Giáo trình được chia thành 8 chương với nội dung rất cơ bản giúp sinh viên nắm được phương pháp thực hiện một đồ án nội thất đúng cách bao gồm một quá trình từ việc luận giải chung về kh
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-o0o -
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ NỘI THẤT
Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Lan Hương Thực hiện: ThS Bùi Thị Thanh Hoa
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Hà Nội, 2018
Trang 22
MỤC LỤC
BÀI MỞ ĐẦU 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC 1
I Ý nghĩa, đặc điểm, tính chất của môn học 1
1.1.Yêu cầu của Thiết kế nội thất với nhu cầu của cuộc sống 1
1.2 Trình độ thẩm mỹ 2
1.3 Mục đích, yêu cầu của môn học 2
2.1 Phương pháp ghi chép chuyên môn 3
2.2 Phương pháp phân tích vấn đề 5
2.3 Phương pháp học tập hiểu biết các kiến thức liên ngành 6
CHƯƠNG 1 : ĐẶC ĐIỂM THIẾT KẾ 7
1 Khái niệm chung 7
1.1 Thiết kế là gì ? 7
1.2 Nội dung, nhiệm vụ của thiết kế nội thất 8
1.3 Giới thiệu tổng quan về hồ sơ thiết kế nội thất 10
1.4 Đặc điểm và phân loại các loại công trình nội thất 10
1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc nội thất 10
1.4.2 Phân loại công trình nội thất 13
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ CƠ SỞ TRONG 15
THIẾT KẾ KIẾN TRÚC - NỘI THẤT 15
2.1 Không gian trong kiến trúc – nội thất 15
2.1.1 Các không gian 15
2.1.2 Các bình diện 18
2.1.3 Không gian nội thất 24
2.2 Các thành phần cơ bản trong không gian kiến trúc – nội ngoại thất 27
2.2.1 Các thành phần bao che 27
2.2.2 Các thành phần sử dụng trực tiếp 38
2.2.3 Các thành phần sử dụng gián tiếp 56
2.3 Nguyên lý thiết kế 58
2.3.1 Tỷ lệ 59
2.3.2 Tỷ xích 64
2.3.3 Cân bằng 66
2.3.4 Sự hài hòa 70
2.3.5 Thống nhất và đa dạng 72
2.3.6 Nhịp điệu 75
2.3.7 Nhấn mạnh 79
Trang 33
CHƯƠNG 3 LỊCH SỦ THIẾT KẾ 83
3.1 Thiết kế tiền sử và bản địa 87
3.2 Thế giới cổ đại 87
CHƯƠNG 4 NHÂN TRẮC HỌC (ERGONOMI) TRONG 115
THIẾT KẾ NỘI THẤT 115
4.1 Kích thước cơ thể con người 116
4.1.1 Chiều cao đứng 116
4.1.2 Chiều cao ngồi 117
4.1.3 Chiều rộng vai 117
4.1.4 Chiều rộng mông 118
4.1.5 Chiều dài tay và chân 118
4.1.6 Trọng lượng cơ thể 119
4.2 Những thông số cơ bản ứng dụng trong thiết kế nội thất 120
4.2.1 Kích thước cho mọi hoạt động 121
4.2.2 Kích thước lối giao thông 130
4.3 Ergonomi màu sắc 133
4.4 Ánh sáng 141
CHƯƠNG 5 THIẾT KẾ NỘI THẤT 150
CHO NHỮNG NHU CẦU ĐẶC BIỆT 150
5.1 Thiết kế dành cho người khuyết tật 150
5.2 Thiết kế dành cho trẻ em 155
5.3 Thiết kế dành cho người cao tuổi 157
CHƯƠNG 6 VẬT LIỆU VÀ CÔNG DỤNG CỦA VẬT LIỆU 162
6.1 Chế phẩm hợp kim nhôm và các kim loại khác 165
6.2 Vật liệu dán mặt 167
6.3 Vật liệu trang sức nền 169
6.4 Chất phủ 170
6.5 Chất dẻo 172
CHƯƠNG 7 : Ý TƯỞNG TRONG THIẾT KẾ NỘI THẤT 174
7.1 Ý tưởng thiết kế là gì ? 174
7.2 Phân nhóm ý tưởng 176
7.3 Các phương pháp hình thành ý tưởng 183
CHƯƠNG 8 : PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ 186
8.1 Phân tích hiện trạng 192
8.2 Yêu cầu và nhiệm vụ thiết kế 192
8.3 Tổ chức mặt bằng công năng theo yêu cầu thiết kế 194
8.4 Các giải pháp thiết kế : thẩm mỹ, kỹ thuật… 199
Trang 44
LỜI NÓI ĐẦU
Thiết kế Nội thất là ngành tổng hợp của nghệ thuật – mỹ thuật và khoa học kỹ thuật dựa trên sự phối hợp hài hòa màu sắc, ánh sáng, thẩm mỹ kiến trúc, các vật trang trí để tổ chức không gian sống, không gian làm việc, không gian thư giãn… sao cho đẹp và phù hợp Khác với kiến trúc sư, họa sĩ thiết kế, người thiết kế nội thất sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra không gian hợp lý, đẹp mắt và giàu tính nghệ thuật
Môn Phương pháp thiết kế Nội thất là môn học bản lề nhằm giúp cho sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản nhất để triển khai tốt các đồ án chuyên ngành cũng như có kiến thức để làm việc như một nhà thiết kế chuyên nghiệp sau khi ra trường Mục đích của giáo trình này là hướng dẫn cho sinh viên hiểu được những thành tố cơ bản để hình thành một môi trường nội thất, nắm được đặc điểm của từng bộ phận trong không gian nội thất và giới thiệu một số phương pháp sáng tác để có thể chọn lựa và bố cục vào thiết kế nội thất Để làm được những việc này sinh viên cần phải hiểu những nguyên lý thiết kế và những mối quan hệ thiết kế về công năng, cấu trúc, chất lượng thẩm mỹ và những thành tố đó đóng vai trò quyết định như thế nào trong không gian nội thất
Giáo trình được chia thành 8 chương với nội dung rất cơ bản giúp sinh viên nắm được phương pháp thực hiện một đồ án nội thất đúng cách bao gồm một quá trình từ việc luận giải chung về không gian kiến trúc nội thất đến những kiến thức ba chiều chi tiết cùa không gian nội thất, mô tả những thành phần cấu thành thiết kế nội thất và giải thích mỗi bộ phận đó tác động như thế nào đến sự phát triền công năng và thẩm mỹ của các không gian nội thất Ngoài ra, giáo trình còn cung cấp những nguyên tắc chung về những hệ thống điều tiết môi trường cần được tích hợp trong một nội thất của công trình, các nguyên tắc thiết
kế nội thất cho những đối tượng đặc biệt Điểm khác biệt của giáo trình là chỉ ra những phương pháp hình thành ý tưởng và quá trình triển khai ý tưởng vào công trình nội thất để tạo cá tính riêng của công trình
Trang 55
Những giới hạn của thiết kế nội thất rất khó phân định một cách chính xác bởi nó là sự giao thoa giữa kiến trúc và thiết kế nội thất, giữa nghệ thuật và kĩ thuật Nó bao hàm cả thiết kế hình dáng và thiết kế công năng cũng như vị trí tương đối của vật liệu, kết cấu và công nghệ Giáo trình Phương pháp thiết kế nội thất này đã cố gắng bao hàm hết những phạm vi có liên quan đến thiết kế nội thất Tuy nhiên với mục tiêu là phải luận giải vấn đề được khúc triết và làm tài liệu học tập một cách dễ hiểu và khích lệ được niềm đam mê thiết kế của các bạn sinh viên chuyên ngành thiết kế nội thất
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng giáo trình sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của độc giả
