1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC

34 457 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Tập Đoàn Kinh Tế Của Trung Quốc
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 56,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên tựu chung lại, có thể định nghĩa TĐKT như sau: Đó là tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, có quan hệ với nhau v

Trang 1

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC

2.1.1 Khái niệm và vai trò của tập đoàn kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất giữa các quốc gia về TĐKT.Tuỳ theo điều kiện, trình độ phát triển kinh tế, môi trường xã hội và hệ thống luậtpháp, TĐKT cũng khác nhau về hình thức tổ chức, cũng như trình độ và cấp độ

liên kết nội bộ Tuy nhiên tựu chung lại, có thể định nghĩa TĐKT như sau: Đó là tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, có quan hệ với nhau về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết, trong đó thường có một “công ty mẹ”nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển

Thực tế cho thấy TĐKT đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tếcủa mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Vai trò đó được thểhiện trên các mặt sau:

- Sự hình thành và phát triển của các TĐKT làm tăng khả năng kinh tế của

cả tập đoàn và các công ty thành viên, nó cho phép các nhà quản lý kinh doanh huyđộng được tất cả các nguồn lực trong xã hội để phục vụ việc phát triển kinh tế, việctập trung các công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi khicạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài

- Đối với các nền kinh tế mới phát triển, nền công nghiệp trong nước cònmanh mún thì các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để chống sự thâm nhập mộtcách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nước cóthể đứng vững và từng bước vươn ra được các thị trường khu vực và thế giới

- Các TĐKT sẽ khắc phục được khả năng hạn chế về vốn của từng công tyriêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất trong tích tụ

và tập trung vốn; khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu tư vào các dự án cóhiệu quả cao nhất, từ đó sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc đẩy nền kinh tế pháttriển

- TĐKT có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và nhữngkinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ

Trang 2

vào sản xuất Sự hợp tác về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong tậpđoàn còn cho phép các công ty thành viên có khả năng nhanh chóng đưa các kếtquả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, nâng cao hiệu quả củahoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh Nhờ đó các tập đoàn giảmđược hao mòn vô hình, sự thống nhất trong việc nhập các thiết bị sẽ tránh trùng lắp

và có thể chỉ cần một số loại thiết bị trong một dây chuyền, giảm chi phí và tránh

bị ép giá Sự thống nhất trong tập đoàn sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao côngnghệ ra nước ngoài cũng như việc thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lý Nó làcầu nối để tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học trên thế giới, làm thu hẹpkhoảng cách về trình độ giữa các nước chậm phát triển, thúc đẩy công nghiệp hoá

và hiện đại hoá các nền kinh tế

- Việc hình thành các TĐKT sẽ làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng địaphương hay một quốc gia, nó giải quyết được việc làm cho một phần dân cư tạikhu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các ngành nghề, thúcđẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp và làm tăng khả năng lớnmạnh của nền kinh tế

2.1.2 Quan điểm của chính phủ Trung Quốc về hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế Trung Quốc theo quan điểm của Trung Quốc là: Tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, nó đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá

xã hội chủ nghĩa và của nền sản xuất xã hội hoá Doanh nghiệp nòng cốt của nó là nòng cốt của tập đoàn, là thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh Bằng các hình thức nắm giữ cổ phần khống chế, tham gia cổ phần, hiệp tác, doanh nghiệp nòng cốt gắn bó với một loạt doanh nghiệp ở mức độ chặt chẽ nửa chặt chẽ và liên kết lỏng lẻo Những doanh nghiệp này đều có tư cách pháp nhân độc lập Như vậy quan

điểm của các nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKT là nhất quán

và tương đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới

Năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách DNNN đồng chíĐặng Tiểu Bình đã vạch ra rằng: “ Thành lập tập đoàn kinh tế thì sẽ tạo ra đượcsức mạnh, thông tin thông suốt, nhanh nhạy hơn” Muốn nâng cao tố chất chỉnh thểcủa DNNN thì không những phải cải cách từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà còn phảicăn cứ vào yêu cầu xã hội hoá, để liên hiệp các doanh nghiệp lại với nhau, lập racác tập đoàn kinh tế, tạo ra cơ cấu tổ chức tốt hơn giữa các doanh nghiệp Nếu nói

Trang 3

rằng kinh doanh theo chiều sâu mà chủ yếu là nâng cao trình độ kinh doanh trongnội bộ doanh nghiệp thì liên kết các doanh nghiệp lại với nhau, đặc biệt là thànhlập ra các tập đoàn kinh tế là nâng cao trình độ tổ chức lực lượng sản xuất trongphạm vi xã hội Chỉ có phát triển theo hướng tập đoàn hoá thì các DNNN mới thực

sự trở thành vật tải lực lượng sản xuất hiện đại, mới trở thành chủ thể thứ nhất củanền kinh tế thị trường, mới có thể triệt để phát huy được lợi thế của mình

Trung Quốc cho rằng đổi mới về thể chế tổ chức doanh nghiệp, hình thànhnên các TĐKT có thể khắc phục được các bất cập của thị trường trong quá trìnhchuyển đổi kinh tế, do quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc vẫnđang tiếp tục, nên các chức năng của thị trường vẫn còn yếu kém và đôi khi phảichịu nhiều phí tổn Bằng việc hình thành các tập đoàn kinh tế, mỗi doanh nghiệpthành viên có thể tận dụng các thông tin tốt hơn, có khả năng đối phó với những rủi

ro đi kèm với cơ cấu thị trường chưa phát triển và có khả năng tiếp cận với cáckhoản tín dụng mà bình thường phải rất tốn kém hoặc không thể có được Điềuquan trọng hơn là việc thành lập các tập đoàn kinh tế có thể tạo điều kiện cho quátrình cải cách DNNN khi việc tư nhân hoá hàng loạt không phải là giải pháp đượclựa chọn Đồng thời các tập đoàn có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Trung Quốc so với các tập đoàn đa quốc gia khi tham gia vào tổchức thương mại thế giới (WTO)

Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, với sựhoạt động của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó thành phần kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo Muốn làm được điều này phải có các doanh nghiệp nhànước thực sự lớn mạnh, hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế thay thế cho hìnhthức tổ chức doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đã tồn tại trong một thời giandài Do vậy cần phải xây dựng các tập đoàn kinh tế theo hướng đa sở hữu trong đó

sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng lớn

Việc hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế là một vấn đề lớn ảnh hưởngđến trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…do vậy Trung Quốcchủ trương tiến hành thực hiện từng bước Nhà nước sẽ tiến hành thử nghiệm nhằmxác định được mô hình quản lý hiệu quả đồng thời áp dụng và điều chỉnh linh hoạtcác chính sách qua từng thời kỳ nhằm tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế pháttriển

Trang 4

2.1.3 Những đặc điểm của tập đoàn kinh tế nhà nước của Trung Quốc.

* Đặc điểm về cơ cấu tổ chức.

Đặc điểm đầu tiên và nổi bật nhất thể hiện ở chỗ các TĐKT ở Trung Quốc là

những cụm doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ đan xen giữa các doanh nghiệpthành viên trong đó lấy chế độ công hữu về TLSX làm chủ thể Các doanh nghiệpnòng cốt, các doanh nghiệp ở cấp độ trực tiếp của tuyệt đại đa số các TĐKT lấychế độ sở hữu toàn dân hoặc sở hữu tập thể về TLSX làm chủ thể, không giốngnhư các TĐKT ở các nước tư bản lấy chế độ sở hữu tư nhân làm chủ thể

Đặc điểm thứ hai, là các tập đoàn được tổ chức trên cơ sở tự nguyện , cùng

có lợi, cùng phát triển, không phải theo phương thức “cá lớn nuốt cá bé” của cácnước tư bản

Các TĐKT Trung Quốc ra đời trong điều kiện một mặt là, giữa các doanhnghiệp có sự thống nhất về lợi ích căn bản, mặt khác trên thực tế thì tài sản của cácDNNN là tài sản của các doanh nghiệp thuộc chính quyền địa phương, thuộc cácngành, cho nên giữa các doanh nghiệp ấy có sự khác nhau về lợi ích Do vậy, cácdoanh nghiệp Trung Quốc liên hiệp với nhau trên cở sở được các chính quyền cáccấp và các ngành hướng dẫn bằng chính sách, chỉ đạo theo quy hoạch, bắc cầu, tổchức phối hợp , tự nguyện liên kết, cùng có lợi, cùng phát triển, đồng thời thôngqua các hình thức thôn tính, sát nhập, mua cổ phiếu, thầu, thuê để giao dịch,chuyển nhượng có bồi hoàn về quyền sử dụng doanh nghiệp hoặc quyền kinhdoanh Ở Trung Quốc việc thôn tính, sáp nhập, thầu, thuê doanh nghiệp và mô hình

cổ phần khác một cách căn bản ở các nước tư bản ở chỗ đông đảo công nhân viênchức ở các doanh nghiệp bị thầu, thuê, bị nắm giữ cổ phần khống chế vẫn là chủnhân của doanh nghiệp, chẳng những quyền lợi của họ được pháp luật bảo vệ,được bố trí sắp xếp thích đáng trong phạm vi tập đoàn mà còn được nhiều thực lợihơn, như những sự đãi ngộ về tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, bảo hộ lao động…dần được nâng cao

Đặc điểm thứ ba, là mục đích của việc thành lập TĐKT của nhà nước, của

các đơn vị thành viên và của công nhân, viên chức về cơ bản là thống nhất vớinhau Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của chế độ XHCN ở Trung Quốc Chínhquyền các cấp căn cứ vào đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế để hướngdẫn các DNNN tăng cường liên kết, hợp tác, lấy dài bù ngắn, bổ sung lợi thế chonhau, phát huy tốt hơn nữa tác dụng của các yếu tố lực lượng sản xuất, nâng cao

Trang 5

hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống công nhân viên chức Chính quyền các cấp làngười đại biểu cho quyền sở hữu tài sản tại các doanh nghiệp có vai trò quan trọngtrong việc giao dịch quyền sử dụng tài sản trên thị trường quyền sử dụng tài sản.

Một là, căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế và xã hội để định ra chính sách

ngành nghề, hướng dẫn việc lưu động và phân phối hợp lý tài nguyên, thúc đẩy

việc tổ chức lại các yếu tố sản xuất một cách hợp lý Hai là, căn cứ vào nguyên tắc

xác định quyền tài sản để định ra quy tắc quản lý thị trường, cung cấp các dịch vụpháp luật, công chức quản lý hành chính, bảo đảm cho giao dịch diễn ra bình

thường Ba là, cung cấp thông tin, thúc đẩy hạ giá thành giao dịch, thúc đẩy giao dịch có kết quả, giúp cho việc nâng cao hiệu qủa và ngạch giao dịch Bốn là, khi

cần thiết thì dùng các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế để điều tiết giaodịch quyền sử dụng tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nước, ngăn chặn các hành vi làmtổn hại đến lợi ích của nhà nước

* Đặc điểm về mô hình tổ chức.

Hình thức thứ nhất, là TĐKT tổng hợp nhiều cấp: Đây là loại TĐKT nắm

trong tay nhiều lĩnh vực: khoa học công nghệ, thương mại, tài chính, dịch vụ và lấyvốn làm nút liên kết chủ yếu Chúng được tổ chức thành 4 cấp, thực hiện nhất thểhoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập, xoá bỏ tư cách pháp nhân của cácdoanh nghiệp cũ “lập ra TĐKT trong đó công ty có tư cách pháp nhân làm nòngcốt (tức là công ty mẹ) bằng cách nắm giữ cổ phần khống chế, thầu khoán, thuê cácdoanh nghiệp có liên quan, doanh nghiệp nòng cốt sẽ nắm quyền lãnh đạo đối vớicác doanh nghiệp này trong việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, vật lực, sảnxuất, cung ứng, tiêu thụ….biến chúng thành những doanh nghiệp ở cấp dưới trựctiếp (tức là công ty con) của tập đoàn Các doanh nghiệp này vẫn bảo lưu tư cáchpháp nhân của chúng, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độclập tương đối Bằng cách tham dự cổ phần, doanh nghiệp nòng cốt biến nhữngdoanh nghiệp có tư cách pháp nhân này thành các doanh nghiệp ở cấp nửa trực tiếp(tức là công ty cháu) của tập đoàn; thông qua việc ký kết hợp đồng với nhữngdoanh nghiệp có quan hệ tương đối chặt chẽ về nghiệp vụ doanh nghiệp ở cấp nòngcốt, xây dựng quan hệ hiệp tác với các doanh nghiệp này biến chúng thành cácdoanh nghiệp ở cấp lỏng lẻo (tức là công ty chắt của) tập đoàn

