Kỹ thuật thủy canh cây cà chua
Trang 1Nói đến công dụng của rau quả ta không thể bỏ qua công dụng của cà chua Đó là mộtloại quả mọng, khi chín có màu đỏ Màu đỏ của cà chua cho thấy hàm lượng vitamin rấtcao, trung bình 100g cà chua chín tươi sẽ đáp ứng 13% nhu cầu hàng ngày về vitamin A,B6, C Ngoài các vitamin B1, B2, cà chua còn rất giàu các chất vi lượng như Ca, Fe, K, P,
Mg, Ni, Co, I, các acid hữu cơ… Chính vì thế mà cà chua được xem là một thực phẩmgiàu chất dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng của cơ thể Sắc tố lycopen trong cà chua,cùng với βkcaroten được xem là những chất chống oxy hoá cao, vừa ngăn chặn tế bào ungthư, vừa chống sự hình thành các cục máu đông trong thành mạch máu Lycopen có tácdụng chống thoái hoá hoàng điểm, giảm mù loà
Với những lợi ích của cà chua nêu trên nên em đã chọn đề tài “Thuỷ canh cây cà chua”, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cà chua Vì phương pháp này không cần
dùng chế phẩm thuốc trừ sâu bệnh nên không ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng,không làm thoái hoá đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường
Trang 2Phần I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Giới thiệu chung về thuỷ canh
1.1.1 Khái niệm [1] [11]
Thuỷ canh (Hydroponics) là kỹ thuật trồng cây không dùng đất mà trồng trực tiếp vào
môi trường dinh dưỡng hoặc giá thể mà không phải là đất Các giá thể có thể là cát, trấu,
vỏ sơ dừa, than bùn, vermiculite perlite…
Kỹ thuật thuỷ canh là một trong những nghề làm vườn hiện đại, chọn môi trường tựnhiên cần thiết cho cây phát triển, là chọn lựa sử dụng những chất thích hợp cho sự sinhtrưởng và phát triển của cây, tránh được sự phát triển của côn trùng, cỏ dại, bệnh tật từđất
* Lợi ích của kỹ thuật trồng thuỷ canh [3].[10]
k Có khả năng thích nghi dễ dàng với các điều kiện trồng khác nhau Do đặc tínhkhông cần đất, chỉ cần không gian để đặt hệ thống Do đó ta có thể tiến hành trồng ởnhiều vị trí, địa hình khác nhau như hải đảo, vùng núi xa sôi, hay trên tầng thượng, bancông, hiên nhà, sau nhà,…
k Giải phóng một lượng sức lao động Do không phải làm đất, cày bừa, nhổ cỏ,tướinước,… Việc chuẩn bị cho hệ thống trồng thuỷ canh không đòi hỏi lao động nặng nhọc,người già, trẻ em, người khuyết tật đều có thể tham gia hiệu quả
k Năng suất cao Vì có thể trồng nhiều vụ trong năm, ít bị ảnh hưởng bởi hiện tượngtrái mùa như phương pháp trồng thông thường Ngoài ra thuỷ canh còn cho phép trồngliên tục, trồng gối đầu (có thể chuẩn bị cây giống cho vụ sau khi đang trồng vụ hiện tại)nên năng suất tổng cộng trong năm cao gấp nhiều lần so với trồng thông thường Hệthống nhà lưới giúp hạn chế hầu như tối đa sâu bệnh gây hại thông thường trong mùa tráivụ
k Sản phẩm hoàn toàn sạch, phẩm chất cao Do chủ động hoàn toàn về chất dinhdưỡng cung cấp cho rau nên chất lượng rau đạt mức gần như tối ưu, cho phẩm chất rautươi ngon, nhiều dinh dưỡng Ngoài ra, phương pháp thuỷ canh được trồng chủ yếu trong
hệ thống nhà lưới, nhà kính nên tránh được các tác nhân gây bệnh được sinh ra bởi côntrùng sâu bọ Vì vậy, ở đây hầu như rất ít sử dụng thuốc trừ sâu và hoá chất độc hại khác,không tích luỹ chất độc, không gây ô nhiễm môi trường Một khuynh hướng khác đang
Trang 3được các nhà vườn chuyên trồng thuỷ canh rau ưu ái lựa chọn, là việc sử dụng các thuốctrừ sâu có nguồn gốc thảo mộc, sinh học, vi sinh… Đây là các loại thuốc có tính thânthiện với môi trường, ít gây độc với con người, đặc biệt là khả năng phân huỷ khá nhanh,nên ít để lại dư lượng trong sản phẩm.
* Hạn chế của kỹ thuật thuỷ canh [3].[10]
k Chi phí đầu tư cho hệ thống cao
k Hiện nay thuỷ canh chỉ mới có thể áp dụng hiệu quả cho các loại cây rau quả, hoangắn ngày
k Sâu hại và dịch bệnh có thể lây lan một cách nhanh chóng
k Do công nghệ thuỷ canh cây trồng chưa được nghiên cứu, chuyển đổi phù hợp vớiđiều kiện Việt Nam, nên hiện nay giá thành sản xuất còn khá cao
k Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên các loại sâu bệnh hại cây trồng phát triểnmạnh Mùa mưa bão cũng là vấn đề lớn đối với việc bảo vệ cây trồng thuỷ canh
1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu
k Năm 1699, John Woodward (người Anh) đã thí nghiệm trồng cây trong nước cóchứa các loại đất khác nhau [6]
k Những năm 60 của thế kỷ 19 Sachs & Knop (Đức) đã sản xuất ra các dung dịch đểnuôi cây [7]
k Trong những năm 30 của thế kỷ 20 TS.W.F.Gerick (California) đã phổ biến rộng rãithuỷ canh ở nước Mỹ Những nông trại thuỷ canh di động đã cung cấp thực phẩm rau tươicho lính Mỹ trong suốt thời gian chiến tranh quân sự tại Nam Thái Bình Dương [8]
