệm dân sự có những trường hợp là lỗi suy đoán Bởi vi hành
vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bịsuy đoán là có lỗi
Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức làlàm chủ được hành vi của mình Bởi vậy, những người không có khả năngnhận thức và làm chủ được hành vi của mình được coi là không co lỗi trongviệc thực hiện các hành vi đó Những người chưa có năng lực hành vi, bịmất năng lực hành vi, không thể nhận thức, làm chủ các hành vi của họ, thì
họ không phải chịu trách nhiệm
Trong trách nhiệm dân sư do gây thiệt hại vấn đề hinh thức lỗi, mức độlỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm.Thậm chí người gây ra
Trang 13thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi (khoản 3 Điều
263 BLDS)
Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức bồi thường thiệt hại.Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì ngườigây thiệt hại không có trách nhiệm phải bồi thường Mức độ bồi thường phụthuộc vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại Lỗi là điều kiện là phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy, cần phân biệt cáchình thức lỗi để xác định mức độ lõi trên cơ sở đó ấn định mức bồi thường
3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại xâm hại tới danh dự, nhân phẩm.
Luật pháp cũng như tập quán các nước đều thừa nhận một nguyên tắcchung nhất là: người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Cơ sở của tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dư, nhân phẩm, uy tín đượcquy định ở Chương 5 BLDS là xuất phát từ nguyên tắc chung của Hiến pháp(Điều 12 Hiến pháp 1992) và các nguyên tắc cơ bản được quy định tạiBLDS Các nguyên tắc quy định buộc các chủ thể “không được xâm phạm”vào các quan hệ đó Nếu chủ thể nào “xâm phạm” sẽ bị áp dụng biện phápcưỡng chế với mục đích nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi tráipháp luật gây ra Đây chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định độclập của pháp luật dân sự Mục đích của việc bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói chung và bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bịxâm phạm nói riêng không chỉ nhằm bù đắp tổn thất, mà còn giáo dục mọingười về ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác, bởi lẽ hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đếnnhũng bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Do đó, các nguyên tắc bồithường được đặt ra càng chính xác, hợp lý bao nhiêu càng phát huy tác dụng
Trang 14tích cực bấy nhiêu Trong các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tínvừa có thể gây ra các thiệt hại vật chất, vừa gây ra các thiệt hại tinh thần.Nhưng cũng có trường hợp không gây ra thiệt hại vật chất, nhưng vẫn gây rathiệt hại tinh thần Thiệt hại tinh thần thường xuyên xuất hiện khi có hành vixâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín; đây là nét đặc trưng của loạiquan hệ này.
Thiệt hại tinh thần có các đặc điểm sau:
Thiệt hại tinh thần là thiệt hại phi vật chất, không mang tính chất kinh tế
và tài sản, không thể cân đong, đo đếm được
Không thể khôi phục lại tình trạng ban đầu của tinh thần Nói cách khác
là không thể khắc phục được toàn bộ thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại về tinh thần để lại những vết hằn tâm lý rất sâu sắc, khó phai
mờ trong ký ức của người bị hại Nó có thể gây nên những đảo lộn trong tâm
lý, đời sống của người bị hại
Không thể chỉ dung hình thức bồi thường vật chất là có thể khôi phụcđược thiệt hại tinh thần Muốn hạn chế, khắc phục thiệt hại tinh thần phảidùng nhiều biện pháp, trong đó bồi thường thiệt hại chỉ là một biện pháp
Từ việc phân tích về lý luận cũng như thực tiễn và cơ sở pháp lý của nó,nguyên tắc bồi thường trong trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uytín của cá nhân là:
3.1 Phải bồi thường toàn bộ và kịp thời các thiệt hại vật chất đã xảy ra và
bù đắp một phần những tổn thất tinh thần bằng một lượng giá trị vật chấtnhất định
Trang 15Đây là nguyên tắc chung, bao trùm và là một nguyên tắc công bằng, hợp
lý, phù hợp với tập quán của nhân dân ta là gây thiệt hại thì phải bồi thườngthiệt hại
Bồi thường toàn bộ các thiệt hại vật chất là bồi thường tất cả các thiệt hạivật chất đã xảy ra Còn bồi thường kịp thời là bồi thường đúng lúc người bịthiệt hại đang cần để dung vào việc hạn chế khắc phục thiệt hại Do đó, việcbồi thường đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng là rất quan trọng nhằm pháthuy tối đa hiệu quả của việc bồi thường
a/ Những thiệt hại phải bồi thường toàn bộ trong quan hệ danh dự, nhânphẩm, uy tín của cá nhân là:
Các thiệt hại vật chất: là những tổn thất vật chất cụ thể, có thể cảm nhậnđược bằng các giác quan, có thể tính toán được bằng tiền đó là:
+ Các chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại:
Chi phí phải bỏ ra do xâm phạm thân thể, sức khoẻ khi bị làm nhục, bịhiếp dâm, cưỡng dâm … có thể gồm các khoản dành cho việc chữa trị vếtthương, do bị truyền bệnh (các khoản thuốc men, khám chữa, tiêm, viện phí
…), chi phí cho việc bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ
Chi phí cho việc giám định (sức khoẻ, tài liệu …)
Phí tốn tàu xe đi lại của nạn nhân (đi giám định, đi khám, chữa hoặc đitheo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, xét xử…)
Chi phí đi lại của người thân của nạn nhân (đưa nạn nhân đi khám, chữa,
đi tìm nạn nhân…)
Chi phí thu hồi một ấn phẩm hay đăng lời cải chính trên các phương tiệnthông tin đại chúng để khôi phục lại danh dự, uy tín…
Trang 16Chi phí thê luật sư, số tiền thuê người đi tìm hoặc chuộc nạn nhân vềtrong trường hợp bị bắt trộm, bắt cóc, bị bán…
Thế nào là chi phí hợp lý theo quy định ở Điều … BLDS? Khái niệm
“chi phí hợp lý” chỉ mang tính định tính, không phải là yếu tố định lượng.Việc xác định thế nào là chi phí hợp lý là thuộc trách nhiệm của Thẩm phángiải quyết vụ án Vì vậy, xem xét, đánh giá chi phí hợp lý phải đặt trong bốicảnh không gian, thời gian và diễn biến cụ thể của từng vụ án Ví dụ chi phícho đi lại để thu hồi một ấn phẩm, hay giá trị ngày công số thuốc theo đơnphải mua ở ngoài… không thể cao hơn mức gia trung bình ở địa phương tạithời điểm đó Mức giá trung bình được coi là mức giá hợp lý Nếu người bịthiệt hại đưa ra một giá cao hơn rất nhiệt mức giá trung bình ở địa phương làkhông hợp lý
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút phải là những khoản thunhập có thực không được suy đoán Trước khi có hành vi gây thiệt hại họvẫn có thu nhập bình thường, ổn định nhưng từ khi có hành vi xâm phạmđến quan hệ nhân thân này thì khoản thu nhập đó không còn, hoặc bị giảmsút so với trước
Vì vậy, khoản thu nhập bị mất chính là khoản thu nhập không thu đượccủa người bị hại Khoản thu nhập bị mất đó có thể là:
Thu nhập bị mất trong thời gian nạn nhân nằm viện, hoặc sau khi ra việnnhưng vẫn phải nghỉ lao động nên không có thu nhập
Thu nhập bị mất của người thân phải nghỉ lao động đi chăm sóc hoặc thờigian đi tìm nạn nhân (ở các vụ hiếp dâm, làm nhục, mua bán phụ nữ, trẻem…)