Tóm lại: Loại TĐKT này phần nhiều là các tổ chức liên hiệp giữa các phápnhân doanh nghiệp, bản thân tập đoàn không phải là tổ chức pháp nhân Nó giúp

Trang 6

điều chỉnh kết cấu tổ chức doanh nghiệp, bổ sung lợi thế cho nhau, sử dụng hiệuquả, hợp lý các yếu tố sản xuất, kinh doanh đa dạng, cùng có lợi….

Hình thức thứ hai, là tập đoàn theo mô hình liên kết dây chuyền: Loại này

chủ yếu là tổ chức liên hiệp lỏng lẻo, lấy sản xuất làm nút liên kết Chúng thườnglấy một doanh nghiệp lớn làm nòng cốt của Tập đoàn, lấy sản phẩm nổi tiếng độcđáo của Tập đoàn này làm đặc trưng, áp dụng hình thức chuyên môn hoá, hiệp tácsản xuất kinh doanh thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Hình thức thứ ba, là Tập đoàn phối hợp đồng bộ: Loại Tập đoàn lấy hợp

đồng đồng bộ nhận thầu công trình làm nút liên kết Chúng hình thành chủ yếu dựavào một số doanh nghiệp công nghiệp lớn, đơn vị nghiên cứu, thiết kế, lấy việc liêndoanh nhận thầu đồng bộ hạng mục công trình lớn làm hình thức chủ yếu Dưới sựlãnh đạo của hội đồng giám đốc, doanh nghiệp đầu đàn loại lớn tổ chức thành công

ty liên doanh thống nhất, lớn mạnh, lập ra các đơn vị thành viên có tư cách phápnhân nhằm đạt được mục tiêu vì lợi ích chung

Hình thức thứ tư, là Tập đoàn hoà nhập nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh: Lấy liên kết phát triển kỹ thuật mới làm nút liên kết Loại tập đoàn này

lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc xí nghiệp côngnghiệp lớn làm chủ thể, bổ sung cho nhau lợi thế khoa học kỹ thuật và vốn nhằmphát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có giá trị cao, nâng caonăng lực cạnh tranh

Hình thức thứ năm, là Tập đoàn liên kết mạng lưới cùng ngành: Đây là hình

thức biến tướng của những liên hiệp các xí nghiệp đặc biệt lớn có cùng ngànhnghề, nó xuất hiện khi cải cách thể chế kinh tế kế hoạch Chúng chính là sản phẩmcủa sự cải cách thể chế liên doanh cũ thành Tập đoàn liên kết màng lưới cùngngành, gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực trong đó chế độ công hữu làmchủ thể

Hình thức thứ sáu, là Tập đoàn theo mô hình cổ phần: Loại TĐKT này lấy

công ty của nhà nước có thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm nòngcốt Doanh nghiệp nòng cốt thể hiện sự khống chế của mình với doanh nghiệp khácbằng cách mua cổ phần hoặc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoàinước, các cá nhân khác…tự nguyện tham gia tập đoàn bằng hình thức tham dự cổphần Toàn bộ tập đoàn lấy tài sản dưới hình thức cổ phần làm nút liên kết, hình

Trang 7

thành thể liên hợp các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh theohình thức cổ phần.

* Đặc điểm về hoạt động kinh doanh và quản lý điều hành của TĐKT Trung Quốc.

Chiến lược hoạt động tác nghiệp của các TĐKT Trung Quốc là đa dạng hoá,sản xuất kinh doanh theo chiều sâu và tiến tới quốc tế hoá Các TĐKT không chỉ lànhững Tập đoàn xuyên vùng, xuyên ngành mà còn nhiều hình thức, nhiều chứcnăng sản xuất, thương mại, nghiên cứu khoa học, vận tải, tài chính, dịch vụ… Nóthể hiện khá rõ ở chỗ:

Một là, các doanh nghiệp thành viên được chuyên môn hoá, tổ chức quản lý phân công sâu sắc với nhiều chi nhánh, nhiều cấp độ Hai là, sản phẩm đa dạng

hoá, sản xuất hàng loạt, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ liên quan xoay quanh

sản phẩm chuyên biệt có lợi thế Ba là, biện pháp kinh doanh đa dạng với nhiều

hình thức phong phú như: liên kết đầu tư, đầu tư 100% vốn, liên kết kinh doanh,kinh doanh chặt chẽ, nửa chặt chẽ, lỏng lẻo…

