1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

53 641 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 771,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm tại Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng là vấn đề được nhiều nhà làm luật rất quan tâm và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Tăng Thanh Phương Nguyễn Kim Thi

MSSV: 5117432 Lớp: Luật hành chính k37

Hậu Giang, 11/2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

  

Trước tiên, em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy

cô Khoa luật và các thầy cô đã từng dạy em trong suốt khoảng thời gian em còn học trên giảng đường đại học, chính thầy cô là người đã cho em rất nhiều kiến thức quý báo, không những dạy cho em những hiểu biết về của chuyên nghành em học mà thầy cô còn dạy cho em rất nhiều kiến thức hữu ích về cuộc sống về xã hội, nhờ vậy mà em thấy mình ngày càng trưởng thành hơn và hiểu biết hơn Thứ hai, em xin đến các anh, chị và các bạn của em những người đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu, trao đổi thảo luận để đưa ra định hướng cho em khi

em gặp khó khăn trong việc nghiên cứu đề tài Cuối cùng em xin

đặc biệt gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô: Thạc sĩ Tăng

Thanh Phương người đã tận tình hỗ trợ, tạo điều kiện, hướng dẫn

cho em trong suốt thời gian em nghiên cứu đề tài, để em có thể hoàn thành tốt luận văn của mình

Do đây là lần đầu tiên em nghiên cứu đề tài khoa học và trình độ kiến thức vẫn còn nhiều hạn hẹp, không tránh khỏi những sai sót vì thế em kính mong được sự đóng góp của quý thấy, cô để

em có thể nhận ra những hạn chế của mình khắc phục những sai sót để đề tài của em hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện Nguyễn Kim Thi

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

MỤC LỤC:

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM 3

1.1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định Bộ luật dân sự năm 2005 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc điểm 4

1.2 Khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín 5

1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 6

1.3.1 Khái niệm 7

1.3.2 Đặc điểm 8

1.4 Lịch sử phát triển về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm uy tín bị xâm phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện đại, từ năm 1945 đến nay 9

1.5 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 11

1.5.1 Nguyên tắc thỏa thuận về mức bồi thường của các bên 11

1.5.2 Nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời 11

1.5.3 Nguyên tắc người gây thiệt hại được giảm mức bồi thường 12

1.5.4 Nguyên tắc được quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường 14

1.6 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 15

Trang 6

CHƯƠNG 2:

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ,

NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM 17

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 17

2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra 17

2.1.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 19

2.1.3 Quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật 20

2.1.4 Có lỗi của người gây thiệt hại 22

2.1.4.1 Lỗi cố ý 22

2.1.4.2 Lỗi vô ý 23

2.2 Xác định thiệt hại và mức bồi thường khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 24

2.2.1 Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại 25

2.2.2 Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút 25

2.3 Những chủ thể có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín 26

2.3.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 27

2.3.1.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người đã thành niên 27

2.3.1.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người chưa thành niên 28

2.3.1.2.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi 28

2.3.1.2.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi 28

2.3.1.3 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người mất năng lực hành vi dân sự 29

2.3.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân 30

2.4 Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại 31

Trang 7

CHƯƠNG 3:

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN 33

3.1 Thực tiễn xét xử của ngành Tòa án nhân dân đối với những yêu cầu bồi

thường danh dự, nhân phẩm, uy tín 33 3.2 Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 39

3.2.1 Một số kiến nghị về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,

uy tín bị xâm phạm 39 3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nâng cao chất lượng xét xử bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 41

KẾT LUẬN 43

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định rất cụ thể về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín tuy nhiên trên thực tế thì việc bồi thường

để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại chỉ mang tính định hướng mà chưa định lượng cụ thể, vì thế Tòa án là người phải giải quyết trong trường hợp nào thì phải bồi thường và bồi thường bao nhiêu cho phù hợp hoàn toàn dựa trên căn cứ của Tòa Chẳng hạn thiệt hại về tài sản, biểu hiện là tài sản bị mất thì việc bồi thường rất cụ thể chỉ cần dựa trên giá trị tài sản nhưng đối với các khoản bồi thường tổn thất về tinh thần thì khó có thể xác định được thiệt hại xảy ra để quy định mức bồi thường cho phù hợp vì đây không phải là thiệt hại về vật chất nên đôi khi việc giải quyết cũng chưa thỏa đáng Các quy định này vẫn còn mang tính nguyên tắc chung trong khi thực tiễn thì yêu cầu pháp luật phải phù hợp với cuộc sống, bên cạnh đó các vụ án kiện về việc bồi thường thiệt hại

về danh dự, nhân phẩm lại có sự đối lập về tâm lý giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại nên việc áp dụng pháp luật cũng gây không ít khó khăn trong việc xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại như thế nào cho phù hợp đối với các chủ thể tham gia trong pháp luật dân sự và làm sao để đảm bảo được sự công bằng cho người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại

Bên cạnh đó việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm tại Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng là vấn đề được nhiều nhà làm luật rất quan tâm và mang tính thời sự cấp thiết bởi đó chính là quyền nhân thân của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, nhưng hiện nay việc giải quyết những vụ án liên quan đến bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín vẫn còn nhiều thiếu sót nhất định gây khó khăn cho những nhà làm luật vì thật khó để xác định về thiệt hại cũng như mức bồi thường như thế nào là hợp lý cho các chủ thể tham gia

Từ những vấn đề lý luận trên nên người viết chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

của mình với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những quy định của pháp luật hiện hành

Trang 9

trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như những quy định còn hạn chế thiếu sót của luật để từ đó tìm ra những giải pháp, những phương hướng cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hệ thống pháp luật hơn

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ những yêu cầu chung vấn đề yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là phạm trù hết sức phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng do đó người viết

chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” làm đề tài

nghiên cứu Qua đó giúp người viết có thể đánh giá phân tích đúng quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành đồng thời cũng từ đó rút ra những hạn chế thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn để có những bổ sung kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật đối với chế định bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được điều chỉnh theo quy định của Bộ luật Dân

sự năm 2005 và một số văn bản liên quan hướng dẫn thi hành về vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong phạm vi cả nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Kết hợp quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp nghiên cứu như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thu thập và đối chiếu các tài liệu pháp luật có liên quan Từ đó vận dụng giá trị hiện thực để điều chỉnh các quy phạm pháp luật trong Bộ luật dân sự nói chung và bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài gồm có 3 chương:

 Chương 1: Khái quát chung về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

 Chương 2: Chế độ pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

 Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ,

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định khá sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trải qua nhiều thời kỳ thì những quy định này ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể tại khoản 1 Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về căn cứ phát

sinh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”, điều này có nghĩa là khi

một người gây ra thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường

Khi tham gia vào một quan hệ nào đó các chủ thể luôn mong muốn đạt được những kết quả đúng như thỏa thuận nhưng trong thực tế thì có những quan hệ phát sinh

mà đôi khi không thể dự liệu trước được, gây ra những hậu quả bất lợi cho các chủ thể khác vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể cũng như đảm bảo công bằng cho xã hội điều chỉnh vấn đề này hiện nay quyền yêu cầu bồi thường và hành vi sai trái gây ra thiệt hại đã được luật hóa tại Chương XXI Bộ luật dân sự năm 2005 quy định

cụ thể “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” từ điều 604 đến điều 630

Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn mà quy định mức độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các chủ thể có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định khá cụ thể trong các văn bản pháp luật, đây là vấn đề được các nhà làm luật rất quan tâm vì bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những vấn đề phát sinh mà không có sự thỏa thuận trước giữa bên thiệt

1 Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, Bài giảng Luật dân sự 2, năm 2010, tr 21

Trang 11

hại và bên gây ra thiệt hại cũng như rất khó để xác định mức bồi thường thiệt hại như thế nào là hợp lý Việc gây ra thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường là vấn đề tất yếu, trong đó bao gồm trách nhiệm bồi thường về vật chất và và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần

Như vậy khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản bị xâm phạm thì Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành

vi vi phạm không chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại mà còn giáo dục mọi công dân có ý thức pháp luật cũng như tôn trọng vai trò pháp lý của nhau khi tham gia vào quan hệ xã hội

Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra kết luận về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự khi chủ thể nào có hành vi vi phạm quy định của pháp luật gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường tương xứng với hành vi do mình gây ra

quyền lợi của các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ dân sự, việc quy định về nghĩa

vụ cũng như trách nhiệm của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại thì phải căn cứ vào những yếu tố sau:

Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan

hệ tài sản do luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong bộ luật Dân sự tại Điều 307

và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự cụ thể là Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006

Về điều kiện phát sinh: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường Khi một người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản…của người khác thì phải có nghĩa vụ bồi thường Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau: Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật,

Trang 12

phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi

cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại

Về nguyên tắc: Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xem là chế định độc lập của pháp luật dân sự, được quy định cụ thể tại Điều 605 Bộ luật Dân sự thì

nguyên tắc bồi thường như sau: “toàn bộ và kip thời”, “được giảm mức bồi thường nếu

do lỗi vô ý” và “được yêu cầu thay đổi mức bồi thường”, các nguyên tắc trên không

những thể hiện sự công bằng và hợp lý mà còn thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam cũng như khả năng dự liệu trước được những trường hợp có thể xảy ra khi áp dụng pháp luật sau này

Về năng lực chịu trách nhiệm: Xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một vấn đề quan trọng trong xác định trách nhiệm bồi thường của người gây

ra thiệt hại, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiêt hại bao gồm cả cá nhân và pháp nhân: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (Điều 606), bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra (Điều 618) và chủ thể khác

