1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình thiết kế nội thất nhà trẻ

229 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 13,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình này được chia làm 2 phần chính : phần lý thuyết và phần thực hành Phần lý thuyết - Những kiến thức cơ bản về nhà trẻ mẫu giáo - Những thành phần công năng trong nhà trẻ - Cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP

CHỦ BIÊN: THS BÙI THỊ THANH HOA

GIÁO TRÌNH

THIẾT KẾ NỘI THẤT NHÀ TRẺ

Hà Nội, 2019

Trang 2

2

LỜI MỞ ĐẦU

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,

có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Với đời sống người dân hiện nay ngày càng được nâng cao về kinh tế, cùng với những tiến bộ không ngừng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục, bậc giáo dục mầm non ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội

Trang trí nội thất trường mầm non hiện nay được chú trọng và rất quan trọng cho sự phát triển của trẻ Bởi lẽ môi trường ở trường mầm non là nhân tố quan trọng trong việc giáo dục cũng như việc hình thành các yếu tố phát triển

về cơ thể cũng như trí não của trẻ Hầu hết thời gian ban ngày của trẻ là ở trường học (chưa kể đến có những trường nội trú) trẻ ăn, ngủ, học tập, vui chơi, sinh hoạt trong môi trường đó Một môi trường cho trẻ phát triển toàn diện là một môi trường có không gian nội thất tốt, thiết kế phải đúng khoa học, tiện lợi khi sử dụng, hơn hết là phải an toàn tuyệt đối cho trẻ

Mục tiêu của học phần:

Về kiến thức:

- Thông qua các bài giảng, bài đọc và các bài tập sáng tác, đồ án này giúp cho sinh viên có năng lực sáng tạo, biểu hiện về nội dung và hình thức trong phạm vi công trình công cộng

- Đồ án tập trung nghiên cứu các công năng cơ bản trong một lớp họckhu cụ thể

Về kỹ năng:

- Hình thành trong sinh viên một số kỹ năng cơ bản cho sinh viên: Kỹ năng phân tích và giải quyết việc bố trí mặt bằng trong công trình có phạm vi nhỏ

- Kỹ năng tư duy, kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc theo nhóm

- Kỹ năng trình bày và thảo luận các vấn đề trước đám đông

Trang 3

3

Hiện nay có khá nhiều tài liệu tham khảo nói về Thiết kế nội thất nhà trẻ

tuy nhiên các tài liệu này chủ yếu phục vụ cho sinh viên chuyên ngành kiến trúc Nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu dạy và học cho chuyên ngành Thiết kế nội thất, được sự giúp đỡ của đồng nghiệp, sau khi tham khảo các tài liệu có liên quan đến Thiết kế nhà trẻ và yêu cầu thực tế của sinh viên với thời lượng cụ

thể, chúng tôi đã cố gắng rút kinh nghiệm, biên soạn giáo trình môn Thiết kế

nội thất nhà trẻ Giáo trình này được chia làm 2 phần chính : phần lý thuyết và

phần thực hành

Phần lý thuyết

- Những kiến thức cơ bản về nhà trẻ mẫu giáo

- Những thành phần công năng trong nhà trẻ

- Các yếu tố về thẩm mỹ, kỹ thuật trong không gian nhà trẻ

- Nghiên cứu những đặc điểm tâm sinh lý và nhân trắc học của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ

Phần thực hành

- Phương pháp nghiên cứu

- Quy trình thực hiện đồ án nhà trẻ

-Kế hoạch học tập cụ thể

Với mục đích tạo điều kiện cho sinh viên có tài liệu học tập, đồng thời

để nghiên cứu, tham khảo, tự học, ngoài phần kiến thức cơ bản, tác giả đã cố gắng trình bày và hướng dẫn một cách dễ hiểu, có yêu cầu từ thấp đến cao để vừa trang bị kiến thức lý thuyết, vừa hướng dẫn thực hành và ứng dụng thực tế Cách viết đan xen giữa diễn giải, trình bày thông qua các hình vẽ minh hoạ nhằm giúp sinh viên nắm bắt, thực hiện và thấy thích thú với môn học

Trong quá trình biên soạn giáo trình, tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi thiếu sót Tác giả biên soạn rất mong nhận được những ý kiến góp ý của quý vị để giáo trình được hoàn thiện hơn

Người biên soạn

Trang 4

4

MỤC LỤC

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ TRẺ 7

1.1 Khái niệm chung về nhà trẻ 7

1.2 Sự hình thành nhà trẻ - mẫu giáo 8

1.3 Phân loại nhà trẻ 14

1.3.1 Các loại hình nhà trẻ 14

1.3.2 Phân loại nhóm lớp mẫu giáo 16

1.4 Đặc điểm các loại hình nhà trẻ 17

1.4.1 Yêu cầu về khu đất xây dựng 17

1.4.2 Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng 18

1.4.3 Các yêu cầu khi thiết kế kiến trúc 19

Câu hỏi ôn tập, bài tập: 20

Tài liệu tham khảo chương 1 21

CHƯƠNG II : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG THIẾT KẾ KHÔNG GIAN NHÀ TRẺ 22

2.1 Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động của trẻ 22

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo bé 24

2.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo nhỡ 25

2.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo lớn 28

2.2 Tìm hiểu về các hình thức học tập trong nhà trẻ 29

2.2.1 Khu vực đóng vai và góc gia đình 29

2.2.2.Góc tạo hình 30

2.2.3 Góc sách thư viện 32

2.2.4 Góc lắp ráp và ghép hình 34

2.2.5 Góc thiên nhiên, góc khoa học 36

2.2.6 Góc xây dựng với các hình khối 37

Trang 5

5

2.2.7 Góc âm nhạc và vận động 39

2.2.8 Hoạt động ngoài trời 41

2.3 Tổ chức không gian trong nhà trẻ 43

2.3.1 Không gian trong nội thất 45

2.3.2 Không gian ngoài trời 58

2.4 Mối quan hệ liên hoàn trong hoạt động của nhà trẻ 62

2.4.1 Không gian vui chơi học tập trong lớp 65

2.4.2 Không gian vui chơi học tập ngoài trời 66

2.4.3.Không gian chuyển tiếp: Sảnh, hiên chơi có mái che… 66

2.4.4 Hoạt động ngoài trời 66

Câu hỏi ôn tập, bài tập 69

Tài liệu tham khảo của chương 70

CHƯƠNG 3 : YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ THẨM MỸ TRONG 71

KHÔNG GIAN NHÀ TRẺ 71

3.1 Yếu tố về kỹ thuật 71

3.1.1 Các yêu cầu kỹ thuật 71

3.1.2 Các yêu cầu về trang thiết bị 80

3.1.3 Nguyên tắc sử dụng ánh sáng 84

3.2.Yếu tố về thẩm mỹ 97

3.2.1 Các hình thức trang trí 97

3.2.2 Phương pháp sử dụng màu sắc 96

3.3 Nhân trắc học sử dụng trong không gian nhà trẻ 121

Câu hỏi ôn tập, bài tập 130

Tài liệu tham khảo của chương 130

CHƯƠNG IV : QUY TRÌNH THỰC HIỆN THIẾT KẾ NỘI THẤT131 NHÀ TRẺ 131

4.1 Nghiên cứu đề tài 131

4.1.1 Nghiên cứu đối tượng 133

Trang 6

6

4.1.2 Nghiên cứu hồ sơ kiến trúc 136

2 Nghiên cứu ý tưởng và các tài liệu liên quan 139

4.1.3 Nghiên cứu ý tưởng 139

4.2 Xây dựng phương án thiết kế 141

4.2.1 Phân tích hiện trạng 141

4.2.2 Tổ chức mặt bằng công năng theo yêu cầu thiết kế 142

4.2.3 Nghiên cứu sơ đồ công năng và không gian 143

4.2.4 Phác thảo ý tưởng 150

4.3 Triển khai thiết kế nội thất 155

4.3.1 Bảng nghiên cứu 155

4.3.2 Bố trí mặt bằng nội thất, mặt bằng trần 156

4.3.3 Vẽ chi tiết các mặt cắt 158

4.3.4 Vẽ chi tiết đồ 163

4.3.5 Các bản vẽ phối cảnh 164

4.4 Các yêu cầu của môn học 166

4.4.1 Kế hoạch học tập 166

4.4.2 Tiêu chí đánh giá thiết kế 168

Câu hỏi ôn tập, bài tập 170

Tài liệu tham khảo của chương 171

Phụ lục một số bài tham khảo của sinh viênError! Bookmark not defined. TÀI LIỆU THAM KHẢO 172