Xu hướng kinh doanh quốc tế hoá, xuyên quốc gia hoá cũng được cácTĐKT ở Trung Quốc chú trọng từ rất sớm Năm 1988, được Quốc vụ viện chínhthức phê chuẩn, Tổng công ty xuất nhập khẩu công nghiệp hoá chất bắt đầu làmthử kinh doanh quốc tế hoá, chuyển từ chuyên doanh xuất nhập khẩu sang kinhdoanh đa ngành đồng thời cũng là “doanh nghiệp đầu tiên bước lên vũ đài cạnhtranh quốc tế ” Tính đến cuối năm 1991, TĐKT Hoá chất Trung Quốc đã thànhlập 54 chi nhánh ở các nơi trên thế giới, đạt mức doanh thu 35 tỷ USD, đầu tư ranước ngoài 200 triệu USD, có lượng tích luỹ kinh doanh quốc tế 12,3 tỷ USD, thungoại tệ cho nhà nước 11,6 tỷ USD, nộp ngân sách 10,8 tỷ NDT Tổng đầu tư vào

mỏ sắt Slana ở Áo là 280 triệu đồng tiền Áo, trong đó Tổng công ty xuất nhậpkhẩu luyện kim Trung Quốc góp 40% vốn (đây là mức đầu tư cao nhất Trung Quốctại thời điểm đó vào một hạng mục nước ngoài) Những năm gần đây, với ảnhhưởng mạnh mẽ của xu hướng mở cửa, hội nhập, các TĐKT Trung Quốc đã nhanhchóng vươn ra thị trường quốc tế, ví dụ: Công ty gang thép Bắc Kinh đã mua 70%

cổ phần của công ty công trình Maxta (Mỹ) – một xí nghiệp luyện kim nổi tiếngthế giới, tạo nên một ưu thế mới trong cạnh tranh quốc tế; Công ty đầu tư tín dụngquốc tế của Trung Quốc hợp tác với ba công ty của Nhật Bản lập ra công ty thương

Trang 8

mại chung vốn tại Tokyo; Ngân hàng Trung Quốc bắt tay với ngân hàng nướcngoài lập ra Doanh nghiệp tài chính chung vốn ở Hồng Kông…

Đó là số ít trong những con số minh chứng cho sự phát triển xuyên quốc giamạnh mẽ của các TĐKT Trung Quốc Cũng với chính sách mở cửa, cải cách rất

“thông thoáng” như hiện nay, đồng thời với việc Trung Quốc ra nhập WTO chắcchắn các TĐKT Trung Quốc sẽ còn tiến nhanh, mạnh và vững chắc trên con đườnghội nhập quốc tế của mình

Về quản lý và cơ chế điều hành trong TĐKT Trung Quốc cũng tương đốiphức tạp với nhiều hình thức khác nhau, có thể khái quát thành ba dạng chủ yếusau:

Loại thứ nhất: Đối với TĐKT có quy mô cực lớn, thi trường hướng nội,

thường áp dụng hình thức công ty – tập đoàn, thể chế quản lý hai cấp đối với công

ty con Công ty tập đoàn là một cổ đông lớn, thông qua việc nắm giữ cổ phầnkhống chế và hội đồng quản trị để nắm quyền quản lý vỡi công ty con

Loại thứ hai: TĐKT có quy mô tương đối lớn, thị trường hướng ngoại,

thường áp dụng thể chế quản lý ba cấp, kết hợp tập quyền và phân quyền,nhưngtrên thực tế các phòng nghiệp vụ là cầu nối công ty mẹ đối với công ty con

Loại thứ ba: Là những TĐKT quy mô không lớn, thị trường hướng ngoại,

thường áp dụng thể chế quản lý kiểu song song, ở trong nước thì có 2 cấp Công tytập đoàn – công ty con; ở nước ngoài thì quản lý kiểu 3 cấp, Công ty tập đoàn –phòng nghiệp vụ ở nước ngoài – công ty con

*So sánh mô hình TĐKT của Trung Quốc với TĐKT của một số nước Châu Á khác.

- Mô hình TĐKT của Hàn Quốc :

Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, để thúc đẩy nhanh chóng tiến trình côngnghiệp hoá, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng cường đáng kể vai trò can thiệp của mìnhvào quá trình kinh tế Trọng điểm là tập trung đầu tư phát triển các ngành côngnghiệp nặng và hoá chất đồng thời hình thành các tổ hợp công nghiệp lớn (thườnggọi là các Chaebol): Có hai yếu tố dẫn đến sự phát triển của Chaebol là vay nợnước ngoài và những ưu đãi đặc biệt của chính phủ Với nguồn vốn hạn hẹp trongnước chính phủ Hàn Quốc đã dựa vào nguồn vốn nước ngoài và cấp vốn cho một

số doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu tăng trưởng kinh tế Sự phát triển

Trang 9

kinh tế ở Hàn Quốc thực chất là dựa vào “ Chủ nghĩa tư bản mệnh lệnh” Theophương thức này, hệ thống doanh nghiệp tự do được chính phủ khuyến khích vàchịu sự can thiệp gián tiếp Điều đó có nghĩa là chính phủ giành quyền kiểm soátcác dự án và hướng các Chaebol vào thực hiện các dự án đặc biệt Chính phủ đảmbảo việc thanh toán nợ nước ngoài trong trường hợp doanh nghiệp đó không giànhđược quyền vay nợ từ các ngân hàng trong nước Hơn nữa, chính phủ còn ưu đãigiá cả, chính sách thu nhập, chính sách thuế cho các Chaebol Dưới sự giúp đỡ mởrộng của chính phủ hầu hết các ngân hàng đều được lệnh cung cấp nhiều vốn hơnnữa cho các Chaebol Ngoài ra , những ưu đãi đặc biệt về ngoại thương cũng được

áp dụng, chính phủ còn thực hiện các biện pháp ưu đãi khác như, cho vay bằngngoại tệ, trợ cấp tài chính quota xuất khẩu

Cơ cấu Chaebol: Trước hết, Chaebol là sở hữu gia đình Hầu hết cácChaebol đều có nguồn gốc từ gia đình quy mô nhỏ, trong một ngành công nghiệp

cụ thể, sau này, khi đã hoạt động kinh doanh trên quy mô lớn mối quan hệ gia đình

và theo đẳng cấp vẫn được duy trì Mọi quyết định quan trọng đều được chỉ định ởcấp cao nhất Mỗi Chaebol đều có vai trò chi phối các thành viên khác trong hộiđồng chủ tịch Mối quan hệ giữa người quản lý và công nhân không phải là mốiquan hệ giai cấp mà là “quan hệ cha con” Quyền kiểm soát Chaebol được truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác

Đặc thù về quy mô và hoạt động tác nghiệp: Tiềm lực của các Chaebol lớnmạnh tới mức họ kiểm soát cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và những lĩnh vựcphi kinh tế Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, 30 Chaebol lớn nhất Hàn Quốc chiếmtới 90% GDP Hàn Quốc 4 Chaebol lớn nhất là Huyndai, Samsung, LG, Deawoochiếm tới 84% GDP và 60% giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc

Xét về quy mô, các Chaebol không chỉ gây ảnh hưởng trong nước mà còntrên phạm vi toàn cầu Ngay thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hoá, nhiều Chaebol

đã vươn ra thị trường quốc tế và khẳng định vai trò vị trí của chúng Ví dụ Huyndai

có 45 công ty chi nhánh ở nước ngoài, tổng số tài sản 54,6 tỷ USD, doanh số kinhdoanh 75 tỷ USD, là một tập đoàn sản xuất ôtô lớn nhất, đóng tàu lớn nhất và làmột trong những công ty xây dựng hàng đầu Hàn Quốc; Samsung là một tập đoànlớn thứ 12 trên thế giới, có 140 chi nhánh ở nước ngoài, sản xuất trên 3000 mặthàng khác nhau, là công ty sản xuất chất bán dẫn, điện tử, thương mại, bảo hiểmlớn nhất Hàn Quốc Deawoo có khoảng 1000 chi nhánh ở nước ngoài, hiện chiếm

Trang 10

khoảng 10% thị phần các sản phẩm điện tử, ôtô trên thị trường thế giới và pháttriển mạnh khắp các châu lục.

Các nhà kinh doanh Hàn Quốc quan niệm rằng mỗi Chaebol có ít chi nhánh

mà lại có mặt ở tất cả các ngành công nghiệp thì phạm vi quốc tế hoá sẽ rộng hơnrất nhiều so với các Chaebol có nhiều chi nhánh mà chỉ tập trung vào một số ngànhcông nghiệp Tóm lại: Phạm vi hoạt động của các Chaebol là vô cùng rộng lớn và

đa dạng, nó hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế, sản xuất, kinh doanh từ những sảnphẩm nhỏ nhất như cái kim, sợi chỉ đến những ngành công nghiệp bậc cao, cácngành công nghiệp điện tử, hàng không, vũ trụ, đến các ngành tài chính, bảohiểm…

-Mô hình TĐKT của Đài Loan:

Ở Đài Loan phần lớn các công ty, tập đoàn có quy mô vừa và nhỏ là chủyếu, chiếm tới 98% về số lượng và 70% lao động, tạo ra hơn 50% GNP Số lượngcác tập đoàn lớn không nhiều nhưng chúng cũng đã đóng góp những thành tựuđáng kể cho nền kinh tế phát triển Đài Loan chủ yếu hình thành “Thể chế trungtiểu doanh nghiệp ” lấy trung tiểu doanh nghiệp làm trung tâm của tăng trưởngkinh tế Như vậy, thể chế doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện ở Đài Loan mang tínhlịch sử tất yếu, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố Cơ cấu sản xuất trong thời gian dàisau chiến tranh đều là lấy loại hình sản xuất tập trung lao động làm chủ yếu trongphát triển, thích ứng với vốn và kỹ thuật thấp, thích hợp với quy mô tương đối nhỏcủa Đài Loan lúc đó, tức là không cần nhiều vốn và kỹ thuật mà vẫn xây dựngđược nhà xưởng, đầu tư sản xuất và xuất khẩu Phần lớn các xí nghiệp, tập đoànĐài Loan đều thuộc gia tộc Hiện nay có khoảng trên 100 xí nghiệp gia tộc lớn,được xây dựng trong quan hệ huyết thống Riêng tổng doanh thu của 4 tập đoàn:Lâm Viên, Hoà Tín, Đài Tố, Tâm Quang đã đạt 25.000 tỷ đài tệ, chiếm 1/3 tổng tàisản của 100 tập đoàn kinh tế lớn

Thành công của các xí nghiệp, tập đoàn trên là do họ rất coi trọng vai trò củaviệc xây dựng thể chế tập đoàn Thể chế này có vai trò quyết định sự thành bại đốivới hoạt động kinh doanh của tập đoàn Điển hình ở Đài Loan là tập đoàn TrungCương, được hình thành từ năm 1971, áp dụng cách quản lý theo tinh thần chữ “ái”kiểu nho gia, và “kỷ luật sắt” kiểu pháp gia đã mang lại kết quả bước đầu tronghoat động sản xuất kinh doanh Đặc biệt công tác quản lý theo tinh thần chữ “ái”,lấy xưởng làm nhà, lấy xưởng làm trường học…và luôn áp dụng 4 phương pháp:

Trang 11

tinh thần quên mình, lấy mình làm gương, quan tâm đến công nhân viên, yêu cấp dưới như con, đã tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên trong tập đoàn Tuy nhiên

ai vi phạm kỷ luật sẽ bị xử phạt không chút nơi tay và luôn lấy kỷ luật làm nềntảng quán triệt chấp hành, nên thúc giục mọi người phải làm việc hết mình Do vậytập đoàn đã xây dựng được thể chế quản lý linh hoạt như: chế độ tiền thưởng đãkhuyến khích được công nhân viên, phúc lợi ưu đãi đã hấp dẫn được nhân tài ưu

tú, tạo điều kiện cho mọi người đều được hưởng các quyền lợi, tạo nên sự gắn kếttrên dưới một cách chặt chẽ Phương pháp tự quản được thực hiện, tức là quản lý

từ dưới lên, không dựa vào mệnh lệnh, mà trong phạm vi công tác cá nhân pháthiện đề xuất rồi tìm cách giải quyết Nó tạo cho con người tính tự giác, tự giảiquyết vấn đề trong việc làm rất cao Qua chế độ quản lý của tập đoàn ở Đài Loan tathấy được sự duy trì của mối quan hệ gia đình, huyết thống rất chặt chẽ Do đóquyền lực của chủ tịch tập đoàn bị hạn chế nhiều so với các Chaebol của HànQuốc

