Nhờ có những cải tiến về thể chế tổ chức doanh nghiệp mà một trong những nội dung của nó là thành lập các TĐKT và ở đó công ty mẹ có vai trò kiểm soát chiến lược hoạt động và vốn đối với
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ……….………….………… 3
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĐKT
NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC……… ……… …… 8
1.1 Cơ sở lý luận của việc hình thành TĐKT Nhà nước ở
Trung Quốc……… 8
1.1.1 Khái niệm TĐKT Nhà nước của Trung Quốc………. 8
1.1.2 Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà
nước đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc………. 12
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và phát triển mô
2.1.3 Vai trò của Chính phủ đối với quá trình hình thành và phát
triển TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc……….…… 31
2.2 Đặc điểm của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc 35
2.2.1 Đặc trưng cơ bản của các TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc 35
2.2.2 Những kết quả đạt được của quá trình hình thành và phát
triển mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc……… 51
Trang 22.3 Đánh giá chung về mô hình TĐKT Nhà nước của
Trung Quốc ……… 64
2.3.1 Những thành công của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc……… 64
2.3.2 Những hạn chế chủ yếu của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc ……… 69
2.3.3 Bài học kinh nghiệm từ mô hình TĐKT Nhà nước của Trung Quốc……… ………. 74
CHƯƠNG III - VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CUẢ TRUNG QUỐC VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM ……… ………. 81
3.1 Tình hình khu vực DNNN và quan điểm về TĐKT nhà nước ở Việt Nam ……… 81
3.1.1 Bối cảnh khu vực DNNN ở Việt Nam hiện nay………. 81
3.1.2 Quan điểm về tập đoàn hoá các Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam……… 85
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ………. 93
KẾT LUẬN ………. 100
PHỤ LỤC 1……… 102
PHỤ LỤC 2……… 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 106
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mô hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường như các loại mô hình Cartel, Syndicate, Trust, Conglomerate, Chaebol… Nó ra đời và phát triển từ yêu cầu của tích tụ và tập trung sản xuất
ở các nước tư bản phát triển Vì vậy, nhiều quốc gia trong đó có Trung Quốc
đã rất chú trọng đến vấn đề hình thành các TĐKT do những lợi ích kinh tế quy mô lớn mà các tập đoàn tạo ra đối với sự tăng trưởng và phát triển trong
xu thế hội nhập với toàn cầu hoá kinh tế và từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước Từ 1978 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) với một trong những nội dung quan trọng là hình thành các TĐKT mạnh, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Do tính đặc thù của Trung Quốc là hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước nên việc phát triển các TĐKT của Trung Quốc chịu ảnh hưởng của Chính phủ nhiều hơn là của các lực lượng thị trường Nhờ có những cải tiến về thể chế tổ chức doanh nghiệp mà một trong những nội dung của nó là thành lập các TĐKT và ở đó công ty mẹ có vai trò kiểm soát chiến lược hoạt động và vốn đối với các công ty con, trong những năm qua, các TĐKT của Trung Quốc đã phát huy được tác dụng đối với nền kinh tế, tạo được những bước tăng trưởng vượt bậc Trong thời kỳ đổi mới
1978 - 2001, GDP của Trung Quốc đã tăng bình quân hơn 8%/năm và Trung Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới
Tuy nhiên, mô hình TĐKT của Trung Quốc cũng có những hạn chế nhất định Một số lượng lớn các tập đoàn hoạt động không mấy hiệu quả, trong số
đó có các TĐKT Nhà nước Thực tiễn này đặt ra vấn đề cần nghiên cứu đánh
Trang 5giá mô hình TĐKT Nhà nước của Trung Quốc để rút ra những bài học so sánh cho quá trình xây dựng và phát triển các TĐKT Nhà nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng và Chính phủ chủ trương xây dựng các TĐKT mạnh, nhất là trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân để phục vụ cho sự nghiệp CNH và HĐH đất nước Đối với Việt Nam, việc xây dựng và phát triển TĐKT là vấn
đề mới trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Trong đó, việc nhận thức đúng đắn về vai trò của Nhà nước đối với sự hình thành và phát triển của TĐKT là một trong những yêu cầu bức xúc hiện nay của Việt Nam trong quá trình thực hiện đổi mới nền kinh tế nói chung và cải cách DNNN nói riêng Trung Quốc và Việt Nam có những điểm tương đồng về mục đích cải cách nền kinh tế và cải cách DNNN Một là, cả hai nước đều phát triển nền KTTT theo định hướng XHCN và đều là các nước đang phát triển Hai là, cả hai đều chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền KTTT Ba là, cả hai đều đang trong quá trình CNH - HĐH đất nước Bốn là, cả hai đều tích cực đổi mới, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, việc nghiên cứu mô hình TĐKT Nhà nước của Trung Quốc, làm rõ sự hình thành, phát triển TĐKT Nhà nước và đánh giá chúng để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng, phát triển TĐKT Nhà nước trên cơ sở các Tổng công ty (Tcty) Nhà nước ở Việt Nam là cần thiết Vì thế, chúng tôi chọn
đề tài “Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành
kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa (XHCN)
2 Tình hình nghiên cứu
Những vấn đề lý luận chung về TĐKT, nhu cầu hình thành và phát triển TĐKT ở Việt Nam và các mô hình TĐKT xuyên quốc gia của một số nước châu Á đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố qua một số sách và một
Trang 6số bài viết đăng trên các báo và tạp chí Ví dụ có sách: “Mô hình TĐKT trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá” do Vũ Huy Từ chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002; sách “Bàn về cải cách toàn diện DNNN” của tác giả Trương Hán Bân do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996; hay sách
“Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Đình Phan do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996 Và sách
