Ngôi nhà không những giúp cho các thành viên trong gia đình có điều kiện nghỉ ngơi thoải mái, lấy lại sức khỏe sau những giờ làm việc mệt nhọc mà còn là nơi đầm ấm, đoàn tụ gia đình, từ
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TS NGUYỄN LAN HƯƠNG (chủ biên)
Trang 3L ỜI GIỚI THIỆU
Ở nước ta, cái đất lề quê thói còn đọng lại trong nhiều nếp nhà những cốt cách
gia phong Đây đó, trong ngôi nhà mái ngói ba gian, bên hàng hiên rộng, có
bức mành treo, có hàng giại thưa che nắng, gió Ở kia, trong ngôi nhà bề thế,
một chiếc tủ chè có nét chạm tinh tế bên chiếc sập gụ và bộ tràng kỷ với vài
ba chậu cảnh lên màu rêu xanh giữa một không gian trầm ấm, mát mẻ.v.v…
Sự phong phú của nếp sống được tích tụ lại để chung đúc nên một truyền
thống văn hóa hòa quyện trong đời sống với vị ngọt ngào, cảnh ấm cúng và
thi vị của các mái ấm gia đình Trang trí nhà ở từ lâu đã trở thành niềm tự hào
của truyền thống, mang tính thẩm mỹ trong văn hóa dân tộc
Ngày nay, nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, nhu cầu tổ chức,
trang trí nhà ở có những bước phát triển mới, theo xu hướng hiện đại trên cơ
sở gìn giữ những nét bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Là sản phẩm
của nền công nghiệp hiện đại, nên mỗi ngôi nhà trước khi ra đời phải được
thiết kế về hình dáng Hình dáng của một ngôi nhà không chỉ là hình thức bên
ngoài phù hợp với cơ cấu bên trong và chức năng sử dụng, mà còn phải nhằm
mục đích tổ chức môi trường thẩm mỹ, hài hòa trong nơi ăn ở, nơi lao động,
nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống Ngôi nhà không những
giúp cho các thành viên trong gia đình có điều kiện nghỉ ngơi thoải mái, lấy
lại sức khỏe sau những giờ làm việc mệt nhọc mà còn là nơi đầm ấm, đoàn tụ
gia đình, từ đó hình thành tính cách con người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ
và giảm đi những thói hư, tật xấu…
Để làm được điều đó, công tác đào tạo một đội ngũ có tri thức về thiết kế nhà
ở nói chung, thiết kế nội thất nói riêng luôn giữ vai trò quan trọng
Trên cơ sở chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, những kinh nghiệm rút
ra từ thực tế đào tạo cùng với việc cập nhật những kiến thức chuyên ngành,
chúng tôi tổ chức biên soạn và xuất bản giáo trình Thiết kế nội thất nhà ở
Trang 4Trong quá trình biên soạn và xuất bản giáo trình, chúng tôi đã nhận được sự
động viên, khích lệ và giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp và bạn bè, đặc biệt
là Viện Đại học Mở Hà Nội Nhân đây, cho phép chúng tôi được bày tỏ sự
cảm ơn chân thành và sâu sắc
Dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, bất cập Chúng
tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được
hoàn thiện hơn
Hà Nội, năm 2015
PGS.TS.Họa sĩ Nguyễn Ngọc Dũng
Trang 5L ỜI MỞ ĐẦU
Thiết kế nội thất là một loại hình nghệ thuật nhằm tổ chức môi trường
thẩm mỹ nơi ăn ở, lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của con người nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong lĩnh vực nghệ thuật Trang trí nội,
ngoại thất đóng vai trò hình thành phong cách, nếp sống của mỗi quốc gia,
mỗi tộc người trong xã hội Khi thiết kế nội thất nhà ở phải đề cập đến mọi
vấn đề liên quan như tâm sinh lý, văn hóa giao tiếp, ứng xử cũng như những
phong tục tập quán của từng dân tộc
Quá trình thiết kế nhà ở là quá trình tư duy tổng hợp để giải quyết các nhu cầu
của nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội Sản phẩm cuối cùng là một mô
hình nhà ở đáp ứng được nhu cầu và lối sống của gia chủ, đồng thời cũng thể
hiện được khả năng sáng tạo của nhà thiết kế Nghĩa là nó phải đáp ứng được
những tiêu chí cơ bản là Đẹp, Ích dụng và Bền vững nhưng đồng thời cũng
thể hiện được xu hướng, phong cách, ý tưởng mà nhà thiết kế muốn gửi gắm
Vì thế, người thiết kế phải luôn cập nhập những thông tin từ nhu cầu xã hội,
điều kiện kinh tế, lối sống, tính đa dạng của môi trường,
Giáo trình Thiết kế nội thất nhà ở biên soạn chủ yếu dành cho đối tượng là
sinh viên, nhằm giúp cho họ có kiến thức tổng quát nhất, củng cố năng lực
sáng tạo và một số kỹ năng trong thiết kế nội thất nhà ở Để đạt được mục
đích trên, giáo trình gồm ba chương, sau mỗi chương đều có câu hỏi ôn tập và
tài liệu tham khảo Đó là:
Chương 1: Tìm hiểu chung về nhà ở
Chương 2: Các thành phần của nhà ở và yêu cầu về thiết kế nội thất
Chương 3: Phương pháp thực thi đồ án thiết kế nội thất nhà ở
Chúng tôi hy vọng rằng, cuốn sách Thiết kế nội thất nhà ở sẽ là tài liệu hữu
ích trong việc học tập và tham khảo cho sinh viên ngành Thiết kế nội thất các
hệ đào tạo chính quy, vừa học vừa làm, đào tạo từ xa, ngắn hạn… nói riêng và
sinh viên ngành Kiến trúc, Mỹ thuật ứng dụng, các hệ đại học và sau đại học,
những người nghiên cứu và yêu thích trang trí nội thất nói chung
Hà Nội, năm 2016
TS Nguyễn Lan Hương
Trang 7GIỚI THIỆU MÔN HỌC
Thiết kế nội thất nhà ở được thiết kế dành cho đối tượng là sinh viên Môn
học giới thiệu tới sinh viên khái niệm chung về nhà ở, các loại hình nhà ở hiện
nay; cơ cấu tổ chức không gian trong nhà ở; nguyên tắc thiết kế các không
gian trong nhà ở; kích thước của một số đồ nội thất cơ bản trong nhà ở
MỤC TIÊU CỦA GIÁO TRÌNH THIẾT KẾ NỘI THẤT NHÀ Ở
1 Về kiến thức
Thông qua giáo trình giúp cho sinh viên có được kiến thức tổng quát nhất,
năng lực sáng tạo, biểu hiện về nội dung và hình thức trong phạm vi nhà ở Cụ
thể giáo trình tập trung nghiên cứu các khu chức năng cơ bản của nhà ở như:
phòng khách, phòng chơi, phòng ăn, phòng ngủ Từ đó sinh viên tìm được ý