Nhóm tác giả
Trang 6
6
Trang 7BÀI MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC
I Ý nghĩa, đặc điểm, tính chất của môn học
1.1.Yêu cầu của Thiết kế nội thất với nhu cầu của cuộc sống
Thiết kế nội thất là một loại hình nghệ thuật nhằm tổ chức môi trường thẩm mỹ nơi ăn ở, lao động, sinh hoạt thiết thực, phù hợp với cuộc sống của con người Cuộc sống của chúng ta chủ yếu diễn ra trong nhà (không gian nội thất), Những không gian nội thất do các kiến trúc như tường, cửa, sàn, trần, vách và mái che của các công trình tạo nên Những không gian này chuẩn bị đầy đủ những điều kiện về khung cảnh vật chất để kiến trúc sư có thể sáng tạo và làm cho kiến trúc có nội dung và hình thức sinh động Mục đích của kiến trúc là tạo
ra môi trường thứ hai phục vụ tốt nhất các yêu cầu của con người Như vậy kiến trúc và nội thất là hai khái niệm không thể tách rời Đa số các bộ phận cấu thành kiến trúc và nội thất đều kết nối với nhau như : tường, cột, cửa, sàn, cầu thang, trần, mái…
Họa sĩ thiết kế nội thất phải nắm vững những vấn đề về chức năng sử dụng trong môi trường đó, tổ chức các không gian thích hợp và tiện lợi, hiệu quả cho sinh hoạt Ngoài sáng tác thiết kế, người họa sĩ phải là cầu nối giữa con người với nghệ thuật, nhằm đưa nội dung, hình thức muôn màu của nghệ thuật đến với công chúng qua các cách thể hiện không gian hợp lý với công năng vật chất và tinh thần của con người
Một công trình thiết kế nội thất hoàn chỉnh phải có đầy đủ 3 yếu tố : công năng sử dụng tối ưu phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, phải đạt được giá trị tinh thần tức là yêu cầu về mặt thẩm mỹ và sau cùng là phải ứng dụng được tốt các tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhằm đạt được hiệu quả về kinh tế xã hội, tạo cho con người một môi trường sống tiện nghi
Để thực hiện một công trình thiết kế trọn vẹn cần phải trải qua 2 giai đoạn : thiết kế thể hiện ý đồ về công năng, thẩm mỹ trên bản vẽ và thi công tức là biến
ý đồ trên bản vẽ thành sản phẩm thực tế, lắp đặt trang thiết bị hoàn thiện công trình với đầy đủ công năng vật chất và công năng tinh thần Chính vì vậy, nhà
Trang 8thiết kế cần phải có kiến thức tổng hợp giữa khoa học kỹ thuật và nghệ thuật, đòi hỏi nhà thiết kế phải có phương pháp làm việc chính xác của nhà khoa học, kỹ thuật, vừa có khả năng sáng tạo và cá tính của một nghệ sĩ
Từ nhu cầu thực tế của xã hội, chúng ta thấy việc sáng tạo thiết kế nội thất
từ nhà ở đến các công trình công cộng đã khẳng định sử dụng của con người là rất lớn Để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật cũng như lĩnh vực nghệ thuật, cụ thể là mỹ thuật công nghiệp mà trong đó có chuyên ngành trang trí nội ngoại thất là một nhiệm vụ hết sức độc đáo và có ý nghĩa to lớn đối với xã hội
1.2 Trình độ thẩm mỹ
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật luôn song hành với sự phát triển của xã hội con người có cơ hội được tiếp xúc nhiều với các thành tựu của khoa học công nghệ và được tiếp cận nhiều nguồn thông tin đại chúng đa dạng, phong phú nên trình độ thẩm mỹ càng càng được nâng cao Một sản phẩm thiết
kế được con người sáng tạo ra không chỉ thỏa mãn nhu cầu vật chất (công năng vật chất) mà yếu tố quyết định đến khả năng sử dụng nó trên thị trường là nhu cầu tinh thần (công năng tinh thần) trong đó có cái đẹp thẩm mỹ Để làm được những điều đó Thiết kế nội thất phải đáp ứng được những yêu cầu sau :
- Kiến trúc – nội thất phản ánh hiện thực cuộc sống, điều kiện mà nó ra đời và tồn tại
- Kiến trúc – nội thất góp phần giáo dục tư tưởng, nâng cao tình cảm của con người
- Kiến trúc – nội thất thỏa mãn nhu cầu tinh thần và mỹ cảm của con người và xã hội
1.3 Mục đích, yêu cầu của môn học
Về kiến thức:
+ Giới thiệu những vấn đề chung nhất, phân tích những cơ sở lý thuyết của mối tương quan giữa thành phần và tính chất với các giải pháp công nghệ thích hợp trong các yếu tố sáng tác nội thất
Trang 9+ Giúp sinh viên có nhiều khả năng sáng tác thiết kế mang tính ứng dụng
và tính thẩm mỹ cao cao
Về kỹ năng:
+ Hình thành trong sinh viên một số kỹ năng cơ bản cho sinh viên: Kỹ năng phối hợp các yếu tố hình, sắc, chất, quang trong môi trường ba chiều của nội thất
+ Tạo cho sinh viên kỹ năng tư duy, kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng trình bày các vấn đề khoa học
- Cho sinh viên tập nghiên cứu và thực hiện việc thiết kế một không gian nội thất cụ thể,qua đó thấy rõ nội thất đóng góp vai trò gì trong 1 công trình kiến trúc
- Nắm vững phương pháp nghiên cứu,hình dung không gian,sử dụng các kiến thức đã học để thiết kế các thành phần trong một không gian nội thất
- Hoàn thành một hồ sơ thiết kế nội thất đầy đủ với các thàh phần : mặt bằng,mặt trần bố trí nt,mặt đứng triển khai,mặt cắt,chi tiết cấu tạo,phối cảnh minh hoạ
II Phương pháp học tập
Thiết kế nội thất là một môn học có tính tổng hợp giữa kỹ thuật và nghệ thuật Việc bồi dưỡng nghiệp vụ của nhà thiết kế là đa phương diện Đối với người mới học, phải nghiên cứu phương pháp học tập chính xác
Bán thân học tập là một loại biếu hiện tiềm án của năng lực tuy nói rằng không có những con đường bằng phắng để tiến tới, nhưng vẫn có phân biệt giữa việc đi đường vòng hay ít đi đường vòng Nếu có phương pháp đúng, rõ ràng là
ít phải đi đường vòng
2.1 Phương pháp ghi chép chuyên môn
Học tập thiết kế nội thất từ cuộc sống hiện thực, học tập di sán thiết kế nội thất truyền thống, học tập những tác phám tốt trong thiết kế nội thất của kiến trúc dân gian, và học tập thành tích thiết kế của các nước tiên tiến
Phương pháp học tập kiểu này là ghi chép chuyên môn, bằng phương pháp vẽ tốc tả, ghi chép lại hình tượng các tác phám ưu tú, đặc biệt đôi với các
Trang 10địa điểm mà mình thích Ghi chép lại các thế nghiệm tâm đắc của bản thân, và ghi rõ các vật liệu sứ dụng, kích thước thực và màu sắc của đối tượng Cứ như vậy, qua thời gian nãm này tháng khác, tự nhiên sẽ có một kho tư liệu lớn Sau