Trang 7

7

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ TRẺ

Mục tiêu của chương:

Chương 1 giới thiệu tới sinh viên những kiến thức một cách khái quát về loại hình công trình nhà trẻ (mẫu giáo, mầm non), về khái niệm nhà trẻ, quá trình hình thành và phát triển của nhà trẻ, phân loại, đặc điểm chung của nhà trẻ và các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo - nhà trẻ Từ đó sinh viên hiểu được thông tin lý thuyết khái quát nhất về loại hình công trình nhà trẻ

1.1 Khái niệm chung về nhà trẻ 1

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,

có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Với đời sống người dân hiện nay càng được nâng cao về kinh tế cũng như đời sống, cùng với những tiến bộ không ngừng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục, bậc giáo dục mầm non ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội

Nhà trẻ - trường mầm non – mẫu giáo là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, hình thức tổ chức liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, bước chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1

Nhà trẻ là đơn vị giáo dục của ngành học mầm non, có chức năng thu

nhận các cháu từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi để nuôi, dạy và chăm sóc theo phương

Thông tư số 19/2017/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo

Trang 8

8

pháp khoa học, nhằm phát triển toàn diện cho trẻ Nhà trẻ chia thành nhiều nhóm trẻ, trong nhà trẻ có thể có cả các lớp mẫu giáo Nhà trẻ do một ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách

Trường mẫu giáo là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, có

chức năng thu nhận để chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Trường mẫu giáo gồm có các lớp mẫu giáo và có thể có cả nhóm trẻ Trường do một ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách

Trường mầm non là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, là

trường được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1 Trường mầm non có các lớp mẫu giáo và các nhóm trẻ Trường do một ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách

1.2 Sự hình thành nhà trẻ

Nhà trẻ là cơ sở nuôi dạy trẻ em trước tuổi đến trường, loại hình công trình công cộng này đã có ở Châu Âu từ đầu thế kỷ XX Ở nước ta sau cách mạng tháng 8 mới hình thành Khi nền sản xuất xã hội phát triển thúc đẩy sự phát triển văn hóa giáo dục, người lao động phải tập trung làm việc trong các công xưởng, trong các cơ quan công sở thì việc nuôi dạy trẻ cần phải được xã hội quan tâm giúp đỡ Sự xuất hiện nhà trẻ mẫu giáo là phương pháp nuôi dạy mang tính khoa học cao

Nhà trẻ hay nhà giữ trẻ hay mẫu giáo, mầm non là một hình thức dịch

vụ giáo dục cho trẻ em tại một địa điểm tập trung nhất định nơi có khuôn viên nhất định, có các cô giáo hay bảo mẫu và thường được thiết kế với nhiều đồ chơi hay đồ vật dễ thương, âm nhạc vui tai Tại nhà trẻ, trẻ em được dạy để phát triển các kỹ năng cơ bản và kiến thức thông qua trò chơi sáng tạo và tương tác xã hội giữa các nhóm bạn, cũng như bài học sơ khai đầu đời

Trong hầu hết các quốc gia, trường mẫu giáo hay nhà trẻ là một phần của hệ thống giáo dục mầm non Thông thường trẻ em học mẫu giáo bất cứ lúc nào trong độ tuổi từ hai đến sáu tuổi tùy thuộc vào phong tục địa phương hay

Trang 9

Những nhà thiết kế kiến trúc trên thế giới và trong nước không ngừng sáng tạo ra những công trình loại này đã dần dần thỏa mãn được các yêu cầu về chức năng giáo dục nâng cao thể chất của trẻ, tạo điều kiện hoạt động thuận tiện cho các cô nuôi dạy trẻ Nói chung các công trình được hình thành dần bảo đảm các yêu cầu vi khí hậu, bền vững và thẩm mỹ

Việc tạo lập không gian kiến trúc nhà trẻ - mẫu giáo có cơ cấu nơi tiếp nhận, phòng ngủ, phòng học và chơi, phòng thể dục, học nhạc và các phòng cần thiết khác có sự liên hoàn với nhau Công việc xây dựng công trình cũng được mọi người quan tâm giúp đỡ, trông nom bảo vệ làm cho cảnh quan nhà trẻ luôn luôn xanh tươi và sạch đẹp Nhiều trang thiết bị mới phục vụ nhà trẻ mẫu giáo được đầu tư tạo nên màu sắc khá hiện đại

Nhà trẻ trên thế giới

Cha đẻ của trường mầm non là Freidrich Wilhelm Froebel (1782-1852) sinh trưởng tại Đức là con trai của một mục sư Ông được biết đến là ”cha đẻ” của nhà trẻ bởi ông là người thành lập nhà trẻ đầu tiên trên thế giới tại Đức vào năm 1837 Nhà trẻ của ông đi tiên phong trong việc đề ra những lý thuyết và thực hành vẫn còn hiệu lực trong các nhà trẻ hiện nay Quan điểm của ông là

Trang 10

10

trẻ cần vừa chơi vừa học Nhà trẻ là nơi để trẻ lớn lên và học mối tương tác xã hội với những trẻ khỏe mạnh Froebel bắt đầu mở một trường tập huấn giáo viên cho các nhà trẻ của ông Ông tin rằng giáo viên phải là những người hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao và họ sẽ làm tấm gương cho trẻ Ngoài ra, giáo viên dạy trẻ cũng phải là những người nhạy cảm, cởi mở và dễ gần Froebel

mở nhà trẻ cho các trẻ em thuộc mọi tầng lớp xã hội và không phân biệt giàu nghèo - một khái niệm không mấy phổ biến trong xã hội thời đó Trong trường học của Froebel, chương trình học gồm các trò chơi, bài hát, câu chuyện và vật dụng thủ công để kích thích trí tưởng tượng và phát huy các kỹ năng thể chất

và trí não của trẻ Vật dụng trong lớp học được chia làm hai thể loại: ”quà tặng” và ”nghề nghiệp” Theo đó ”quà tặng” là những vật dụng mà khi chơi trẻ

sẽ biết khái niệm về vật dụng đó Chẳng hạn, trẻ chơi xe hơi sẽ biết những tính năng của xe Trong khi đó ” nghề nghiệp” lại tập cho trẻ tính sáng tạo tự do hơn Cùng là những thứ mà trẻ có thể dựng để định hình và thao tác theo ý mình như đất, cát, dây, chuỗi hạt Khi các vật dụng này tạo ra những thứ theo