tưởng riêng, thể hiện được ý tưởng đó một cách có hệ thống trong công trình
đã chọn
2 Về kĩ năng
Hình thành trong sinh viên một số kỹ năng cơ bản:
Kỹ năng phân tích và giải quyết việc bố trí mặt bằng trong công trình có phạm vi
một công trình dân dụng
Kỹ năng tư duy, kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc theo nhóm
Kỹ năng trình bày và thảo luận các vấn đề trước đám đông
Trang 8ĐIỂM MỚI CỦA GIÁO TRÌNH
Ngoài việc giới thiệu cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất trong việc
thiết kế kiến trúc và nội thất nhà ở, giáo trình còn đưa ra những nguyên tắc
của việc sử dụng ánh sáng và màu sắc trong thiết kế nội thất nhà ở Đặc biệt
hướng dẫn sinh viên các phương pháp để xây dựng bài đồ án về thiết kế nội
thất nhà ở, hướng dẫn sinh viên từ bước lựa chọn hồ sơ kiến trúc, đến việc
tiếp cận ý tưởng sáng tác, triển khai thiết kế mặt bằng bố trí nội thất, mặt trần,
các mặt cắt và dựng phối cảnh, thiết kế đồ nội thất trong không gian nhà ở
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GS Giáo sư PGS Phó giáo sư KTS Kiến trúc sư
HS Họa sĩ NXB Nhà xuất bản
CN Công nguyên TKNT Thiết kế nội thất SHC Sinh hoạt chung
WC Vệ sinh
Trang 9C hương 1
Mục tiêu và kết quả đạt được:
Chương 1 giới thiệu cho sinh viên các khái niệm về nhà ở, cách phân loại nhà
ở và quá trình phát triển của nhà ở qua các thời kỳ từ xa xưa đến nay Qua đó
sinh viên sẽ hiểu được thế nào là nhà ở, hiểu được nhà ở được phân loại như
thế nào và sinh viên có thể nắm được nhà ở đã trải qua quá trình phát triển
ra sao
1.1 KHÁI NIỆM NHÀ Ở
Nhà ở là công trình kiến trúc chuyên dụng dùng để ở, là loại hình kiến trúc
xuất hiện sớm nhất Đây là những không gian phục vụ cho đời sống sinh hoạt
gia đình của con người
Khác với nhà công cộng, nhà ở của đối tượng sinh sống trong các không gian
chức năng nhà ở thường có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống và mang tính
chất lâu dài
Ban đầu nhà ở chỉ đơn thuần là nơi trú ngụ đơn giản, nhằm bảo vệ con người
trước những đe dọa của điều kiện tự nhiên hoang dã như: mưa, nắng, gió, bão,
thú rừng về sau nhà ở phát triển và trở thành nơi nghỉ ngơi, tái tạo sức lao
động, sinh con đẻ cái bảo vệ nòi giống, sinh tồn và phát triển
Ngày nay, nhà ở trở thành trung tâm tiêu thụ hàng hóa, nơi hưởng thụ ở quy
mô gia đình những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại do xã hội cung
cấp với đầy đủ những tiện nghi của văn minh đô thị
Nhà ở ngày nay thực sự là một phúc lợi lớn của con người do xã hội văn
minh đem lại Tại nhà ở, con người trước tiên cần có những phòng ốc, những
Trang 10không gian và thiết bị tiện nghi để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình
về thể chất, tinh thần và trí tuệ; tiến tới, nhà ở sẽ cần cả những trung tâm thư
giãn hoàn hảo, thư viện gia đình, xưởng sáng tác hay nghiên cứu nghệ thuật
nghiệp dư và những tiện nghi khác phục vụ chất lượng sống lý tưởng
Nhà ở trở thành một nhu cầu đời sống hạnh phúc chính đáng, quan trọng của
tất cả mọi người Một xã hội tiến bộ là một xã hội phải biết chăm lo và tạo
điều kiện để mỗi người và gia đình của họ mưu cầu được một chỗ ở ổn định,
thỏa mãn nguyện vọng chính đáng "an cư lạc nghiệp"
Nhà ở hiện nay là một chuỗi nhiều không gian liên hoàn, với mỗi không gian
là một chức năng riêng biệt có đầy đủ trang thiết bị để thỏa mãn nhu cầu
phong phú, chất lượng cao của đời sống gia đình hiện đại
Như vậy nhà ở là sản phẩm do con người tạo ra và luôn luôn được con người
cải tiến, hoàn thiện dựa trên kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên, lợi dụng
khai thác thiên nhiên, đồng thời nhằm tận dụng phúc lợi do những tiến bộ
khoa học kỹ thuật và mức sống xã hội luôn được nâng cao của văn minh nhân
loại Hơn bất kỳ công trình kiến trúc nào, nhà ở bao giờ cũng phản ánh trung
thực nhất những điều kiện đặc thù của thiên nhiên (như khí hậu, địa hình,
cảnh quan, sinh thái của một vùng địa lý), của mức sống kinh tế văn hóa (về
đời sống tinh thần cũng như vật chất của dân tộc, thời đại) Khi nghiên
cứu kiến trúc nhà ở vì thế cần phải gắn liền với việc tìm hiểu những đặc điểm
môi trường, khí hậu, xã hội, kinh tế, những tác nhân có ảnh hưởng đến công
trình, để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội
1.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
Con người trước khi đi đến căn nhà ở và những ngôi nhà ở hiện đại ngày nay
đã từng có một nền văn minh về kiến trúc nhà ở rất lâu đời
1.2.1 Kiến trúc nhà ở thời xã hội nguyên thủy
Xã hội loài người trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ xã hội
nguyên thủy qua nô lệ, đến phong kiến và hiện nay nhiều quốc gia đang sống
ở xã hội tư bản phát triển cao bắt đầu quá độ sang thời đại công nghệ thông
Trang 11tin, xã hội tri thức Nhà ở tương ứng với tiến trình này cũng đã trải qua các
hình thái phát triển từ đơn giản đến phức tạp, luôn luôn được hoàn thiện đổi
mới theo những thành tựu của sức sản suất, đời sống văn hóa tinh thần và tiến
bộ khoa học kỹ thuật của thời đại cụ thể
Ở xã hội nguyên thủy, con người sống theo bầy, đàn với nền kinh tế du canh
là chủ yếu dựa trên hái lượm và săn bắt Con người mới chỉ biết lợi dụng vào
sự ưu đãi, những lợi thế sẵn có của thiên nhiên Nhà ở không có nhu cầu bền
chắc và cố định Không định cư lại chưa có công cụ lao động con người chủ
yếu lợi dụng các địa điểm, nơi chốn, sẵn có điều kiện sống tự nhiên thuận lợi
cho việc ẩn náu cư trú, chống lại mưa nắng và thú dữ, đến khi biến thành nhà
ở dạng nguyên sơ, cũng mới chỉ là các hốc ổ nhân tạo tổ chức kiểu bản năng