đó phải tiếp tục phân loại, quy nạp, hệ thống, phân chia thành các tập tư liệu, để đến khi gặp đề bài thiết kế, từ kinh nghiệm sẵn có đó sẽ có nhũng gợi ý tốt cho mình Phải có tư liệu và biết biến thành cái của mình Đối với người mới học phải biết cách ký hoạ nhanh, ký hoạ đây là ký họa của người thiết kế, nhiệm vụ cứa ký hoạ là mang tính chất tư liệu Cho nên, phái đơn giản rõ ràng Lượng thông tin liên quan đến thiết kế lớn đó là yêu cầu chất lượng chú yếu của ký hoạ Đối tượng của ghi chép là vật thực, việc thực, cũng có thể là từ những ánh chụp trên tạp chí chuyên môn hoặc hoạ báo, thậm chí có khi là các quảng cáo chuyên ngành Có thể nói cách học tập kiểu sao chép đối với người mới học là rất quan trọng
Học tập các tác phẩm của các bậc thầy nghiên cứu những thiết kế có thú pháp điêu luyện của họ làm bước đầu cho thiết kế của mình, sau đó có những tìm tòi thay đổi cũng là các biện pháp có ích Nhưng học tập các kinh nghiệm của người ngoài như vậy có mục đích là tìm hiểu thế giới khách quan, mớ rộng tầm mắt ban đầu về nghề nghiệp, mục đích cuối cùng vẫn phái làm ra những tác phẩm có cá tính, đê đạt đến một phong cách thiết kế mới mẻ
Đặc trưng nghệ thuật mang tính tổng hợp của thiết kế nội thất đã đề ra cho người học nhiệm vụ nặng nề trong việc học tập ngành nghệ thuật anh em Cho nên, không hiểu rõ quá trình sáng tác của các ngành nghệ thuật liên quan, không hiểu rõ vật liệu, giá thành và phương pháp sáng tác của chúng, sẽ không có cơ
sớ cho việc có một ngôn ngữ chưng, và cũng không thế triển khai sự hợp tác Điều có ý nghĩa hơn nữa là, có chủ động học tập các ngành nghệ thuật liên quan mới có thể mở rộng tầm mắt của mình Phải từ kỹ xảo và cách vẽ truyền thống, cách khắc hoạ từ tạo hình đến trừu tượng của màu sắc, đậm nhạt của hội hoạ, phải từ quá trình sản xuất chế biến các đồ thủ công mỹ nghệ dân gian đến sản phẩm công nghiệp v.v…, người thiết kế mới có thể có thủ pháp biểu hiện đa dạng mà có hiệu quả, mượn những yếu tô trên mà không ngừng nâng cao sự tu
Trang 11dưỡng nghệ thuật của bản thân Khi đã có những chuẩn bị ban đầu, có nghĩa là
đã có những cơ sớ thiết kế nội thất ban đầu để đi sâu học tập Nhũng cơ sở ban đầu này sẽ làm bớt phí tổn thời gian, để có thể nhập cuộc ngay khi nhận được đầu đề thiết kế
sẽ có nhiều cái lợi Dùng các sơ đồ công năng sẽ bổ ích hơn bất kỳ một sự giải thích bằng lời nói nào Làm các sơ đồ công năng sẽ có ý nghĩa quan trọng trong khí triển khai trình tự thiết kế
Nắm vững cách phân tích công năng sử dụng trong nội thất nhằm mục đích nắm vững mâu thuẫn chủ yếu, làm rõ quan hệ chính phụ trong không gian nội thất Điểu đáng quan tâm là phải làm sao cho mối quan hệ nội tại được phàn tích kỹ càng đó biến thành quan hệ không gian cụ thể
Nhưng hạn chế đối với công tác của nhà thiết kế nội thất là rất nhiều, nhiệm vụ học tập trung tâm của giai đoạn này là: trong tình huống các hạn chế
đó xem xét, khám phá làm mới mẻ hệ thống không gian Nhìn chung, điều hạn chế nhà thiết kế nội thất nhất là một số nhân tố không thể động đến trong kiến trúc có sẵn Đặc biệt là trong thiết kế cải tạo các công trình cũ, kết cấu của những kiến trúc này cần được hoàn toàn giữ lại Mà học vấn lại thể hiện rõ ở chỗ
xử lý như thế nào để giữ lại được kết cấu vốn có của nó, giải quyết tốt được vấn
đề này sẽ rất có ích cho cách thức học tập
Nhất là với trường hợp cải tạo không gian nội thất những công trình văn vật có ý nghĩa vãn hoá, tất cả các câu kiện kiến trúc trong đó cần phái được tôn trọng đầy đủ, mức độ khó khăn phức tạp của đồ án thiết kế tương đối lớn, người thiết kế không thê không đi nghiên cứu dung lượng không gian của kiến trúc cũ, nghiên cứu hình thức kết cấu, phàn tích hiệu quả màu sắc, chọn vật liệu thích
Trang 12hợp, đánh giá không gian của toà kiến trúc đó, và trên tổng thế sáng tạo ra một không khí hài hoà Cũng chỉ nên xem xét thành quả thiết kế cuối cùng chỉ là thành tích của một thời điểm, điều quan trọng là sau kết quả thực tiễn rút ra được những bài học kinh nghiêm, những điều tâm đắc gì
2.3 Phương pháp học tập hiểu biết các kiến thức liên ngành
Một phương pháp khác của việc học tập thiết kế nội thất là hoà nhập vào thiết kế tổng thể cùng với kiến trúc sư hay cùng hoàn thành một tác phẩm kiến trúc
Như trên đã nói, không gian bên trong và bên ngoài của kiến trúc là hai mặt cứa một bình diện ranh giới Kết hợp không gian nội ngoại thất để suy nghĩ một cách tổng hợp, từ sắp xếp các cấu kiện kiến trúc có kích thước khác nhau,
có vật liệu, màu sắc khác nhau cho đến trần thiết nội thất và đồ vật trang trí, sẽ
dễ dàng dẫn đến việc đạt được hiệu quả không gian hoàn chỉnh
Phương thức học tập thiết kế nội thất đối với người mới học như vậy là lý tưởng Nhưng, do sự phân cách lâu dài xưa nay giữa kỹ thuật và nghệ thuật, khiến cho người làm công tác nội thất rất khó tìm được một hoàn cảnh như vậy Nếu điều kiện hiện thực không cho phép, những người mới học phải tìm cách thông qua sự nỗ lực của mình để bổ sung và tiếp tục lĩnh hội thêm những tri thức, thông tin nhất định, như vậy mới có thể góp phần giữ được một quan niệm thiết kế luôn mới mé và hoàn chỉnh
Quá trình học tập môn học thiết kế nội thất là một quá trình căng thắng nhưng phong phú đa dạng Việc tích luỹ tư liệu, việc nghiên cứu phương pháp thiết kế, việc biểu hiện sự rèn luyện kỹ xảo v.v… đều không thê thực hiện được một cách đột phá trong ngày một ngày hai Phương pháp duy nhất là cần cù, chịu khó, gắn bó với thực tế Vẽ đồ án là phương cách chủ yếu để theo đuối việc học tập thiết kế nội thất, nó cho phép chúng ta nhìn nhận, cảm thụ, thiết tướng đến mọi thứ, cho phép ta có thể dùng những hình vẽ đẹp thể hiện ra, vẽ chính là tập quán nghề nghiệp tốt dẹp, là bước đầu cho việc học tập có kết quả
Trang 13CHƯƠNG 1 : ĐẶC ĐIỂM THIẾT KẾ Mục tiêu của bài học :