“Trung Quốc trước Ngã ba đường” của tác giả Peter Nolan, Trần Thị Thái Hà (biên dịch), PGS.TS Trần Đình Thiên và Nguyễn Mạnh Hùng (hiệu đính), do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2005 Sách “Cải tổ các Chaebol Hàn Quốc và Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của TS Vũ Phương Thảo do Nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2005 nghiên cứu mô hình TĐKT của Hàn Quốc, và sách “Những vấn đề cơ bản của Luật DNNN năm 2003” của Vụ Công tác lập pháp do Nxb Tư pháp xuất bản năm 2003, tập hợp các quy định pháp lý về Tcty Nhà nước và TĐKT ở Việt Nam … Ngoài ra, các bài viết trao đổi về xây dựng mô hình TĐKT Nhà nước ở Việt Nam đã đăng tải nhiều trên các báo, tạp chí như: “Một số vấn đề cơ bản của TĐKT” của tác giả Nguyễn Thế Hải đăng trên tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương số 8/2005 Tác giả Đặng Khánh Duy với bài “Cần có một
tư duy mới trong thành lập TĐKT ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Kinh tế và phát triển, số 98 (8/2005), hay bài “Việt Nam có xây dựng thành công TĐKT” của tác giả Lê Mai đăng trên tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 9/2005 v.v… Và một số luận văn tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp thạc sĩ, các bài báo trên các website cũng nghiên cứu, đề cập đến vấn đề TĐKT ở Việt Nam
Trong thời gian gần đây, khi Chính phủ chủ trương hình thành các TĐKT Nhà nước trên cơ sở các Tổng công ty 90 và 91, mô hình TĐKT của Trung Quốc trở thành vấn đề được sự tập trung chú ý nghiên cứu Thạc sĩ
Trang 7Phan Minh Tuấn, có bài “TĐKT Trung Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam” đã đề cập đến những đặc trưng của mô hình TĐKT ở Trung Quốc đăng trên tạp chí Thông tin Khu Công nghiệp Việt Nam, số 31 (4/2003) Và vấn đề làm thế nào để hình thành và phát triển TĐKT đã được Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương nghiên cứu trong một đề án cấp nhà nước: “Đề án hình thành và phát triển TĐKT trên cơ sở Tổng công ty nhà nước”
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề cần thiết phải xây dựng các TĐKT Nhà nước ở Việt Nam vẫn đang được tranh luận trong giới nghiên cứu Bên cạnh đó, chưa có những nghiên cứu sâu đánh giá những mặt được và những hạn chế của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc để từ đó rút ra những bài học vận dụng cho Việt Nam trong việc xây dựng các Tcty 90, 91 thành TĐKT Nhà nước Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu mảng đề tài này là việc làm cần thiết và có ý nghĩa trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu những quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng và chính phủ Trung Quốc về thành lập TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc Đồng thời, nghiên cứu đánh giá mô hình TĐKT Nhà nước của Trung Quốc Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển TĐKT Nhà nước của Trung Quốc Trên cơ sở đó, đề xuất các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam tham khảo trong quá trình thí điểm hình thành một số TĐKT từ các Tổng công ty Nhà nuớc mạnh ở Việt Nam Vì thực tế ở Trung Quốc, việc thành lập các TĐKT Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn là nhằm tạo điều kiện để Trung Quốc điều chỉnh cơ cấu, định hướng phát triển nền kinh tế, đặc biệt là cải cách và phát triển khu vực kinh tế Nhà nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 8Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các TĐKT của Trung Quốc, đặc biệt là những TĐKT Nhà nước - là những tập đoàn ra đời và phát triển từ sau cải cách DNNN (năm 1978) đến nay
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các TĐKT từ năm 1978 đến nay (số liệu nghiên cứu chủ yếu tập hợp đến năm 2001) trong khuôn khổ lộ trình cải cách DNNN ở Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét sự hình thành và phát triển của các TĐKT Nhà nước của Trung Quốc trong trạng thái động, nhìn nhận qua các thời kỳ và đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ
Các phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp thống kê cũng được sử dụng phục vụ cho mục đích của đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TĐKT Nhà nước ở
Trung Quốc
Trang 9- Chương 2: Thực trạng hình thành và phát triển của TĐKT Nhà
nước ở Trung Quốc
- Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc vào việc xây
dựng và phát triển TĐKT Nhà nước ở Việt Nam
Khái niệm TĐKT Nhà nước của Trung Quốc
Khái niệm về Tập đoàn kinh tế (TĐKT) hay còn được gọi là tập đoàn
doanh nghiệp của Trung Quốc được xuất hiện đầu tiên từ những năm 80
Nhưng cho đến nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tập đoàn Có quan điểm cho rằng: “TĐKT là một tổ hợp các liên kết pháp nhân kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phương thức hoạt động khác nhau nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp luật Tập đoàn hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước, trong đó có công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển” Hiện nay, tên gọi là TĐKT hay tập đoàn kinh doanh hay tập đoàn doanh nghiệp chưa có sự phân biệt cụ thể nhưng thực chất các danh từ này là tương
đương nên đề tài sử dụng tên gọi thống nhất chung cho cả luận văn là TĐKT
Trang 10Và thực tế ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ được sử dụng phổ biến để chỉ loại hình tổ chức kinh tế này là các TĐKT
Một khái niệm khác được coi là đầy đủ hơn về TĐKT được đưa ra trong
“Quy định tạm thời về thành lập và quản lý các TĐDN” của Uỷ ban Kinh tế
và Mậu dịch Nhà nước, Uỷ ban cải cách cơ cấu Nhà nước từ tháng 4/1995 và được khẳng định lại trong bộ “Luật về đăng ký kinh doanh của TĐDN” của Cục Thương mại và Công nghiệp (Trung Quốc) năm 1997, thì: “Tập đoàn doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp liên quan với nhau bởi một công ty mẹ Công ty mẹ của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ hoạt động như là hạt nhân của tập đoàn, còn các công ty con và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là pháp nhân được pháp luật công nhận, chia sẻ tất cả các quyền dân sự liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh; TĐDN không phải là pháp nhân”
TĐKT Trung Quốc là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá Đó là một khối liên kết bằng quan hệ về tài sản, quan hệ hiệp tác Như vậy, quan điểm của Chính phủ và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKT là nhất quán và tương đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới Tuy nhiên do tính đặc thù về kinh tế của Trung Quốc nên sự hình thành và phát triển của các tập đoàn cũng có những nét đặc trưng khá điển hình TĐKT ở Trung Quốc có thể không là một pháp nhân song cũng có thể là một pháp nhân độc lập giống như một hiệp hội các doanh nghiệp nhưng là hiệp hội đa ngành nghề và có quy mô vốn khổng lồ Tuy nhiên, khi nhận dạng một TĐKT cần thiết phải quan tâm đến những “đặc điểm” của chúng hơn là việc đưa ra một định nghĩa có tính “chuẩn hoá”