thường thấy trên ngọn cây, trong hang động, hay dưới các mái đá ở vách núi
Nhà ở cuối cùng trong thời kỳ này mới là các túp lều đơn giản, các nhà sàn
trên vùng đầm lầy… khi họ tiến về chinh phục thung lũng và đồng bằng Nội
dung chủ yếu bên trong ngôi nhà là bếp lửa Khi con người sống cuộc sống
định cư, bắt đầu thuần hóa được một số động vật nuôi thì thông thường nhà ở
có thêm chỗ nhốt, nuôi động vật - những không gian này cũng được tổ chức
xây dựng như các không gian ở nhân tạo khác (bằng thảo mộc, đất đá…) Nhà
ở khi ấy thực chất chỉ là nơi trú ẩn tập thể
Vào thời kỳ đồ đá cũ, con người sống trong những hang động thiên nhiên,
hoặc cao hơn là hang động có gia công… tiếp đến là dùng liếp che chắn thô
sơ, rồi đến nơi ở có mặt bằng hình tròn xây dựng bằng đá hoặc kết bằng cành
cây (Hình 1 a,b)
Một thế kỷ sau khi phát hiện ra châu Mỹ, người ta còn phát hiện ra những bộ
lạc sống từ thời đồ đá Loại lều của họ có thể xây bằng vỏ cây hoặc bằng đất
Có loại nhà làm bằng đất có trổ cửa trên đỉnh mái để lấy ánh sáng và kết hợp
để thông thoáng
Cách dựng lều điển hình của thổ dân da đỏ (theo Oatecman) được bắt đầu từ
xây dựng một khung hình chữ V ngược, buộc lại ở chỗ giao điểm, rồi dựng
thêm một chiếc sào thứ ba làm thành thế chân vạc, nhiều sào phụ khác được
dựng tiếp theo và dựng thừng chằng các sào lại với nhau để cuối cùng mái sào
được buộc chặt vào khung và ghim chặt xuống đất bằng cọc
Trang 12Lều thường thấy ở châu Mỹ là loại lều làm bằng thân cây cọ lợp vỏ cây hoặc
phủ bằng da của tuần lộc
Hình 1 a, b Nhà ở thời kỳ xã hội nguyên thủy
(nguồn: Kiến trúc nhà ở - GS.TS.KTS Nguyễn Đức Thiềm)
Trang 13Khi cuộc sống du cư chuyển sang định cư, con người sống theo chế độ công
xã nguyên thủy và cả thị tộc tham gia xây dựng nhà ở, bấy giờ xuất hiện loại
nhà dài cho một gia đình hay nhiều gia đình
Hình 1 c, d Nhà ở thời kỳ xã hội nguyên thủy
(nguồn: Kiến trúc nhà ở - GS.TS.KTS Nguyễn Đức Thiềm)
Trang 14Khi con người bước sang giai đoạn đồ đá mới, nông nghiệp và chăn nuôi phát
triển thì ngôi nhà ở của con người cũng phát triển cao hơn Làng xóm bấy giờ,
ngoài chướng ngại vật bao xung quanh còn có thêm kho và chuồng súc vật
Các nhà khảo cổ học đã tìm ra được cả một ngôi làng nổi trên hồ Zurêch ở
Thụy Sĩ Bí mật này được phát hiện vào năm 1854 Trong một vùng rộng
khoảng 4000 m2 đã phát hiện được bốn vạn cột gỗ sồi, bạch dương hay gỗ
thông, đầu cột được vót nhọn bằng đá Những vật liệu xây dựng đó còn được
giữ cho đến ngày nay là do có một lớp bùn dày che chở Người ta cũng tìm
thấy rải đá và những sản phẩm bằng gốm có hoa văn đơn giản Điều này đã
giúp con người hiện đại khôi phục lại được bức tranh sinh hoạt của con người
trong thời kỳ đồ đá khi mà họ đã định canh, định cư từ bỏ cuộc sống du mục
Đó là những ngôi nhà sàn tròn có mái hình nón được đặt trên một mặt sàn đặt
nổi trên mặt nước nhờ hệ thống cột Lúc bấy giờ con người thích sống trên hồ
hay gần bờ sông để tiện lợi cho sinh hoạt và chống lại được thú dữ hay bộ lạc
kẻ thù (Hình 1 c, d)
1.2.2 Kiến trúc nhà ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ
Loài người khi ấy đã hoàn toàn chuyển từ nền kinh tế du canh sang định cư tại
những vùng đất phì nhiêu dễ dàng kiếm sống lâu dài
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, các nhóm người dần dần hình thành bộ tộc với
sự phân chia giai cấp Từ đây đã xuất hiện hình thức nhà nước như một thứ vũ
khí dùng để bảo vệ quyền chuyên chế của giai cấp thống trị và để tự vệ trước
nạn ngoại xâm
Lúc này nền kinh tế của loài người đã có sự kết hợp giữa săn bắn và lao động
sản xuất Thời kỳ này con người đã chủ động can thiệp vào thiên nhiên Họ đã
tìm ra nhiều cách để cải tạo nên môi trường sống thích ứng và tốt đẹp hơn
Ngoài việc canh tác trồng trọt, săn bắn, hái lượm, họ cũng đã biết thuần
dưỡng thú hoang dã và các khu vực ở đã có thêm những chuồng trại đơn sơ
Cũng lúc này xã hội loài người đã phân hóa hình thành những gia đình và bắt
đầu có sự phân công xã hội rõ rệt Bên cạnh những người lao động tự do, xã
hội còn hình thành nên tầng lớp nô lệ và chủ nô Nhà ở của họ lúc này đã có
những biến đổi sâu sắc Sự phân hóa giai cấp thấy càng rõ nét hơn khi chúng
ta nghiên cứu ngôi nhà ở của họ Các chủ nô thường sống trong những ngôi
Trang 15nhà lớn hay trang trại có bố phòng kỹ lưỡng, xây dựng kiên cố; còn những
người lao động tự do và nô lệ phải sống trong những ngôi nhà được tổ chức
đơn sơ bằng những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên như thảo mộc, đất đá,
rơm rạ Chỗ ở của họ đôi khi còn tùy tiện, hôi thối Nội dung nhà ở còn mang
rõ tính chất dân chủ và bình đẳng với những không gian đơn sơ và đa năng
Trong xã hội nô lệ thì dần dần những không gian này đã được chia nhỏ thành
những không gian riêng biệt như kho chứa lương thực dự phòng, nơi chăn
nuôi và sinh hoạt Điều đó cũng cho ta thấy được sự khác biệt rất rõ nét giữa
nhà ở của chủ nô và nhà ở của nô lệ về nội dung cũng như hình thức tổ chức
không gian Nhà ở chủ nô là một quần thể tòa ngang, dãy dọc quây quanh
những sân trong với từng không gian có chức năng riêng, các chuồng trại, chỗ
ở của nô lệ được tách xa và xây dựng tạm bợ
Cùng với nhà nước, các hình thức cư trú mới đã được hình thành, trong đó
thành phố là một yếu tố quan trọng Nơi đây tập trung các cơ quan hành chính
và các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp với số dân tương đối lớn Cơ sở kinh tế
của xã hội lúc bấy giờ là nông nghiệp và thủ công nghiệp
Thời chế độ chiếm hữu nô lệ, nền văn minh nhà ở đã được bộc lộ rất rõ nét ở
Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ, những cái nôi của nhân loại
Tại khu vực sông Nil ở Đông Bắc Phi, việc canh tác và làm nghề thủ công
được phát triển từ rất sớm đã dẫn đến sự ra đời của những khu dân cư rộng
lớn và từ đó đã hình thành một trong những nền văn minh đầu tiên của nhân
loại Đó là nền văn minh Ai Cập - Lưỡng Hà cổ đại, được tính từ khoảng
4000 năm trước CN (Hình 2 a)
Tại Ai Cập cổ đại, nhà ở thường làm bằng đất sét, lau sậy và gạch nung chỉ
thấy có trong nhà của quý tộc Khoảng 4000 năm trước công nguyên, ở gần
Cairo người ta đã phát hiện ra một điểm dân cư lớn với hai loại nhà cổ điển
Loại nhà khung gỗ, tường gỗ, trên khung có cài tường bằng gỗ xen sậy Nhà
có phong cách nhẹ nhàng và chất lượng thẩm mỹ tương đối cao
Loại nhà có kết cấu gạch không nung, tường móng làm bằng đá hộc, hình
dáng nặng nề không ổn định
Trang 16Hình 2a Mô phỏng khu dân cư thời Ai cập cổ đại
Trong quần cư trên người ta thường thấy loại nhà, có mái bằng là loại phổ
biến ở Ai Cập Thượng, còn ở Ai Cập Hạ thì nhà dùng gỗ và lau sậy là chính
Loại nhà ở thời kỳ Cổ Vương quốc (3000 năm trước Công nguyên) là loại nhà
hình chữ nhật, mái dùng gỗ, vát bằng để mùa hè nóng nực có thể làm nơi
ngủ được
Nhà ở bấy giờ đã phản ánh rõ nét sự đối lập giàu nghèo Mặt bằng nhà ở quý
tộc Ai Cập thời kỳ này có những đặc điểm sau: mặt giáp phố không trổ cửa
sổ, chỉ có cửa hẹp thông vào sân trong, Trong nhà có các phòng cho nam và
nữ riêng biệt, phòng lớn có độ cao lớn, phòng nhỏ có độ cao bé hơn, phần
chênh lệch về độ cao này dùng để làm cửa trời thông gió, từ sân có cầu thang
lên mái được dùng làm nơi để hóng mát
Phát triển gần như song song với Ai Cập cổ, ở châu Á có đất nước Trung Hoa
và Ấn Độ cũng đã có một nền văn minh nhà ở cổ đại cũng rất đáng được chú
ý
Thế giới biết đến người Ấn Độ cổ đại như những nhà quy hoạch đô thị tiên
phong qua dấu vết của các thành phố cổ Mohenzo davo và Sanho daro (ở
Trang 17vùng Vịnh) cũng như Harrappa Tại đây có những ngôi nhà gạch màu đỏ, mái
bằng có tường ngăn xây lửng đến trần để thông gió Trong thành phố còn có
cả nhà hai tầng, tầng dưới là bếp, nhà tắm, kho, giếng, tầng trên là các phòng
ngủ
Những đặc điểm thiên nhiên và xã hội của mỗi địa danh nêu trên đã được
phản ảnh rõ trong sự khác nhau giữa kiến trúc từng nơi Mỗi khi phương thức
sản xuất bị thay đổi, nền kiến trúc cũng có sự thay đổi tương ứng.Trong giai
đoạn phát triển này của nhân loại, nô lệ là thành phần cư dân đặc trưng, là lực
lượng sản xuất chính trong xã hội "Không có nô lệ thì không thể có nhà nước
Hy Lạp Và thiếu nền tảng mà xã hội cổ Hy Lạp và cổ La Mã đã xây dựng
nên thì không thể có châu Âu ngày nay" (Ph Ăngghen)
Bên cạnh vô vàn các công trình phục vụ giai cấp thống trị, tại các quốc gia cổ
đại Ai Cập, Hy Lạp, La Mã cũng còn có những loại nhà sản xuất, nhà ở của
dân thường và nhà tù dành cho người nô lệ Tuy nhiên sự bóc lột vô cùng tàn
khốc và cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng quyết liệt giữa nô lệ và chủ nô đã
dẫn đến kết cục tất yếu là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ chiếm hữu nô lệ Và
mọi sự thăng trầm của chế độ này đã được phản ảnh trong các công trình kiến
trúc thời kỳ cổ đại - đặc biệt là La Mã cổ đại
Đến thế kỷ thứ Vl - V trước CN, tổ tiên người Ai Cập đã di cư xuống vùng
thấp thuộc hạ lưu sông Nil Đây là nơi hai con sông lớn nhất thế giới: sông
Amazon ở Nam Mỹ dài 6.750 km, đổ vào Đại Tây Dương và sông Nil dài
6.500 km, đổ vào Địa Trung Hải Sông Nil tựa lưng vào sa mạc Sahara, hằng
năm bồi đắp lớp phù sa màu mỡ cho cả một vùng, khiến cây cối tốt tươi, trồng
trọt thuận lợi
Người Ai Cập cổ đại sống chủ yếu bằng nghề nông Đến khoảng năm 3500
trước CN, xã hội thị tộc Ai Cập phân hóa thành 2 giai cấp: quý tộc + chủ nô
và nông dân công xã + nô lệ Nhà nước chuyên chế độc quyền ra đời Dân
chúng phải tôn thờ vua như những vị thần sống, gọi họ là các Pharaôn
Pharaôn có quyền lực không hạn chế Lời nói của họ là luật pháp Nô lệ bị đối
xử tàn nhẫn, nhưng lại là lực lượng nuôi sống và kiến thiết xã hội
Đặc điểm chung của kiến trúc cổ Ai Cập là:
Các công trình công cộng có quy mô lớn và cực lớn nhằm phục vụ việc tôn vinh
người chết, đặc biệt là các Pharaôn, cũng như phục vụ các nội dung tôn giáo
Trang 18Công trình thường có bố cục cân xứng qua trục dọc Cột hình vuông và tròn,
vừa để chịu lực, vừa để trang trí, với nhiều chạm khắc hình chim thú, hoa lá,
đôi khi có cả hình mặt người
Nhà ở thường có sân trong và hành lang Mái bằng được dùng làm sân
thượng Tường nhà xây dưới to trên nhỏ Vật liệu làm nhà chủ yếu là bùn,
rơm, đất sét, gạch không nung, gỗ và đá
Từ thời đại đồ đá tiến lên thời đại đồ đồng, ở Việt Nam tổ tiên xa xưa của
chúng ta cũng đã rời bỏ hang động miền núi để xuống miền trung du và đồng
bằng, quần tụ theo từng cụm mảng ở các đỉnh gò, sườn đồi chân núi Do sinh
trụ giữa trời nên việc dựng nhà sao cho vững cứng ổn định trở thành nhu cầu
bức thiết Trải qua một quá trình dài thực nghiệm và cải tiến, đến giai đoạn
văn hóa Đông Sơn, mô hình ngôi nhà đã hoàn chỉnh và khá phong phú và
hình ảnh cụ thể và dấu vết vật chất của nó còn được lưu giữ trên một số di chỉ
ở Đông Sơn (Thanh Hoá) mà đặc biệt trên trống đồng Đông Sơn Đó là những
gióng tre, những mảnh phên đan và đặc biệt là những cột nhà bằng gỗ dài đến
4,5 m có lỗ mộng (để bắc sàn?) cách chân cột trung tâm 1,25 m Đó là những
ngôi nhà ở trên sàn, không có tường, mái cong võng hình thuyền và chảy
xuống sát sàn, kiêm luôn chức năng vách che, hai đầu mái phía trên uốn cong