ý thích của mình, trẻ sẽ được giáo viên giải thích từng ý nghĩa Tuy nhiên, chính phủ Đức lúc bấy giờ không tán thành với quan điểm này Họ không tin rằng trẻ cần chơi để học Họ nghĩ học thuyết của Froebel quá nguy hiểm và gây hại đến trẻ Chính phủ đã cho đóng cửa các trường học vào năm 1848 Bốn năm sau, Froebel mất và ông không thể biết rằng ý tưởng nhà trẻ của ông đã tác động lớn đến một hệ thống giáo dục ở Mỹ và các nước trên thế giới này như thế nào

Năm 1779, Johann Friedrich Oberlin và Louise Scheppler thành lập tại Strasbourg một cơ sở đầu tiên để chăm sóc và giáo dục cho trẻ trong độ tuổi mầm non có bố mẹ đi vắng cả ngày Gần như cùng thời gian này, năm

1780, các cơ sở tương tự nhận giữ trẻ được mở ra tại Bavaria.Năm 1802, công chúa Pauline zur Lippe đã thành lập một trung tâm giữ trẻ tại Detmold, thủ đô của công quốc Lippe, Đức (nay thuộc bang North Rhine-Westphalia)

Năm 1816, Robert Owen, một triết gia và nhà sư phạm đã mở ngôi trường đầu tiên tại Anh và có lẽ là nhà trẻ đầu tiền trên thế giới tại New

Trang 11

11

Lanark, Scotland Việc kết hợp sự may rủi với các nhà máy xay nghiền thuộc hợp tác xã, Owen muốn những đứa trẻ được giáo dục đạo đức tốt để phù hợp với công việc Hệ thống của ông đã thành công trong việc tạo ra những đứa trẻ ngoan ngoãn với khả năng đọc viết và tính toán cơ bản Samuel Wilderspin mở nhà trẻ đầu tiên của mình tại London năm 1819, và tiếp tục thành lập thêm hàng trăm trường sau đó Ông đã xuất bản nhiều tài liệu về lĩnh vực này và công trình nghiên cứu của ông đã trở thành mô hình cho các trường mầm non trên khắp nước Anh và xa hơn nữa Hoạt động chơi là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục của Wilderspin Ông có công với việc phát minh ra sân chơi cho trẻ em Năm 1823,

Wilderspin cho xuất bản cuốn On the Importance of Educating the Infant

Poor trên nền tảng trường học Ông bắt đầu làm việc cho Infant School

Society vào năm sau để thông báo với mọi người quan điểm của mình

Ngoài ra ông còn viết cuốn sách The Infant System, for developing the

physical, intellectual, and moral powers of all children from 1 to seven years

of age

Nhà trẻ du nhập qua Mỹ: Sau cuộc cách mạng tại Đức những năm cuối thập niên 1840, nhiều người Đức di cư sang Mỹ Trong số này có cả những tầng lớp phụ nữ đã từng được huấn luyện theo hệ thống giáo dục của Froebel Chính những người này đã có công trong việc đưa hệ thống nhà trẻ còn hết sức mới mẻ vào Mỹ Nhà trẻ đầu tiên của Mỹ là dành cho những trẻ nhập cư người Đức do một phụ nữ Đức tên Marfarethe Schuz sáng lập tại Watertown Wisconsin vào năm 1853 và trường chỉ dạy bằng tiếng Đức Wiliam T.Harris, một quản lý của hệ thống trường học St Louis, là người đầu tiên tổ chức nhà trẻ thành trường công vào năm 1873 Sau đó nhà trẻ dần được mở rộng tại các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Bỉ và trước khi hệ thống nhà trẻ này lại trở nên phổ biến ở Berlin (Đức) dưới hình thức các nhà trẻ từ thiên do lệnh cấm mở nhà trẻ đó được dỡ bỏ Các nhà trẻ của Đức đều nhận được sự trợ giúp chủ yếu

từ các tổ chức tôn giáo, giáo hội cơ quan phúc lợi xã hội Kể từ đó kiểu mẫu nhà trẻ như vậy được nhân rộng khắp nơi trên thế giới Froebel đó giúp tạo ra hướng đi chính trong chương trình dạy học tại nhà trẻ trong suốt nửa cuối thế

Trang 12

12

kỷ 19 và cả về sau Nhiều trong số những sáng kiến đó vẫn còn được áp dụng trong các trường học ngày nay như học tập thông qua trò chơi, chơi và học theo nhóm, những hoạt động hướng tới mục tiêu và học ngoài trời

Thế giới ngày nay trẻ em lớn lên khác xa với những gì người ta từng biết trong thập niên trước Hiện nay do điều kiện kinh tế phát triển ở một số nước trên thế giới đã rất chú trọng tới việc xây dựng hệ thống các nhà trẻ được thiết

kế hiện đại vượt bậc, môi trường vui chơi, đồ nội thất và kiến trúc tổng thể nhà trẻ Thêm vào đó, cuốn sách còn bao gồm những minh họa và hình ảnh cho những ý tưởng vượt hỏi giới hạn của những không gian đóng hộp và giải pháp cho cha mẹ khi chơi cùng trẻ, qua đó phát triển khả năng tưởng tượng, tiếp xúc với những trò chơi mang tính tương tác và hoạt động cao mà những nhà thiết

kế tài năng và các bậc cha mẹ giàu ý tưởng đang tạo ra cho trẻ

Nhà trẻ ở Việt Nam

Ở Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, nhà trẻ mới xuất hiện Sau khi giải phóng đất nước nền kinh tế xã hội phát triển thúc đẩy phát triển văn hóa giáo dục đồng thời người lao động phải tham gia thi đua làm việc ở nhà máy, công xưởng, đồng ruộng lúc này việc nuôi dạy trẻ đòi hỏi có sự giúp đỡ của

xã hội Sự xuất hiện của nhà trẻ, mẫu giáo là một phương pháp nuôi dạy trẻ có tính khoa học và tạo điều kiện tốt cho người lao động tham gi hoạt động sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Hiện nay với sự phát triển kinh tế cao với hàng loạt chiến lược phát triển giáo dục nhà trẻ của nhà nước cũng như các tổ chức giáo dục trong và ngoài nước giáo dục nhà trẻ ở nước ta có những bước tiến bộ quan trọng Những phương pháp giáo dục tiến bộ khoa học, những cơ sở vật chất được quan tâm nên nhà trẻ ngày một phát triển mạnh mẽ

ở nước ta

Những nhà thiết kế kiến trúc trong nước đã không ngừng sáng tạo thiết

kế ra các công trình nhà trẻ hiện đại dần dần thỏa mãn được các yêu cầu về chức năng giáo dục nâng cao thể chất của trẻ, tạo điều kiện hoạt động thuận tiện cho các cô nuôi dạy trẻ Nói chung các công trình được thiết kế xây dựng dần bảo đảm cấc yêu cầu vi khí hậu, công năng sử dụng, bền vững và thẩm mỹ

Trang 13

13

Ngày nay với sự phát triển của xã hội, ở các trung tâm đô thị nhu cầu về nhà trẻ, trường mầm non ngày càng thiếu do lượng lớn các đô thị mới mọc ra, đồng thời việc các gia đình trẻ kéo nhau lên thành phố tìm việc làm dẫn đến các trẻ em ở lứa tuổi mầm non ngày càng nhiều, và cũng nhiều lứa tuổi từ 1 tuổi cho đến 6 tuổi Các nhà trẻ công lập không phát triển kịp để đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội, cũng chính vì thế mà cấc trường mầm non tư thục ngày càng nhiều và mọc lên như nấm có thể nhận thấy rõ nhất là các khu đô thị mới với các trường mầm non tư thục quy mo nhỏ với khoảng từ 3 đến 6 nhóm trẻ được mở ra rất nhiều mà vẫn không đáp ứng được nhu cầu thực tế