Trong số đó trong trang trại lớn nhất thì trồng cho mục đích kinh doanh như hoa CẩmChướng, Layon, Cúc…[2]
Trang 4Ngoài ra còn có các cơ sở trồng thuỷ canh hoa ở Đức, Ý, Thụy Điển… [8]
Đa phần ở các nước Châu Mỹ latinh trồng thực phẩm phục vụ cho lương thực là chủyếu
Nhật Bản đẩy nhanh kỹ thuật thuỷ canh để sản xuất rau sạch An toàn thực phẩm làmột trong những vấn đề mà người Nhật quan tâm, họ luôn lo ngại thuốc trừ sâu, các hoáchất phụ gia nông nghiệp Hơn nữa vì diện tích canh tác hẹp nên kiểu trồng thuỷ canh nàylại đáp ứng nhanh nhu cầu cho tinh thần và đời sống người Nhật Bản [1]
1.1.2.2 Ở trong nước [1]
Việc nuôi trồng thuỷ canh đã được biết đến từ khá lâu, nhưng chưa được nghiên cứu
có hệ thống và được ứng dụng để trồng cây các loại cây cảnh nhiều hơn
Từ năm 1993, GS.Lê Đình Lươngkkhoa sinh học ĐHQG Hà Nội phối hợp với tổngnghiên cứu và triển khai HôngKông đã tiến hành nghiên cứu toàn diện các khía cạnh khoahọc xã hội cho việc chuyển giao công nghệ và phát triển thuỷ canh ở Việt Nam
Đến tháng 10/1995 mạng lưới nghiên cứu và triển khai được phát triển ở Hà Nội, Tp
Hồ Chí Minh, Côn Đảo, sở khoa học một số tỉnh thành Công ty Gold Garden & Gino,nhóm sinh viên ĐH Khoa Học Tự Nhiên Tp.Hồ Chí Minh với phương pháp thuỷ canhmột số loại rau thông dụng: cải xanh, xà lách, cải ngọt… phân viện công nghệ sau thuhoạch Viện sinh học nhiệt đới cũng nghiên cứu và sản xuất Nội dung chủ yếu là:
+ Thiết kế và phối hợp sản xuất thử các vật liệu dùng trồng thuỷ canh
+ Nghiên cứu trồng các loại cây khác nhau, cấy truyền từ nuôi cấy mô vào hệthống thuỷ canh trước khi đưa vào đất một số cây ăn quả khó trồng trực tiếp vào đất
+ Triển khai thuỷ canh ở quy mô gia đình, thành thị và nông thôn
+ Kết hợp thuỷ canh với dự án rau sạch ở thành phố
Từ tháng 9/2006, phương pháp trồng rau thuỷ canh được thử nghiệm tại Phân việnSinh học Đà Lạt Hệ thống này không cần công chăm sóc bởi hệ thống tự cung cấp nướctưới, chế độ dinh dưỡng cho rau hoàn toàn tự động Sau khi trồng thành công rau xà láchbằng phương pháp thuỷ canh, Phân viện Sinh học Đà Lạt tiếp tục thử nghiệm trồng khoaitây và cũng cho kết quả tốt [4]
Trang 51.1.3 Chất dinh dưỡng-môi trường nuôi trồng thuỷ canh
1.1.3.1 Chất dinh dưỡng [1].[11]
Những nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thích hợp là O, H, C, S,
Mg, Mn, Fe, Cu, Bo, Mo Một số nguyên tố thì chỉ cần với số lượng rất ít, tuy nhiên mộttrong số các nguyên tố đó có thể trở thành một nhân tố giới hạn đối với sự lành mạnh củacây Nhiều nguyên tố được tìm thấy trong các enzyme và cokenzyme (các chất này lànhân tố điều chỉnh các hoạt động sinh hoá), trong khi những chất khác thì quan trọng đốivới sự tích trữ thức ăn
Sự thiếu hụt bất kì một nguyên tố nào đều thể hiện ra với những triệu chứng và đặc thùriêng, có thể cho ta biết là cây đang thiếu loại nguyên tố nào
Carbon và oxy được cung cấp bởi không khí ở dạng CO2 Mặc dù, tỷ lệ khí CO2 trongkhí quyển thấp (0.03%) nhưng lượng này trong khí quyển cũng là rất lớn Ngay cả khithực vật đã tiêu thụ một lượng lớn, nhưng lượng này vẫn luôn được giữ không đổi Khí
CO2 xâm nhập vào cơ thể thực vật qua quang hợp hay hoà tan trong nước
* Oxy: O2 đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây, do chứcnăng tham gia vào quá trình hô hấp Chức năng sống có thể ngừng lại nếu như không cóquá trình hô hấp Cây hấp thụ O2 từ khí quyển qua lá và từ nước thông qua rễ Thôngthường thì không có vấn đề gì xảy ra khi hấp thụ O2 từ lá, nhưng khi hấp thụ qua rễ có thểgiảm sút nhiều nếu như rễ mọc trong nước không được thoáng khí, hoặc ở giữa lớp cát màkhông khí không vào được
* Hydro: Cây hấp thụ H2 hầu hết là từ nước, thông qua quá trình thẩm thấu qua rễ Nórất quan trọng vì chất béo và carbonhydrat đều có thành phần chính là hydro, cùng vớioxy và cacbon
* Các nguyên tố đa lượng: Hiện diện vài phần nghìn đến vài phần trăm (từ 0.001k
0.01 g/gr trọng lượng khô)
Bao gồm: N (1k3%), K (2k4%), Ca (1k2%), Mg (0.1k0.7%), S (0.1k0.6%), P (0.1k0.5%)
Có thể xếp Cl, Ca, Si vào nhóm các nguyên tố đa lượng vì chúng có hàm lượng rất thayđổi tuỳ thuộc vào loài thực vật
Nitơ: Là thành phần bắt buộc của protid chất đặc trưng cho sự sống Nó có trong
thành phần men, trong màng tế bào, trong diệp lục tố mang chức năng cấu trúc
Trang 6Các hợp chất Nitơ còn cung cấp năng lượng cho cơ thể, tham gia cấu tạo ADP và ATP(ADP và ATP là các chất cao phân tử, mang vai trò chất dự trữ).