cuộn lại và nhô ra phía xa, trên nóc mái trang trí có một hoặc hai con chim
đậu Cạnh nhà ở còn có nhà kho cũng ở trên sàn, mái cong vòng lên hình mui
thuyền, tĩnh mà lại rất động, thanh thoát mà rất chắc chắn, thích nghi với khí
hậu có nắng nóng và mưa to, hợp với khung cảnh thiên nhiên vốn nhiều ngòi
lạch chằng chịt mà hàng năm vào mùa mưa nước dâng lên ngập trắng cả
vùng Để dựng lên những ngôi nhà sàn này, cư dân Đông Sơn dùng ngay vật
liệu sẵn có trong rừng như tranh, tre, gỗ với cấu trúc bộ khung cột để dễ di
chuyển xuống đất, mặt ngoài có một số mô típ hình chim, gà sử dụng ở độ
vừa phải không hề lạm dụng, đủ để làm duyên Ngôi nhà sàn Đông Sơn võng
nóc hình thuyền này được thấy tồn tại ở các dạng nhà hình thuyền của người
Dayake và người Toraja trên quần đảo Indonesia, hoặc còn thấy được ở cả
nhà người Êđê trên Tây Nguyên chứng tỏ giữa các khối cư dân này có một
mối liên hệ mật thiết mà riêng ở kiến trúc có một sự "bảo thủ" dai dẳng, qua
đó (không hề khiêng cưỡng) thấy được ở cả khung cảnh Đông Nam Á chịu sự
tỏa sáng của văn hóa Đông Sơn Việt Nam (Hình 2 b, c)
Trang 19Hình 2b Nhà ở thời phong kiến Việt Nam
Hình 2c Nhà ở thời phong kiến Việt Nam
Trang 201.2.3 Kiến trúc nhà ở giai đoạn xã hội phong kiến
Thời kỳ xã hội phong kiến sự phân hóa xã hội và giai cấp ngày càng sâu sắc
Nhà ở lúc này đã có sự khác biệt rất lớn giữa những người nông dân tự do
sống bằng kinh tế nông nghiệp định canh, định cư và tầng lớp cai trị quan lại
Nhà ở của vua chúa thống trị thường là những lâu đài tráng lệ, được xây dựng
bố phòng kiên cố với những thành lũy, những hào sâu, kín cổng cao tường
Cơ ngơi của học được xây dựng bằng những vật liệu kiên cố, đắt tiền với
tầng cao từ hai đến ba bốn tầng với hệ thống không gian nội thất đa dạng và
phong phú
a Tại châu Âu
Ở Pháp, loại dinh thự và trang viện của nhà giàu thời kỳ này cũng được phát
triển mạnh mẽ Dinh thự xây bằng đá mà cả tường chu vi bảo vệ bên ngoài
cũng được xây bằng đá dày bao quanh cả khu vực sân giữa các nhà Bên trên
nóc nhà có bố trí nhiều tháp vừa để trang trí vừa phục vụ phòng thủ với hình
thức mặt bằng bưng bít kín đáo Những trang viện lớn thường có tường lũy và
hào nước bao quanh, trên thành có vọng lâu và cửa vào có cầu treo Bộ mặt
bên ngoài của trang viện rất nặng nề nhưng ngược lại nội thất lại rất giàu tính
trang trí
Ở Đức, vật liệu xây dựng chính là gạch và đá Trên mặt tường gạch và đá
cũng thể hiện sự đơn giản mà vững chắc Nhà thường có mái dốc và nhiều
tầng gác áp mái, có tầng dưới là cửa hiệu, tầng trên dùng để ở, có tường hồi
nhà được chú ý trang trí Ngôi nhà ở Dessau là một ngôi nhà ở điển hình của
tầng lớp trung lưu cũng là một kiệt tác tiêu biểu cho kiến trúc nhà ở của Đức
thời kỳ này, đơn giản, thân mật và hấp dẫn biết bao
b Tại Việt Nam
Kiến trúc nhà ở Việt Nam xây bằng gạch từ lúc chưa biết dùng ximăng Họ
thường dùng một thứ vữa mà thời gian tồn tại đã chứng minh cho sự bền vững
lâu dài Đá rắn tự nhiên không được dùng phổ biến mặc dù đất nước Việt Nam
có nhiều Tuy nhiên trong lịch sử kiến trúc Việt Nam đã có những công trình
kiến trúc bằng đá đồ sộ, mạch nối tinh vi như thành nhà Hồ Nếu đá rắn ít được
Trang 21dùng trong kiến trúc dân dã thì đá ong lại là một vật liệu thông dụng trong nhà ở
dân gian vì dễ sử dụng và khai thác, phổ biến dùng để xây tường ngăn che
Trong xã hội phong kiến, nhà ở dân gian hay đình chùa, lăng, miếu đều chủ
yếu xây dựng từ gỗ và gạch đất nung, trong đó gỗ lim bị vua quan phong kiến
cấm người dân không được dùng và điều đó đã kìm hãm sức sáng tạo của
nhân dân trong xây dựng
1.2.4 Kiến trúc nhà ở thời kỳ tư bản chủ nghĩa
Khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển, cũng như ở giai đoạn tư bản độc
quyền lũng đoạn thì trong lĩnh vực kiến trúc, nhà ở luôn là một vấn đề xã hội
đáng được quan tâm hơn bao giờ hết Xã hội tư bản với cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật lần thứ nhất, với sự xuất hiện với nền kinh tế hàng hóa, các đô thị
phong kiến đã không còn là trung tâm sản xuất chính trị, hành chính đơn
thuần mà là trung tâm sản xuất hàng hóa Xã hội xuất hiện những tầng lớp
mới như nhà tư bản sản xuất, các thương nhân, nhà khoa học, các tầng lớp
nông dân phá sản đã biến thành công nhân phục vụ trên các công trường, các
nhà tư bản Chính vì thế mà nhà ở cũng xuất hiện những dạng nhà mới như
các biệt thự sang trọng thành phố cho các tầng lớp tư bản và thương nhân, các
nhà cho thuê kiểu ký túc xá cho các tầng lớp công nhân và nông dân rời bỏ
nông thôn ra thành phố, các kiểu nhà ở liên kế và chung cư cho các tầng lớp
trung gian, các thị dân, các trí thức, người buôn bán nhỏ tự do Nội dung nhà
ở tầng lớp trên đã có những biến đổi quan trọng, có khu chức năng rõ rệt, có
nhiều buồng, phòng biệt lập cho từng thành viên, tạo điều kiện cho chủ nghĩa
cá nhân phát triển Thành viên được sống trong những không gian biệt lập để
phát triển cá tính, xây dựng tâm hồn Các tiện nghi mới do tiến bộ của khoa
học kỹ thuật mang lại đã nhanh chóng được trang bị cho những không gian ở,
tạo điều kiện nâng cao chất lượng sống trong ngôi nhà ở biệt thự Ví dụ như
quạt gió có khí, hệ thống sưởi ấm nhân tạo, ánh sáng điện thay cho ánh sáng
nến, đun nấu củi than được thay bằng bếp điện, bếp gas Các tiện nghi về
giao tiếp, giải trí như điện thoại, radio, vô tuyến cũng nhanh chóng thâm nhập
vào đời sống gia đình
Trang 22Tầng trệt, tầng lầu
Trang 23Hình 3 Biệt thư Savoye - Kiến trúc sư Le Corbusier (nguồn blognhadep.com)