Ở việt nam hiện nay do nhu cầu của xã hội các các trường mầm non thu nhận các cháu từ 8 đến 12 giờ mỗi ngày và 6 ngày mỗi tuần

Mỗi trường gồm nhiều nhóm trẻ, mỗi nhóm trẻ từ 20 đến 25 cháu, các trườn nhỏ thì có từ 4 đến 6 nhóm, các trường lớn từ 7 đến 10 nhóm hoặc hơn

Hiện tại về mặt quy hoạch thì người ta phân chia thành nhà trẻ và mẫu giáo riêng Ở các khu đô thị, mỗi khu dân cư với số dân khoảng 4000 người thì

có một nhà trẻ, mẫu giáo từ 6 đến 12 nhóm ở nông thôn, trong khu công nhân viên chức thường có nhà trẻ – mẫu giáo từ 2-4 nhóm

Ở đô thị việc xây nhà trẻ được tính là 30 đến 40 cháu cho 1ooo dân, quy

mô nhà trẻ là 40 – 50 chỗ ở nông thôn số lượng trẻ bằng 50%

Ở trong các khu dân cư nhỏ khoảng cách từ nhà trẻ đến lớp khoảng 200 – 400m còn lớp mẫu giáo khoảng cách là 300 – 500m

Khoảng cách cho mỗi cơ sở chông giữ trẻ cả ngày và đêm không vượt quá giới hạn của 1 phường hoạc một khu dân cơ nhỏ trong phạm vi đường phố lớn

Các nhà trẻ phải được bố trí nằm ở vị trí trung tâm của khu, và đường từ nhà đến khu vực gửi trẻ không được cắt ngang qua các con đường giao thông lớn

Trang 14

14

Hướng nhà tốt nhất cho các nhà trẻ phụ thuộc từng vùng, song ở khu vực

Hà Nội và các vùng lân cận hướng nhà tốt nhất là hướng Nam và Đông Nam Tránh và hạn chế chon hướng Bắc và Đông Bắc

Độ cao bậu cửa nhà trẻ – mẫu giáo chỉ nên là 60cm tường rào nhà trẻ phải cách đường đi lại trong khu dân cư là 6m, vị trí xây dựng nhà trẻ là nơi thoáng mát, tranh gần các khu vực đầm lầy, ao tù nước đọng, bãi rác…xa các

cơ sở sản xuất gây ôi nhiễm

Chỉ tiêu xây dựng cho nhà trẻ – mẫu giáo thường chiếm 25% cho nhà trẻ

80 chỗ và 35% cho lại nhà trẻ trên 80 chỗ 40m2 cho nhà 100 chỗ Đối với mẫu giáo thì 35m2 cho 100 chỗ và 40m2 cho nhà trẻ mẫu giáo xây dựng chung ở một nới

Khu gửi trẻ bao gồm phần sinh hoạt trogn nhà và ngoài nhà mỗi nhóm trẻ phải có một sân chơi riêng có diện tích 100m2 cho nhóm trẻ cong mẫu giáo

là 75m2

Việc tạo lập không gian kiến trúc nhà trẻ – mẫu giáo, trường mầm non cần có các công năng cơ bản như nơi tiếp nhận, phòng ngủ, phòng học và chơi, phòng thể dục, học nhạc, hoạt động ngoài trời và các phòng cần thiết khác có sựn liên hoàn với nhau Các không gian được bố trí liên thông liên tục theo dây truyền sao cho thuận tiện dạy và học cũng như nghỉ ngơi của bé

Trang 15

15

Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập: do cơ quan Nhà

nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của trường

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập: do cộng đồng

dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục: do tổ chức xã

hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước

Theo Quyêtws định 14/2008/QĐ-BGDĐT có thể phân biệt trường mầm non công lập, dân lập và tư thục thông qua bảng so sánh dưới đây:

Tiêu chí Trường mầm non

công lập

Trường mầm non dân lập

hỗ trợ

Do tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá

nhân bảo đảm ngoài ngân sách nhà nước

Trang 16

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

huyện

Trưởng phòng giáo dục và đào tạo cấp

huyện

Trưởng phòng giáo dục và đào tạo cấp

huyện

1.3.2 Phân loại nhóm lớp nhà trẻ - mẫu giáo

Lớp học giáo dục mầm non: là một tổ chức của trường học giáo dục mầm non hoặc tổ chức độc lập gồm các học sinh cùng được nuôi dạy theo một chương trình do một hoặc nhiều giáo viên nuôi dạy nhưng có sự quản lý trực tiếp của một giáo viên chủ nhiệm Lớp giáo dục mầm non được phân thành 2

hệ : hệ nhà trẻ và hệ mẫu giáo

* Hệ nhà trẻ gồm các nhóm trẻ ở độ tuổi 3 tháng đến 3 tuổi và được

phân theo tháng tuổi quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo với trẻ em tối đa 1 nhóm quy định như sau :

Trang 17

17

* Hệ mẫu giáo gồm các lớp mẫu giáo cho trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 6

tuổi, được phân theo nhóm tuổi quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo với số trẻ em tối đa của các lớp mẫu giáo cụ thể như sau:

- Lớp trẻ từ 3 - 4 tuổi : 25 cháu

- Lớp trẻ từ 4 - 5 tuổi : 30 cháu

- Lớp trẻ từ 5 - 6 tuổi : 35 cháu

Lưu ý :

Trường mầm non, nhà trẻ phải có từ 3 nhóm trẻ,lớp mẫu giáo trở lên với

số lượng không ít hơn 50 trẻ và có không nhiều hơn 20 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo

Nếu số lượng trẻ trong mỗi nhóm, lớp không đủ 50% số trẻ tối đa thì được tổ chức thành nhóm trẻ ghép hoặc lớp mẫu giáo ghép

Đối với các trường ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, tùy điều kiện cụ thể, có thể tổ chức thêm các nhóm trẻ hoặc lớp mẫu giáo trên các địa bàn khác nhau (gọi là điểm trường)

1.4 Đặc điểm các loại hình nhà trẻ

1.4.1 Yêu cầu về khu đất xây dựng

Khu đất xây dựng nhà trẻ phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt và quy hoạch mạng lưới trường trên địa bàn

- Thuận tiện, an toàn về giao thông

- Địa thế cao, bằng phẳng, thoát nước tốt

- Đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường

- Không gần các nguồn gây ồn thường xuyên và nguồn chất thải độc hại

- Đảm bảo có nguồn cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc từ mạng lưới cung cấp chung

Trang 18

- Đối với miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa: không lớn hơn 2,0 km

Diện tích khu đất xây dựng nhà trẻ gồm: diện tích xây dựng diện tích

sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi

Khu đất xây dựng trường mầm non phải có tường bao hoặc hàng rào ngăn cách với bên ngoài, đảm bảo mỹ quan, phù hợp với cảnh quan xung quanh

1.4.2 Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng

Nhà trẻbao gồm các khối chức năng sau:

- Khối phòng nhóm trẻ, lớp mẫu giáo

- Sân chơi có đủ nắng, tạo được môi trường không gian phù hợp đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ

- Bố trí các khối công trình rõ ràng, đáp ứng nhu cầu sử dụng và quản lý, đảm bảo giao thông nội bộ an toàn và hợp lý

Diện tích sử dụng đất cần đảm bảo quy định sau:

Trang 19

19

- Diện tích xây dựng công trình: không lớn hơn 40%;

- Diện tích sân vườn, cây xanh: không nhỏ hơn 40%;

- Diện tích giao thông nội bộ: không nhỏ hơn 20%

1.4.3 Các yêu cầu khi thiết kế kiến trúc

Trường hợp sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà trường cho phép tăng diện tích xây dựng công trình nhưng phảiđược cấp có thẩm quyền phê duyệt