Nitơ có ý nghĩa quan trọng nhất đối với đời sống thực vật Nitơ tồn tại dưới hai dạng:dạng khí Nitơ tự do trong khí quyển (N2) và dạng hợp chất Nitơ hữu cơ, vô cơ khác nhau.Nitơ là yếu tố dinh dưỡng đóng góp rất quan trọng trong việc điều tiết quá trình sinh lý,trao đổi chất của cây
Nitơ còn là thành phần của nhiều vitamin B1, B2, B6, PP… đóng vai trò là nhóm hoạtđộng của nhiều hệ enzyme oxy hoá khử, trong đó có sự tạo thành adenine (Adenine: mộtchất cần thiết trong cấu trúc của DNA)
Nitơ còn có tác động nhiều đến sự đồng hoá CO2, khi thiếu nitơ cường độ đồng hóa
CO2 giảm, làm giảm cường độ quang hợp Khi cung cấp đầy đủ nitơ cho cây làm quátrình tổng hợp auxin tăng lên Nitơ còn ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hoá keo của chất sốngnhư độ ưa nước, độ nhớt… từ đó ảnh hưởng đến cường độ quang hợp, hô hấp và các quátrình sinh lý trao đổi chất Dạng sử dụng ure (NH4)2SO4, NH4NO3…
Nếu cây trồng hấp thu nitơ vượt quá nhu cầu thì thân sẽ mềm mỏng và khó hình thànhhoa Tuy nhiên, nếu không cung cấp đủ lượng cần thiết, cây sẽ bị cứng do thừa cenlulo vàlignin ở thành tế bào (lignin: chất kích thích sinh trưởng thực vật)
Nitơ là nguyên tố đa lượng duy nhất, mà cây trồng có thể hấp thu ở cả dạng anion vàcation (ở dạng NO3k và NH4+)
Khi thiếu nitơ thì thân lá, bộ rễ kém phát triển, lá có màu xanh nhạt, phiến lá mỏng,ảnh hưởng đến quang hợp nên sức khoẻ của cây giảm rõ rệt
Photpho (P): P là thành phần quan trọng trong sự sinh trưởng, P cần thiết cho sự
phân chia tế bào, sự tạo hoa và trái, sự phát triển của rễ P có liên quan lớn đến sự tổnghợp đường, tinh bột vì P là thành phần của các hợp chất cao năng lượng (ADP, ATP)tham gia quá trình phân giải hay tổng hợp các chất hữu cơ trong tế bào
Sau khi P xâm nhập vào thực vật dưới dạng các hợp chất vô cơ (P2O5, KH2PO4…) theocon đường đồng hóa sơ cấp P bởi hệ rễ đã tham gia vào hầu hết các quá trình trao đổi chấtcủa cây P đóng vai trò quyết định sự biến đổi vật chất và năng lượng mà mối liên quantương hỗ của các biến đổi đó quy định chiều hướng, cường độ, các quá trình sinh trưởng,phát triển của cơ thể thực vật và cuối cùng là năng suất của chúng
Trang 7Khi thiếu P cây có biểu hiện rõ rệt về hình thái bên ngoài, là năng suất giảm Đối vớinhững cây họ hoà thảo (lúa) nếu thiếu P lá mềm yếu, sự sinh trưởng của rễ, sự đẻ nhánh,phân cành kém Lá cây có màu xanh đậm do sự thay đổi tỷ lệ diệp lục tố a và diệp lục tố
b Ở những lá già thì đầu mút của lá và thân có màu đỏ, hàm lượng protein trong câygiảm, hàm lượng nitơ hoà tan tăng
Đối với cây ăn quả thì tỷ lệ đậu quả kém, quả chín chậm, hàm lượng acid trong quảcao Biểu hiện thiếu ở lá già trước
Ở môi trường có pH thấp (môi trường acid) nhiều Fe thì dễ bị thiếu P vì làm P ít linhđộng Sự thiếu P thường đi đôi với sự thiếu nitơ và có triệu chứng gần tương tự nhau vì Pliên hệ đến sự biến dưỡng nitơ
Kali (K): K làm gia tăng quá trình quang hợp và thúc đẩy sự vận chuyển Glucid từ
phiến lá vào các cơ quan K còn tác động rõ rệt đến trao đổi protid, lipid, đến quá trìnhhình thành các vitamin
K rất dễ xâm nhập vào tế bào, làm tăng tính thấm của thành tế bào đối với các chấtkhác, tăng quá trình thuỷ hoá, giảm độ nhớt, tăng lượng nước liên kết K ảnh hưởng đếnquá trình sinh tổng hợp các sắc tố trong lá, ảnh hưởng tích cực quá trình đẻ nhánh, hìnhthành bông và chất lượng hạt của các cây ngũ cốc
Ở cây cà chua có hàm lượng K cao sẽ làm cho quả rắn chắc, phần thịt quả sẽ được giữcứng trong một thời gian dài, ngay cả khi hái quả vào giai đoạn chín Với lượng K khoảng300ppm, thì quả bảo quản được 25 ngày, nếu lượng K khoảng 200ppm thì chỉ bảo quảnđược 20 ngày
Tuy nhiên, khi tăng hàm lượng K thì lại gây ảnh hưởng bất lợi cho việc hấp thu Mg.Nếu K quá cao cần phun MgSO4 trên lá
K giúp cho việc tăng tính chống chịu của cây với nhiệt độ thấp, khô hạn và bệnh tật.Khi thiếu K thì sự tích tụ amoniac cao gây độc hại cho cây, là biểu hiện ở lá có màuxanh sẫm, đọt bị cháy hay có những đốm màu nâu, có khi lá cuốn lại, thường xuất hiện ở
lá già trước Các triệu chứng khác như chồi cằn cỗi, cây chết, không trổ hoa, rễ kém pháttriển, lóng ngắn
Sử dụng K dưới dạng KCl, KHCO3, K2HPO4, KNO3, K2SO4,…
Trang 8Canxi (Ca): Ca là thành phần muối pectat của tế bào (pectat calcium) có ảnh hưởng
trên tính thấm của màng Trong tế bào, Ca hiện diện ở không bào, mô già, ở lá già nhiều
Ca hơn lá non
Ca cần cho sự xâm nhập của NH4+ và NO3k vào rễ
Ca là ion kém linh động nên màng tế bào thực vật hấp thu dễ dàng Khi nồng độ Catrong môi trường cao thì Fe bị kết tủa cho nên các chất này giảm hoặc không di chuyểnvào tế bào, kết quả là lá bị vàng (vì Fe là thành phần cấu tạo của diệp lục tố) Ca còn làchất hoạt hoá của một số enzyme nhất là ATPase (enzyme phân cắt ATP, giải phóng nănglượng cho cơ thể) Ca cần với một khối lượng cho thân và rễ Ca cũng cần cho sự hấp thụ
N2 Ca không được hấp thu như những nguyên tố khác nên bất kỳ sự thiếu hụt nào cũngbiểu hiện rất nhanh trên những lá non
Khi thiếu Ca, đặc biệt trong môi trường thuỷ canh thì rễ bị nhầy nhụa ngăn cản sự hấpthụ chất dinh dưỡng, cây ngừng phát triển và chết Biểu hiện, ngọn chồi lá non thường bịxoắn, lá bị tua cháy bìa lá, thân cuống hoa bị gãy, sinh trưởng bị chết.Ca2+ còn là chất đốikháng của ion K+
Sử dụng Ca2+ dưới dạng Ca(NO3)2, CaCl2, CaSO4 …
Magie (Mg): Là thành phần cấu trúc của diệp lục tố, có tác dụng sâu sắc và nhiều mặt
đến quá trình quang hợp, phụ trợ cho nhiều enzyme đặc biệt ATPase liên quan trong biếndưỡng carbonhydrat, sự tổng hợp acid nucleid, sự bắt cặp của ATP với các chất phản ứng.Khi thiếu Mg lá bị vàng, quang hợp kém
Sử dụng Mg dưới dạng MgSO4.H2O, MgO
* Nguyên tố vi lượng: Các nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng trong đời sống
thực vật Hàm lượng các nguyên tố này trong mô thực vật biến động trong khoảng mộtphần nghìn đến một trăm phần nghìn
Các nguyên tố vi lượng tham gia vào quá trình oxy hoá khử, quang hợp, trao đổi nitơ
và Glucid của thực vật, tham gia vào các trung tâm hoạt tính của enzyme và vitamin, tăngtính chống chịu của cơ thể thực vật đối với các điều kiện môi trường bất lợi Sự thiếu hụtcác nguyên tố vi lượng có thể gây ra nhiều bệnh và không hiếm những trường hợp cây bịchết ở tuổi cây non
Trang 9Các nguyên tố như Cu, Bo, Zn và Mo cần thiết nhưng chỉ cần với lượng rất nhỏ.Những nguyên tố này có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây.