5 Kiến trúc nhà ở giai đoạn xã hội tư bản phát triển cao (hình
4 a,b,c)
Xã hội tư bản phát triển cao đã sản sinh ra một số tầng lớp mới đầy quyền lực
và giàu sang như các nhà tư bản công nghiệp cá mập, các nhà tư bản thương
nghiệp độc tài - đa quốc gia, bên cạnh một số tầng lớp người lao động bị bàn
cùng hóa sống vất vưởng bên lề những đô thị lớn Nhà ở thời kỳ này có sự
phân hóa và mâu thuẫn hết sức rõ rệt trong nội dung và hình thức giữa các
tầng lớp trong xã hội Nội dung nhà ở tầng lớp trên rất hiện đại phong phú, đa
dạng Tất cả những tiện nghi đô thị và đời sống văn minh hầu như được tập
trung vào ngôi nhà họ Trong căn nhà được trang bị tiện nghi, cuộc sống hiện
đại của họ có cả bể bơi, sân quần vợt, sân chơi giải trí ngoài trời, sân khiêu
vũ Bên trong căn nhà là trang thiết bị văn minh, tân kỳ và vật dụng hưởng
thụ siêu hiện đại với hệ thống truyền tin, những trò chơi điện tử, các buồng
WC kết hợp thư giãn bằng kiểu tạo sóng nhân tạo Nhà ở của tầng lớp này
không phải chỉ có một nơi ở sang trọng mà còn có những ngôi nhà phụ: nhà
nghỉ đông, nhà nghỉ hè Trong khi đó nhà ở của các tầng lớp trung lưu ngoài
Trang 24ngôi nhà ở chính hiện đại còn có nhà nghỉ nhỏ cuối tuần ở ngoại ô Phần lớn
số dân cư phải sống trong những chung cư nhiều tầng, cao tầng ở ven đô với
tiện nghi trung bình Ngoài ra còn có một bộ phận dân chúng, những người
dân nghèo thành thị phải sống trong những ngôi nhà ổ chuột tạm bợ
(bidonville).Trong thời kỳ kinh tế tư bản hậu công nghiệp phát triển cao tức là
thời kỳ của văn minh tin học, của công nghệ - kỹ thuật cao, công nghệ - sinh
học nhà ở sẽ còn tiến hóa và phát triển mạnh ở thế kỷ XXI Ở thời kỳ này thời
gian lao động con người sẽ ít đi, quỹ thời gian rãnh rỗi tăng lên, nhu cầu
sáng tạo nghiệp dư và phát triển văn hóa tinh thần, đời sống tâm linh sẽ
tăng nhanh lên Nhà ở lúc này trở thành đơn vị "tổ ấm + sáng tạo" Phương
tiện thông tin ngày càng phát triển tất nhiên tiện lợi cho việc giao tiếp
nhưng nó lại có mặt tiêu cực là làm khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo ngày càng tăng lên, và đã đến lúc thế giới cảnh báo về sự tha hoá,
phi nhân của không gian cư trú, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh
thái làm cho việc đô thị hóa bùng nổ tràn lan khó kiểm soát Số cư dân
đô thị sẽ đông hơn số cư dân ở các vùng nông thôn truyền thống Bởi vậy
việc khắc phục các hậu quả của một thế kỷ khủng hoảng về chất lượng
sống của các đô thị, nhà ở và việc chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ
thông tin, công nghệ cao - thế kỷ XXI đang là vấn đề bức xúc của nhân
loại ở tầm vĩ mô cũng như toàn thể kiến trúc sư trên thế giới Nhà ở thế kỷ
mới chắn chắn sẽ có những cuộc cách mạng triệt để, toàn diện và đầy sáng
tạo nhưng cũng đầy thách thức mới để thể bảo vệ được sự tồn tại vững bền
của hành tinh, của nhân loại và hạnh phúc ở tầm cao lý tưởng, đó là hạnh
phúc được sáng tạo của "con người trí tuệ" Chẳng hạn trong cuộc triển
lãm "Ngôi nhà thế kỷ tới" được tổ chức tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật hiện
đại New York của 26 kiến trúc sư Mỹ, đã xuất hiện những con chim én báo
hiệu mùa xuân: những ngôi nhà chỉ có một người (gia đình tan rã và
khuynh hướng sống độc thân), rồi ngôi nhà chỉ có hai phòng (một phòng
ngủ và một thư viện với 1000 cuốn sách) mà phòng ngủ không cần kín đáo,
chỉ ngăn cách với thiên nhiên bằng vách kính trong suốt
Trang 25Hình 4a Mặt bằng biệt thự trên thác ở Pennsylvania (Mỹ)
KTS Frank Lloyd Wright
Trang 26Hình 4b Mặt đứng biệt thự trên thác ở Pennsylvania (Mỹ)
KTS Frank Lloyd Wright
Trang 27Hình 4c Nội thất biệt thự trên thác ở Pennsylvania (Mỹ)
KTS Frank Lloyd Wright
Trang 281.3 PHÂN LOẠI NHÀ Ở
1.3.1 Phân loại nhà ở dựa vào hình thức tổ chức đáp ứng
công năng
1.3.1.1 Nhà ở nông thôn
Đây là loại nhà thấp tầng có sân, vườn phục vụ cho những gia đình nông dân
mà sản xuất chủ yếu của gia đình là làm nông nghiệp cần gắn liền với đồng
ruộng
Các loại hình nhà này ở Việt Nam được phân bố quần tụ thành các làng, xóm
bám dọc theo những dòng sông, con đê hoặc các tuyến giao thông liên tỉnh,
liên huyện hay nằm rải rác giữa những cánh đồng rộng lớn Ngày xưa mỗi gia
đình nông dân Việt Nam thường ở trong một khuôn viên độc lập khép kín với
khoảng diện tích thổ cư trên dưới một sào (360 m2) Trên lô đất có phần kiến
trúc nhà ở, phần sân vườn, chuồng trại và vườn cây lưu niên để lấy gỗ, đáp
ứng nhu cầu đặc thù của nông dân: vừa sản xuất vừa sinh hoạt nghỉ ngơi ngay
tại gia đình và nhà ở gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với đồng ruộng canh tác
Nhà ở thường là những tập hợp gồm nhà chính, nhà phụ, chuồng trại và sân,
trong đó cái sân coi như trung tâm của bố cục Bên cạnh sân, vườn là ao cá
Mỗi nhà ở thường là một đơn vị kinh tế khép kín có các buồng lớn, phòng kín,
hiên thoáng (không gian nửa kín, nửa hở) và các khoảng không gian trống,
thoáng như sân phơi, ngõ vào, sân giếng Ba loại không gian liên hoàn này rất
thích ứng với cuộc sống gần gũi gắn bó với thiên nhiên và phù hợp với điều
kiện địa lý tự nhiên nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa Nhiều ngôi nhà tạo thành
một thôn xóm, được tập hợp từ những gia đình có cùng một huyết thống hay
chung một nghề phụ Nhiều thôn xóm tạo thành một ngôi làng Làng được
phòng thủ rất chắc chắn với đường hào có lũy tre bao bọc, chỉ mở một hoặc
hai cổng để làng được liên hệ an toàn với đồng ruộng của làng và hệ thống
giao thông chung của tỉnh, vùng
Trong cách phân bố các không gian ở của nhà nông thôn thì ngôi nhà ở chính