- Nắm được các khái niệm và thuật ngữ về thiết kế nội thất
- Hiểu biết các yếu tố ảnh hưởng đến không gian nội thất
- Nắm được các đặc điểm của thiết kế nội thất
- Hiểu được yêu cầu và nhiệm vụ của một người thiết kế nội thất
- Vận dụng các kiến thức vào bài tập cụ thể, có khả năng nhận biết một
bộ hồ sơ thiết kế nội thất
1 Khái niệm chung
1.1 Thiết kế là gì ?
“Thiết kế” mang rất nhiều ý nghĩa và được sử dụng ở nhiều ngữ cảnh
khác nhau Trong lĩnh vực nghệ thuật, thiết kế có thể hiểu như là một mô hình, một bản vẽ, sản phẩm trang trí hay cách mà một nghệ sĩ sắp xếp các yếu tố như đường thẳng, hình dáng, màu sắc, kết cấu và chất liệu để tạo ra một sản phẩm thiết kế mang tính thẩm mỹ Trong lĩnh vực kỹ thuật, thiết kế có thể liên quan đến việc xác định kích thước các yếu tố kết cấu, các yếu tố kĩ thuật để tao ra một sản phẩm mang nhiều tính công năng
“Thiết kế nội thất” là nghệ thuật tổ chức không gian bên trong công trình
kiến trúc, môi trường thẩm mỹ nơi ăn ở, sinh hoạt, lao động, sinh hoạt thiết thực phù hợp với cuộc sống của con người Thuật ngữ này cũng có thể được mô tả như là sự xác định về hình dáng, từ hình dáng được hiểu có nghĩa cho mọi khía cạnh liên quan đến các đặc điểm bao gồm : hình dáng, kích thước, chất liệu, kết cấu, bố cục, màu sắc… tất cả nhằm tạo ra đặc điểm khác biệt của công trình này
so với tất cả các công trình khác
Họa sĩ thiết kế nội thất phải nắm vững những vấn đề về chức năng sử dụng trong môi trường đó, tổ chức các không gian thích hợp và tiện lợi, hiệu quả cho sinh hoạt Ngoài sáng tác thiết kế, người họa sĩ phải là cầu nối giữa con người với nghệ thuật, nhằm đưa nội dung, hình thức muôn màu của nghệ thuật đến với công chúng qua các cách thể hiện không gian hợp lý với công năng vật
Trang 14chất và tinh thần của con người Từ nhu cầu thực tế của xã hội, chúng ta thấy việc sáng tạo thiết kế nội thất từ nhà ở đến các công trình công cộng đã khẳng định sử dụng của con người là rất lớn Để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật cũng như lĩnh vực nghệ thuật, cụ thể là mỹ thuật công nghiệp mà trong đó có chuyên ngành trang trí nội ngoại thất là một nhiệm
vụ hết sức độc đáo và có ý nghĩa to lớn đối với xã hội
Nhà thiết kế cần Các nguyên lý cấu Cơ sở để hình thành Vận dụng thành ý tưởng thiết kế
1.2 Nội dung, nhiệm vụ của thiết kế nội thất
Thiết kế nội thất một công trình có nghĩa là :
- Phân tích, nghiên cứu những điều kiện về điều kiện tự nhiên, khoa học
kỹ thuật, tính địa phương… của công trình hiện trạng nhằm tạo sự hài hoà với công trình kiến trúc, cảnh quan khu vực xung quanh
Nguyên lý thiết kế Ý tưởng thiết kế Lý thuyết thiết kế
Vẽ cách điệu
Hình khối Nhân trắc học Thẩm mỹ
Kĩ thuật Lưu thông
Trang 15- Phân tích nghiên cứu những yêu cầu công năng kỹ thuật và nghệ thuật
để công trình phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội tốt nhất
- Chọn giải pháp thiết kế tức là các ý tưởng về không gian, công năng và các giải pháp kỹ thuật nhằm thể hiện rõ ý đồ của tác giả
Quá trình sáng tạo này thường trải qua các bước :
- Xác định nhiệm vụ thiết kế : điều tra phân tích các nhu cầu của đối tượng thiết kế, phân tích quan hệ công năng, quy mô công trình…
- Phác thảo ý đồ thiết kế và thiết kế cơ sở trình bày ý tưởng hình khối và không gian
- Thiết kế kỹ thuật, hoàn chỉnh thiết kế cơ sở bằng cách đi sâu phối hợp với các bộ môn kỹ thuật khác (công nghệ, kết cấu, điện nước, thông gió, kinh tế…)
- Thiết kế thi công với đầy đủ chi tiết cần thiết để thực hiện việc thi công
Ở mỗi loại hình công trình người thiết kế nội thất lại có vai trò khác nhau: những công trình có quy mô nhỏ nhà thiết kế nội thất có thể làm việc độc lập nhưng đối với những công trình lớn thì nhà thiết kế có thể tham gia với tư cách thành viên Mỗi vai trò công việc nhà thiết kế lại có vị trí làm việc khác nhau : nhà thiết kế, giám đốc sáng tạo, quản lý kĩ thuật, giám sát thi công Để làm được những việc đó nhà thiết kế nội thất phải có kiến thức liên ngành : ngoài có kiến thức chuyên môn về mỹ thuật còn cần phải có những hiểu biết về các lĩnh vực khoa học kĩ thuật được thể hiện ở các điểm sau :
- Với tư cách nhà thiết kế, sáng tạo : cần nắm vững những nguyên lý, quy luật của cái đẹp, các biện pháp tạo hài hòa và biểu cảm nghệ thuật, có khả năng
và trí tưởng tượng phong phú
- Với tư cách nhà khoa học : cần có khả năng phân tích vấn đề, khai thác
tư liệu hiệu quả để phân tích tổng hợp đúc rút kinh nghiệm thực tiễn sau đó sáng tạo và tìm tòi cái mới Nhà thiết kế nội thất phải làm việc trên cơ sở phân tích yêu cầu công năng sau đó tìm giải pháp xử lý tối ưu trên sự tư duy tổng hợp nhiều kiến thức khoa học kỹ thuật cùng với kinh nghiệm cá nhân Sự hiểu biết các kiến thức về kĩ thuật xây dựng tiên tiến, biết vận dụng tốt vào quá trình xây
Trang 16dựng ý tưởng tạo cho sự sáng tạo của nhà thiết kế không chỉ có tổ chức không gian hợp lý, hình khối không gian có tính thẩm mỹ cao mà cơ sở vật chất kỹ thuật cũng có tính kinh tế, đáp ứng được mục đích và chức năng xã hội, cuối cùng tác phẩm thiết kế đó còn phản ánh dấu ấn cá nhân của tác giả Có nhà thiết
kế xây dựng ý tưởng từ sự tìm kiếm hiệu quả của nghệ thuật hình khối kiến trúc,
có người hình thành ý tưởng từ sự phân tích công năng, tìm giải pháp tổ chức không gian sống phù hợp với vị trí địa lý, khí hậu của công trình, có những tác phẩm bắt đầu hình thành ý tưởng kiến trúc từ việc áp dụng hay sáng tạo một hình thức kết cấu cho công năng mới Tóm lại, ý tưởng thiết kế nội thất thường
là kết quả của quá trình phân tích, so sánh và chọn lựa, một sự vận dụng hiểu biết và thói quen nghề nghiệp trong đó cần phải có vai trò của trí tưởng tượng kết hợp với sự phân tích lý trí và khoa học
1.3 Giới thiệu tổng quan về hồ sơ thiết kế nội thất
1 Bản nhiệm vụ thiết kế : đối tượng thiết kế, yêu cầu nhiệm vụ thiết kế, ý tưởng thiết kế
2 Hồ sơ hiện trạng : bao gồm mặt bằng hiện trạng, các mặt cắt, các bản
vẽ kỹ thuật hiện trạng như điện nước,kết cấu, thông gió…)
3 Hồ sơ thiết kế nội thất bao gồm : mặt bằng bố trí nội thất, mặt bằng bố trí sàn, trần, các mặt đứng và các phối cảnh…
4 Hồ sơ thiết kế kỹ thuật bao gồm : mặt bằng bố trí điện nước, chiếu sáng,điều hoà, bản vẽ kỹ thuật về báo khói báo cháy, các mặt cắt và các bản vẽ chi tiết kỹ thuật đồ đạc, vách ngăn…
5 Bản dự toán chi phí của công trình
1.4 Đặc điểm và phân loại các loại công trình nội thất
1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc nội thất