Về mặt pháp lý, TĐKT ra đời và tồn tại được nhờ các ràng buộc về quan
hệ tài chính, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ khế ước (hợp đồng) Còn về
Trang 11khía cạnh kinh tế, TĐKT ra đời và phát triển dựa vào nền tảng công nghệ sản xuất hàng loạt, đảm nhiệm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất liên kết và chuyên môn hoá
Bên cạnh các khái niệm trên, ở Trung Quốc còn tồn tại khái niệm cho rằng: TĐKT (tên tiếng Anh là Enterprise group - từ này được định nghĩa trong quy định của Chính phủ) là một tập hợp các doanh nghiệp tồn tại độc lập một cách hợp pháp hình thành một công ty mẹ, các công ty con trong đó công ty
mẹ chiếm cổ phần đa số và có các doanh nghiệp hoặc tổ chức thành viên Quan điểm về TĐKT ở các quốc gia cũng có một số điểm khác nhau Ví dụ:
* Ở Hàn Quốc, TĐKT được gọi là Chaebol: thuật ngữ Chaebol dùng để chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ Các công ty thường có cổ phiếu tại mỗi công ty khác và thường do một gia đình điều hành
* Ở Nhật Bản, TĐKT được gọi là Keiretsu: từ này mô tả một tổ hợp liên kết không chặt chẽ gồm các công ty được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên Đôi khi, không phải luôn luôn, các công ty sở hữu vốn trong từng công ty khác
Theo cuốn “Từ điển kinh tế” của Nhật Bản, tập đoàn kinh doanh (TĐKD) là một tổ hợp các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm
* Ở Ấn Độ, TĐKT được gọi là Business group: từ này khái quát chỉ tập hợp các công ty liên kết với nhau dưới một số hình thức chính quy hoặc không chính quy, có đặc điểm là mức độ ràng buộc trung gian, cụ thể là không phải đơn thuần bị ràng buộc bởi các liên minh mang tính chiến lược ngắn hạn và cũng không phải hợp nhất thành một thực thể duy nhất Các nhóm
Trang 12doanh nghiệp có hai đặc điểm chính, mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty trong tập đoàn và những hoạt động phối hợp do những mối liên kết đó tạo thành
* Ở phương Tây, TĐKT được gọi là Conglomerate hoặc Corporation hoặc Group: những từ này thường được sử dụng để chỉ một nghiệp đoàn bao gồm nhiều doanh nghiệp về bề ngoài không liên quan với nhau Cơ cấu này giúp
đa dạng hoá rủi ro kinh doanh song sự thiếu tập trung có thể gây khó khăn hơn trong việc quản lý các công ty kinh doanh khác nhau
Theo một số nước như Hà Lan, Anh, Đan Mạch cho rằng: TĐKD là sự liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế
* Ở Việt Nam, theo Từ điển Anh - Pháp - Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội (1998), định nghĩa: Một TĐKT và tài chính gồm một công ty mẹ và các công
ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi công ty con cũng
có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác
Khái niệm “TĐKT Nhà nước” theo quan điểm của Trung Quốc là:
Tổ chức kinh tế có kết cấu nhiều cấp (nhiều cấp độ sở hữu), nó đáp ứng đòi
hỏi của nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa và của nền sản xuất xã hội hoá Doanh nghiệp nòng cốt của nó là nòng cốt của tập đoàn, là thực thể kinh
tế có tư cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh Bằng các hình thức nắm giữ cổ phần khống chế, tham gia cổ phần, hiệp tác, doanh nghiệp nòng cốt gắn bó với một hoặc nhiều doanh nghiệp ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và liên kết lỏng lẻo Những doanh nghiệp này đều có tư cách pháp nhân độc lập
Các học giả của Trung Quốc cũng cho rằng: TĐKT Nhà nước (TĐKTNN) là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp liên kết với nhau
bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản
Trang 13xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá Thông qua việc nắm cổ phần chi phối, tham gia cổ phần, hợp tác, doanh nghiệp nòng cốt của tập đoàn gắn bó với các doanh nghiệp khác ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ
và lỏng lẻo Các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân
Như vậy quan điểm của các nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKTNN nói riêng và TĐKT nói chung là nhất quán và tương đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật ở khái niệm TĐKT Nhà nước của Trung Quốc là nêu rõ tập đoàn có một công
ty mẹ và các công ty con với mức độ liên kết chặt chẽ, nửa chặt chẽ, hoặc lỏng lẻo tuỳ theo số cổ phần của công ty mẹ ở các công ty thành viên nhưng công ty mẹ nắm quyền kiểm soát về chiến lược hoạt động của cả tập đoàn Trong khi đó, khái niệm tập đoàn ở các nước khác lại có cơ cấu linh hoạt hơn, không quy định chặt chẽ chỉ có một công ty mẹ và được phép đầu tư ngược vào công ty mẹ Điểm khác biệt đặc trưng riêng nữa của Trung Quốc là các TĐKT Nhà nước phải đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá mà TĐKT ở các nước khác hình thành không vì mục đích này mà chỉ vì mục tiêu lợi nhuận của chính những người sở hữu tập đoàn
Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc
Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc họp tháng 12 - 1978 đã vạch ra chiến lược cải cách và mở cửa mang tính quốc sách Trung Quốc thực sự bước vào con đường xây dựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nước mạnh, đạt được nhiều thành tựu huy hoàng và để lại nhiều bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi Điểm nổi bật về cơ bản là Trung Quốc đã đạt được mục
Trang 14tiêu đề ra: Trong 10 năm từ 1981 - 1990 tổng sản phẩm xã hội tăng gấp đôi;
10 năm tiếp theo 1991 - 2000 thì GDP cũng tăng gấp đôi Năm 2005, GDP của Trung Quốc đạt 1.689,5 tỷ USD, ước tính đến cuối năm 2020, GDP của Trung Quốc sẽ đạt 4.300 tỷ USD Đến năm 2005, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đã đạt mức 1.774 USD/1năm (quy đổi là khoảng 19.514 NDT) cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và hiệu quả của Trung Quốc từ sau cải cách và mở cửa (Có tài liệu cho rằng, giai đoạn từ 1979 -
1997, GDP bình quân đầu người ở thành thị khoảng 6000 NDT/năm, ở nông thôn khoảng 4.000 NDT/năm) Lý do khiến Trung Quốc thành công được như vậy mặc dù có những căng thẳng đáng kể và vô số thiếu sót trong chính sách,
là do Nhà nước vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định xã hội, giải quyết những vấn đề của thất bại thị trường, điều tiết phân phối thu nhập, của cải và những cơ hội của cuộc sống, cách thức quản lý mà theo đó Trung Quốc tương tác với nền kinh tế toàn cầu