chiếm vị trí quan trọng nhất, ở chỗ cao nhất của khu đất, được sử dụng làm
nơi thờ cúng và sinh hoạt chính Sân trước ngôi nhà chính là nơi tiến hành sản
xuất, chỗ phơi phóng, tạo không gian thoáng mát cho ngôi nhà chính Ao cá
Trang 29thường ở chỗ thấp nhất, phía đầu gió, trước nhà Các công trình phụ như bếp,
chuồng trại, nơi vệ sinh, nơi tiến hành nghề phụ… thì được bố trí xung quanh
ngôi nhà chính, ôm lấy sân phơi rộng theo nguyên tắc coi sân là trung tâm của
bố cục không gian sinh hoạt gia đình Các công trình chính, phụ đều cố gắng
ẩn mình trong vòm cây xanh của cây lấy gỗ và cây ăn quả trong vườn nhà với
mục đích vừa che chở bảo vệ ngôi nhà chính chống đỡ gió bão, lũ quét, vừa
cải tạo điều kiện vi khí hậu, tận hưởng không khí trong lành (Hình 5a)
Ghi chú:
1 Tiếp khách 2 Thờ cúng 3 Nơi ngủ đàn bà 4 Nơi ngủ đàn ông
5 Nơi ngủ Bà 6 Nơi ngủ con gái 7 Nơi để thóc gạo 8 Nơi để đồ quý
9 Bếp nấu 10 Sân phơi 11 Bể nước 12 Vườn trồng rau
13 Chuồng trại 14 Cây rơm
Hình 5a Nhà ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
Trang 30Nhà ở nông thôn truyền thống Việt Nam còn mang nhiều dấu ấn của nền kiến
trúc dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, tuy vẫn tồn tại một số hạn chế về chất
lượng, công năng, kỹ thuật xây dựng và điều kiện vệ sinh môi trường của nền
kinh tế nông thôn nghèo nàn, lạc hậu Muốn có một nền kiến trúc nông thôn
mới thì chúng ta cần phải phấn đấu để có những mẫu nhà mới, phù hợp với
nếp sống của thời đại mới, vật liệu kỹ thuật mới, mô hình văn hóa mới (Hình
5b)
Hình 5b Nhà ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
1.3.1.2 Nhà biệt thự thành phố
Là ngôi nhà được xây dựng trên một khuôn viên sân vườn riêng biệt, biệt
thự có phòng khách lớn, nhiều phòng ngủ, có phòng nghe và chơi nhạc, thư
viện, có nhà ăn lớn tụ tập hàng trăm khách Biệt thự còn là sự kết tinh của
khoa học về xây dựng và trang trí nội ngoại thất Thường mỗi biệt thự có một
tên riêng và luôn được nhắc tới trong lịch sử Biệt thự thường được xây trên
những diện tích lớn, ở thung lũng, trên đồi, ven suối hay thị trấn, thành phố
ở Việt Nam các không gian ở, quần thể ở có từ các triều đại thời Lý, Trần, Lê,
Nguyễn Từ cuối thế kỷ thứ XIX, chúng ta có thêm các loại hình biệt thự châu
Âu cận đại Dựa vào số lượng và chất lượng biệt thự có thể đánh giá đời sống
con người trong các mặt tinh thần, vật chất và văn hóa Nó vẫn luôn tồn tại, là
mối quan tâm chung của nhiều nước trên thế giới Vì vậy những cuộc đánh
Trang 31giá và đưa ra các chỉ tiêu của biệt thự là cần thiết, để có các quan niệm đúng
trong việc đào tạo thiết kế cho sinh viên, nhằm đáp ứng nhu cầu ở ngày càng
cao của con người
Nhiều quốc gia hiện nay đã coi nhà ở biệt thự không còn là loại nhà chính của
khu trung tâm thành phố nữa, mà chúng chỉ được xây dựng ở ngoại thành
hoặc những khu nghỉ mát Tại một số nước khác, nhà ở biệt thự vẫn được xây
dựng trong nội đô một số thành phố và thị trấn ở mức độ vừa phải Trên đất
nước chúng ta, nhà biệt thự ở một số thành phố lớn còn chiếm một tỷ lệ đáng
kể, nên việc để tâm nghiên cứu loại nhà ở này một cách đúng mức vẫn là cần
thiết Hơn nữa loại nhà khối ghép ít tầng là loại nhà vẫn xây dựng hàng loạt
phổ biến trong thành phố nhỏ và thị trấn hiện nay trên thế giới nên lại càng
cần có sự quan tâm thích đáng
Thiết kế nhà ở biệt thự dành cho những gia đình có điều kiện thu nhập kinh tế
cao, những người có điều kiện sống cao như các quan chức cao cấp, các
thương nhân giàu hay các trí thức lớn, có tiềm năng trang bị những tiện dụng
gia đình không hạn chế Vì vậy yêu cầu về nội dung không gian, diện tích sử
dụng cũng như điều kiện, tiêu chuẩn trang trí thẩm mỹ đến chất lượng các
hình thức bên ngoài của ngôi nhà đều rất cao Ngôi nhà có nhiều khả năng
đóng góp vẻ đẹp mỹ quan cho đô thị, cho đường phố Nhà ở biệt thự hơn bất
cứ loại hình nhà ở nào khác là nó có thể thể hiện được thị hiếu thẩm mỹ của
chủ nhân nhiều nhất
Nhà ở biệt thự thường đặt trong những khu vực yên tĩnh, có nhiều cây xanh ở
ven đô Nhà ở biệt thự thường có tiêu chuẩn sinh hoạt cao, điều kiện tiện nghi
đầy đủ Ngôi nhà chính thường cao từ 1 đến 3 tầng Lô đất của biệt thự
thường từ 300 - 800 m² nhưng chỉ được phép xây dựng với mật độ nhỏ hơn
hoặc bằng 35% Nhà biệt thự được chia thành nhiều loại khác nhau
Biệt thự vườn: Biệt thự vườn là biệt thự được xây dựng trên khoảng đất rộng
lớn, có 4 mặt tiếp xúc với thiên nhiên, không gian xung quanh là những vườn
cây, tiểu cảnh, đài phun nước, bể cá, Các không gian thân thiện với môi
trường xung quanh Người ta thường hình dung đến những mẫu thiết kế biệt
thự vườn 1 tầng với diện tích sân vườn rộng, các cảnh quan xung quanh đều
mang tính tự nhiên rõ nét góp phần làm nên vẻ đẹp tự nhiên của ngôi nhà
Chính vì đặc điểm này mà những ngôi biệt thự vườn thường được xây dựng ở
nông thôn, hoặc ở vùng ngoại ô bởi có lợi thế đất đai rộng lớn Thiết kế biệt
thự vườn tương tự ở thành phố thường có chi phí cao hơn do diện tích đất xây
dựng hạn hẹp ở thành phố và giá cả đắt đỏ.(Hình 6 a,b)
Trang 32Hình 6a Biệt thự vườn
Hình 6b Biệt thự vườn (nguồn Kiến tạo Việt)
Trang 33Biệt thự phố (biệt thự đơn): Biệt thự phố là khái niệm trong thời kỳ hiện đại,
nó được mô tả như một căn biệt thự được xây trong không gian hẹp ở trong
nội đô, biệt thự phố thường được xây dựng trên diện tích không gian hạn hẹp,
nhưng cũng đảm bảo đầy đủ một căn biệt thự thông thường
Biệt thự phố đặc trưng bởi diện tích sân vườn nhỏ bé hoặc không có Những
thiết kế biệt thự phố thường bắt gặp ở những thành phố lớn, nơi đông dân cư