Thiết kế nói chung và thiết kế nội thất nói riêng luôn gắn liền với cuộc sống và phát triển theo tiến trình lịch sử loài người Một sản phẩm thiết kế nội thất ra đời trước hết phải đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người sau
đó phải có tính thẩm mỹ, mỗi sản phẩm thiết kế nội thất là một tác phẩm nghệ
Trang 17thuật mang nhiều ý nghĩa văn hóa, lịch sử Những yêu cầu đó là : yếu tố kĩ thuật, yếu tố thẩm mỹ, yếu tố thích dụng và yếu tố kinh tế
a Yếu tố kĩ thuật
* Vật liệu
Vật liệu xây dựng luôn đồng hành với các phong cách thiết kế kiến trúc cũng như nội thất để tạo nên những công trình mang đậm trong từng thời kỳ phát triển Trong thời kỳ hiện đại khi muốn khẳng định bản sắc kiến trúc của từng công trình các kiến trúc sư thường sử dụng kiến trúc bản địa như một phần không thể thiết trong phong cách thiết kế nội thất Trong đó kiến trúc bản địa nghĩa là những vật liệu và truyền thống văn hóa của từng địa phương:
- Ví dụ như tại Việt Nam khi nói đến kiến trúc bản địa người ta thường nghĩ đến nhà ngói ba gian hay các kiến trúc nhà cổ sử dụng chủ yếu là khung gỗ với các họa tiết điêu văn tinh xảo
- Hay như khi sử dụng các loại đá trắng thì người ta sẽ nghĩ đến kiến trúc của vùng Địa Trung Hải
Trong bất kỳ công trình xây dựng nào chỉ cần nhìn vào vất vật liệu nổi bật này ta đã có thể nắm bắt được phong cách thiết kế của công trình Tuy vậy việc sử dụng các vật liệu này có phù hợp và nổi bật không phải phụ thuộc vào tính sáng tạo của các đơn vị thiết kế kiến trúc nội thất
* Khả năng thi công
Trình độ thi công ảnh hưởng rất lớn đến vẻ đẹp của công trình Khi có một bản vẽ chi tiết nhưg nếu quý khách lựa chọn những đơn vị thi công nội thất không đủ tiêu chuẩn cũng như không có một quy trình thi công nội thất cụ thể sẽ dẫn đến sai lệch về thiết kế cũng như bố cục hay màu sắc… Chính vì lẽ đó hãy lựa chọn những đơn vị thi công nội thất uy tín cho công trình của mình
b Yếu tố nghệ thuật
Công trình xây dựng lên ngoài mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng còn đòi hỏi phải đẹp, phải có sức truyền cảm nghệ thuật Vẻ đẹp của công trình có thay đổi theo niệm của con người qua từng giai đoạn lịch sử Vẻ đẹp của không gian nội thất là ở chỗ tổ hợp hình khối không gian phong phú về biến hóa, tương
Trang 18phản Giữa các bộ phận của nó phải đạt mức hoàn thiện về nhịp điệu, chính xác
về tỷ lệ, có màu sắc chất liệu phong phú nhã nhặn, biết kết hợp khéo léo các phương tiện hội họa, điêu khắc tạo nên một sự nhịp nhàng giữa nội dung bên trong với công trình kiến trúc và thiên nhiên xung quanh
* Màu sắc
Màu sắc chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện được cái hồn của công trình cũng như thể hiện được tính cách của chủ nhà Để làm nổi bật màu sắc người ta thường sử dụng các loại ánh sáng đèn điện hoặc tự nhiên Trong đó việc sử dụng màu sắc hài hòa hoặc phá cách bằng sự tương phản hay sự phong phú của sắc độ sẽ làm cho công trình quyến rũ hơn
c Yếu tố thích dụng
Bảo đảm thỏa mãn yêu cầu sử dụng tiện nghi cho một công trình là đáp ứng được những nhu cầu thực tế do chức năng của công trình đề ra Yêu cầu thích dụng tùy từng loại công trình cụ thể có khác nhau :
- Nhà ở thích dụng là phòng ở phải thỏa mãn diện tích tối thiểu, phải sáng sủa, thoáng mát Không gian bên trong thuận tiện cho việc bày biện, phải đủ phương tiện vệ sinh, điện nước, đường đi lại, tạo cho cuộc sống của con người ở được yên tĩnh đầy đủ, thoải mái
- Nhà hát, rạp chiếu bóng đảm bảo cho người xem ra vào chỗ ngồi nhanh chóng, thưởng thức âm thanh hình ảnh với chất lượng cao, trong tư thế ngồi thoải mái
Yêu cầu thích dụng thay đổi trong từng giai đoạn hoàn cảnh lịch sử, không ngừng phát triển theo sự phát triển của cơ sở vật chất và tinh thần của xã hội
Trang 19Để đảm bảo yêu cầu thích dụng khi thiết kế cần chú ý :
- Chọn hình thức - kích thước các phòng theo đặc điểm và yêu cầu sử dụng của chúng, bố trí sắp xếp các phòng chặt chẽ, hợp lí
- Bố trí các thiết bị bên trong như máy móc, đồ đạc và các thiết bị kỹ thuật như ánh sáng, thông hơi, cấp nhiệt, điện, vệ sinh một cách khoa học, thuận tiện cho quá trình sử dụng
- Giải quyết hợp lí cầu thang, hành lang và các phương tiện giao thông khác
- Tổ chức cửa đi, cửa sổ, các kết cấu bao che hợp lí để khắc phục các ảnh hưởng không tốt của điều kiện khí hậu thiện nhiên như cách nhiệt, thông thoáng, che mưa, nắng, chống ồn
d Yếu tố về kinh tế
Một yếu tố giúp quyết định về kinh tế chính là việc sử dụng những vật liệu địa phương cùng những kỹ thuật dân gian truyền thống Điều này sẽ quyết định đến sự sáng tạo trong những công trình kiến trúc
Vật liệu xây dựng còn mang đến chất cảm về sự thẩm mỹ, chẳng hạn như màu gạch đỏ bát tràng sẽ thường được sử dụng để làm ẩm thêm các khoảng sân trong gia đình, đây cũng được xem là màu sắc truyền thống được sử dụng trong những công trình xây dựng tại Việt Nam Hay một bức tường đá ong sẽ đưa ta
về cái nét đặc trưng mang đận tính dân dã của kiến trúc vùng trung du bắc bộ Chính vì thế mà việc sử dụng vật liệu phù hợp và hài hòa chính là những tiêu chuẩn trong sáng tạo kiến trúc nội thất
1.4.2 Phân loại công trình nội thất
Dựa theo đặc điểm công năng có thể chia thành 4 nhóm sau :
a) Khối công trình dân dụng nhà ở :
- Biệt thự (village, town house, apartment, hotelsuite) : có 4 mặt tiếp xúc với thiên nhiên
- Nhà liền kề, chia lô
- Căn hộ chung cư
- Căn hộ trong khách sạn (sống trong thời gian ngắn)
Trang 20b) Khối công trình dịch vụ (Sevices)
- Ăn (restaurant, fastfood) : bán đồ ăn từ nhỏ đến lớn
- Uống (coffee, bar, pub, tea house) : Bar chỉ hoạt động từ 4h chiều đến 4h sáng
- Vui chơi (game centre, bolling, bi a)
- Mua bán : Siêu thị, Cửa hàng (shop)
- Spa, beauty salon
c) Khối văn phòng (các loại văn phòng)
- Văn phòng làm việc chuyên môn
- Văn phòng thương mại
- Văn phòng đại diện…
d) Khối công trình công cộng (public sevices)
- Exhibition (triển lãm), showroom
- Museum (bảo tàng), galleries (phòng tranh)
- Theatre (nhà hát), cinema (rạp chiếu phim)
- Library (thư viện)
- Club (câu lạc bộ), cultures house (nhà văn hóa)
- Rainway station (bus, metro, airport)
- Kinder garden (nhà trẻ)
Câu hỏi ôn tập, bài tập
Câu 1 : Anh (chị) hãy cho biết các khái niệm : Thiết kế? Thiết kế nội
thất?
Câu 2 : Trong thiết kế nội thất các công trình được phân thành mấy loại?
Nêu đặc điểm của từng loại hình công trình?
Câu 3 : Một bộ hồ sơ Thiết kế nội thất bao gồm những thành phần nào? Câu 4 : Anh (chị) hãy cho biết nhiệm vụ của thiết kế nội thất là gì ?