Nhà trẻ - mẫu giáo không nên thiết kế xây dựng lớn hơn 3 tầng Nhóm trẻ ở độ tuổi nhà trẻ nên bố trí ở tầng một Đối với trường mầm non chuyên biệt chỉ nên xây tối đa là 2 tầng

Khoảng cách giới hạn cho phép từ công trình đến chỉ giới đường đỏ và

chỉ giới xâydựng tuân thủ điều lệ quản lý quy hoạch của khu vực

Cácchỉ tiêu về quy hoạch khác phải tuân thủ quy định trong văn bản về quy hoạch xây dựng

Ở phương Tây có nhiều công trình khác nhau dành cho trẻ em trước tuổi đến trường theo điều kiện khí hậu từng mùa Còn ở Việt Nam việc thiết kế xây dựng nhà trẻ - mẫu giáo theo mẫu chung để thu nhận các cháu lưu trú không qua từ 10 - 12 giờ mỗi ngày

Nhà trẻ - mẫu giáo phải được xây dựng trên khu đất có đủ điều kiện giáo dục và bảo vệ sức khỏe trẻ em Hướng nhà tốt nhất đối với trẻ em tùy thuộc vào khí hậu của từng vùng như ở Hà Nội và các vùng lân cận thường là hướng nam và đông nam để đảm bảo thoáng mát vào mùa hè, tránh gió lạnh vào mùa đông, không nên chọn hướng bắc và đông bắc

Trong khuôn viên trường, trẻ có thể làm quen với môi trường thiên nhiên, nâng cao nhận thức và khiếu thẩm mỹ, bước đầu tập thói quen lao động tập thể, giao lưu sáng tạo ở mức độ cần thiết ”Chơi mà học, học mà chơi” Do vậy, cảnh quan sân vườn nhà trẻ mẫu giáo phải thể hiện tính giáo dục cao về nhiều mặt

Khi thiết kế nhà trẻ, quy định độ cao bậu cửa sổ là 60cm để trẻ lớn có thể nhìn qua và quan sát môi trường tự nhiên xung quanh Tường rào bảo vệ

Trang 20

20

khu nhà trẻ phải cách mé đường đi lại trong khu dân cư là 6m Vị trí xây dựng nhà trẻ phải cao ráo thoáng mát, yên tĩnh, tránh gần đầm lầy, ao tù nước đọng, bãi rác xa các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm

Khu vực gửi trẻ bao gồm phần sinh hoạt trong nhà và phần hoạt động ngoài nhà Phần hoạt động ngoài nhà cần có sân chơi và cây xanh những trang thiết bị trò chơi như đu quay, cầu trượt , các hoạt động của trẻ trên sân chơi như trò chơi giao thông an toàn, ca múa Sân chơi của nhóm trẻ nên phân bố ở gần lối ra vào của khu vực không cho phép người qua lại Những sân chơi này nên rào quanh bằng cây có bóng mát, tùy theo lứa tuổi để thiết kế khác nhau phục vụ vui chơi giải trí và học tập Ngoài sân chơi cho trẻ, nên bố trí các khu vực chức năng khác ở không gian ngoại thất như : sân tập thể dục (chỉ tiêu diện tích 3m2 cho mỗi em), vườn rau nên phân bố ở sân trong (chỉ tiêu diện tích 1m2 cho mỗi em), góc nuôi chim nên đặt cạnh vườn cây (không quá 20m2) Các sân chơi, mọi góc vườn đều được nối với nhau bằng các con đường nhỏ từ

1 - 1,5m Một trong những con đường này chạy vòng khép kín để trẻ có thể đi chơi bằng xe đạp hoặc bằng ô tô con

Ở phía trước trường học nên để một khoảng trống tiếp giáp con đường liên hệ với phố phường, xung quanh khu vực nên có một vành đai cây xanh và cách phố xá chừng 5 - 10m Ngoài ra trong khu vực trồng cây, nên trồng những cây lớn, còn ở gần khu vực lớp học nên trồng những cây nhỏ, những hàng rào cây xanh cắt ngắn, khóm hoa, thảm cỏ, những cây ăn quả Nên tránh trồng những loại cây dễ dàng tạo điều kiện thu hút sinh trưởng của côn trùng

Câu hỏi ôn tập, bài tập:

Trang 21

21

Câu 4 : Anh (chị) hãy phân tích rõ các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em

các lứa tuổi: 3 - 4 tuổi, 4 - 5 tuổi, 5 - 6 tuổi

Bài tập

Bài tập số 1:Sinh viên chọn 1 loại hình nhà trẻ và tình 03 công trình

thiết kế nhà trẻ liên quan đến loại hình đã chọn, có hình ảnh và thuyết minh,

giới thiệu công trình gồm:

- Tên công trình

- Kiến trúc sư thiết kế kiến trúc

- Ý tưởng thiết kế

- Ý tưởng về phân chia công năng, không gian trong công trình

- Các giải pháp xử lý thiết kế chi tiết, phân tích rõ ưu nhược điểm của công trình

- Giới thiệu cụ thể về các thiết kế nội thất của công trình Mỗi công trình thể hiện trên 1 tờ A3 có tên SV đầy đủ

Bài tập số 2 : sinh viên chọn 01 đối tượng thiết kế cụ thể (độ tuổi của

trẻ) phân tích rõ các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em lứa tuổi đó Vẽ sơ đồ thể hiện thời gian biểu hoạt động trong 1 ngày của trẻ em độ tuổi đó

Tài liệu tham khảo chương 1

1 Nguyễn Đức Thiềm, Kiến trúc cơ sở, Nxb Xây dựng, Hà Nội –

Trang 22

22

CHƯƠNG II : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG THIẾT KẾ

KHÔNG GIAN NHÀ TRẺ

Mục tiêu của chương :

Chương 2 cung cấp cho sinh viên những kiến thức về các không gian chức năng có trong nội thất nhà trẻ Từ đó đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể của từng không gian, các yêu cầu cần đạt được khi thiết kế nội thất cho các không gian đó cụ thể như sau:

- Sinh viên nắm được những vấn đề cơ bản trong thiết kế nội thất nhà trẻ : tổ chức không gian, công năng, dây chuyền hoạt động

- Hiểu biết các kích thước nhân trắc học của trẻ em và kích thước quy chuẩn cho các hoạt động riêng biệt

- Hiểu rõ những yêu cầu chung về phương pháp trang trí trong không gian nội thất và cách thiết kế trang thiết bị

2.1 Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động của trẻ

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi nhà trẻ (13 - 36 tháng tuổi)

Trẻ bắt đầu biết đi, trẻ đã có thể thăm dò môi trường xung quanh

một cách tíchcực Từ tháng thứ 15-18 trẻ đi đứng vững vàng, tầm nhìn

được mở rộng và đôi tay được giải phóng Đôi tay bắt đầu biết sử dụng nhiều công cụ thông thường trong nhà như thìa, cốc, bát Và dần dần trẻ hiểu được công dụng của các công cụ Bàn tay và các ngón tay ngày càng khéo léo trong việc sử dụng các công cụ Tuy nhiên, phối hợp các động tác chưa thành thục nên còn một số động tác thừa trong hành động

Biết đi là một điều kiện cơ bản giúp trẻ giao tiếp chủ động và rộng hơn.Trẻ bắt đầu tách xa mẹ nhưng khi trẻ mệt hoặc sợ hãi thì nó lại quay

về với mẹ Quá trình lớn lên cùng với thời gian, khoảng cách xa mẹ sẽ tăng dần và trẻ không thấy khó chịu