Kẽm (Zn): Tham gia trong quá trình tổng hợp auxin, Zn còn là chất hoạt hoá của
nhiều enzyme dehydrogenase, có thể có vai trò trong quá trình tổng hợp protein
Zn có tác dụng phối hợp với nhóm GA3, Zn có liên quan đến sinh tổng hợp vitaminnhóm B1, B2, B6, B12
Zn còn thúc đẩy sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống các cơ quan dựtrữ, tăng khả năng giữ nước, độ ngậm nước của mô do làm tăng quá trình tổng hợp cáccao phân tử ưa nước như protein, acid nucleic
Khi thiếu Zn thì cường độ tổng hợp trytophan từ indol và xerin bị kìm hãm nên rễkhông tạo được hoặc kém phát triển, lá bị bạc màu sắc tố bị huỷ hoại, lá kém phát triểndạng lá không bình thường
Sử dụng Zn dưới dạng ZnSO4.7H2O
Lưu huỳnh (S): Giữ vai trò đệm trong tế bào.
S là thành phần cấu trúc của cystein, methyonin, tạo cầu nối SkS trong cấu trúc bậc bacủa protein
S còn là thành phần của một số enzyme Thiếu S sự sinh tổng hợp protein giảm, cây bịhoàng hoá do không tổng hợp được diệp lục tố lá có màu xanh lục nhạt thỉnh thoảng cóchỗ có màu đỏ, thường xuất hiện ở lá non, cây chậm lớn, năng suất, phẩm chất giảm
Sắt (Fe):Có vai trò quan trọng trong phản ứng oxy hoá khử, là nhân của poocphyrin,
Fe tham gia trong chuỗi chuyển điện tử ở quang hợp
Fe còn xúc tác sự khử CO2 của OAA (oxaloacetic acid), succinic acid Fe đóng vai tròkết hợp giữa enzyme và cơ chất để enzyme dễ dàng hoạt động
Sự thiếu hụt Fe nhanh chóng biểu hiện trên lá và sẽ ngăn chặn sự sinh trưởng và pháttriển Sự thiếu hụt Fe thường dẫn đến bệnh vàng lá trầm trọng, giảm lượng clorophin ở lá
Fe không hoạt động mạnh trong cây và tác động thiếu này sẽ biểu hiện màu vàng trên lánon
Lượng Fe giảm trong môi trường dung dịch dinh dưỡng khá nhanh so với nhữngnguyên tố khác trong môi trường do:
Trang 10+ Quá trình oxy hoá Fe bởi tia UV khi mà dung dịch dinh dưỡng cung cấp cho câydưới dạng tia phun sương.
+ Độ pH của dung dịch dinh dưỡng vượt quá mức 6.5
+ Sự hấp thu của cây trồng cho sự sinh trưởng và phát triển
+ Trở thành dạng không tan bởi một số cấu phần khác trong môi trường
k Thiếu Fe thường bị vàng hoàn toàn và bị cháy sém ở ngọn và mép lá
k Nếu môi trường nhiều Zn, Cu, P dẫn đến thiếu Fe
Đồng (Cu): Cũng là thành phần cấu tạo của nhiều enzyme xúc tác các phản ứng oxy
hoá khử, can thiệp vào các phản ứng oxy hoá cần O2 phân tử Thiếu Cu lá kém phát triển,
lá màu xanh đậm, nếu thiếu nhiều dẫn đến chết một phần của lá
Cu còn tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật trong môi trường dinh dưỡngnước
Sillic (Si): Si có hai hiệu quả đáng kể sau:
k Chống lại sự tấn công của côn trùng và bệnh tật
k Chống lại tác dụng của kim loại
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đến cà chua [1]
Nguyên tố Triệu chứng thiếu hụt Triệu chứng nhiễm độc
P Tán lá có màu xanh đen với những lá
dưới có màu tía, cây còi cọc, thâncứng, hệ thống rễ nghèo nàn, sự thiếuhụt thể hiện đầu tiên ở lá trưởng thành,
lá rụng sớm, quá trình tạo quả có thể bịngừng lại
Không có dấu hiệu
K Biểu hiện như lá bị cháy, lá cuộn lại và
thường bị rụng, sinh trưởng hạn chế,quả chín không đều, thân mềm
Ảnh hưởng đến hoạt động củacác nguyên tố khác
Mg Màu vàng ở giữa các vân với các vân
vẫn có màu xanh, mép lá xoắn lại, hình
Lá lớn có màu sáng
Trang 11thành quả giảm nếu thiếu nghiêmtrọng.