Mô hình nền kinh tế Trung Quốc là một bức tranh mang nhiều đặc sắc riêng trong tổng hoà các nền kinh tế trên thế giới Trung Quốc đang tìm kiếm một con đường tiến lên và thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước nhằm phấn đấu hoàn thành quá trình này vào những năm đầu của thế kỷ 21 Thực tế này có được theo các nhà kinh tế Trung Quốc hiện nay khẳng định và đúc kết
là nhờ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi từ bỏ nền kinh tế “kế hoạch hoá” của thời kỳ Mao Trạch Đông và có chính sách “cải cách và mở cửa” của nhà lãnh đạo, “tổng công trình sư của công cuộc cải cách và mở cửa ở Trung Quốc” Đặng Tiểu Bình, về xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN mang màu sắc Trung Quốc, bao gồm các bước sau:
- Phát triển nền KTTT, liên tục giải phóng và phát triển sức sản xuất
- Kiên trì chế độ công hữu XHCN, tìm tòi các hình thức kinh tế đa sở hữu
Trang 15- Hoàn thành thể chế kinh tế thị trường XHCN, thị trường có vai trò quan trọng trong điều tiết vĩ mô của Nhà nước
- Chế độ phân phối theo lao động là chính, kết hợp với các hình thức phân phối khác Kết hợp phân phối theo lao động với phân phối theo nhu cầu Ngoài ra kiên trì thực hiện thị trường hoá toàn bộ các hình thức phân phối này Trong đó phân phối phải chấp nhận có bộ phận giàu có trước
Và để xây dựng thành công CNXH mang màu sắc Trung Quốc cần phải:
- Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tế Trung Quốc
- Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc
- Kiên quyết theo định hướng XHCN
- XHCN ở Trung Quốc hiện tại mới đang ở giai đoạn bắt đầu xây dựng
Trước cải cách, kinh tế Trung Quốc gần như hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng, chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978 Đó là nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và Nhà nước quản lý bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu Do đó, khu vực kinh tế Nhà nước là chủ yếu còn khu vực kinh tế tư nhân không được thừa nhận mà bị ngăn cấm Thực trạng này dẫn đến hạn chế cho nền kinh tế Trung Quốc là
Trang 16trình độ phát triển của lực lượng sản xuất rất thấp do quan hệ sản xuất đình trệ Tuy nhiên, nhận thức về kinh tế Nhà nước ngày càng thay đổi sâu sắc do đòi hỏi khách quan phải CNH, HĐH đất nước với chủ trương nhiều loại hình kinh tế cùng phát triển, tỷ trọng của các loại hình kinh tế phi công hữu (gồm kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân …) đã tăng từ 0,9% năm 1978 lên 24,2% năm
1997 trong GDP và mức giảm tương ứng của kinh tế công hữu từ 99,1% năm
1978 xuống còn 75,8% năm 1997 Sự phát triển nhảy vọt của loại hình kinh tế phi công hữu làm cho nền kinh tế Trung Quốc thay đổi, giải quyết được nhiều lao động dôi dư ở cả nông thôn lẫn thành thị Từ chỗ chưa được công nhận đến chỗ được “chính thức công nhận nhưng chỉ có vai trò bổ sung” (năm 1988) cho kinh tế công hữu, nay kinh tế tư nhân được Quốc hội Trung Quốc đưa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1999 quy định là “bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN, chính thức thừa nhận tầm quan trọng như nhau của khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước”, được Nhà nước bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, không hạn chế về quy mô, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác
Tuy nhiên, vai trò chủ thể của kinh tế công hữu không vì thế mà giảm đi với quan điểm nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn ở chất lượng, đóng vai trò khống chế của Nhà nước trong nền kinh tế Vì thế, các DNNN ở Trung Quốc vẫn chiếm tỷ trọng cao trong các ngành công nghiệp nặng, then chốt, đòi hỏi nhiều vốn như dầu mỏ, sản xuất điện, luyện kim, hoá chất … và trong một số ngành dịch vụ quan trọng như tài chính, bảo hiểm, vận tải, đường sắt, hàng không, viễn thông và dịch vụ y tế… nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước mà những hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân chưa thể đảm nhiệm vai trò to lớn này
Theo Giáo sư Peter Nolan, nhà kinh tế học về Trung Quốc hiện đại thuộc Đại học Cambridge nhận định: “Trung Quốc đang dò tìm một “Con đường
Trang 17thứ ba” giữa lúc nước này vẫn đang bộn bề trong phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, với lực lượng lao động dư thừa khổng lồ ở nông thôn (nguồn cung lao động không hạn chế), giữa một môi trường quốc tế lộn xộn, và với một dòng vốn nước ngoài ngày càng lớn đổ vào đất nước (đồng nghĩa với nền kinh tế đang ngày càng phụ thuộc với bên ngoài)” Và Nhà nước Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một xã hội văn minh, khá giả toàn diện không thể đóng cửa trước khuynh hướng chủ đạo trong kinh tế học và chính trị học quốc
tế, đó là: “Trong việc dò tìm (dò đá qua sông) cho riêng mình một sự sống còn của hệ thống kinh tế chính trị, Trung Quốc phải trông cậy vào các lực lượng thị trường (bao gồm các mức giá do thị trường xác định và các triết lý kinh doanh) và đặt chúng dưới sự kiểm soát, phục vụ cho toàn xã hội nhằm đạt được một nền kinh tế chính trị tổng thể có gắn kết về mặt xã hội” Bởi vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc có khả năng đề xuất một con đường phát triển cho một xã hội ổn định, gắn kết xã hội trong khuôn khổ một quốc gia: đó
là sự “lựa chọn” gia tăng vai trò của Nhà nước và làm cho nó hữu hiệu hơn để giải quyết những thách thức kinh tế xã hội ngày càng gay gắt mà đất nước đang phải đối mặt, và cải thiện Nhà nước là mục tiêu duy nhất hợp lý cho cải cách hệ thống của Trung Quốc Nếu Trung Quốc lựa chọn con đường cải cách
là bỏ mặc Nhà nước và để cho thuyết chính thống về thị trường tự do (tự do hoá hoàn toàn), tất yếu sẽ dẫn tới những căng thẳng không thể kiểm soát và sự tan rã của xã hội (vì ở tất cả các nước công nghiệp mà ở đó tối đa hoá lợi nhuận tư nhân là động lực của sản xuất thì hệ thống kinh tế cạnh tranh tư nhân đang tự quy tội chết cho chính nó bởi vì tất cả các bên đều không kiềm chế được lòng tham của họ và hệ thống đó sẽ không thể vận hành được) Và con đường duy nhất để Trung Quốc xử lý được đồng thời những thách thức của toàn cầu hoá, của chuyển đổi và phát triển là thông qua việc thực thi kiểm
Trang 18soát xã hội một cách chặt chẽ: quá trình tích luỹ phải đi trước, nếu không sẽ chẳng có bất kỳ sự “phát triển” nào