Trang 23

23

Từ tháng thứ 12-15, trẻ bắt đầu biết nói Ngôn ngữ được sử dụng thuần thục dần dần Đây là một đặc điểm rất quan trọng, qua lời nói trẻ hiểu được ý đồ và thái độ người khác, dần dần hình thành những biểu tượng về các sự vật Khi không có đồ vật, nói tên trẻ cũng hiểu được

Khi ngôn ngữ phát triển, trẻ không chỉ tiếp xúc với sự vật qua cảm giác và vận động, mà còn qua ngôn ngữ Giao tiếp bằng ngôn ngữ dần dần thay thế cho giao tiếp bằng vận động và sự giao tiếp với cha mẹ và nhóm trẻ sẽ giúp trẻ ngày càng phát triển quá trình giao tiếp

Hoạt động tư duy phát triển song song với hoạt động cảm giác và vận động Tuy nhiên, tư duy còn gắn chặt với những vận động, chưa tách biệt được thế giới sự vật với tư duy Tư duy chưa mang tính logic Tư duy mang tính tự coi mình là trung tâm (egocentric) Ví dụ, trẻ 3 tuổi trò chuyện với nhau Thoạt tưởng chúng trao đổi với nhau, nhưng khi quan sát thì mỗi đứa nói một câu chuyện như chỉ nói cho mình nghe, không đếm xỉa đến hành động hay ý nghĩ của đứa khác Jean Piaget gọi đó là những độc thoại tập thể

Lứa tuổi này, trẻ tự coi mình là trung tâm trong thế giới của mình, nên trong ý nghĩ, tình cảm chỉ biết có mình, không quan tâm đến thực tế Ví

dụ trẻ đòi thì muốn có ngay, không chịu chia sẻ với người khác, không thỏa mãn thì la khóc Lứa tuổi này, đứa trẻ vẫn gắn bó với bố - mẹ và anh chị em

là chủ yếu

Thời kỳ này, trẻ bắt đầu cố gắng tự lập Trẻ có thể tự đi, nói, tự sử dụng toilet, tự ăn uống Sự tự kiểm soát bản thân cũng bắt đầu phát triển Trẻ bắt đầu tự khám phá, trải nghiệm, sẽ có nguy cơ mắc phải lỗi khi cố gắng tìm kiếm thăm dò những điều mới lạ Nếu người chăm sóc biết khuyến khích trẻ, trẻ sẽ trở nên tự chủ, tự tin Nếu người chăm sóc quá bao bọc bảo vệ trẻ hoặc phản đối các hành động độc lập của trẻ sẽ khiến cho trẻ nghi ngờ khả năng của mình, cảm thấy xấu hổ với mong muốn được độc lập của mình

Trang 24

24

Sư tự chủ của trẻ trong giai đoạn tuổi nhà trẻ này được phát triển sẽ

giúp cho sự giải quyết thành công các vấn đề trong tương lai sau này Vì vậy cha mẹ cần đặt ra cho trẻ một số yêu cầu, khuyến khích trẻ tự thực hiện, đặc biệt là việc luyện cho trẻ thói quen về đại tiện, tiểu tiện và tắm rửa, đồng thời cũng nên hạn chế bớt hoạt động thăm dò nguy hiểm Ví dụ, không nên cho trẻ nghịch lửa, chạy ra ngoài đường, ném bát đũa xuống nền nhà

Trẻ thường không chấp nhận bị hạn chế như vậy và thường hờn dỗi Hiện tượng này bắt đầu xuất hiện trong năm thứ 02, khi trẻ đòi cái gì mà không được đáp ứng Một số bà mẹ chưa có kinh nghiệm có thể lo ngại khi con mình đang ngoan bỗng nhiên lại có những kiểu hờn dỗi như kêu la, đấm đá và vùng vẫy chân tay

Tuy nhiên các kiểu hờn dỗi như vậy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và dần dần trẻ biết chấp nhận những gì bố mẹ và người khác không cho chúng làm Quá trình thuận lợi hơn nhiều, nếu cha mẹ và đứa trẻ có được quan hệ thương yêu vững chắc

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo bé

Cuối tuổi ấu nhi, ở trẻ xuất hiện một mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang phát triển mạnh và một bên là khả năng còn quá non yếu của trẻ

a Sự phát triển quá trình nhận thức của trẻ mẫu giáo bé

* Tri giác:

+ Ở độ tuổi này đã làm chủ được tri giác của mình, dưới sự hướng dẫn bằng lời của người lớn trẻ đã biết quan sát nhất là những đồ vật quen thuộc

+ Trong quan sát trẻ rất tò mò, ham hiểu biết, hay đặt câu hỏi

+ Tính đúng đắn trong việc phân biệt màu sắc, kích thước cao hơn

* Trí nhớ:

Trang 25

+ Nhận lại và nhớ lại: Trẻ dễ nhận lại, nhớ lại các thao tác, hành vi, ngôn ngữ Trẻ nhớ nhanh, đúng những sự kiện, đồ vật gắn với cảm xúc, hành động

+ Tư duy của trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc

+ Ở giai đoạn này tư duy của trẻ chủ yếu là tư duy hành động - trực quan, đồng thời phát triển tư duy hình ảnh - trực quan, mầm móng tư duy từ ngữ - lôgic xuất hiện

* Tưởng tượng:

+ Đến lứa tuổi này tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh cả về dạng loại

và các mức độ phong phú của hình ảnh tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm tích luỹ được ở lứa tuổi này

+ Trẻ bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ định và tưởng tượng sáng tạo

+ Ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển

2.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo nhỡ

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi của trẻ đã phát triển mạnh Nhưng chỉ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý

Trang 26

26

nghĩa của nó nhất Có thể nói rằng hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ

và mẫu giáo lớn phát triển tới mức hoàn thiện, được thể hiện ở những đặc điểm sau đây:

+ Trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ động

+ Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do có ít nhiều vốn sống nhờ tiếp xúc hằng ngày với thế giới đồ vật, giao tiếp rộng rãi với những người xung quanh tạo điều kiện cho trẻ tự do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảng hiện thực mà mình quan tâm

+ Trong việc lựa chọn bạn cùng chơi: Vào cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn, cá tính của trẻ đã bắt đầu bộc lộ rõ rệt, mỗi em có mỗi tính, mỗi nết Do đó trẻ cần phải lựa chọn bạn "tâm đầu ý hợp" với mình

+ Trong việc tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và tự do rút

ra khỏi những trò chơi mà mình đã chán: Khi tự nguyện tham gia vào các cuộc chơi thì trẻ chơi một cách say sưa, chơi hết mình, nhưng khi đã chán thì cũng

+ Một số quan hệ không gian và thời gian được trẻ trẻ tri giác hơn trong tầm nhìn, nghe của trẻ

+ Khả năng quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng đồ vật

mà cả các chi tiết, dấu hiệu thuộc tính, màu sắc

+ Bắt đầu xuất hiện khả năng kiểm tra độ chính xác của tri giác bằng cách hành động thao tác lắp ráp, vặn mở phù hợp với nhiệm vụ yêu cầu Các loại tri giác nhìn, nghe, sờ mó phát triển ở độ tinh nhạy

Trang 27

27

+ Việc tổ chức tri giác, hướng dẫn quan sát, nhận xét của cô giáo, cha

mẹ giúp trẻ phát triển tính mục đích, kế hoạch

+ Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác nhau và tốc độ phát triển rất nhanh

Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình ở trẻ

+ Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy trừu tượng

Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 - 5 tuổi:

+ Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4 đến 5 tuổi trong hoạt động

tư duy của trẻ

Trang 28

2.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo lớn

Sự phát triển các quá trình nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn.Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự nối tiếp sự phát

triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi

Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa

Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:

- Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh

mà ngay cả từ ngữ

- Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn

- Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư

- Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ

xã hội

Trang 29

2.2 Tìm hiểu về các hình thức học tập trong nhà trẻ

( Dựa theo Trung Tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình

giáo dục mầm non)

2.2.1 Khu vực đóng vai và góc gia đình

Khu vực đóng vai là nơi trẻ tổ chức chơi các trò chơi giả bộ, đóng vai Trẻ rất thích chơi ở góc gia đình và tìm thấy ở dây sự liên kết giữa gia đình và lớp học, trẻ được tự do suy nghĩ liên tưởng và đóng các vai: bác sĩ , giáo viên, cha mẹ, em bé, nhà vua… Trẻ khám phá tìm hiểu các vai mà trẻ đóng Khu chơi đóng vai thể hiện nét văn hóa cộng đồng và gia đình

Góc gia đình cần không gian rộng và cố định nên có thể bố trí ở trong lớp hoặc ngoài sân Ở đó đặt một ngôi nhà, cửa hàng, bệnh viện…( bằng các giá thấp và tủ quần áo)…Trẻ thường mở rộng phạm vi chơi các khu vực khác trong lớp khi chúng đi mua hàng, đi làm hoặc đi thăm bạn, đồ đạc có thể mua sẳn hoặc làm từ bìa cứng, các mẫu gỗ sẽ làm tủ lạnh, bếp điện, ngoài ra còn có các đồ khác như bếp, bàn ghế…

Những kĩ năng trẻ học được ở góc đóng vai và góc gia đình

+ Kĩ năng sáng tạo: Trẻ tưởng tưởng tượng mình là người khác , gán cho

đồ vật những đặc tính khác như coi hộp giấy là ôtô, coi những mẫu giấy là tiền…

+ Kĩ năng giao tiếp: Trẻ nói chuyện trong khi chơi với bạn , lắng nghe bạn nói , bắt chước bạn, học được những từ mới

Trang 30

30

+ Kĩ năng xã hội: Trẻ dọn dẹp sau khi chơi, học cách cư xử

+ Kĩ năng nhận thức: Trẻ nhận biết các qui tắc trong cuộc sống, học cách làmbánh ,hiểu được ràng trong xã hội có nhiều nghề khác nhau

+ Kĩ năng về cảm xúc: Trẻ nhận biết cảm xúc của người khác biểu lộ cảm xúc của bản thân

+ Kĩ năng vận động tinh: Trẻ sử dụng các dụng cụ nấu ăn, chải đầu, soi gương, rót nước , cho búp bê ăn

+ Kĩ năng vận động thô: Trẻ đi lại, dọn dẹp góc chơi

Hình 2.1 : Khu vực đóng vai và góc gia đình trong nhà trẻ (nguồn:

internet)

2.2.2.Góc tạo hình

Tạo hình là hoạt động nghệ thuật luôn được trẻ ưa thích, tạo cơ hội cho trẻ thử nghiệm, sáng tạo, khám phá mới , thích thú, tiếp nhận cảm xúc

Trang 31

31

Thực tế khu vực này gồm các góc nhỏ, cung cấp cho trẻ những vật liệu

và cơ hội hoạt động khác nhau, chẳng hạn như vẽ bằng ngón tay, vẽ bằng bút màu, bút dạ, tô màu, nặn, xây dựng, cắt dán in

Hằng ngày trẻ cần lựa chọn phương tiện thể hiện tùy theo ý muốn, trong hoạt động tạo hình, trong hoạt động tạo hình, tiến trình hoạt động của trẻ quan trọng hơn kết quả, giáo viên không nên hướng trẻ làm theo ý mình hoặc làm hỗ trợ, các vật liệu được để trên bàn hoặc trong các giá thấp cho trẻ dễ lấy, những chiếc kéo đặt trong hộp giấy hoặc cốc nhựa to

Các hoạt động tạo hình được tiến hành trên các bề mặt như bàn, tường giá vẽ, trên sàn nhà và hành lang hoặc lối đi giữa các phòng, bàn vẽ nên bố trí gần nguồn nước, nên phủ khăn nilon trên bàn cho trẻ chơi với đất nặn hoặc các vật liệu dễ bôi bẩn

Hình 2.2: Góc tạo hình trong nhà trẻ (nguồn: internet) Những kĩ năng trẻ học được trong hoạt đông tạo hình

+ Kĩ năng sáng tạo: Vẽ cắt dán bằng sự tưởng tượng của chính mình, nặn những đồ vật hoặc người bằng đất sét và dựng nên trò chơi đóng vai

Trang 32

+ Kĩ năng xã hội: Một số quy tắc khi rửa tay, thu dọn đồ dùng khi vẽ, nặn xong; chia sẽ đồ dùng với bạn…

+ Kĩ năng giao tiếp: Trò chuyện, trao đổi với nhau khi vẽ, trẻ miêu tả, kể

về cái trẻ đang vẽ cho bạn nghe…

+ Kĩ năng vận động tinh: học cách cầm bút vẽ, cắt bằng kéo, sử dụng hồ dán, băng dính…

+ Kĩ năng vận động thô: nhào nặn đất sét, xếp bàn ghế, đem sản phẩm lên trưng bày

2.2.3 Góc sách thư viện

Sách truyện là phần quan trọng của đời sống trẻ thơ Xem sách, nghe đọc truyện là một hoạt động thú vị đối với trẻ, góc sách truyện thường đặt xa những nơi dễ gây phân tán hoặc các hoạt động khác trong phòng Ở góc này, ít nhất có một giá sách (lại giá hình chữ A bày sách hai bên hoặc loại giá một bên) ít nhất có một bàn và một số ghế Nếu phòng nhỏ, có thể thay bàn ghế bằng đệm, gối hay các miếng thảm, chiếu

Các loại sách cho trẻ bày trên bàn và các giá sách, để trẻ dễ nhìn và sử dụng, ngoài các sách dành cho trẻ em, có thể bổ sung những bộ sưu tập (các loại hạt, các loại hoa, các loại ôtô hay đồ chơi ), tạp chí mới, từ điển bách khoa toàn thư, có tranh ảnh, trẻ thích chơi tìm các tranh ảnh, hoặc đoán nhận, đặt tên hay mô tả các đồ vật đồ chơi trong tranh Thỉnh thỏang giáo viên thay đổi sách

để gây hứng thú đọc sách cho trẻ, không nên bày lên giá những cuốn sách quá

cũ hay rách nát

Trang 33

33

Ở góc thư viện có thể đặt cát sét, băng nhạc, bài hát và băng ghi cô kể truyện cho trẻ nghe trong khi trẻ lật sách vở, cô và trẻ có thể làm các minh họa chuyện kể dán lên bảng nỉ

Những kĩ năng trẻ học được trong họat động với sách và truyện

+ Kĩ năng đọc sớm: nhận biết các kí hiệu chữ viết có ý nghĩa, quy luật đọc sách (từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, từ trang đầu dến trang cuối), sự liên tục của câu chuyện

+ Kĩ năng vận động tinh: mở sách, lật từng trang, chỉ theo tranh hoặc dòng chữ

+ Kĩ năng giao tiếp: Lắng nghe cô hoặc các bạn kể, bắt chước những từ hoặc câu nói trong truyện, trẻ tự kể lại hoặc trả lời câu hỏi trong truyện, học từ mới

+ Kĩ năng nhận thức: Nhớ cốt truyện và kể lại, dự đóan những chuyện gì

có thể xảy ra tiếp theo, giải quyết vấn đề nảy sinh trong câu chuyện, liên hệ câu chuyện với những kinh nghiệm khác