Fe Lá non bị bệnh vàng lá, triệu chứng lan
dần đến những lá già hơn, sinh trưởngkém, hoa rụng
Không có dấu hiệu
Mn Xuất hiện những đốm vàng trên lá,
bệnh vàng lá ít nghiêm trọng hơn sovới thiếu Fe, lá có mạng, rất ít hoađược hình thành
Sinh trưởng chậm và thânnhỏ
S Vàng lá, gân lá có màu sáng hơn những
vùng xung quanh, những lá trên bịquăn xuống
Giảm kích thước và tăngtrưởng của lá
Ca Lá non bị quăn lại, cuối cùng chết ở
phía lưng từ đầu nhọn và mép lá, xuấthiện những điểm chết, cuối cùng bịthối rữa, thân dày và hoá gỗ, rễ pháttriển kém
Không có dấu hiệu
Bo Lá non có màu xanh sáng, cuống chết
từ phía lưng, lá trên nhỏ và xoắn vàotrong, thân nứt nẻ và những vùng hoálibe phát triển, trái có màu tối và khô
Sự chết hoại tăng lên bắt đầu
từ trên đỉnh và dịch chuyểndần vào phía trong
Zn Lá có kích thước nhỏ, mép lá bị vặn,
cuống hoa có lóng ngắn
Xuất hiện bệnh vàng lá, thânnhỏ và chậm phát triển
Cu Lá non bị héo với những chấm và dấu
hiệu của bệnh vàng lá, rất ít hoa đượctạo thành
Sinh trưởng chậm
Mo Lá bị xoắn lên, những lốm đốm ở trong
gân lá phát triển đầu tiên ở những lágià, lá bị khô hoặc cháy xém
Lá chuyển sang vàng
Cl Không có dấu hiệu Nghiêm trọng thì lá cháy, mép
lá bị tưa như những mô chết
bị rời ra
Trang 121.1.3.2 Dung dịch dinh dưỡng [1].[3][11]
* Sự pha chế: Trong thuỷ canh tất cả các chất cần thiết cung cấp cho cây đều được sử
dụng dưới dạng các muối khoáng vô cơ được hoà tan trong dung môi là nước
Nếu sử dụng các môi trường dinh dưỡng với dạng nước thì phải nắm rõ nguyên tắcpha chế để chúng không bị kết tủa làm mất tác dụng của hoá chất
Trong thuỷ canh, các muối khoáng sử dụng phải có độ hoà tan cao, tránh lẫn các tạpchất Môi trường dinh dưỡng đạt yêu cầu cao khi có sự cân bằng về nồng độ ion khoáng
sử dụng trong môi trường để đảm bảo độ pH ổn định trong khoảng từ 5.5k6.0, là độ pH
mà đa số cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt
* Độ pH: Trong môi trường dinh dưỡng, độ pH rất quan trọng cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây
Độ pH được tính dựa trên mức độ hoạt động của các nguyên tố khác nhau với câytrồng Dưới 5.5 thì khả năng hoạt động của P, K, Ca, Mg, Mo giảm đi rất nhanh, trên 6.5thì Fe và Mn lại trở nên bất hoạt
Việc điều khiển pH của dung dịch rất quan trọng để ngăn chặn pH tăng lên quá cao sẽgây ra tình trạng kết tủa của Ca3(PO4)2, gây ngẹt ống dẫn dung dịch và bám vào quanh bộ
rễ của cây Để ngăn chặn pH tăng cao có thể sử dụng H3PO4, HNO3 hoặc cũng có thể sửdụng NH3
Nếu pH xuống 5.5, KOH hay một số chất thích hợp khác có thể thêm vào dung dịch
để tăng pH lên
Nếu pH quá cao, H3PO4 hay HNO3 có thể sử dụng H3PO4 thường được sử dụng nhiềuhơn, vì nó bổ sung thêm PO4 vào quá trình trồng trọt, và tăng thêm lượng khoáng chất cầnthiết cho cây trồng
Sự sinh trưởng của cây là một trong những nhân tố làm cho môi trường trở nên có tínhacid hơn, vì trong quá trình sống rễ giải phóng ra các acid hữu cơ và ion H+
Sự thay đổi pH trong dung dịch dinh dưỡng thường xảy ra khá nhanh, phụ thuộc vào
độ lớn của hệ thống rễ và thể tích dinh dưỡng của một cây
Giá thể được sử dụng càng lâu thì các chất hữu cơ đọng lại trong đó càng nhiều và cầnnhiều sự điều chỉnh cần thiết để đạt được pH như mong muốn
Trang 13Trong thuỷ canh đa số các cây trồng thích hợp với môi trường hơi acid đến gần trungtính, pH tối ưu từ 5.8k6.5
Trong nuôi trồng thuỷ canh, pH được cân bằng bởi hoạt động của cây Nếu pH tăngkhi đó cây sẽ thải ra các muối acid, nếu pH giảm xuống thì cây sẽ thải ra các thành phầnion base, có thể làm giới hạn việc hấp thu các muối gốc acid, nên rễ cây không cần thiếthấp thu
Nhìn chung pH của môi trường nên kiểm tra thường xuyên khi trồng thuỷ canh có thể2k3 lần/tuần, nên thực hiện các hình thức kiểm tra này vào thời điểm nhiệt độ giống nhau
vì pH của môi trường có thể giao động theo ánh sáng và nhiệt độ vào các thời điểm khácnhau trong ngày
Sự thay đổi pH của môi trường dinh dưỡng của thuỷ canh có thể do vi sinh vật gây ra
pH nội bào không chỉ phụ thuộc vào môi trường xung quanh mà vi sinh vật có thểkiểm soát được một phần do tiết các ion
pH trong tế bào không giống như môi trường ngoài, ngay trong nội tế bào cũng khôngđồng nhất
Những thí nghiệm nghiên cứu gần đây cho thấy:
k pH của tế bào do pH của môi trường quyết định
k pH tác động đến sự vận chuyển các chất dinh dưỡng qua màng tế bào
* Nhiệt độ: Dao động nhiệt độ trong môi trường dinh dưỡng ở thuỷ canh không chỉ
tác động đến pH mà còn ảnh hưởng đến độ hoà tan của các dưỡng chất
Nhiệt độ của nước thích hợp để hòa tan các chất khoáng là 20k220C
* Bổ sung chất dinh dưỡng:[1] Hai yếu tố cần được xét để nghiên cứu dung dịch bổ
Trong nghiên cứu, có thể dựa vào giá trị của độ dẫn điện (EC: electrokconductivity),
sự phân huỷ các muối khoáng (TDS: toatl dissolved salts) hoặc nhân tố hoà tan (CF:
Trang 14conductivity factor) của các máy đo để điều chỉnh bổ sung dinh dưỡng vào môi trườngthuỷ canh.
* Độ dẫn điện (EC) để chỉ tính chất của môi trường có thể chuyển tải được dòng điện.