Ở Trung Quốc, việc tập trung xây dựng TĐKT có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN Cải cách DNNN và phát triển mô hình TĐKT chính là giải quyết hai khâu then chốt có tính chất căn bản trong quá trình phát triển Trung Quốc phải duy trì nhịp độ phát triển của một loạt các TĐKT trên cơ sở cơ chế thị trường, biến các tập đoàn quy mô lớn có sức cạnh tranh thực sự trở thành sức mạnh chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, trở thành phương thức tăng trưởng kinh tế mới, thành chủ thể trong việc điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, cơ cấu công nghiệp và tổ chức kinh doanh
Vì vậy, để phù hợp với mục tiêu coi kinh tế Nhà nước là chủ đạo và để CNH, HĐH nền kinh tế, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng thí điểm các xí nghiệp hiện đại đối với 120 xí nghiệp quốc hữu (DNNN) loại lớn và loại vừa theo mô hình TĐKT Nhà nước bằng hai đợt thí điểm vào các năm 1991 và
1997 và đã thu được những kết quả khả quan Vì nền tảng của cải cách kinh tế
ở Trung Quốc là tăng thêm quyền tự chủ của doanh nghiệp
Như vậy, khi các TĐKT ở Trung Quốc được thành lập và phát triển, vai trò của các TĐKT nói chung và của TĐKTNN nói riêng đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc được thể hiện trên các mặt sau:
(1) Các TĐKT sẽ khắc phục được khả năng hạn chế về vốn của từng
công ty riêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất trong tích tụ và tập trung vốn, khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu tư vào các dự án có hiệu quả cao nhất, từ đó sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vì với một số lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ trong nền kinh tế quốc dân khi tham gia cạnh tranh trên thị trường sẽ gặp khó khăn do sức mạnh bản thân thấp (năng lực nguồn vốn nhỏ), phải đối mặt với
Trang 19vấn đề tồn tại hay bị loại bỏ nên khi có mối quan hệ hợp tác với tập đoàn, các doanh nghiệp nhỏ sẽ nhận được sự bảo vệ hoặc đỡ đầu và nhiều cơ hội phát triển hơn từ phía tập đoàn
(2) Sự hình thành và phát triển của các TĐKT làm tăng khả năng kinh tế
của cả tập đoàn và các công ty thành viên, nó cho phép các nhà quản lý kinh doanh huy động được tất cả các nguồn lực trong xã hội, và việc tập trung các công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi khi cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài Thực chất TĐKT tạo ra nhu cầu nội tại cho phát triển, phân bổ hợp lý các nguồn lực, kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất, đạt được tính kinh tế nhờ quy mô Do vậy, TĐKT là một sức mạnh khung và
là một tổ chức kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của TĐKT thể hiện sức mạnh kinh tế quốc gia TĐKT có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất Sự hợp tác về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong tập đoàn với các Viện nghiên cứu khoa học còn cho phép các công ty thành viên có khả năng nhanh chóng đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, giảm thiểu các rủi ro lớn khi phải đầu tư để cải tiến kỹ thuật Sự thống nhất trong tập đoàn sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ ra nước ngoài cũng như việc thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lý Nó là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình
độ giữa các nước chậm phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nền kinh tế
(3) Đối với các nền kinh tế đang phát triển, nền công nghiệp trong nước
còn manh mún thể hiện ở chỗ: Cơ cấu không hợp lý, số lượng doanh nghiệp lớn nhưng quy mô của từng doanh nghiệp nhỏ và mức độ tập trung hoá sản xuất thấp, các doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật thấp, sản phẩm tương tự nhau, năng lực nghiên cứu và phát triển độc lập còn yếu Việc hình thành và
Trang 20phát triển các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để đưa một số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào hệ thống chuyên môn hoá và hợp tác hoá thông qua các kênh hợp tác về sản phẩm để tiếp tục điều chỉnh và tối ưu hoá việc xác định năng suất lao động và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
(4) Việc hình thành các TĐKT sẽ làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng
địa phương hay một quốc gia, nó giải quyết được việc làm cho một phần dân
cư tại khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp và làm tăng khả năng lớn mạnh của nền kinh tế, chống sự thâm nhập một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra được các thị trường khu vực và quốc tế
(5) TĐKT là một trung gian quan trọng với chính phủ để quản lý các
DNNN và thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Do chính phủ đã xoá bỏ nhiều cơ quan giám sát chuyên ngành trong nền kinh tế kế hoạch hóa truyền thống để kiểm soát và quản lý các DNNN khi phát triển nền KTTT Trong khi
đó, TĐKT có rất nhiều đơn vị thành viên, do đó chính phủ có thể quản lý một cách gián tiếp rất nhiều doanh nghiệp thành viên bằng cách trực tiếp kiểm soát tập đoàn thông qua mối quan hệ về vốn hoặc hệ thống hợp tác sản xuất hơn là bằng biện pháp hành chính Vì vậy, tập đoàn sẽ phải đóng vai trò là người giám sát trực tiếp cho chính phủ vì họ đưa một số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào hệ thống sản xuất và hợp tác của mình
Các TĐKT ở Trung Quốc ra đời có tác dụng thúc đẩy là tăng quy mô của nền kinh tế, phát huy vai trò chủ đạo trong cạnh tranh KTTT, thúc đẩy hợp tác sản xuất các sản phẩm đồng bộ theo hướng chuyên môn hoá cao Trung Quốc
đã từng bước “nới lỏng dần” sự quản lý tập trung của Nhà nước, giao thêm
quyền tự chủ kinh doanh cho các TĐKT, mở rộng dần phạm vi hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp từ lĩnh vực sản xuất, cung cấp nguyên liệu, bán
Trang 21thành phẩm sang các lĩnh vực khác như nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chia sẻ thông tin, thực hiện mối liên kết giữa công ty mẹ và công ty con chủ yếu dựa trên việc đầu tư cổ phần
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
MÔ HÌNH TĐKT NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC
Năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách DNNN đồng chí
Đặng Tiểu Bình đã vạch ra rằng:“ Thành lập TĐKT thì sẽ tạọ ra được sức mạnh, thông tin thông suốt, nhanh nhạy hơn” Muốn nâng cao tố chất chỉnh