1.2 Khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín

Trong cuộc sống ai cũng mong muốn những điều tốt đẹp và hoàn thiện nhất, con người sống ngoài những giá trị về đạo đức nhân cách sống, một người thành công không phải là người có vị trí đứng cao nhất trong xã hội mà là người có vị trí cao trong lòng những người xung quanh mình, từ xưa đến nay người Việt Nam chúng ta luôn đề cao nhân cách sống cách đối nhân xử thế, với sự phát triển không ngừng của xã hội thì vai trò

của đạo đức càng được đề cao hơn, đó cũng là một trong những quyền “nhân thân” cơ

bản của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ cụ thể tại Điều 37 Bộ luật Dân sự

năm 2005 quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Pháp luật quy định rõ nhưng lại không có khái niệm cụ thể về danh

dự, nhân phẩm, uy tín nên ta có thể hiểu như sau:

Danh dự: Đối với cá nhân là sự đánh giá của xã hội về mặt đạo đức, phẩm chất và năng lực của một con người, nó hình thành từ hành động cho đến cách ứng xử của người

đó theo đúng tiêu chuẩn và nguyên tắc của xã hội Đối với tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm của mọi người đối với tổ chức đó

Danh dự là yếu tố gắn liền với một chủ thể nhất định, là một trong những yếu tố

để khẳng định vai trò, vị trí của chủ thể trong xã hội Khi một người nào đó có hành vi vu khống xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của một cá nhân thì người bị xâm hại có quyền yêu cầu pháp luật bảo vệ mình, Bộ luật dân sự cũng quy định cụ thể điều này vì thế mỗi cá nhân đều có quyền yêu cầu người khác tôn trọng mình

Trang 13

Nhân phẩm: Là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với nhân cách là một con người Nhân phẩm đã gắn liền với mỗi con người từ khi họ sinh ra, khác với danh dự, nhân phẩm chỉ là khái niệm đối với cá nhân

Uy tín: Đối với cá nhân uy tín là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc phải tôn kính và tự nguyện nghe theo Đối với tổ chức uy tín là những giá trị tốt đẹp mà trong quá trình hoạt động được xã hội tin tưởng và công nhận.2

Xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thường thể hiện thông qua việc dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất lăng mạ, làm nhục người khác để người đó bị đánh giá sai về nhân cách và đạo đức bị xã hội coi thường và xa lánh

Từ những nội dung nêu trên thì ta thấy danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được xem là giá trị tinh thần của mỗi người không phải tự nhiên mà có được, mà là qua một quá trình rèn luyện và học tập lâu dài, đó là thước đo giá trị nhân cách của một con người trong xã hội, đó là quyền cơ bản mà không ai có thể bán, tặng hay chuyển giao cho người khác và không ai có quyền tước đoạt hay xâm phạm và cần được bảo vệ

Mặc dù danh dự, nhân phẩm, uy tín là giá trị tinh thần không xác định được bằng tiền hay bất kỳ vật chất nào nhưng một khi bị xâm phạm thì nó lại ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển của chủ thể bị xâm phạm, đó là tài sản vô giá mà nếu mất đi rồi rất khó để lấy lại được, xã hội ngày càng phát triển quyền của con người càng được đề cao chính vì thế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân pháp luật quy định mọi hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều phải chịu mọi chế tài nghiêm khắc

1.3 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Danh dự, nhân phẩm, uy tín được xem là quyền nhân thân quan trọng của công dân được pháp luật Việt Nam ghi nhận cụ thể tại điều 70 Hiến pháp năm 1980 như sau:

“Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”, đến Hiến pháp năm 1992 thì quyền nhân thân càng được chú trọng nhiều hơn cụ thể điều 71 có quy định rằng: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” không dừng lại ở đó

đến Hiến pháp năm 2013 lại quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về quyền của công dân tại

khoản 1 Điều 20 “ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục

2 Phạm Kim Anh, Về quy định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong Bộ luật dân sự Việt Nam và hướng dẫn hoàn thiện, Tạp chí khoa học pháp lý số 03, 2001

Trang 14

hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm”

Bên cạnh đó Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng quy định

về trách nhiệm hình sự đối với những chủ thể có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm,

uy tín của người khác có thể bị truy cứu với các tội danh như sau: Tội làm nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226), Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253), tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm mà có mức truy cứu về trách nhiệm khác nhau, vấn đề bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm càng được quan tâm hơn Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật dân sự năm 1995 thì Bộ luật dân sự năm 2005 đã dành ra một chương để hướng dẫn rất chi tiết về vấn đề này, cụ thể tại chương XXI quy

định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” từ Điều 604 cho đến Điều 630

1.3.1 Khái niệm

Vấn đề bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thuộc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 đối với các hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản thì phải có trách nhiệm bồi thường Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và nghĩa vụ bồi thường phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng được quy định tại Điều 281 Bộ luật dân sự Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác gây thiệt hại thì phải bồi thường với những thiệt hại mình gây

ra

Từ những phân tích trên ta có thể khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về

danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau: Bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín được hiểu là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật Trong đó, người có hành vi xâm phạm gây thiệt hại, phải bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra mà trước đó các bên không hề có quan hệ hợp đồng, hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng có hành vi gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết

Trang 15

vì đây là thiệt hại về tinh thần nên đôi khi thiệt hại không thể hiện ra bên ngoài cho nên phải căn cứ vào thái độ của người gây thiệt hại và những hậu quả bất lợi đối với người bị thiệt hại

Về chủ thể chịu trách nhiệm: Đối với thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm cá nhân người gây thiệt hại Đối với trường hợp người của pháp nhân gây ra thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được giao (Điều 618 BLDS 2005) Đối với bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra thì cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra (Điều 619 BLDS 2005) Đối với thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây

ra (Điều 620 BLDS 2005) Bồi thường thiệt hại do người làm công học nghề gây ra (Điều

bị thiệt hại

Bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng là một trong những trách nhiệm gây nhiều tranh cãi nhất bởi thật khó cho những nhà làm luật khi xác định thiệt hại và mức bồi thường như thế nào là hợp lý cho bên gây thiệt hại và người bị thiệt hại, vì những thiệt hại về tinh thần chỉ mang tính “định hình” không cụ thể hóa

Trang 16

1.4 Lịch sử phát triển về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,

uy tín bị xâm phạm theo quy định cuả pháp luật Việt Nam hiện đại từ năm 1945 tới nay

Cách mạng tháng 8 thành công mở ra một chặn đường mới cho phong trào xây dựng xã hội ở Việt Nam để tiến đến con đường xây dựng phát triển và hội nhập Lúc này nhiệm vụ quan trọng của nước ta là phải bắt tay vào xây dựng kinh tế và ổn định xã hội năm 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Đảng ta tiến hành khôi phục và xây dựng đất nước, thời kỳ này do tình hình đất nước còn quá nhiều khó khăn nên Hiến pháp năm 1946 chỉ tập trung về việc thành lập lại tổ chức

bộ máy nhà nước nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không được nhắc đến

Nhận thấy tình hình đất nước có nhiều biến đổi vì vậy Quốc hội ta đã sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, ngày 31 tháng 12 năm

1959 bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được ban hành cũng chưa đề cao quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân Đến năm 1972

Ủy Ban Tư pháp ban hành Thông tư 173-UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng chỉ đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe khi bị xâm phạm Đến Hiến pháp năm

1980 có quy định tại Điều 70 về quyền được bảo hộ về “danh dự và nhân phẩm” của công dân, lần đầu tiên quyền cá nhân được tôn trọng và được nêu trong văn bản pháp

luật

Rõ ràng trong thời kỳ này do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn chưa phát triển trình độ lập pháp chưa cao cũng như nhu cầu đời sống nhân dân còn thấp nên vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ được đề cập đến nhưng lại không cụ thể chỉ mang tính chất chung nên vấn đề bồi thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín không được quan tâm chỉ mang tính khái quát trong Hiến pháp năm 1980 quy định về quyền nhân thân mà không được quy định cụ thể ở bất kỳ một văn bản pháp luật nào

Nhận thấy tầm quan trọng của pháp luật dân sự trong đời sống cũng như phát huy những cơ sở pháp lý của Hiến pháp năm 1992 và những văn bản hướng dẫn thi hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên ngày 28 tháng 10 năm 1995 Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đây được xem là cột mốc quan trọng của pháp luật Việt Nam, mặc dù trước đó chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định khá lâu nhưng lại không cụ thể cho đến khi Bộ luật dân sự năm 1995 xuất hiện thì vấn đề bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín mới được đề cập đến trong các văn bản pháp luật Điều 33 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về quyền được bảo vệ danh danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:

Trang 17

“Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ”, “Không

ai được xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”, bên cạnh đó Bộ luật dân

sự năm 1995 còn cụ thể hóa rõ ràng về trách nhiệm bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy

tín tại Điều 609 như sau: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác thì phải bồi thường” và khoản 3 Điều 25 cũng khẳng định: Khi quyền nhân thân của người đó bị xâm phạm thì người đó có quyền “Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” Như vậy đến khi Bộ luật dân

sự năm 1995 ra đời thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định rõ ràng và có cơ sở pháp lý cụ thể

Sau một thời gian khi có Bộ luật dân sự năm 1995 được áp dụng và đưa vào thực tiễn cuộc sống thì mọi vấn đề dân sự phát sinh điều được giải quyết thỏa đáng đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, Bộ luật dân sự năm 1995 đã đạt nhiều thành tựu rất to lớn góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bảo vệ quyền và lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức Nhưng xã hội thì luôn thay đổi vì vậy pháp luật không thể nào áp dụng theo kiểu đứng yên, nhận thấy Bộ luật dân sự năm 1995 vẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót và những bất cập cần phải sửa đổi vì vậy ngày 14 tháng 6 năm 2005 Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005 và đây cũng là Bộ luật hiện hành của nước ta, dựa trên tinh thần của Bộ luật dân sự năm 1995 Bộ luật dân

sự năm 2005 bổ sung thêm nhiều quy định mới phù hợp với nhu cầu xã hội lúc bấy giờ