Độ dẫn điện của một dung dịch là sự dẫn dung dịch này được đo giữa những điện cực có
bề mặt là 1cm2 ở khoảng cách 1cm, đơn vị tính là ms/cm, hoặc được thể hiện đơn vị ppm(part per million) đối với những máy đo TDS
Chỉ số EC chỉ diễn tả tổng nồng độ ion hoà tan trong dung dịch, chứ không thể hiệnđược nồng độ của từng thành phần riêng biệt
Trong suốt quá trình tăng trưởng cây hấp thu khoáng chất mà chúng cần, do vậy duytrì EC ở một mức độ ổn định là rất quan trọng
Nếu dung dịch có chỉ số EC cao thì sự hấp thu nước của cây diễn ra nhanh hơn sự hấpthu khoáng chất, hậu quả là nồng độ dung dịch sẽ rất cao và gây độc cho cây, khi đó taphải bổ sung thêm nước vào môi trường
Ngược lại, nếu EC thấp sẽ hấp thu khoáng chất nhanh hơn hấp thu nước và khi đó taphải bổ sung thêm khóang chất vào dung dịch
Bảng 1.2 Một số giới hạn EC và TDS đối với một số loại cây trồng[1]
Trang 15* DO (dissolved oxigen): DO là đơn vị dùng đo hàm lượng oxy hoà tan trong 1lít
nước, đơn vị mg/l Đo DO để biết được độ thoáng khí của môi trường dinh dưỡng Chỉ số
DO cao thuận lợi cho hoạt động hô hấp và biến dưỡng của hệ rễ
DO phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và độ mặn của dung dịch
- Thành phần dung dịch (tỷ lệ chất dinh dưỡng khoáng)[1]
Được xác định bởi các chất mà cây đòi hỏi Việc phân tích phiến lá dựa trên nồng độdinh dưỡng khoáng có trong mô lá, vì lá là nơi xảy ra quá trình quang hợp và do đó lượngenzyme là cao nhất Nồng độ dinh dưỡng khoáng trung bình trong toàn cây thường ít hơnnồng độ trong lá, vì vậy một dung dịch bổ sung căn bản phải dựa trên nồng độ các chất cótrong mô lá mà chúng sẽ cung cấp cho thân, hạt và trái
Thành phần dung dịch dinh dưỡng bổ sung thay đổi theo từng thời kỳ phát triển củacây nhằm ngăn cản sự tích luỹ dinh dưỡng khoáng trong dung dịch Chu trình sống đượcchia thành 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn đầu của sự phát triển cây
+ Giai đoạn phát triển: Trong suốt giai đoạn phát triển thân và lá phát triển như nhau.+ Giai đoạn trưởng thành: Lá phát triển tối thiểu, chất dinh dưỡng được tập trung đưavào trong hạt và trái
Sự phát triển của rễ chủ yếu ở giai đoạn đầu và ít quan trọng hơn ở giai đoạn sau.Trong suốt giai đoạn trưởng thành, rễ rất ít phát triển và gần như ngừng hẳn
- Nồng độ ion trong dung dịch[1]
Bổ sung dung dịch được xác định bởi tỷ lệ thoát hơi nước Sự thoát hơi nước quyếtđịnh tỷ lệ tiêu thụ nước, sự phát triển quyết định tỷ lệ chất dinh dưỡng khoáng (sự vậnchuyển khoáng từ dung dịch sang cây) Ước lượng sự thoát hơi nước đối với sự phát triểncủa cây trong môi trường thuỷ canh là 300k400kg nước/1kg sinh khối khô Tỷ lệ chínhxác phụ thuộc vào độ ẩm không khí, độ ẩm không khí thấp sẽ làm tăng sự thoát hơi nướcnhưng không tăng sự phát triển Lượng CO2 cao làm đóng khẩu và tăng quá trình quang
Trang 16hợp, chính vì vậy sự thoát hơi nước đến một tỷ lệ nào đó sẽ giảm xuống còn 200kg nước/1kg sinh khối khô.
Hiểu biết về tỷ lệ này sẽ rất có lợi trong việc quyết định nồng độ tương ứng cho dungdịch bổ sung Tổng nồng độ ion có thể duy trì bằng cách điều chỉnh tính dẫn điện củadung dịch Nếu tính dẫn điện gia tăng, cần làm loãng dung dịch bổ sung, nhưng thànhphần chất dinh dưỡng vẫn giữ nguyên Tính dẫn điện không thay đổi nhanh cho nên chỉcần theo dõi vài lần trong tuần
Sự vận chuyển của dinh dưỡng khoáng trong dung dịch
Các dinh dưỡng khoáng thiết yếu có thể đặt theo 3 nhóm sau dựa trên cách mà chúng
bị loại ra khỏi môi trường dinh dưỡng (do cây hấp thụ):
+ Nhóm 1: NO3, NH4, P, K, Mn các chất này được hấp thụ một cách chủ động nhờ rễ
và bị loại khỏi môi trường trong vài giờ
+ Nhóm 2: Mg, S, Fe, Zn, Cu, Mo, C các chất này được hấp thu ở mức trung bình và
bị loại khỏi môi trường nhanh hơn nước
+ Nhóm 3: Ca, B các chất này được hấp thu một cách thụ động và thường tích luỹtrong dung dịch
Một trong những khó khăn trong việc theo dõi và điều chỉnh từng loại ion là nồng độnhóm 1 phải được giữ ở mức thấp nhất nhằm ngăn cản sự tích luỹ chất độc trong mô thựcvật Tuy nhiên, nồng độ thấp thì rất khó theo dõi và điều chỉnh
Nếu nồng độ chất dinh dưỡng cao thì điều này cho thấy cây cần thêm nước, do đó cầnthêm nước vào môi trường
Khi nồng độ chất dinh dưỡng giảm hơn mức cho phép thì cây cần bổ sung dưỡng chấtnhiều hơn nước Việc bổ sung muối khoáng hay nước còn phụ thuộc vào mùa vụ gieotrồng
Nếu chỉ bổ sung nước mà không chú ý đến bổ sung khoáng chất thì sẽ ảnh hưởng đếnchất lượng sản phẩm có thể làm giảm hương vị của rau quả
Trong đa số các loại cây thì nồng độ tổng cộng của các chất dinh dưỡng trong khoảng
từ 500k2000ppm để không làm ảnh hưởng đến áp suất thẩm thấu của tế bào Tuy nhiên ởmột số loại như cà chua, dâu tây cần nồng độ môi trường dinh dưỡng cao khoảng
Trang 173500ppm, hoặc nồng độ dinh dưỡng có giá trị thấp như cải, xà lách xoong và giá trị trungbình như dưa chuột.