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Đức Thiềm, Kiến trúc cơ sở, Nxb Xây dựng, Hà Nội – 2010
2 Đặng Thái Hoàng, Sáng tác kiến trúc, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội – 1996
Trang 21CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ CƠ SỞ TRONG THIẾT KẾ KIẾN TRÚC - NỘI THẤT Mục tiêu của bài học :
- Nắm được các nguyên tắc cơ bản trong thiết kế thiết kế nội thất
- Hiểu biết các nguyên tắc ảnh hưởng đến không gian nội thất như thế nào
- Vận dụng các kiến thức vào bài tập cụ thể
2.1 Không gian trong kiến trúc – nội thất
2.1.1 Các không gian
2.1.1.1 Không gian xác định
Những yếu tố hình học của điểm, đường thẳng, mặt phẳng, khối tích có thể sắp xếp thành không gian rõ ràng, có giới hạn Trong phạm vi nội thất kiến trúc, những yếu tố cơ bản này chính là cột, dầm, tường, sàn, mái…
Trang 22mang ý nghĩa nhưng tập hợp các điểm thì lại gợi ý đến một tiêu điểm hoặc một
sự tập trung, quan tâm
b Đường nét chi tiết (Đường chu vi và đường bao)
Khi một điểm du chuyển xuyên qua một không gian hoặc khi hai điểm được nối với nhau thì tạo ta đường thẳng Đường thẳng có thể thẳng hoặc cong,
có thể có chiều dài nhưng không có chiều rộng Ta có thể nhìn thấy những đường thẳng ở những đồ vật có mép cạnh (đường chu vi và đường bao) Đường thẳng có thể là: đường dọc, đường ngang, đường chéo và đường cong Mỗi dạng khác nhau của đường sẽ tạo ra hiệu quả về mặt hình học khác nhau:
- Đường thẳng đứng : là những đường thẳng theo chiều dọc cho sự cảm nhận về tính ổn định và tính bất động, tính vĩnh cửu và vẻ đẹp nghiêm trang Đường thẳng đứng với tính chất hướng từ trên xuống của lực trọng trường Lực này khiến cho các đường thẳng đứng luôn luôn vuông góc với các đường thẳng ngang tạo sự hỗ trợ vững chắc cho kết cấu ví như những cột thẳng đứng của một tòa nhà gợi đến sự vững chãi và lâu bền
- Đường thẳng ngang: những đường thẳng nằm ngang gợi đến sự yên tĩnh, nghỉ ngơi Đường thẳng ngang thường được hình dung như một đường song song với mặt đất và bầu trời gặp nhau ở một đường thẳng chân trời tạo liên tưởng như một vị trí tựa ngang khi nghỉ ngơi, sự tĩnh lặng
Hình 1 : Mô tả đường tầm mắt
- Đường thẳng chéo: là những đường tạo góc nghiêng gây cảm giác đến
sự chuyển động và hoạt động Những đường thẳng chéo hoặc xiên luôn là sự chuyển tiếp giữa đường thẳng ngang và đường thẳng đứng Hình ảnh một người
Trang 23hướng lên phía trước để chạy khiến chúng ta liên tưởng đến hoạt động và chuyển động của những đường thẳng chéo Khác với đường thẳng đứng và đường thẳng ngang chỉ có một hướng thì đường thẳng chéo có vô số hướng và góc Sự kết hợp của các đường thẳng chéo với các hướng khác nhau tạo thành đường zic zắc tạo ra một cảm giác động có tính liên tục Nó được sử dụng như là biểu tượng của ánh sáng, điện và sóng radio Một trần nhà hoặc một bức tường nghiêng khiến cho không gian có cảm giác sống động thậm chí có thể phá vỡ kết cấu thông thường gây sự ấn tượng mạnh mẽ
- Đường thẳng cong: là hướng đi của một điểm chuyển động mà liên tục thay đổi hướng tạo ra một đường thẳng cong Những đường cong thường xuất hiện nhiều ở tự nhiên khiến cho con người có cảm giác gần gũi với thiên nhiên hơn Hình tròn và cung tròn có nguồn gốc hình học rất rõ ràng và đơn giản Những hình phức tạp hơn như elip, parabol và hyperbol thì đa dạng và tinh tế hơn Sự kết hợp của nhiều hình tròn tạo thành đường cong hoặc hình chữ S tạo
sự mềm mại, tinh tế và độ phức tạp
c Mặt phẳng
- Một bức tường sàn nhà là một mặt phẳng làm phân cách một bộ phận của không gian xác định và ngăn cách phần này với phần khác
- Mái nhà là bộ phận bảo vệ, che chắn khối tích không gian ở dưới
nó
d Khối
Hình khối có 3 chiều có thể đặc hoặc không đặc Một không gian có thể được biểu hiện bằng một khối đặc hoặc bằng một không gian trống được đóng kín các mặt
Trang 24Hình 2 : Mô tả khối trong không gian 2.1.1.2 Không gian linh hoạt
Khi đứng trong một không gian ta không chỉ có cảm xúc mà còn phân biệt hình khối Khi yếu tố đặt trong không gian này thì mối quan hệ được xác lập vì
tự các yếu tố đã xác lập nên mối quan hệ đa chiều giữa không gian và các yếu tố cấu thành
Hình 3 : Mô tả không gian linh hoạt
2.1.2 Các bình diện
2.1.2.1 Tuyến
- Khái niệm:
Trang 25+ Về hình học: tuyến là tập hợp của nhiều điểm theo 1 phương, hay 1 điểm kéo dài thành tuyến
+ Về kiến trúc: là thành phần quan trọng trong việc hình thành bất cứ cấu trúc thị giác nào
Hình 4 : Các đặc điểm của đường tuyến tính
- Đặc điểm:
+ Tuyến có chiều dài nhưng không có chiều rộng và chiều sâu
+ Trong khi điểm biểu hiện sự ổn định thì tuyến là tập hợp của nhiều điểm nên biểu hiện chiều hướng, sự phát triển, chuyển động
+ Tuyến có thể kết nối hay nâng đỡ, bao bọc hay chia cắt những thành phần thị giác
- Cách xác lập:
Trang 26+ Tuyến tạo ra các đường biên giới, giới hạn, phân chia không gian
VD: tuyến phân chia không gian trong mặt bằng, mặt đứng của đình làng truyền thống Việt Nam
+ Tuyến tạo ra các chiều hướng chủ đạo, tạo thành những nét lớn trong tổ hợp
bố cục kiến trúc
VD: tuyến ngang ở nhà thờ Masseille
- Phân loại:
+ Sự phát triển của tuyến ảnh hưởng đến vai trò của cấu trúc nhìn
+ Tuyến ngang, tuyến dọc ấn tượng yên bình, trầm tĩnh, uy nghiêm, tôn kính + Các đường gấp khúc, zic zac tạo ra sự dứt khoát, mãnh liệt
+ Tuyến cong lượn: tạo ra sự mềm mại, nhẹ nhàng, uyển chuyển
+ Tuyến xiên thể hiện trạng thái năng động đột ngột và tích cực trong trạng thái không cân bằng
2.1.2.2 Diện
- Khái niệm: Một tuyến kéo dài theo 1 hướng thành diện Trong ngôn ngữ kiến trúc vai trò của diện rất quan trọng
- Đặc điểm:
+ Diện có chiều dài, chiều rộng nhưng không có chiều sâu
+ Diện được giới hạn bởi các chu vi
+ Diện có thể nhìn từ chính diện hoặc từ phối cảnh
+ Sức biểu hiện của diện phụ thuộc vào kích thước của nó, phụ thuộc vào chất cảm, vật liệu màu sắc, hoa văn
- Phân loại:
+ Bình diện nền hay bình diện bằng
Trang 27+ Bình diện nền được thiết kế dật bậc tạo sự thụ cảm liên tục và không gian hoành tráng
Hình 5: Bình diện nền tạo nên không gian sinh hoạt
ấm cúng và chan hòa với thiên nhiên
Hinh 6 : Bình diện nền tạo không gian uy nghiêm, trang trọng
Trang 28
Hình 7 : Bình diện nền có sự thay đổi cote liên tục tạo cảm giác năng động, tích cực, tạo cảm giác mới
mẻ, sáng tạo
Hình 8 : Bình diện tường tạo tính riêng tư cho không gian nội thất
Trang 29Hình 9 : Bình diện tường là yếu tố nổi trội trong không gian với hình thể,
màu sắc, chất liệu và kết cấu bề mặt
Hình 10 : Bình diện trần là yếu tố che chằn phía trên, là hệ mái bộc lộ kết
cấu, ảnh hưởng đến hình dáng và hình thể công trình
Trang 302.1.3 Không gian nội thất
Nội thất không chỉ là phân bổ các không gian chức năng, bố trí các phương tiện sinh hoạt mà là sự phối hợp hài hoà của màu sắc, ánh sáng, hình dạng thẩm mỹ, kiến trúc mà cả các yếu tố về tinh thần, tâm linh để tạo nên một môi trường sống thuận tiện, thoải mái Một công trình nội thất phải đảm bảo được 2 yếu tố :