thể của DNNN thì không những phải cải cách từng doanh nghiệp riêng lẻ mà còn phải căn cứ vào yêu cầu xã hội hoá để liên hiệp các doanh nghiệp lại với nhau, lập ra các TĐKT, tạo ra cơ cấu tổ chức tốt hơn giữa các doanh nghiệp Nếu nói rằng kinh doanh theo chiều sâu mà chủ yếu là nâng cao trình độ kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp thì liên kết các doanh nghiệp lại với nhau đặc biệt là thành lập ra các TĐKT là nâng cao trình độ tổ chức lực lượng sản xuất trong phạm vi xã hội Chỉ có phát triển theo hướng tập đoàn hoá thì các DNNN mới thực sự trở thành lực lượng sản xuất hiện đại, mới trở thành chủ thể thứ nhất của nền kinh tế thị trường, mới có thể triệt để phát huy được lợi thế của
mình
Hiện nay, tình hình kinh tế Trung Quốc cho thấy, bên cạnh những dấu hiệu khả quan về phát triển kinh tế và tình hình chính trị ổn định, nhân dân tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và chính phủ, song vẫn còn nhiều tồn tại Nền kinh tế “nóng” luôn đem lại hai mặt: tích cực và tiêu cực Sự phát triển kinh tế nhanh kéo theo tham nhũng, chênh lệch trình độ phát triển và bất bình đẳng về thu nhập; việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả làm nguy cơ thiếu nguyên vật liệu trầm trọng, mâu thuẫn giữa việc gia tăng khai thác phục
vụ sản xuất và xuất khẩu với yêu cầu bảo tồn để phát triển bền vững kèm theo
Trang 22ô nhiễm môi trường, phá huỷ hệ sinh thái Bên trong sự phát triển kinh tế còn là vấn đề cải cách DNNN gặp rất nhiều khó khăn Chủ trương xây dựng
hệ thống doanh nghiệp hiện đại tiến triển chậm, tình trạng doanh nghiệp thua
lỗ, tài sản Nhà nước bị thất thoát còn phổ biến Theo ước tính hiện nay, mỗi năm số thất thoát tài sản Nhà nước ở Trung Quốc lên tới khoảng 40 tỷ USD Tuy vậy, trong quá trình cải cách DNNN, Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp cải cách, cải tổ nhằm làm giảm tính độc quyền và lạm quyền, tăng cường khả năng cạnh tranh cho khu vực này mặc dù cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa có Luật chống độc quyền
Đối với nền kinh tế Trung Quốc thì vai trò và giá trị của DNNN là tất yếu khách quan Nhưng Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức ra được vấn đề quan trọng nhất là sự tồn tại của DNNN trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã không đem lại sự tăng trưởng thực chất với mục tiêu lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế
Mục tiêu của cải cách DNNN ở Trung Quốc là phát triển sức sản xuất của cả nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên cải cách DNNN ở Trung Quốc không đạt được sự cải thiện đáng kể trong hiệu quả hoạt động của chính các DNNN Lý do là lợi dụng quyền tự chủ trong hoạt động được trao cho DNNN nên dẫn đến sự tham ô tăng đáng kể từ năm 1992 trở đi, và từ năm 1997 lao động ở thành phố tăng lên đột ngột cộng với việc cắt giảm tín dụng ngân hàng có lãi suất thấp vốn chỉ ưu tiên dành cho các DNNN càng gây khó khăn cho quá trình cải cách DNNN
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Khẩu hiệu “Quốc hữu lùi ra, dân doanh tiến lên” khó thực hiện vì các biện pháp cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê hoặc sáp nhập các DNNN vào doanh nghiệp tư nhân đều không dễ thực hiện vì những gánh nặng nợ nần hoặc nghĩa vụ xã hội trong quá khứ của chính những
Trang 23DNNN muốn chuyển đổi Đối với những doanh nghiệp tư nhân muốn tiến lên cũng khó khăn vì gặp nhiều rào cản (do yếu tố tâm lý xã hội, vay tín dụng khó khăn hơn DNNN, quy mô thường nhỏ lẻ) và do tính phi chính thức của khu vực kinh tế tư nhân như không giữ được uy tín kinh doanh, dễ có hiện tượng làm ăn không chân chính, không tuân thủ pháp luật, không có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý Theo Peter Nolan: “Quá trình tư nhân hoá ở Trung Quốc cho tới nay được đặc trưng bởi giao dịch tay trong và tham nhũng phổ biến” Mặt khác, Trung Quốc có mức dân số khổng lồ gần 1,3 tỷ người, với số lao động là 829 triệu người (năm 1999) và có gần 70% dân số vẫn sống ở nông thôn Nhưng việc làm trong nông nghiệp ngày càng trì trệ, ước tính có khoảng 150 triệu lao động dôi dư ở khu vực nông nghiệp và ngày càng tăng lên Các xí nghiệp hương trấn (TVEs) ở các địa phương cũng ngừng trệ việc hấp thụ lao động nông thôn do phải cạnh tranh khi hội nhập thị trường toàn cầu hoá nên lĩnh vực sử dụng hàm lượng lao động cao với công nghệ sản xuất đơn giản sẽ bị loại bỏ để tăng nhanh năng suất lao động Do đó, việc thành lập một loại hình kinh tế có quy mô lớn và có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới là tất yếu khách quan và không thể phụ thuộc vào thành phần
kinh tế tư nhân và những doanh nghiệp vừa và nhỏ được
Vì vậy, để khắc phục những nhược điểm còn tồn tại của cải cách DNNN
và những yếu kém của khu vực kinh tế tư nhân, Nhà nước Trung Quốc quan điểm DNNN phải giữ vai trò chủ đạo, không có nghĩa là nắm số lượng mà phải giữ huyết mạch với phương châm “nắm to, thả nhỏ” Nghĩa là Trung Quốc tập trung vào thành lập, hỗ trợ, cải cách mạnh ở các xí nghiệp quốc hữu
có quy mô lớn, có tiền đề phát triển trong các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn, chi phí đầu tư cao với nhiều rủi ro Những xí nghiệp có quy mô lớn như vậy chính là các công ty tập đoàn (còn gọi là công ty mẹ) Với sự hình thành các công ty tập đoàn Nhà nước, việc quản lý trực tiếp của các Bộ đã bị loại
Trang 24trừ, chính phủ đã thực hiện được chủ trương hiện đại hoá công ty Lý do chính của sự hình thành các công ty tập đoàn Nhà nước là trong nền kinh tế toàn cầu hôm nay, cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia thực tế là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lớn và nhóm doanh nghiệp của mỗi quốc gia Và những cuộc đối đầu kinh tế quốc tế trong thực tiễn đã chỉ ra rằng, nếu một nước có nhiều doanh nghiệp lớn hay các tập đoàn lớn, nó sẽ duy trì một thị phần xác định và giữ một vị thế vững mạnh trong trật tự kinh tế thế giới
Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường XHCN, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Theo Ngô Bang Quốc (thuộc Hội đồng Nhà nước Trung Quốc), (trích trong Kinh tế Nhật báo, 1998) thì hiện tại và trong thế kỷ tiếp theo, vị thế của Trung Quốc trong trật tự kinh tế quốc tế phần lớn sẽ do vị thế của những doanh nghiệp và tập đoàn lớn của chính Trung Quốc quyết định Do vậy cần phải xây dựng các TĐKT theo hướng đa sở hữu trong đó sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng lớn Trong thời kỳ đầu của cải cách DNNN, chính phủ Trung Quốc đã nhận thấy tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong sản xuất, marketing và đổi mới công nghệ Điều này là để thích ứng với việc phân tách nặng nề về ngành và thị trường giữa các cơ quan hành chính nhà nước Ban đầu, hoạt động trong nhiều ngành thường được thực hiện theo kế hoạch chứ không phải là của các doanh nghiệp, nên không cần phải có các TĐKT Nhưng kể từ khi thực hiện cải cách và đổi mới, hệ thống kế hoạch hoá tập trung bị phá bỏ cùng với mức độ cải cách kinh tế và