Trang 34

Trẻ có thể tìm thấy ở đây các bàn đục lỗ, các khối lồng vào nhau, các trò chơi trên bàn, đồ chơi ghép hình, các loại trang thiết bị khác, để rèn luyện các

cơ nhỏ Mục đích của khu vực này là để phát triển sự phối hợp cơ mặt - bàn tay các kĩ năng phân biệt thị giác thính giác, đồng thời giúp trẻ phát triển sự chú ý, ghi nhớ, các khái niệm, các kĩ năng ngôn ngữ

Khu này cần có đồ chơi ghép hình bằng gỗ, các bản có lỗ chơi gắm vào

lỗ, các bộ xây dựng, các khối bằng nhựa nhỏ, bộ đồ sữa chữa, các bộ xếp chồng lên nhau Đồng thời cần một số bộ lô tô ghép hình

Trang 35

35

Các loại vật liệu để phân loại, sắp xếp cũng cần có cho trẻ chơi, các đồ vật để xâu chỉ như các hạt có lỗ, các đinh ốc không rỉ, các nút chai đục lỗ, các dây giày hoặc sợi chỉ, sợi len để sâu Các trò chơi trên bàn cung cấp sự trải nghiệm và học động tác trong nhóm

Cách bố trí các đồ chơi và các đồ vật khác cũng rất quan trọng , giúp trẻ

dễ dàng lựa chọn Nếu các giỏ đồ chơi để trên giá hoặc xếp chồng lên nhau sẽ rất khó khăn cho trẻ lựa chọn Mỗi lần chơi, giáo viên nên bày một ít các đồ vật, đồ chơi, đặt lên bàn hoặc lên ngăn thấp của giá trưng bày Không nên đưa các thứ ra cho trẻ chơi cùng một lúc

Những kĩ năng trẻ học được ở góc ghép hình và lắp ráp :

+ Kĩ năng sáng tạo:Vận dụng ý tưởng để lắp ráp các sản phẩm ô tô, máy bay, trường học, các hình dáng khác nhau…

+ Kĩ năng nhận thức: Học cách sử dụng hình dáng các khối lắp ráp để xây dựng các góc tích hợp, khớp với nhau về màu sắc, kích thước, nhận biết rằng các bộ phận riêng rẽ có khả năng tạo thành sản phẩm có ý nghĩa

+ Kĩ năng vận động tinh: Xâu hạt bằng sợi dây, lắp ráp các hình, vặn ốc + Kĩ năng giao tiếp, xã hội: Lắng nghe trao đổi, đề nghị bạn bạn giúp đỡ chia sẽ đồ chơi, hợp tá, giúp bạn, có thói quen chơi xong cất dọn ngăn nắp

+ Kĩ năng về cảm xúc: Tự hào về khối lắp ráp đã làm được , ý thức được

Trang 36

36

sự thành công

Hình 2.4: Góc lắp ráp và ghép hình (nguồn: internet)

2.2.5 Góc thiên nhiên, góc khoa học

Trẻ nhỏ rất thích tìm hiểu môi trường xung quanh, đặc biệt là thích chăm sóc cây cối, con vật nuôi và theo dõi xem chúng lớn lên như thế nào?

Khi chơi, trẻ khám phá sự đa dạng của động vật, thực vật và các vật liệu thiên nhiên, từ đó, hình thành ở trẻ thái độ tôn trọng và có trách nhiệm với sự vật xung quanh mình

+ Trong góc hoặc ngoài hiên có thể đặt các loại cân và quả cân cho trẻ thử nghiệm sự thăng bằng, các loại hạt để trồng và theo dõi sự nảy mầm, các con vật để chăm sóc hằng ngày và quan sát sự thay đổi của chúng

+ Khu nuôi thỏ, gà, chim cùng các chậu hoa, cây cảnh, thảm cỏ

+ Khu chơi cát, nước bên trong lớp học có thể đặt gần nguồn nước, các loại khác như rổ, đĩa bát nhựa, thìa, các loại vỏ trai ốc, phễu cho trẻ chơi với nước Khi trẻ giảm hứng thú, giáo viên có thể bổ sung thêm trò chơi thổi bong bóng xà phòng hoặc làm thí nghiệm nhuộm màu nước

+ Cát có thể đặt vào khay để trên bàn, hoặc đặt trong hố cát, chậu cát Trẻ có thể chơi với cát khô hoặc đổ nước vào để xây dựng Có thể cung cấp thêm các miếng gỗ, cành cây, đồ chơi hình người, con vật, ôtô, bộ đồ chơi gia đình cho trẻ chơi với cát.Các hoạt động trên có thể diễn ra trong lớp học ở ngoài sân vườn

Trang 37

2.2.6 Góc xây dựng với các hình khối

Trang 38

38

Các hình dạng khối tạo cơ hội cho trẻ xếp hình, xây dựng theo óc sáng tạo, và theo ý thích của mình Xếp khối có thể thực hiện trong lớp, ngoài sân hoặc các không gian phụ

Hình 2.6: Góc xây dựng với các hình khối(nguồn: internet)

Các hình khối cần thiết cho mọi lứa tuổi Mỗi lớp cần có các khối to ,nhỏ, các khối sơn màu ,các khối bằng vỏ hộp giấy các loại (hộp bia, hộp ti vi, hộp đựng đài, hộp giấy hàng), các khối xốp Những khối lớn có thể xây được những căn nhà, cầu, ôtô và để ngăn những chổ chơi riêng theo ý thích của trẻ Các đồ chơi bổ sung để chơi với các hình khối như kí hiệu giao thông, các con

Trang 39

39

vật, ô tô, máy bay, búp bê… Tốt nhất giáo viên nên để các khối các vật liệu khác trên giá mở, trên sàn nhà để trẻ dễ dàng lấy ra và cất đi

Các kĩ năng trẻ học được ở góc xây dựng

+ Kĩ năng giao tiếp: Yêu cầu bạn khác đưa cho các khối để xếp, thỏa thuận với bạn, lắng nghe ý kiến bạn, miêu tả tòa nhà mình xây dựng

+ Kĩ năng nhận thức: phân loại theo kích thước, hình dáng, màu sắc, cách xây dựng sao cho không đổ, học các khái niệm như kích thước, hình dáng, chiều cao, trọng lượng, số lượng

+ Kĩ năng sáng tạo: tự xây những ngôi nhà chúng vừa xây, trang trí ngôi nhà theo ý thích

+ Kĩ năng xã hội: cộng tác, chia sẽ các khối, thảo luận kế hoạch cùng nhau xây, tôn trọng lắng nghe ý kiến bạn

+ Kĩ năng vận đông thô: đi lại, khiêng vác, xếp các khối lớn, bò trườn + Kĩ năng vận động tinh: trang trí nhà, nhặt các đồ vật nhỏ

+ Kĩ năng về cảm xúc: tự hào khi xây xong ngôi nhà, cảm nhận cái đẹp khi trang trí, chia sẽ niềm vui với bạn

2.2.7 Góc âm nhạc và vận động

Âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong chương trình mẫu giáo Đây là một hoạt đọng vui vẻ, giải trí kích thích vận động tay chân và được trẻ rất yêu thích

Âm nhạc cũng tạo nhiều cơ hội cho trẻ học được nhiều kĩ năng Trẻ có thể thưởng thức âm nhạc một mình hay cùng với các bạn Giáo viên nên bố trí góc âm nhạc ở nơi yên tĩnh, cách xa các góc khác Ở góc âm nhạc có thể để cát xét, băng…Trẻ có thể nghe nhạc, nghe các bài hát mẫu giáo và chơi với các nhạc cụ…

Ngày đăng: 06/06/2020, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w