Như vậy, có thể thấy sự khác biệt lớn nhất giữa TĐKT của Trung Quốc vớiTĐKT của TĐKT của Hàn Quốc và Đài Loan đó là vấn đề sở hữu của các tậpđoàn Các TĐKT Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước hoàn toàn hoặc công ty mẹtrong tập đoàn là DNNN, do vậy mọi hoạt động kinh doanh của tập đoàn đềuhướng đến mục tiêu hiệu quả kinh tế xã hội, tập đoàn trở thành phương tiện để nhànước điều tiết kinh tế vĩ mô, nhà nước gián tiếp thông qua tập đoàn để định hướngphát triển kinh tế Trong khi đó TĐKT ở Hàn Quốc và Đài Loan đều thuộc sở hữugia đình Các Chaebol ban đầu là các tổ hợp công nghiệp thuộc sỡ hữu gia đìnhnhờ sự “ cưng chiều” của chính phủ mà phát triển nhanh chóng và trở thành lựclượng nòng cốt đưa nền kinh tế Hàn Quốc phát triển hùng mạnh Nhưng chính sựcưng chiều của chính phủ Hàn Quốc đã làm nảy sinh những tác động không tốt củaChaebol đối với nền kinh tế như: làm mất cân đối cơ cấu kinh tế, bất chấp tráchnhiệm xã hội và nảy sinh tệ quan liêu “Bàn tay hữu hình” của chính phủ trong quátrình công nghiệp hoá đã đem lại sức mạnh cho các Chaebol, tạo nên sự độc quyềnthị trường dẫn tới sự thải loại các công ty vừa và nhỏ khỏi nền kinh tế Những ưuđãi mà chính phủ Hàn Quốc đưa ra cho các Chaebol là tập trung phần lớn sinh lực

và tài nguyên quốc gia vào tay một nhóm người trong xã hội, tạo nên sự bất bìnhđẳng và những bất ổn trong nền kinh tế Sự phá sản cuả các Chaebol từ năm 1997đến nay là kết quả tất yếu của tư tưởng quy mô hoá và đa dạng hoá, dẫn đến sự

Trang 12

khủng hoảng trong các khoản vay và thanh toán tín dụng và phá vỡ những lợi thếtương đối “giả tạo” mà chính phủ đã đưa ra cho các Chaebol Ngược lại trong khiHàn Quốc quá chú trọng đến sự phát triển cảu các Chaebol thì Đài Loan phổ biếnphát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ có mói quan hệ mật thiết với các tập đoàn lớn,trong đó lấy tập đoàn lớn làm bộ khung và các xí nghệp vừa và nhỏ là chủ thể.Chính vì vậy trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua nền kinh tế ĐàiLoan vẫn tăng trưởng 6% và các xí nghiệp vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất, ít chịuảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Cũng từ những ưu nhược điểm của các mô hìnhTĐKT như vậy chính phủ Trung Quốc đã phát triển những TĐKT của nhà nướcđồng thời sử dụng chúng như một chỗ dựa cho hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏtrong nước, đây có thể coi là ưu điểm vượt trội của các TĐKT Trung Quốc.

Tuy nhiên, xét về tiềm lực kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc tế thì cácTĐKT của Trung Quốc vẫn thua kém các TĐKT của các nước trên Do các TĐKTcủa nhà nước vốn xuất thân từ một thành phần kinh tế kém năng động nhất lạiđược đặt trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao nên chưa thể một bước thựchiện được mục tiêu lý tưởng mà chính phủ Trung Quốc đã đề ra Hơn nữa ngaytrong quá trình hình thành và phát triển TĐKT ở Trung Quốc cũng tồn tại nhiềuvấn đề cần khắc phục

2.2 THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC.

2.1.2 Các nguyên tắc thành lập tập đoàn.

Tập đoàn được thành lập với mục đích tăng cường hiệu quả quản lý, nângcao khả năng cạnh tranh, tranh thủ những lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thếcủa sự chuyên môn hoá với hoạt động kinh doanh da dạng.Với đặc điểm nền kinh

tế thị trường XHCN, Trung Quốc đề ra nguyên tắc thành lập thành lập đoàn là:

+ Trong những ngành, lĩnh vực không mở cửa, không cho phép nước ngoàihoặc khu vực tư nhân đầu tư thì có thể thành lập một số tập đoàn để tránh độcquyền và tăng chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động tốt, không cho phép chỉlập một tập đoàn hoặc một Tổng công ty trong một ngành (vì dẫn đến độc quyền)

+ Trong những ngành, lĩnh vực có tính cạnh tranh cao (tức là cho phép nướcngoài hoặc khu vực tư nhân cùng đầu tư với DNNN) hoặc ngành, lĩnh vực cầnchiếm lĩnh thị trường nước ngoài thì có thể cho phép thành lập một tập đoàn kinh

tế mà nhà nước giữ địa vị chi phối

Trang 13

+ Công ty mẹ trong tập đoàn phải là một doanh nghiệp lớn có vốn đăng kýtrên 100 triệu NDT và có ít nhất 5 công ty thành viên.

+ Ưu tiên lựa chọn những doanh nghiệp thuộc những ngành nghề, lĩnh vựcquan trọng, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân để phát triển thành cáctập đoàn kinh tế

2.2.2 Các giải pháp, chính sách đối với việc hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước

Trong thời kì đầu của cải cách doanh nghiệp, chính phủ Trung Quốc đã nhậnthấy tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong sản xuất,marketing và đổi mới công nghệ Điều này là để thích ứng với sự phân tách nặng

nề về ngành và thị trường giữa các cơ quan hành chính nhà nước Các hoạt độngtrong nhiều ngành thường được thực hiện theo kế hoạch chứ không phải là hoạtđộng tự thân của các doanh nghiệp, do đó không cần phải có các tập đoàn kinh tế

Kể từ khi thực hiện cải cách, hệ thống kế hoạch hoá tập trung bắt đầu bị phá bỏcùng với mức độ cải cách kinh tế và mở cửa ngày càng sâu rộng, Trung Quốc đãthực hiện một số biện pháp nhằm sớm hình thành và phát triển TĐKT

* Thúc đẩy liên kết và hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước.