mở cửa ngày càng sâu rộng, nhu cầu điều phối ở cấp độ doanh nghiệp đã tăng nhanh Vì vậy, “Cùng quản lý” là hình thức đầu tiên của TĐKT, bắt đầu xuất hiện để đáp ứng yêu cầu này
Trung Quốc cho rằng đổi mới về thể chế tổ chức doanh nghiệp, hình thành nên các TĐKT có thể khắc phục được các bất cập của thị trường trong
Trang 25quá trình chuyển đổi kinh tế Lý do là quá trình phát triển nền KTTT ở Trung Quốc vẫn đang tiếp tục, nên các chức năng của thị trường vần còn yếu kém và đôi khi phải chịu nhiều phí tổn Bằng việc hình thành các TĐKT, mỗi doanh nghiệp thành viên có thể tận dụng các thông tin tốt hơn, có khả năng đối phó với các rủi ro đi kèm với cơ cấu thị trường chưa phát triển và có khả năng tiếp cận với các khoản tín dụng mà bình thường phải rất tốn kém hoặc không thể
có được Điều quan trọng hơn là việc thành lập các TĐKT có thể tạo điều kiện cho quá trình cải cách DNNN khi việc tư nhân hoá hàng loạt không phải là giải pháp được lựa chọn
Mô hình TĐKT Nhà nước vừa phát huy được các ưu thế của một DNNN
là nắm vai trò chủ đạo trong các ngành kinh tế mũi nhọn đòi hỏi yêu cầu về vốn cao và phải có quy mô lớn, vừa thể hiện được ưu thế năng động, linh hoạt của các doanh nghiệp tư nhân, và tập đoàn sẽ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận theo cơ chế thị trường nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc phát triển hài hoà với lợi ích của Nhà nước XHCN
Về mặt lịch sử, trong hơn 10 năm (1978 - 1989) tìm tòi, lựa chọn bước
đi, thí điểm thực hiện và nhân rộng mô hình tập đoàn, Nhà nước Trung Quốc luôn coi các xí nghiệp quốc hữu là chủ thể quan trọng nhất với những ưu đãi,
hỗ trợ tài chính mà các loại hình doanh nghiệp khác không thể có được Trên nền tảng đó, các tập đoàn Nhà nước dựa trên các xí nghiệp quốc hữu mới có điều kiện để phát triển và nắm vai trò đầu tàu trong hệ thống các tập đoàn như hiện nay Thực tế cho thấy TĐKT Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Trung Quốc
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ
NƯỚC Ở TRUNG QUỐC
Trang 262.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH TĐKT NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC
2.1.1 Mục đích, mục tiêu và các nguyên tắc thành lập TĐKT
Thành công rực rỡ của công cuộc cải cách mở cửa nền kinh tế Trung Quốc hơn 1/4 thế kỷ qua (từ năm 1978) cho thấy, Trung Quốc đã tạo được những tiền đề chính trị và điều kiện về chế độ để giữ cho kinh tế phát triển nhanh, lâu dài, bền vững và xã hội tiến bộ toàn diện Nền kinh tế Trung Quốc
đã thu được lợi ích không chỉ từ lợi thế của phân công lao động quốc tế mà còn từ cạnh tranh quốc tế, tư bản và công nghệ nước ngoài, tạo cơ sở cho tăng trưởng kinh tế và cải cách trong nước từ việc hình thành mô hình TĐKT Việc hình thành và phát triển TĐKT là một vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… do vậy Trung Quốc chủ trương tiến hành thực hiện từng bước Nhà nước tiến hành thử nghiệm nhằm xác định được mô hình quản lý hiệu quả đồng thời áp dụng và điều chỉnh linh hoạt các chính sách qua từng thời kỳ để tạo điều kiện cho các TĐKT phát triển
Và việc thành lập tập đoàn ở Trung Quốc nhằm các mục tiêu:
Một là, thiết lập chế độ công ty mẹ và công ty con lấy vốn làm mối liên
kết chủ yếu; các doanh nghiệp phải tiến hành cải cách theo quy định của Luật Công ty và yêu cầu thiết lập chế độ doanh nghiệp hiện đại
Hai là, tiến một bước trong việc tăng cường chức năng của công ty mẹ
về mặt đầu tư, điều hoà vốn, kinh tế và mậu dịch đối ngoại … để công ty mẹ đóng vai trò chủ đạo về các mặt phát triển chiến lược, điều chỉnh cơ cấu, điều hoà lợi ích trong tập đoàn
Ba là, thúc đẩy sự điều chỉnh kết cấu tổ chức, kết cấu sản nghiệp, kết cấu
sản phẩm trong nội bộ tập đoàn, nâng cao hiệu quả quy mô, hiệu quả kết cấu
Trang 27Với đặc điểm nền kinh tế thị trường XHCN, Trung Quốc đề ra nguyên tắc thành lập tập đoàn là:
- Trong những ngành, lĩnh vực không cần mở cửa, không cho phép nước ngoài hoặc khu vực tư nhân đầu tư thì có thể thành lập một số tập đoàn để tránh độc quyền và tăng chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả hoạt động Không cho phép chỉ thành lập một tập đoàn hoặc một tổng công ty trong một ngành (vì dẫn đến độc quyền) Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nghiêm cấm các hoạt động lũng đoạn thị trường hoặc phong toả khu vực, được tự do tham gia và rút khỏi tập đoàn
- Trong những ngành, lĩnh vực có tính cạnh tranh cao (tức là cho phép nước ngoài hoặc khu vực tư nhân cùng đầu tư với DNNN) hoặc ngành, lĩnh vực cần chiếm lĩnh thị trường nước ngoài thì có thể cho phép thành lập tập đoàn kinh tế mà nhà nước vẫn giữ địa vị chi phối
- Công ty mẹ trong tập đoàn phải là một doanh nghiệp lớn có vốn đăng
ký tối thiểu 50 triệu NDT và có ít nhất 5 công ty thành viên (liên kết chặt chẽ) Tổng vốn đăng ký của cả tập đoàn (công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên) phải lớn hơn 100 triệu NDT Tất cả các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn phải có tư cách pháp nhân
- Ưu tiên lựa chọn những doanh nghiệp thuộc những ngành nghề, lĩnh vực quan trọng, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân để phát triển thành các TĐKT Việc hình thành TĐKT phải có tác động tích cực tới điều chỉnh cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm Trước hết cần hình thành các tập đoàn trọng điểm có khả năng thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển, tác động tích cực tới việc nghiên cứu và triển khai sản xuất các mặt hàng chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường
- Phân định rõ chức năng quản lý kinh doanh với chức năng quản lý hành chính Công ty mẹ của tập đoàn không thể thực hiện cả hai chức năng trên Và tập
Trang 28đoàn không phải là một cơ quan quản lý Nhà nước mà là một tổ chức kinh tế Mối quan hệ giữa công ty mẹ và doanh nghiệp thành viên là quan hệ sở hữu cổ phần hoặc quan hệ kỹ thuật sản xuất mà không phải là quan hệ lệ thuộc hành chính Những nguyên tắc trên do chính phủ Trung Quốc đưa ra từ năm 1997 là nhằm hạn chế việc thành lập các TĐKT ồ ạt, thiếu định hướng cũng như ngăn chặn tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng những ưu đãi mà Nhà nước dành cho các tập đoàn kinh tế