Tuỳ thuộc vào giai đoạn tăng trưởng và phát triển của cây, cho nên việc thêm vàodung dịch bổ sung theo một tần số nhất định là điều không cần thiết Các chất dinh dưỡngđược hấp thu nhanh chóng sẽ dễ dàng biến đổi trong mô thực vật, có nghĩa là cây có khảnăng dự trữ dinh dưỡng ở rễ, thân, lá và sẽ nhanh chóng biến đổi cho nhu cầu cần thiếtcủa cây
1.1.4 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường[1].[5]
1.1.4.1 Ảnh hưởng của nồng độ CO2
CO2 cùng H2O tham gia tổng hợp chất hữu cơ
Thành phần CO2 trong khí quyển tương đối ổn định khoảng 0.03% thể tích
CO2 trong nước dạng hoà tan ở 00C là 0.5 cm3/l
240C là 0.2 cm3/lKhi hàm lượng CO2 cao hơn ngưỡng thì một phần CO2 trở thành hoạt hoá và kết hợpvới carbonat chuyển thành dạng bicarbonat hoà tan làm tăng độ cứng của nước
Khi hàm lượng CO2 trong nước tăng lên ít thì làm tăng quá trình quang hợp, nhưng lạiảnh hưởng lớn đến hô hấp của rễ
Carbonat không chỉ là nguồn dinh dưỡng mà còn là chất đệm giữ nồng độ ion hydrotrong môi trường nước ở gần giá trị trung tính
1.1.4.2 Ảnh hưởng của sự thoáng khí đến sự hút chất dinh dưỡng
Nguồn O2 trong nước là do O2 khuếch tán từ không khí (nhờ gió) sự chuyển động củanước Tuy nhiên lượng O2 trong nước luôn không cao,O2 thường bị mất do nhiều nguyênnhân:
k Do tảo, động vật phù du hô hấp
k Do quá trình oxy hoá các chất hữu cơ và vô cơ trong nước
k Nguồn O2 do tảo quang hợp thải ra là ổn định và quan trọng nhất cho nước Trongnước sinh vật lấy O2 khó nhưng thải CO2 rất dễ dàng
Trang 18Các nghiên cứu cho thấy sự hút khoáng đạt mức cao nhất ở môi trường có nồng độ O2
từ 2k3% Khi nồng độ O2 thấp hơn 2% thì tốc độ hút khoáng giảm Nhưng nếu tăng nồng
độ O2 từ 3k100% thì tốc độ hút khoáng cũng không thay đổi
Ảnh hưởng của nồng độ CO2, N2, H2S và pH môi trường: Sự tích luỹ N2, H2S và cáckhí khác trong đất úng ngập có tác động ức chế hoạt động hút khoáng của hệ rễ
1.1.4.3 Ảnh hưởng của sự ngập úng đối với hệ rễ
Sự thiếu oxy trong vùng rễ xảy ra khi đất thoát nước kém sau cơn mưa hoặc sau khitưới gây giảm tăng trưởng và giảm năng suất ở cây trên cạn
Mặc dù mọi thực vật bậc cao cần có nước tự do, nhưng nếu quá nhiều nước trong môitrường rễ cây trên cạn có thể bị tổn hại thậm chí gây chết vì nó ngăn cản sự trao đổi dichuyển của oxy và các khí khác, giữa đất và khí quyển
1.1.4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của thực vậttrong quang hợp, hô hấp, các phản ứng biến dưỡng trên sự dinh dưỡng nước, khoáng, sựthoát hơi nước và chuyển nhựa
Sự nảy mầm của hạt cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nhiệt độ Hạt cà chua nảy mầm ởnhiệt độ 15k180C, thích hợp nhất là 25k350C Sinh trưởng ở 15k350C và thích hợp nhất là22k240C Khi nhiệt độ cao hơn nhiệt độ tối thích quang hợp giảm dần, nhiệt độ lớn hơn
300C kéo dài kết hợp với độ ẩm không khí giảm thì cây cà chua bị rối loạn đồng hoá, vànhiệt độ lớn hơn 350C thì cây ngừng tăng trưởng
Nhiệt độ thích hợp cho việc ra hoa, nở hoa và hạt phấn thụ tinh là 20k250C
Cơ chế ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự hút khoáng là nhệt độ đã ảnh hưởng chủ yếu lênquá trình trao đổi chất, quá trình liên kết giữ các phân tử trong chất nguyên sinh với cácnguyên tố khoáng
1.1.4.5 Ảnh hưởng của ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến sự hút khoáng Ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả nănghấp thu NH4, SO4 tăng mạnh, trong khi đó sự hấp thu Ca, Mg ít thay đổi Nhìn chung tácđộng của ánh sáng liên quan đến quá trình quang hợp, trao đổi nước và tính thẩm thấu củachất nguyên sinh
Trang 191.1.4.6 Ảnh hưởng của nồng độ và tỷ lệ các nguyên tố khoáng ở môi trường đến sự hút khoáng
Tỷ lệ giữa các ion trong môi trường và mối liên quan giữa chúng với cường độ hútkhoáng, người ta thấy có ba hình thức tương quan giữa các ion: Đối kháng, hỗ trợ vàkhông ảnh hưởng lẫn nhau
1.1.4.7 Ảnh hưởng của các giá thể nuôi trồng thuỷ canh
Giá thể để trồng cây phải có nhiều tính chất giống đất, phải là chỗ dựa cho hệ thống rễ,tạo điều kiện cho rễ mọc dài ra để tìm nước và chất dinh dưỡng và phải là phương tiệncung cấp O2, nước và dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển của cây; không chứa cácchất độc hại tới môi trường dinh dưỡng và độ pH của môi trường
Một số giá thể hữu cơ thường được sử dụng[1]
- Than bùn: Là chất tốt nhất trong các giá thể hữu cơ có khả năng giữ nước và chất
dinh dưỡng cao hơn các loại giá thể hữu cơ khác Than bùn có chứa nhiều khoáng như: N,
P, K, Ca, Mg và một số nguyên tố vi lượng Trong thuỷ canh thường dùng để trồng cácloại cây cho quả như: cà chua, dưa leo, ớt tây, dâu tây… Cần thanh trùng than bùn trướckhi sử dụng
- Mùn cưa: Mùn cưa, cát và hỗn hợp hai loại vật liệu đó đã được sử dụng có kết quả
để sản xuất dưa chuột Một hỗn hợp có 25% cát giúp phân bổ độ ẩm đồng đều hơn so vớikhi chỉ dùng mùn cưa Tuy nhiên cần lưu ý khi sử dụng vì có một số mùn cưa khi còntươi có chứa độc tố gây ảnh hưởng đến môi trường dinh dưỡng
- Vỏ cây, sơ dừa: Là loại vật liệu tương đối rẻ tiền, có khả năng chống phân huỷ do
vi khuẩn cao Khi dùng vỏ cây và sơ dừa cần phải cho dòng nước chảy chậm để lôi cuốnhợp chất tanin có trong vỏ cây và sơ dừa
- Scoria (xỉ nham thạch): Đây là loại đá trên bề mặt núi lửa, có khả năng giữ nước
rất tốt Scoria có một số tính chất lý tưởng để làm giá thể như:
+ So với các giá thể khác nó có tỷ trọng nhẹ hơn, khoảng 600k1000 kg/m3
+ Vì hình thành nơi có nhiệt độ rất cao nên nó trơ, khô, có nhiều kích thước khácnhau
+ Rất xốp, có nhiều lỗ khí và túi khí
+ Khả năng giữ nước khoảng 250k350 kg/m3
Trang 20+ Cách nhiệt tốt, không dẫn nhiệt từ thành nhựa của chậu vào giá thể.