- Công năng vật chất : bao gồm các chức năng đầy đủ để có thể sinh hoạt thuận tiện nhất Người làm thiết kế nội thất cần hiểu rõ đặc điểm các hoạt động diễn ra, các trang thiết bị cần sử dụng trong không gian mà mình định tổ chức (diện tích và chiều cao) Sau đó, trên cơ sở dữ liệu đã có nhà thiết kế tổ chức dây chuyền công năng, sắp xếp các không gian đơn lẻ thành hệ thống và xử lý các không gian nội thất để đạt được sự tiện nghi, an toàn và hiệu quả sử dụng tối đa
- Công năng tinh thần chính là sự thoải mái, vì sự cải thiện các mối quan
hệ cộng đồng, vì sự phát triển bền vững môi trường sinh thái tạo được mối quan
hệ hữu cơ, nhân văn, hài hoà của 3 yếu tố : thiên nhiên con người và xã hội
Hình 11 : sơ đồ công năng
Không gian nội thất có thể chỉ là 1 không gian có công năng đơn giản (đơn năng) nhưng cũng có thể là tập hợp của nhiều không gian đa chức năng hoặc chức năng phức hợp Với một công trình hay quần thể công trình, không gian nội thất có thể là những không gian kín (tạo thành nhờ kết cấu bao che
Trang 31tường, cửa, sàn, mái… ) hoặc không gian nội thất nửa kín (có che chắn, phân cách không hoàn toàn) hoặc hở Không gian nội thất có thể được phân loại thành
1 số dạng sau :
a Phân loại theo tính chất: Sự hiện diện của lớp vỏ bao che đã ngăn cách
Không gian công năng ra làm nhiều loại khác nhau Tuỳ theo tính chất của sự ngăn cách ấy, mà tính chất của Không gian công năng được xác định :
+ Không gian kín: vỏ bao che có ít lỗ cửa, nhiều mảng tường đặc vây quanh, thường tạo cảm giác cô lập, nặng nề, ta thường gặp loại không gian này ở các phòng khán giả, phòng họp, tu viện v.v
+ Không gian hở : đặc biệt mở cửa rất nhiều, thậm chí không còn một ranh giới rõ ràng giữa không gian này và không gian kia, vỏ bao che dường như chỉ còn tồn tại tối thiểu, ánh sáng đầy tràn, thông thoáng liên tục, cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát, rực rỡ ; ví dụ như: các gian hàng triển lãm, các trung tâm thương mại, nhà ga v.v
+ Không gian nữa kín, nữa hở: vỏ bao che có các lỗ cửa với một liều lượng vừa phải hay có khi lưu động có thể đóng có thể mở tuỳ lúc, ánh sáng lung linh, kỳ ảo, êm dịu, cảm giác thoải mái, v.v ; ví dụ như không gian của các phòng khách, phòng thờ, phòng nghỉ trong các khách sạn, các khoảng thông tầng,v.v
b Phân loại theo vị trí:
+ Không gian trong: Gồm tất cả các phòng ở phía bên trong Vỏ bao che như : Phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, vv
+ Không gian ngoài: là các phần ở phía bên ngoài công trình như : sân vườn, lối đi, sân thể thao, vv
+ Không gian chuyển tiếp: gồm các phần của công trình nằm ở nữa trong nửa ngoài như : hiên, bao lớn, cầu lang (Hành lang có mái che), vv ;
+ Không gian thông tầng: có chiều cao nối liền nhiều tầng, như các sảnh công trình công cộng, các phòng khán giả, các buồng thang, các sân trong, v.v ; các tầng ở phía trên có thể gọi là không gian trên ; các tầng ở phía dưới gọi là không gian dưới
Trang 32c Phân loại theo đặc điểm sử dụng:
+ Không gian tĩnh: thường là những không gian kín, biệt lập, hoặc nằm ở các khu vực không ồn ào trong một công trìng như : các phòng ngủ, phòng học, thư viện, phòng bệnh
+ Ngoài ra người ta còn gọi các phòng ngủ là không gian nghỉ ngơi, các phòng hành chánh, các trụ sở cơ quan là không gian làm việc, hành lang, cầu thang còn gọi là không gian giao thông, vv
d Phân loại theo công năng :
+ Không gian chính : phục vụ các nhu cầu sử dụng chính như : sinh hoạt
chung trong nhà ở (ở, ngủ…), làm việc (văn phòng, lớp học, giảng đường, bệnh viện…), giải trí, thương mại (nhà hàng, café, vui chơi giải trí, mua sắm)
- Không gian phòng sảnh : là bộ phận chủ yếu giải quyết giao thông giữa bên ngoài và bên trong công trình, có tác dụng điều hòa giao thông Không gian sảnh là đầu mối giao thông nên cần được xử lý tốt để đi lại thuận tiện và trang trí đẹp để phù hợp với đặc điểm quy mô công trình
- Không gian phòng làm việc, phòng họp, hội trường : phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng (ít người hay nhiều người) và công năng sử dụng (làm việc, họp, hội nghị…), Không gian này thường là những phòng rộng, lượng người sử dụng lớn nên cần giải quyết tốt về ánh sáng, thông gió, tổ chức giao thông và điểm nhìn
- Không gian ở : phục vụ những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như : ăn, ở, nghỉ ngơi… cần tạo được sự tiện nghi và thoải mái Khi thiết kế cần tìm hiểu rõ
sở thích, đặc điểm, phong tục tập quán, khí hậu để phù hợp với người sử dụng
+ Không gian phụ : là các không gian phục vụ hỗ trợ cho các công năng
chính như : bếp, vệ sinh, các phòng chuẩn bị hay phụ trợ… hoặc là các không gian nội thất được liên hệ với không gian ngoại thất bằng một số không gian chuyển tiếp
- Không gian đệm : bao gồm sảnh, tiền phòng… là không gian chuyển tiếp giữa không gian trong nhà và ngoài nhà Đây cũng là đầu mối giao thông
Trang 33phân luồng đến các không gian chức năng, khác đảm bảo cho việc chuyển tiếp giữa các không gian không bị đột ngột
- Không gian chung (chủ yếu là các không gian công cộng) : các công trình phục vụ công cộng, hành lang, lối đi có mái che… Những không gian này vừa phụ trợ cho các không gian chính vừa đảm bảo sự liên thông giữa trong nhà
và ngoài nhà
- Không gian điều hòa : là không gian chuyển tiếp đóng vai trò quan trọng giúp điều hòa nhiệt độ giữa trong nhà và ngoài nhà và có tác dụng ngăn cát bụi lọt vào nhà
+ Không gian giao thông : như tiền sảnh, cầu thang, hành lang…
Việc lựa chọn kích thước phù hợp cho từng loại không gian phải dựa trên kích thước của con người và kích thước trang thiết bị phục vụ hoạt động công năng cùng dây chuyền sử dụng diễn ra trong không gian đó
2.2 Các thành phần cơ bản trong không gian kiến trúc – nội ngoại thất
2.2.1 Các thành phần bao che
Hình 12 : Mô tả không gian bên trong
Không gian nội thất bên trong công trình được xác định bởi những bộ phận của kiến trúc bằng kết cấu bao che như : cột, tường, sàn và mái Những bộ phận này tạo nên một công trình, giới hạn một phần của không gian không xác định và tổ chức bố cục thiết kế không gian bên trong Hiểu được những bộ phận cấu thành một không gian nội thất nhằm phát triển và biến đổi những không gian
Trang 34này một cách thích hợp theo chức năng, đẹp mắt về thẩm mỹ và thỏa mãn về tâm lý con người khi sử dụng trong không gian đó
a Sàn
Sàn là một mặt phẳng nằm ngang của không gian nội thất, là những bề mặt chịu tải trọng của con người và đồ đạc đặt trên bề mặt sàn Kết cấu sàn phải chịu được những tải trọng này một cách an toàn và bề mặt của chúng phải đủ bền để chịu được những va đập trong quá trình sử dụng
Hình 13 : Mô tả kết cấu sàn
Kết cấu sàn điển hình nhất là sàn có dầm ngang chịu lực hoặc tường chịu lực Loại sàn cấu trúc nằm ngang này sau đó được đặt lên trên một lớp sàn phụ - các loại vật liệu cấu tạo như gỗ dán hoặc phủ thép, có thể vượt qua các dầm Lớp sàn phụ và các dầm đảm bảo cho toàn bộ hệ thống làm việc như một cấu trúc đồng bộ chịu được những tải trọng tĩnh và động
Sàn cũng có thể là một tấm bê tông cốt thép chịu lực và có thể mở rộng theo một hoặc hai phía Hình thức đỡ dưới tấm sàn thường phản ánh cách thức
mở rộng không gian và truyền lực của nó Thay việc đổ toàn khối tại chô, có thể ghép các tấm sàn đúc sẵn như sàn gỗ
Ngoài ra còn cần đến những loại vật liệu bền, đẹp để hoàn thiện mặt sàn