Về trách nhiệm bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng được quy đinh như sau:

“Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật Người bị hại, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các biện pháp bảo vệ cần thiết theo quy định của pháp luật” 3 và Nghị quyết 03/2006/NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải bồi thường như thế nào cho phù hợp với thiệt hại đã xảy ra đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Như vậy trải qua nhiều thời kỳ thay đổi của xã hội thì hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và ổn định hơn, Bộ luật dân sự năm 2005 đã đề cập về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách cụ thể, tổng quan bên cạnh đó việc bồi thường thiệt hại

do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cũng được các nhà làm luật quan tâm

3 Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 18

1.5 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Khi giải quyết các tranh chấp ngoài hợp đồng cần phải thực hiện đúng các nguyên tắc bồi thường theo quy định của pháp luật, để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng luật một cách công bằng và hợp lý, phù hợp với quan niệm của nhân dân ai gây thiệt hại thì phải bồi thường Việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về ba nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

1.5.1 Nguyên tắc thỏa thuận về mức bồi thường của các bên

Do bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những quan hệ phát sinh mà không có

sự thỏa thuận trước giữa các bên, vì vậy khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng, cần phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiêt hại quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự, cần phải tôn trọng thỏa thuận giữa các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội.4

Khi một quan hệ phát sinh luôn tồn tại hai chủ thể là người gây thiệt hại và người

bị thiệt hại vì thế để đảm bảo quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên, pháp luật cho các bên thỏa thuận về mức bồi thường hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc

có thể thực hiện một công việc hay phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần Hơn nữa thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín là những thiệt hại gây tổn thất về mặt tâm lý, tình cảm của người bị thiệt hại vì thế pháp luật tôn trọng để cho các bên tự thỏa thuận mức bồi thường cũng như những phương thức bồi thường như thế nào cho phù hợp Đồng thời, pháp luật cũng nghiêm cấm mọi trường hợp ép buộc thỏa thuận, việc thỏa thuận giữa các chủ thể có thể là cao hơn hoặc thấp hơn mức độ thiệt xảy ra trên thực tế điều này do các bên hoàn toàn tự chủ động, nguyên tắc này cũng thể hiện quyền tự do dân chủ của công dân trên cơ sở tự do ý chí, tự do cam kết thỏa thuận mà không bị ràng buộc bởi một chế tài nào

1.5.2 Nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời

Trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc thỏa thuận được ưu tiên nhưng nếu các bên chủ thể tham gia không thể thỏa thuận được thì căn cứ vào quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu chủ thể gây thiêt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo những nguyên tắc do luật định Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là buộc người gây thiệt hại phải bù đắp, khắc phục những thiệt hại đã gây ra cho người bị thiệt hại Khoản 1 Điều

605 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp

4 Xem tiểu mục 2.1 mục 2 phần I, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006

Trang 19

thời” khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm, uy tín thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào những vào các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự để xác định xem thiệt hại gồm những khoản nào, thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường Nguyên tắc này đảm bảo người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường tương xứng với toàn bộ thiệt hại

đã gây ra và bồi thường kịp thời càng nhanh càng tốt để khắc phục hậu quả

Thiệt hại bồi thường dựa theo nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu, thiêt hại xảy ra ở đây bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại xảy ra trên thực tế chứ chúng ta không thể cảm nhận chủ quan hay thiệt hại do suy diễn

Nghị quyết 03/2006 /NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

đó có quy định rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, tuy nhiên để áp dụng hiệu quả nguyên tắc này cần phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiêt hại tương xứng đó

Như vậy, nguyên tắc bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” là nguyên tắc thể hiện

được ý chí của nhà làm luật trong trường hợp có thiêt hại xảy ra

1.5.3 Nguyên tắc người gây thiệt hại được giảm mức bồi thường

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định bồi thường thiệt hại, nguyên tắc này được áp dụng khi thỏa mản hai điều kiện sau: Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại

và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ

 Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại

Pháp luật xét xử các vụ án luôn cân bằng giữa lý và tình và việc áp dụng nguyên tắc này thể hiện rõ điều đó Khi xác định thiệt hại trước tiên cần căn cứ vào yếu tố lỗi đây

là yếu tố quan trọng để các cơ quan xét xử căn cứ vào đó mà quy định mức bồi thường tương xứng

Theo nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì dựa trên mức độ lỗi gồm có: lỗi cố ý và lỗi vô ý đây cùng là một yếu tố chung của một nguyên tắc nhưng ý nghĩa lại khác nhau:

Nếu một người gây thiệt hại mà do lỗi cố ý, nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác nhưng vẫn cố tình làm hoặc biết trước những hậu quả có thể xảy ra hoặc mong muốn nó xảy ra hay có thể khắc phục được