Từ đặc điểm chung của các tập đoàn kinh tế trên thế giới là có quy mô lớn

về vốn, lao động, phạm vi hoạt động rộng, các doanh nghiệp trong tập đoàn liênkết với nhau thông qua vốn, sản phẩm công nghệ, chiến lược phát triển…TrungQuốc đã thực hiện các biện pháp để thúc đẩy liên kết và hợp tác kinh tế giữa cácdoanh nghiệp DNNN nhằm hình thành nên các tập đoàn kinh tế

Trong giai đoạn đầu cải cách khi hệ thống luật pháp về doanh nghiệp chưahoàn thiện, chính phủ Trung Quốc đã sử dụng các biện pháp hành chính để bắtbuộc các doanh nghiệp sáp nhập lại với nhau Đây thường là các doanh nghiệp nhànước đã có sẵn mối liên kết theo ngành từ trước nhưng cũng có khi chính phủ dựatrên nhu cầu, định hướng của nền kinh tế để sáp nhập các doanh nghiệp khôngcùng ngành lại với nhau

Để tập đoàn kinh tế hoạt động thực sự hiệu quả sự tự nguyện, cùng có lợigiữa các bên tham gia là yếu tố quyết định Năm 1993, Trung Quốc đã ban hành

luật công ty, nhằm “thiết lập hệ thống DNNN hiện đại với quyền và trách nhiệm về tài sản được xác định rõ ràng; tách bạch DNNN khỏi quản lý nhà nước với cơ cấu quản lý hiện đại phù hợp với nền kinh tế thị trường” Theo đó các doanh nghiệp

Trang 14

nhà nước đang hoạt động theo luật xí nghiệp quốc hữu (1988) đủ điều kiện sẽ đượcchuyển sang hoạt động theo mô hình công ty hoàn toàn vốn nhà nước Sở dĩ TrungQuốc lựa chọn giải pháp công ty hoá là vì công ty là hình thức căn bản của doanhnghiệp hiện đại có ưu điểm là có thể khắc phục được các khuyết điểm của cácdoanh nghiệp nhà nước trước đây Điều đó được thể hiện qua các điểm sau:

- Công ty hoá với nghĩa rộng bao gồm chế độ cổ phần mà chế độ cổ phần cónhiều hình thức, ngoài ra còn có các hình thức công ty khác (như công ty tráchnhiệm hữu hạn do nhà nước đầu tư 100% vốn) có thể được làm hình thức quá độtiến tới thực hiện chế độ cổ phần và lập ra công ty cổ phần hữu hạn

- Ưu điểm lớn nhất là nó thúc đẩy quan hệ quyền tài sản trở nên rõ ràng,rành mạch Công ty cổ phần hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai người trởlên góp vốn đều phải lấy sự rõ ràng, rành mạch về quyền tài sản làm tiền đề

- Công ty hoá doanh nghiệp nhà nước có lợi cho việc thu hút tài sản của cácdoanh nghiệp khác hoặc tham gia vào các doanh nghiệp khác kể cả công ty do nhànước đầu tư 100% vốn (do quyền sở hữu cuối cùng và quyền sở hữu pháp nhân đãđược phân định rõ ràng) Cho nên các doanh nghiệp có thể thu hút các pháp nhânkhác tham gia vào doanh nghiệp của mình, từ đó trở thành công ty trách nhiệm hữuhạn có cổ phần pháp nhân, hoặc tham gia vào công ty khác, góp cổ phần, cácdoanh nghiệp đan xen nhau Điểm quan trọng hơn là nó có thể thật sự phát triểncác tập đoàn kinh tế, thống nhất chỉ huy các doanh nghiệp tham gia tập đoàn thôngqua sự kết tụ và ràng buộc về quan hệ tài sản

Biện pháp cổ phần hoá cũng được áp dụng nhằm tạo điều kiện cho cácDNNN mở rộng quy mô Các DNNN sau khi cổ phần hoá, tiếp tục tham gia cổphần, nắm giữ cổ phần khống chế, hình thành chuỗi công ty mẹ – công ty con –công ty cháu Đặc biệt là công ty đầu tư tài sản nhà nước có thực lực hùng hậu làcông ty mẹ của một số công ty lớn (hoặc một số doanh nghiệp cổ phần), bằng cáchnắm giữ quyền sở hữu cổ phần chủ yếu nó kiểm soát các công ty lớn Các công tylớn cũng dùng phương thức ấy để kiểm soát các công ty con công ty cháu Cótrường hợp Trung Quốc cải tạo cơ quan chủ quản của ngành cũ thành công ty có tưcách pháp nhân kinh tế, cổ phần hoá ngân hàng chuyên ngành thành doanh nghiệp

cổ phần, hoặc thành lập doanh nghiệp cổ phần mới…Do chúng đều là các phápnhân độc lập cho nên quan hệ với nhau không phải là quan hệ hành chính mà là

Trang 15

quan hệ quan hệ kinh tế thuần tuý giữa các pháp nhân bình đẳng, là quan hệ kiểmsoát cổ phần giữa công ty mẹ và công ty con.

Như vậy công ty hoá và cổ phần hoá đều thích ứng với đòi hỏi của nền sảnxuất xã hội hoá, giúp cho việc hình thành hệ thống kết cấu mạng, cấu trúc lựclượng sản xuất theo chiều dọc và chiều ngang, hình thành nên các tập đoàn kinh tế

* Thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ.