để làm phẳng bề mặt xù xì hoặc không phẳng, một lớp phủ trên sàn hoặc láng xi măng là một yêu cầu trước khi gắn tấm hoàn thiện mặt sàn Lớp sàn hoàn thiện
là lớp trên cùng của cấu tạo sàn Từ đó mặt sàn trực tiếp bị mài mòn và thể hiện
Trang 35là một bề mặt chính của căn phòng Khi thiết kế cần cân nhắc hai tiêu chí là thẩm mỹ và công năng
Hình 14 : Sự hấp thu các lực trên sàn
Sự bền chắc của sàn là quan trọng nhất vì độ mài mòn và sử dụng vật liệu mặt sàn phải chịu được tải trọng khi di chuyển của con người cũng như việc dịch chuyển đồ đạc và thiết bị Vật liệu mặt sàn cần phải chịu được sự mài mòn khi
sử dụng và có độ bền cao, dễ dàng vệ sinh và bảo dưỡng Để duy trì độ bền cũng như dễ dàng bảo dưỡng, vật liệu làm sàn cần phải chống được bẩn, đọng bẩn làm biến màu đặc biệt trong các nơi làm việc đi lại nhiều
Khi thiết kế sàn cần lưu ý có một vài cách để dấu được những vết bẩn thông thường trên sàn như : dung màu trung tính có sắc độ trung bình, dùng các hoa văn để các vết bẩn lẫn với các nét họa tiết trên sàn, dùng vật liệu có màu tự nhiên, chất liệu bề mặt hấp dẫn
Hình 15 : Sự hấp thụ ánh sáng trên sàn
Vật liệu mặt sàn có thể chịu sự ảnh hưởng của khí hậu, liên quan đến độ đàn hồi và độ cách nhiệt chịu nhiệt của nó Vật liệu mặt sàn có thể giữ nhiệt độ
Trang 36bằng nhiệt bức xạ hoặc cách nhiệt Mặt sàn cũng có thể trở nên nóng ẩm nếu bề mặt mềm, sắc độ từ trung bình đến sẫm hoặc có màu nóng Tuy nhiên ở những nơi có khí hậu nóng ẩm, mặt sàn mát dịu sẽ dễ chịu hơn mặt sàn nóng Ở những nơi ẩm ướt nên tránh sử dụng vật liệu trơn, cứng để làm mặt sàn
Mặt sàn còn có tác dụng phản xạ âm thanh phát ra từ trong phòng và khuếch đại tiếng ồn va chạm gây ra do sự đi lại hoạt động của con người hoặc di chuyển các trang thiết bị Mặt sàn đàn hồi có thể giảm bớt tiếng ồn hoặc khi sử dụng vật liệu mịn, mềm hoặc xốp có thể giảm được tiếng ồn, va chạm cũng như tiêu âm
Hình 16 : Sự phản xạ ánh sáng trên sàn
Sử dụng màu sắc khi thiết kế mặt sàn cần lưu ý :
- Mặt sàn màu nhạt có thể phản xạ ánh sáng chiếu và nó và làm cho căn phòng sáng sủa hơn mặt sàn có chất liệu màu thẫm
- Màu sáng ấm có thể nâng cao hiệu quả trên mặt sàn
- Màu sáng lạnh tạo cảm giác rỗng rãi và nhấn mạnh sự bằng phẳng của những mặt sàn bóng láng
- Mặt sàn màu thẫm ấm cho cảm giác an toàn Màu thẫm lạnh làm cho mặt bằng sàn có chiều sâu và chắc
b Tường
Tường là bộ phận kiến trúc chủ yếu của công trình Chức năng truyền thống của tường là kết cấu chịu lực đổ sàn, trần và mái nhà Tường tạo ra các
Trang 37mặt ngoài của ngôi nhà đồng thời là sự bảo vệ và ngăn riêng các không gian bên trọng
Tường là những bộ phận kết cấu thiết kế theo sơ đồ phối hợp những nhịp chịu lực của kết cấu sàn và mái Đồng thời những mô hình kết cấu này tạo thành kích cỡ hình dáng có thể và những bố cục không gian bên trong Khi tường không đáp ứng được những yêu cầu về kích cỡ, hình dạng của các không gian bên trong và các hoạt động mà ngôi nhà thì phải dùng đến hệ thống dầm cột Những tường và các thành phần không chịu lực sau này có thể thay đổi tự do các không gian bên trong theo nhu cầu thường sử dụng ở các công trình thương mại cao tầng và những nơi cần linh hoạt trong việc bố cục các không gian
Hầu hết tường được tạo bằng những lớp vật liệu riêng biệt, khung tường thường là các kết cấu thép liên kết với nhau bằng các giằng ngang, ghép vào khung này bằng một hoặc nhiều lớp vật liệu tấm như gỗ dán hoặc thạch cao làm cho tường vững chắc
- Vật liệu hoàn thiện bên ngoài tường là những loại vật liệu có độ bền cao, thường phải chịu được ảnh hưởng của thời tiết
- Mặt tường bên trong không phải chống đỡ các yếu tố thời tiết và do đó
có thể chọn lựa được trong một phạm vi rộng rãi các vật liệu làm tường
Để điều tiết lượng nhiệt, ẩm, âm thanh xuyên qua bề dày tường, cấu tạo tường có thể đặt lớp hoặc đưa vào lớp vật liệu ngăn cách và ngăn hơi nước
Tường bê tông, tường gạch hoặc tường đá thường dùng làm tường chịu lực trong các trường hợp yêu cầu cấu tạo chịu lửa tạo độ bền vững Tường bê tông, tường xây thường dày hơn tường khung vì chúng phụ thuộc vảo khối xây
để chịu lực và ổn định nhưng khả năng cách nhiệt tương đối kém Trong trường hợp lực nén quá lớn, chúng cần phải có thép gia cường để chịu được những lực uốn ngang
Trang 38Hình 17 : Mô tả kết cấu tường
Tường là yếu tố đầu tiên để xác định không gian bên trong Cùng với các mặt bằng, sàn và trần tạo thành một không gian khép kín quyết định hình dáng, kích cỡ của căn phòng Tường cũng có thể giới hạn hoạt động của con người, ngăn cách các không gian, tạo các không gian riêng tư
Không gian tuyến tính được xác định bởi mặt phẳng, các tường hình chữ nhật thường cho cảm giác phân định không gian rõ ràng, các mặt tường cong gợi cảm giác bao kín trong khi các mặt tường lồi mở rộng không gian
Hình 18 : Các dạng tường cong
Các khoảng hở trên bề mặt tường tạo sự chuyển động liên tục giữa các không gian tạo điều kiện cho lượng ánh sáng, âm thanh và nhiệt độ xuyên qua các không gian Nếu tăng diện tích khoảng hở trên tường sẽ mở rộng tầm nhìn đến các không gian kế bên Khung cảnh nhìn qua khoảng hở này sẽ trở thành một phần của không gian kế cận
Trang 39Hình 19 : Mô tả khoảng hở trên tường
- Các tường thẳng đứng hấp dẫn trường nhìn thị giác Khi các đường biên
đã được quyết định chúng tạo ra hình dáng của phòng và đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đặc điểm của tường
- Các tường vững chắc, chính xác, đối xứng mang lại cảm giác trang nghiêm, có thể nâng cao đáng kể việc sử dụng các chất liệu mặt nhẵn, phẳng
- Tường có hình bất định (cong, lồi) tạo cảm giác động khi kết hợp với một chất liệu mặt ngoài thô nhám có thể trang trí làm điểm nhấn trong không gian
Hình 20 : Hiệu quả khi sử dụng chất liệu trên tường
Trang 40Bề mặt tường chuẩn bị cho việc hoàn thiện mặt nền và cho người sử dụng nếu nhẵn và có màu trung tính có thể sử dụng Nếu bề mặt nhẵn và có màu trung tính thì tường có tác dụng như phông nền cho những chi tiết cận cảnh Nếu tường là hình bất kỳ có chất liệu, hoa văn và có màu sắc mạnh thì tạo cảm giác hấp dẫn, nổi bật hơn, có tác dụng trang trí, làm điểm nhấn
Hình 21 : Hiệu quả khi sử dụng màu sắc trên tường
Tường màu nhạt phản xạ ánh sáng có hiệu quả và dùng như phông nền cho những chi tiết đặt trước Sử dụng các màu sáng nống trên tường tạo cảm giác ấm áp, trong khi những màu sáng lạnh lại làm tăng lên sự rộng rãi của căn phòng Bề mặt tường sử dụng màu thẫm hấp thụ ánh sáng làm cho phòng khó chiếu sáng và mang lại cảm giác thân mật, riêng tư
Chất liệu bề mặt của tường cũng tác động đến lượng ánh sáng sẽ phản xạ hoặc hấp thụ Tường nhẵn phản xạ nhiều ánh sáng hơn tường có chất liệu bề mặt xốp, thiên về khuếch tán ánh sáng chiếu trên bề mặt tường Tương tuej, những
bề mặt tường nhẵn, cứng sẽ phản xạ âm thanh trong không gian hơn các mặt tường có chất liệu bề mặt xốp hoặc mềm
Không chỉ là một bộ phận cơ bản trong không gian nội thất, tường cũng
có thể kết cấu đa chức năng như chỗ ngồi, giá sách, mặt bàn và đèn chiếu sáng hoặc cũng có thể kết hợp nhiều chức năng để tường vừa có tác dụng ngăn chia không gian vừa trở thành một đồ đạc trong nhà