Trang 20

nhưng vẫn để mặt cho nó xảy ra thì sẽ không được áp dụng nguyên tắc này và phải chịu hoàn toàn lỗi do mình gây ra về hành vi đó Đối với lỗi cố ý thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ những thiêt hại do mình gây nên, trong trường hợp này pháp luật sẽ không căn cứ vào điều kiện khách quan để giảm mức bồi thường, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận

Đối với trường hợp gây thiệt hại do lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được thì sẽ được giảm mức bồi thường do lỗi vô ý, nhưng để được áp dụng nguyên tắc này thì người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại gây ra là lỗi vô ý

Như vậy ngoài việc thỏa thuận để giảm mức bồi thường thì nếu gây thiệt hại trong trường hợp do lỗi vô ý thì người gây thiệt hại sẽ được giảm mức gây thiệt hại nếu do lỗi

áp dụng bởi vì trong thực tiễn xét xử các vụ án về bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín thì để xác định thiệt hại như thế nào là “thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình” là vấn đề hết sức khó khăn, phải tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể của từng vụ án điều kiện, hoàn cảnh, mức độ lỗi của người gây thiệt hại mà giải quyết cho thỏa đáng

Khi xem xét thiệt hại có xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài hay không thì cần phải xem xét hoàn cảnh kinh tế, thu nhập hiện tại của đương sự và thu nhập về sau của họ, để xem xét trường hợp nào thì được giảm mức bồi thường thiệt hại, trường hợp nào thì không được giảm mức bồi thường, đồng thời cũng là để bảo vệ quyền lợi, đảm bảo tính công bằng, tránh sự gian lận, lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm của người gây thiệt hại

Ví dụ: Chị A và anh B quen nhau được hai năm vì một số mâu thuẫn nên họ chia tay, nhưng B nhất quyết không chịu và có ý muốn quay lại, sau nhiều lần níu kéo không thành B bực tức liền đăng những bức ảnh riêng tư của 2 người lên trang mạng xã hội Facebook lúc đầu anh B chỉ đăng vào hộp thư riêng của chị A, lúc đầu chị A có gặp anh

Trang 21

B và yêu cầu anh xóa hình nhưng anh B không những không làm mà còn phát tán những tấm hình đó cho mọi người cùng thấy, sau khi nhìn thấy những tấm ảnh đó chị A vô cùng hoản loạn về tinh thần và phải nghỉ việc do chị A bị sốc và bị trầm cảm phải điều trị trong một thời gian Vậy trong trường hợp này Tòa án buộc anh B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho chị A mà không được giảm mức bồi thường mặc dù biết anh A chỉ là công nhân lương tháng chỉ 05 triệu và phải nuôi mẹ đang bị bệnh và hai người em đang đi học

Như vậy nguyên tắc người gây thiệt hại được giảm mức bồi thường phải đảm bảo được hai điều kiện: thứ nhất là người gây thiệt hại phải là lỗi vô ý nguyên tắc này không

áp dụng cho trường hợp lỗi cố ý, thứ hai là thiệt hại phải xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài Tuy nhiên quy định này chỉ định tính chứ chưa định lượng, tức là chưa quy định cụ thể việc giảm mức bồi thường là bao nhiêu? Nguyên tắc này cũng

là để áp dụng giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại trong trường hợp có lỗi của người bị thiệt hại, vấn đề xác định có lỗi của người bị thiệt hại là bao nhiêu cũng chưa cụ thể vì thế gây khó khăn cho Tòa án khi áp dụng nguyên tắc này

1.5.4 Nguyên tắc được quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế nữa thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước thay đổi mức bồi thường cho phù hợp, nguyên tắc này được các nhà làm luật dự liệu trước những tác động thay đổi của xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân

Chẳng hạn tại thời điểm xảy ra thiệt hại người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại tài sản là 100 triệu đồng nhưng vì một số lý do khách quan mà không thể bồi thường được đến một năm sau người gây thiệt hại thi hành nghĩa vụ bồi thường

và người bị thiệt hại thấy mức bồi thường như vậy không còn phù hợp nữa đối với thời điểm hiện tại thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu thay đổi mức bồi thường, lúc này Tòa án sẽ căn cứ vào mức độ thiệt hại vào thời điểm của một năm trước

và hiện tại để ấn định một mức bồi thường thiệt hại cho phù hợp

Mặc dù mức bồi thường đã có hiệu lực nhưng các bên có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường, việc thay đổi có thể hiểu là việc tăng lên hoặc giảm xuống mức bồi thường, có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn bồi thường khi nó không còn phù hợp với thực tế nữa Mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế có thể là do

sự biến đổi của kinh tế - xã hội, sự thay đổi về tình trạng thương tật, sức khỏe khả năng lao động của người bị thiệt hại đã được phục hồi, hoặc người gây thiệt hại vì một lý do nào đó không thể tiếp tục thực hiện bồi thường được nữa