Các TĐKT nhà nước được chính phủ Trung Quốc linh hoạt áp dụng cácchính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này không ngừng lớnmạnh Trung Quốc thành lập Uỷ ban trung ương các doanh nghiệp lớn nhằm táchrời các tập đoàn kinh tế với các cơ quan hành chính của chính phủ Chúng trởthành những đơn vị lập kế hoạch độc lập không phụ thuộc vào cơ quan hành chínhđịa phương và các cơ quan nhà nước khác

Dưới sự bảo lãnh của ngân hàng các tập đoàn kinh tế nhà nước được phépthành lập các công ty tài vụ, cho phép tăng khả năng huy động vốn trong toàn bộtập đoàn Các tập đoàn kinh tế mới thành lập được hưởng các khoản vay ưu đãi, vàcác chính sách đãi ngộ khác nhau ở mỗi địa phương…Các tập đoàn kinh tế nhànước quản lý trực tiếp xuất nhập khẩu của tập đoàn và được hưởng đặc quyền nộpthuế chung ở câp tập đoàn

Trang 16

* Nâng cao chất lượng đội ngũ quản trị doanh nghiệp.

Sau một thời gian dài của thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đội ngũ cán

bộ quản lý kinh tế ở Trung Quốc phần lớn trở nên kém năng động, chậm thích nghivới cơ chế thị trường, không đáp ứng được với đòi hỏi ngày càng cao của nên kinh

tế Vì vậy, đào tạo đội ngũ các nhà doanh nghiệp được chính phủ Trung Quốc quantâm hàng đầu Bên cạnh nâng cao chất lượng nền giáo dục trong nước Trung Quốccòn chú trọng đến vấn đề tài trợ cho các lưu học sinh sang học tập tại các nước tưbản tiên tiến nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Trung Quốc cũng là một trong số ít những nước đang phát triển đã thànhcông trong lĩnh vực ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám Với biện pháp trảlương bằng hoặc tương đương với các phát triển Trung Quốc đã huy động được sốlượng lớn các Hoa kiều, các lưu học sinh và các doanh nhân nước ngoài làm việccho các doanh nghiệp trong nước Trung Quốc cũng sử dụng kinh ngiệm của độingũ này để xây dựng các loại hình doanh nghiệp, các chiến lược kinh doanh, cạnhtranh….đã được áp dụng thành công ở các nước phát triển

* Xây dựng các định chế thị trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các tập đoàn kinh tế

Trung Quốc hình thành và phát triển các TĐKT trong giai đoạn chuyển từnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, sự can thiệp của các

cơ quan hành chính nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngàycàng giảm, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh để tự lớn mạnh Muốn vậyphải xây dựng một hệ thống thị trường hoàn chỉnh nhằm tạo điều kiện cho sự pháttriển của các TĐKT Trong đó phải kể đến thị trường chứng khoán, thị trườngthông tin, thị trường hàng hoá tiêu dùng…

- Phát triển thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán có nhiều tác động tích cực thúc đẩy sự phát triểncủa các công ty và các tập đoàn kinh tế Nó là cộng sự hữu hiệu để huy động vốncủa các công ty, là nơi bỏ vào hoặc rút vốn ra một cách nhanh chóng của các nhàđầu tư Mặt khác, đó là nơi phản ánh đúng đắn giá trị của công ty cũng như cổphần của nó Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán một hay toàn bộcông ty, thúc đẩy sự xâm nhập, thôn tính lẫn nhau giữa các công ty tạo thànhnhững công ty có quy mô lớn hơn hoặc chùm các công ty gắn bó với nhau qua gópvốn

Trang 17

Phát triển thị trường chứng khoán góp phần thúc đẩy nhanh quá trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước, khơi thông dòng lưu chuyển vốn giữa các thànhphần kinh tế Trung Quốc đã giảm và từng bước xoá bỏ sự khống chế quá cứngnhắc đối với doanh nghiệp phát hành chứng khoán, nới lỏng điều kiện phát hànhchứng khoán doanh nghiệp, đơn giản hoá thủ tục phê duyệt doanh nghiệp pháthành chứng khoán, tăng số lượng và hình thức chứng khoán doanh nghiệp, thoảmãn nhu cầu của các nhà đầu tư Giải quyết nhu cầu về vốn của các doanh nghiệpnhà nước loại vừa và lớn, của các tập đoàn kinh tế bằng cách ngày càng dựa nhiềuvào việc phát hành trái khoán công khai ngoài xã hội, tăng lượng phát hành trên thịtrường Thông qua thị trường chứng khoán các doanh nghiệp có thể lựa chọnnhững doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá làm ăn hiệu quả để đầu tư vốn, tạomối quan hệ ràng buộc, đan xen nhau thông qua việc nắm giữ cổ phần nhiều hay ít.

Bên cạnh đó Quốc vụ viện còn chú trọng xây dựng các thị trường khác vềquyền tài sản như: thị trường đấu giá doanh nghiệp, thị trường thuê mướn doanhnghiệp, thị trường giao dịch của doanh nghiệp phá sản, thị trường sát nhập doanhnghiệp v.v…để giao dịch về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền kinh doanh, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, hình thành nên cácTĐKT

- Phát triển thị trường thông tin.

Trung Quốc chủ trương thị trường hoá ngành thông tin, dồn sức gây dựng vàphát triển thị trường thông tin, đi đôi với quản lý thị trường này Một mặt chínhphủ coi trọng việc định ra các pháp quy và điều lệ để đảm bảo việc vận hành bìnhthường của thị trường thông tin mặt khác nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tưphát triển để phục vụ nhu cầu phát triển của các TĐKT Trung Quốc đặc biệt quantâm phát huy vai trò chủ lực của các trung tâm thông tin thuộc các cơ quan nhànước các cấp, phát triển hệ thống dịch vụ thông tin với nhiều ngành khác nhau,nhiều cấp độ khác nhau, hình thành mạng thông tin thông suốt có hiệu quả cao

- Phát triển thị trường hàng hoá tiêu dùng.

Thị trường hàng hoá tiêu dùng cũng là điều kiện quan trọng đối với cácTĐKT, vì nó đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, mở rộng thị trường và

cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh ( Trung Quốc có thị trường nội địa rộng lớn vớihơn một tỷ dân) Chính quyền các cấp, các cơ quan hữu quan đã quán triệt tinhthần tôn trọng quy luật giá trị, tạo ra môi trường để các TĐKT thật sự tự do giao

Ngày đăng: 02/10/2013, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: - MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ  CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 3 (Trang 23)
Bảng 4: - MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ  CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 4 (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w