và sự hạn chế về diện tích đất xây dựng là một trở ngại Tuy nhiên, ở những
ngôi biệt thự này,chúng ta vẫn dễ dàng cảm nhận thấy được sự thoải mái, rộng
rãi chứa đựng trong đó mà không hề nhìn thấy được sự ồn ào, chật chội của
thành phố Biệt thự phố thường làm rõ tính chất của sự tiện nghi, sang trọng
trong ngoại thất cũng như nội thất của thiết kế biệt thự Biệt thự phố sẽ làm
đẹp cho không gian chung của khu phố, cũng tạo ra nét đẹp riêng biệt, mới lạ
cho ngôi nhà của gia đình bạn (Hình 6c,d)
Hình 6c Biệt thự phố (nguồn Kiến tạo Việt)
Trang 34Hình 6d Biệt thự phố
Biệt thự song lập: Biệt thự song lập có kiến trúc phụ thuộc vào một căn biệt
thự bên cạnh để tạo thành một tổng thể kiến trúc Thông thường là hai căn biệt
thự ốp cạnh vào nhau Nhìn thoáng qua thì giống như một căn biệt thự nhưng
lại là hai căn có thiết kế đối xứng nhau qua một cạnh trái hoặc phải
Biệt thự song lập thường chỉ có 3 mặt thoáng và được xây dựng trên diện tích
đất nhỏ hơn biệt thự đơn lập Các mặt thoáng cũng đủ rộng để có thể đi lại,
trồng cây, tiểu cảnh hoặc sân vườn… Cấu trúc xây dựng biệt thự song lập tuy
riêng biệt nhưng là nét đối xứng của căn biệt thự bên cạnh Vì cấu trúc này
nên hai căn biệt thự đứng cạnh nhau phải luôn hài hòa về màu sắc, đường nét,
trang trí… (Hình 6 e, f, g)
Ngoài ra còn có cụm biệt thừ từ 4 đến 8 căn Ở nước ta, loại biệt thự này
không phát triển bởi vì một số gia đình sẽ không có hướng gió tốt
Trang 35Hình 6e Biệt thự song lập
Hình 6f Biệt thự song lập (nguồn Ecopark)
Trang 36Hình 6g Biệt thự song lập 1.3.1.3 Nhà ở kiểu liên kế (liền kề)
Đây là loại nhà thường gặp ở các thành phố nhỏ, thị trấn, phục vụ những gia
đình thị dân Để đảm bảo tính kinh tế và tiết kiệm đất cho thành phố, mỗi gia
đình chỉ có hai hướng tiếp xúc trước và sau với thiên nhiên Chiều rộng của lô
đất bị hạn chế nhằm để tiết kiệm các đường ống kỹ thuật cùng những trang
thiết bị và tiện nghi đô thị Mỗi gia đình sẽ được sử dụng diện tích không gian
suốt từ tầng trệt đến tầng thượng (khối nhà thường cao từ 2 - 3 tầng) Ngoài
diện tích dành cho nhà ở còn có diện tích cho sân vườn (với tỷ lệ từ 20 - 30%
diện tích lô đất) Loại nhà ở này có diện tích đất trung bình từ 60 - 120 m2 và
thường chia làm hai loại
Nhà ở hàng phố: Nhà có mặt tiền trực tiếp liên hệ với hè phố để lợi dụng
tầng trệt kinh doanh buôn bán làm xưởng thủ công, còn các tầng trên dùng
cho việc sinh hoạt và nghỉ ngơi của gia đình Ngôi nhà chỉ có sân trong
(chiếm 20% - 25% lô đất)
Kiểu nhà liền kề có sân vườn: là loại nhà có vườn đằng trước và sân có thể
ở đằng sau, mặt tiền từ 6 - 10 m, hình thức nhà gần giống nhà hàng phố
Trang 37nhưng nhà được lùi vào khoáng 3 m so với hàng rào, có vườn trước sân sau
(khoảng 30 - 40% lô đất)
Đây là loại nhà gồm các ô hay ngăn (compartment) đặt cạnh nhau xếp thành
bang hay dãy, cho phép có thể xây dựng hàng loạt, tiết kiệm đất xây dựng
Loại nhà ghép khối này, mỗi ô, mỗi ngăn dành cho một căn nhà thường chỉ có
hai hướng tiếp xúc với thiên nhiên, có thể có lối vào phía trước và cả phía sau,
có hai mặt tường tiếp xúc hoặc chung với hai căn bên cạnh Mỗi gia đình
thường sống trên những mảnh đất có mặt tiền không rộng (trên dưới 6 m)
bằng nhà ở biệt thự, với diện tích lô đất trung bình khoảng 80 đến 120 m2 Số
lượng căn hộ trong một dãy nhà khối ghép thường dao động trong khoảng
4 đến 16 căn hộ Các căn hộ này thường là từng khối xếp liền nhau, thiết kế
vai kề vai ghép lại thành những dải bang, dãy phố dài, có vườn trước và sân
sau, tiếp cận thiên nhiên từ hai phía trước và sau Tùy theo điều kiện cảnh
quan, lối quy hoạch và địa hình mà một dãy nhà ghép khối có số căn hộ
theo điều kiện hướng gió,
địa hình, khí hậu, kết cấu
mà có những cách tổ hợp
khối khác nhau: cách xếp
thẳng, cách xếp chéo, cách
xếp dật bậc, xếp so le Nếu
số lượng căn trong dãy nhà
nhiều quá thì điều kiện tiện
nghi và điều kiện vệ sinh sẽ
kém đi và việc xây dựng trở
nên bất hợp lý (Hình 7a)
Hình 7a Cách ghép lô đất nhà liền kề
Trang 39Nhà liền kề trong đô thị cũng có thể được thiết kế có sân trong So với biệt
thự thì kiểu nhà này tiết kiệm đất xây dựng và để cho các ngôi nhà riêng từng
gia đình có khả năng tiếp cận với đường phố, đồng thời tiết kiệm hệ thống
đường kỹ thuật hạ tầng, các mặt tiền của từng lô đất có xu hướng giảm càng
ngày càng nhỏ bé khi được xây dựng tiến dần vào trung tâm thành phố Tuy
nhiên bề rộng mặt tiền không được nhỏ hơn 3,3 m Mật độ xây dựng loại nhà
này cho phép khoảng từ 60 đến 75% (kiểu nhà hàng phố) hoặc 40 đến 60%
(kiểu có sân vườn) (Hình 7 b, c)
Hình 7c Nhà liền kề
Nhà liên kế là loại hình nhà ở xuất hiện theo nhu cầu phát triển của đô thị hóa
Nhà liên kế thường có mặt tiền hẹp nhưng vẫn mang tính riêng biệt nên bố trí
không gian cần phải nghiên cứu tạo cho người sử dụng cảm giác không thấy
gò bó mà vẫn thấy thoải mái rộng rãi (Bảng 7d)
Góc nhìn của ngôi nhà chủ yếu là từ mặt trước nên thiết kế cần có sự thay đổi
không gian tạo cảm giác sinh động Do vậy sự kết hợp mặt đứng là một
phương án thiết kế hợp lý làm cho mỗi ngôi nhà không bị đơn điệu lại tạo nên
sự thống nhất đồng bộ trong khu phố
Trang 40Loại nhà Khu vực Diện tích
tối thiểu (m 2 )
Diện tích tối đa (m 2 )
Kích thước rộng x sâu (m)
Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống
công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân Nhà chung
cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung
của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư (Hình 8a,b)
Hình 8a Chung cư tại Royal City