Khoản 1 Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần” tuy nhiên nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với phương thức bồi

Trang 22

thường nhiều lần vì khi đó trách nhiệm của các bên sẽ bị ràng buộc còn phương thức bồi thường một lần vì khi đó các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình, nếu có yêu cầu phát sinh Tòa án sẽ chấp nhận thay đổi mức thay đổi đối với yêu cầu bồi thường nhiều lần Dù thay đổi mức bồi thường theo hướng nào đi chăng nữa thì vẫn phải đảm bảo công bằng, hợp lý cho người yêu cầu

1.6 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Bồi thường thiệt hại là một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống, ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường đó là quy luật Pháp luật ra đời không chỉ nhằm điều chỉnh những vấn đề của xã hội mà còn bảo vệ quyền lợi của mọi công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật mà nhất là chế định bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì cần phải có pháp luật điều chỉnh vì không thể xác định được thiệt hại cụ thể trong trường hợp này nên có ý nghĩa sau:

 Chế định bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín nhằm bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong quan hệ pháp luật luôn có tồn tại hai chủ thể cơ bản đó là người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, đôi khi trong thực tế cuộc sống thì có những người vì lợi ích cá nhân của mình mà bất chấp xâm phạm đến lợi ích của người khác mà không nghỉ gì đến hậu quả hay mặc cho hậu quả có xảy ra Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sống của người dân ngày càng cao không dừng lại ở đời sống vật chất mà con người còn đề cao đời sống tinh thần vì thế mà pháp luật phải luôn thay đổi theo xu hướng của thời đại Bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng góp phần bảo vệ quyền lợi cho mọi công dân, xét về góc độ pháp lý thì đây là những thiệt hại phi vật chất nhưng nó lại ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người bị thiệt hại một khi nó bị xâm phạm thì người chịu thiệt hại phải nhận những tổn thất tinh thần rất lớn nếu không có pháp luật thì ai sẽ là người đứng ra bảo vệ quyền lợi của công dân khi họ bị xâm phạm? Ai sẽ là người đứng

ra để đòi lại công bằng cho họ? Chế định bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín ra đời có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân, thực hiện công bằng xã hội và thể hiện chế tài nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi vi

phạm

 Chế định bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín nhằm mục đích

đảm bảo công bằng xã hội

Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả bất lợi do mình mang lại bằng việc buộc người đó phải bồi thường nếu gây ra thiệt hại Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần đảm bảo công bằng xã

Trang 23

hội đây cũng là nguyên tắc mục tiêu mà pháp luật đã đặt ra Chế định bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng đã cụ thể hóa và thể hiện rất rõ tính nguyên tắc công bằng xã hội, theo

chế định này ai gây thiệt hại thì người đó bồi thường Bên cạnh đó chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ra đời cũng chỉ là để bảo vệ quyền lợi cơ bản của mọi công dân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, hơn nữa việc quy định chế độ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm đảm bảo nguyên tắc mọi công dân điều bình đẳng trước pháp luật để không ai bị thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc quy định chế định bồi thường thiệt hại danh dư, nhân phẩm, uy tín là góp phần vào tiêu chí công bằng

xã hội làm sao để mỗi người điều được đảm bảo quyền lợi ngang nhau trong bất kỳ mối quan hệ pháp luật nào

 Chế định bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín nhằm răn đe,

giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật

Ngoài mục đích bảo vệ quyền lợi của công dân thì trách nhiệm bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa các hành vi pháp luật đối với các chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho người khác đây cũng là mục đích mà những nhà làm luật muốn đặt ra Có những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín mà chủ thể bị thiệt hại phải chịu những tổn thất tinh thần rất lớn vì thế việc đặt ra trách nhiệm này và những chế tài nghiêm khắc của pháp luật nhằm mục đích răn đe để mọi người tự biết điều chỉnh những hành vi của mình sao cho phù hợp, sống có ý thức tôn trọng mọi người xung quanh Bên cạnh đó, chế định bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm còn có ý nghĩa to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục để mọi công dân cùng tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản chung, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể khác, bảo vệ mạnh mẽ những người bị xâm phạm bị thiệt hại từ đó góp phần vào việc nâng cao ý thức pháp luật của mọi công dân

Trang 24

CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Điều kiện phát sinh trách nhiệm là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định chế định bồi thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thỏa mãn đủ các căn cứ do pháp luật quy định Việc xác định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng là cơ sở để xác định mức bồi thường, năng lực bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại … Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

“1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường trong

cả trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân

sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ phát sinh trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: phải có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành

vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra, người gây thiệt hại phải có lỗi Trên cơ sở đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cũng được xác định như sau:

2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra

Để xác định được trách nhiệm bồi thường thì phải xác định được thiệt hại đây là điều kiện tiên quyết và tất yếu của trách nhiệm bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng, nếu không có thiệt hại thì sẽ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, bởi lẽ mục đích của trách nhiệm bồi thường là khôi phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại cũng như bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần do hành vi trái pháp luật gây ra làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được xem xét trong mối quan hệ thống nhất và đầy đủ

Trang 25

Thiệt hại nói chung là sự mất mác hoặc bị giảm sút những lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của một người do sự kiện gây thiệt hại của người khác, thiệt hại là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng Thiệt hại xảy ra được coi là điều kiện có tính bắt buộc và là tiền đề trong việc quyết định phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nó còn bao gồm cả những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khôi phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại, chỉ cần có thiệt hại xảy ra kể cả thiệt hại có nghiêm trọng hay không người gây thiệt hại vẫn phải có trách nhiệm bồi thường, thiệt hại không những làm ảnh hưởng đến những mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác vì thế để đảm bảo tính công bằng xã hội thì khi xảy ra thiệt hại sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường

Việc xác định thiệt hại là tiền đề quan trọng có tính bắt buộc vì thiệt hại xảy ra ở nhiều loại khác nhau có những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, việc xác định mức thiệt hại đôi lúc cũng gây nhiều khó khăn vì thiệt hại phải xác định khách quan và không được suy diễn chủ quan của người làm luật và áp dụng pháp luật nhất là thiệt hại

do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín là những thiệt hại về các quyền nhân thân rất khó xác định những tổn thất thực tế thành tiền một cách chính xác tuyệt đối Theo quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2005 và hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần:

- Thiệt hại vật chất: là sự mất mát tổn thất vật chất thực tế, những thiệt hại vật chất

có thể được xác định giá trị đó bằng tiền bao gồm thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

- Trách nhiệm bồi thường vật chất là trách nhiệm bù đắp những thiệt hại gây ra của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại được xác định được bằng tiền, vật chất thực

tế, bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi sức khỏe

và chức năng bị mất do bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thiệt hại do tổn thất về tinh thần: là những thiệt hại phi vật chất không thể xác định được bằng tiền, là những thiệt hại do tổn thất tinh thần của cá nhân do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải gánh chịu những đau thương, mất mát những tổn thất về tinh thần Theo quy định tại khoản 3 Điều 307 Bộ luật

dân sự năm 2005 thì “Người gây thiệt hại về tinh thần về tinh thần cho người khác do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính, công khai, còn phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại” Thiệt hại do tổn thất tinh thần

Trang 26

của pháp nhân và chủ thể khác được hiểu là thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm, làm mất niềm tin và sự tín nhiệm của tổ chức đó thì cũng phải bồi thường

Ví dụ: Cô H là người mẫu rất có tiếng trong nghề hiện cô đang có nhiều hợp đồng quảng cáo rất lớn do ganh gét nên cô T đã nhờ một tờ báo viết về cô H với nội dung là cô

H trước đây từng sống thử với một đại gia để được có sự nghiệp và sau đó trở mặt Sự việc xảy ra khiến cô bị dư luận chỉ trích làm mất hình ảnh của cô và cô bị các công ty ngưng hết các hợp đồng quảng cáo, đối mặt từ dư luận cô bị căng áp lực rất nhiều tinh thần bị sa sút lớn Vậy trong trường hợp này cô H là người bị thiệt hại trực tiếp về vật chất và tổn thất về tinh thần cô có quyền yêu cầu người viết bài báo trên phải bồi thường thiệt hại mà cô phải chịu

Như vậy khi có thiệt hại xảy ra thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường mức bồi thường như thế nào thì sẽ dựa vào những thiệt hại xảy ra trên thực tế, tuy nhiên trong trường hợp thiệt hại về tinh thần thì rất khó xác định Việc xác định thiệt hại là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại phải được tính toán một cách cụ thể chi tiết vừa làm căn cứ cho việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phát sinh hay không, đồng thời là cơ sở ấn định mức bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Thiệt hại phải được tính toán một cách khách quan không được suy diễn chủ quan.5

2.1.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định từ rất lâu theo tinh thần của Thông tư 173/UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao thì hành

vi được xem là trái pháp luật là hành vi “có thể là một việc về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước” nhưng khi

Bộ luật dân sự ra đời thì hành vi trái pháp luật được hiểu như sau: hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín là hành vi trái pháp luật (Điều 604

Bộ luật Dân sự năm 2005)

Pháp luật cấm tất cả các hành vi gây thiệt hại cho người khác cho dù hành vi đó là

cố ý hay vô ý, nếu một người thực hiện hành vi của mình mà gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác mà pháp luật cấm thì đó được xem là hành vi trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường

Quyền được bảo hộ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền nhân thân tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức không ai được quyền xâm phạm điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện hành theo đó mọi người điều phải tôn trọng những quyền này không ai được thực hiện bất cứ hành vi nào xâm

5 Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2009, tr.194

Ngày đăng: 03/10/2015, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w