1.1.4.8 Chất lượng nước
Chất lượng nước thích hợp cho con người sử dụng thì sẽ thích hợp cho việc nuôi trồngthuỷ canh Nước máy hay nước giếng thông thường có chứa một lượng đáng kể Ca và Mgđược gọi là nước cứng SO42+ và Na+ thường làm tăng tính dẫn điện
Trước khi trồng thuỷ canh với một quy mô lớn thì ta cần phải biết thành phần các chấtkhoáng có trong nước sử dụng
1.1.4.9 Ảnh hưởng của nấm bệnh trong dung dịch thuỷ canh
Nấm là loại bệnh nghiêm trọng gặp phải trong hệ thống thuỷ canh, rất hiếm khi thấybệnh, khi tất cả các phần trong hệ thống được giữ gìn sạch sẽ Các nhà nghiên cứu bệnh lýhọc thực vật cho rằng điều kiện vệ sinh như một phương thức diều khiển tốt nhất
Nếu lượng Mn bị thiếu hụt sẽ làm cây dễ bị nhiễm nấm Do đó cần tăng lượng Mn caohơn mức cần thiết của cây để giảm thiểu sự phát triển của nấm bệnh
Co cũng có khả năng giảm sự phát triển của vi khuẩn nhưng nếu tăng lượng Co sẽ gâyđộc cho cây, Mn và Zn ít gây độc hơn
1.1.5 Các loại hình thuỷ canh[1].[3]
1.1.5.1 Hệ thống thuỷ canh không hồi lưu: Còn được gọi là hệ thống mở, dịch dinh
dưỡng không tuần hoàn mà chỉ sử dụng một lần Khi nồng độ, pH hay độ dẫn điện thayđổi, thì dịch sẽ thay đổi
+ Kỹ thuật ngâm rễ: Cây được trồng trong chậu có giá thể trơ có đục lỗ để rễ phát
triển được ra bên ngoài chậu Chậu giá thể chứa cây ngập trong dung dịch 2k3cm, một số
rễ của cây được ngâm trong dung dịch còn một số khác lại nằm trong giá thể tiếp xúc vớikhông khí nhiều hơn
+ Kỹ thuật nổi: Cây được trồng trong chậu cố định trên vật liệu nhẹ nổi trên mặt
dung dịch dinh dưỡng và dung dịch được thông khí nhân tạo
+ Kỹ thuật mao dẫn: Có hai loại chậu được sử dụng trong kỹ thuật này Cây được
trồng trong các chậu chứa giá thể, dung dịch dinh dưỡng chứa trong một chậu chứa bêndưới được mao dẫn lên tới chậu chứa cây ở trên thông qua dây dẫn
1.1.5.2 Hệ thống thuỷ canh hồi lưu: Còn được gọi là hệ thống đóng, dịch dinh dưỡng
được bơm qua hệ thống rễ cây và dịch dư được thu nhận, làm đầy và tái sử dụng
Trang 21+ Kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng: Dung dịch dinh dưỡng chảy qua các kênh có
độ dốc tạo ra một lớp mỏng dinh dưỡng trong kênh và tiếp xúc trực tiếp với rễ cây đểcung cấp dinh dưỡng
+ Kỹ thuật dòng sâu: Dung dịch dinh dưỡng chảy qua các ống nhựa PVC và tiếp xúc
với rễ cây bằng cách thấm qua các chậu chứa giá thể có đục lỗ Hệ thống sắp xếp theohình ziczac tận dụng được không gian nuôi cấy, thể hiện thế mạnh của thuỷ canh
1.1.5.3 Hệ thống thuỷ canh có sử dụng giá thể
Các hệ thống kết hợp giữa dung dịch lỏng và các giá thể rắn để cây phát triển bên trên,
hệ thống có thể là đóng hoặc mở
+ Kỹ thuật túi treo: Cây giống được cho vào các lỗ của các túi treo chứa các giá thể
trơ, dài khoảng 1m, có dạng hình trụ, đã xử lý UV, làm bằng polyethylen Dịch dinhdưỡng được bơm lên đỉnh của mỗi túi từ đó dịch dinh dưỡng sẽ thấm xuống giá thể và tới
rễ cây
+ Kỹ thuật túi tăng trưởng: Cây giống được trồng vào các túi nhựa tổng hợp chứa
giá thể, chống tia UV, ngoài trắng trong đen, dài khoảng 1k1.5m, cao khoảng 6cm và rộngkhoảng 18cm dưới mỗi bên túi có khe nứt nhỏ để thoát nước hoặc rửa trôi
+ Kỹ thuật rãnh: Trồng cây vào các rãnh chứa giá thể được phân vách với đất bằng
vật liệu không thấm nước Dịch dinh dưỡng và nước được cung cấp qua một hệ thốngtưới nhỏ giọt hay tưới thủ công Ở đáy rãnh một đường ống với đường kính 2.5cm có lỗ
để thoát dịch dinh dưỡng thừa
+ Kỹ thuật chậu môi trường: Cây được trồng vào các chậu chứa giá thể và được
cung cấp dinh dưỡng bởi một hệ thống vòi tưới
1.1.5.4 Hệ thống khí canh [2]
Cây trồng thực vật được cố định trong các lỗ trên các tấm xốp và rễ được treo trongkhông khí dưới các tấm này Các tấm này được xếp thành dạng hộp kính để ngăn chặn sựxâm nhập của ánh sáng và kích thích sự tăng trưởng của rễ, đồng thời ngăn chặn sự tăngtrưởng của tảo và nấm Dịch dinh dưỡng được phun ở dạng sương, mỗi lần phun kéo dàivài giây, 2k3 phút phun một lần Làm như vậy có tác dụng giữ ẩm cho rễ và dịch dinhdưỡng được thoáng khí Cây hấp thu chất dinh dưỡng và nước từ lớp dung dịch dính vào
rễ Phần dung dịch dinh dưỡng thừa sau khi sử dụng được thu lại, lọc và bổ sung để tiếp