Mục đích của việc thành lập các TĐKT ở Trung Quốc:
Xuất phát từ quan điểm không thể chờ đợi một cách thụ động đến khi nền kinh tế có đầy đủ các điều kiện khách quan như ở các nước Tây Âu phát triển thì mới xây dựng TĐKT Vì vậy, chính phủ Trung Quốc nhận thức được vấn đề cần phải chủ động sử dụng sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực kinh
tế, đặc biệt sức mạnh của khu vực DNNN để nhanh chóng xây dựng và phát triển các TĐKT Do đó, mục đích của việc thành lập các TĐKT ở Trung Quốc là:
Một là nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, khai thác những lợi thế của
quy mô lớn và lợi thế của phân công chuyên môn hoá Các tập đoàn ở Trung Quốc được thành lập với mục đích tăng cường hiệu quả quản lý, nâng cao trình
độ cạnh tranh quốc tế và kết hợp được các lợi thế của sự chuyên môn hoá sản xuất với hoạt động kinh doanh đa dạng Hình thức tập đoàn khắc phục tình trạng thiếu vốn ở các công ty nhỏ lẻ, cho phép các công ty thành viên sử dụng nguồn vốn lớn của tập đoàn để đầu tư với hiệu quả cao nhất theo lợi thế kinh tế quy mô, thu lợi cho tập đoàn đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển
Hai là tách bạch quản lý hành chính và quản lý kinh doanh đối với
doanh nghiệp thuộc tập đoàn Cụ thể như sau:
Tập đoàn làm nhiệm vụ quản lý kinh doanh, Bộ chính quyền cấp tỉnh không can thiệp vào quản lý kinh doanh của tập đoàn Bộ, chính quyền cấp tỉnh
Trang 29chỉ thực hiện quản lý hành chính với một số nhiệm vụ như: Quyết định thành lập tập đoàn; Bổ nhiệm hoặc đề nghị Quốc vụ viện bổ nhiệm Chủ tịch, các thành viên HĐQT Tổng Giám đốc tập đoàn do HĐQT lựa chọn đề nghị Bộ, UBND cấp tỉnh bổ nhiệm hoặc Bộ, chính quyền cấp tỉnh đề nghị Quốc vụ viện
bổ nhiệm; Xét duyệt chiến lược kinh doanh của tập đoàn do tập đoàn đề nghị
2.1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc
Quá trình hình thành và phát triển các TĐKT tại Trung Quốc trải qua 5 giai đoạn khác nhau Sự phát triển cụ thể của từng giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Sự phôi thai của các TĐKT(1978 - 1980)
Đặc điểm chính của giai đoạn này là tạo điều kiện cho việc cùng quản lý giữa các doanh nghiệp có liên quan mà không làm thay đổi cơ cấu sở hữu Kể
từ năm 1978, cải cách doanh nghiệp đã mang lại nhiều quyền tự chủ hơn cho các DNNN Các lãnh đạo doanh nghiệp bắt đầu chịu trách nhiệm tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp Sự phối hợp giữa các doanh nghiệp trở nên quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Đầu năm 1980, Quốc vụ viện Trung Quốc đã thực hiện chính sách nhằm tận dụng các lợi thế
so sánh, xây dựng một môi trường cạnh tranh và thúc đẩy hợp tác, theo đó nhiều tập đoàn dựa trên việc cùng quản lý đã được thành lập Việc cùng quản
lý đã loại bỏ được những rào cản giữa các lĩnh vực và các ngành công nghiệp, tái thiết lại các ngành công nghiệp, tạo điều kiện cho chuyên môn hoá và tránh được những trùng lặp về dự án Tuy nhiên, hạn chế của việc cùng quản
lý cũng rất lớn Nghĩa là, sự thay đổi cơ cấu sở hữu, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước (chủ sở hữu của các DNNN) và sự thay đổi của hoạt động tài chính và cách thức phân chia lợi nhuận là không được phép “Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm xây dựng
Trang 30những hãng lớn cạnh tranh toàn cầu trùng với kỷ nguyên có tính cách mạng nhất trong lịch sử kinh doanh thế giới Đó là việc mở cửa thực sự thị trường toàn cầu về hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động có kỹ năng cao từ cuối những năm 1980”, theo Peter Nolan
Giai đoạn 2: Sự xuất hiện của các TĐKT (1986)
Vào ngày 23/03/1986 Quốc vụ viện đã ban hành một văn bản chính thức
là “Quy chế thúc đẩy liên kết và hợp tác kinh tế theo chiều ngang” Các DNNN được khuyến khích thành lập các TĐKT mà không có bất kỳ một hạn chế nào về địa bàn, lĩnh vực và ngành nghề Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “tập đoàn doanh nghiệp” xuất hiện trong văn bản chính thức của chính phủ và có nghĩa là đánh dấu sự ra đời của các tập đoàn doanh nghiệp (hay TĐKT) tại Trung Quốc Vào cuối năm 1986, đã có tới 31.000 loại hình tổ chức liên kết doanh nghiệp khác nhau trong các lĩnh vực Một thời gian ngắn sau đó, hầu hết đều trở thành các TĐKT Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất sau đó lan ra các lĩnh vực khác như nghiên cứu và đổi mới công nghệ, cung cấp nguyên liệu thô, bán sản phẩm, tiếp cận nguồn tín dụng và đầu tư các dịch vụ, chia sẻ thông tin Trên cơ sở những lĩnh vực này, nhiều đơn vị dù có quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo đều liên kết với nhau thông qua vốn, sản phẩm, công nghệ chiến lược phát triển, dịch vụ, thông tin… Việc hình thành sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và sau đó là các TĐKT đã làm giảm đáng kể sự can thiệp của các cơ quan hành chính nhà nước vào hoạt động của các doanh nghiệp, phát triển thị trường khu vực, và phá vỡ sự xé lẻ theo lĩnh vực của hệ thống kế hoạch hoá trước đây
Giai đoạn 3: Sự hình thành các TĐKT(1987)
Tuy nhiên, chính sách của chính phủ sau đó đã không cho phép việc sáp nhập và mua lại giữa các DNNN Các doanh nghiệp có thể thiết lập hợp tác chiến lược nhưng không được phép tái cơ cấu để tận dụng những lợi thế của
Trang 31việc liên kết Để giải quyết vấn đề này, Uỷ ban cải cách cơ cấu nhà nước và
Uỷ ban kinh tế nhà nước đã đề xuất tiếp tục thúc đẩy hình thành các TĐKT dựa trên hợp tác doanh nghiệp qua “Đề xuất thành lập và phát triển các tập đoàn doanh nghiệp” vào tháng 12/1987, bao gồm các đề xuất sau đây:
Thứ nhất: Lý do thúc đẩy hình thành các TĐKT là để thống nhất thị
trường bị phân tách, cải cách các DNNN đã tự đảm bảo cho hoạt động của mình, tái cơ cấu các ngành, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp cùng với quá trình chuyên môn hoá, tận dụng những lợi thế kinh tế nhờ quy mô và phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả Hơn nữa, mô hình TĐKT sẽ thúc đẩy sự đổi mới công nghệ và củng cố công nghệ cho các doanh nghiệp,
và do đó sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Thứ hai: Các nguyên lý cho việc hình thành các TĐKT là cùng có lợi, tự
do tham gia và rút khỏi tập đoàn và chống lại độc quyền trong hoạt động
Thứ ba: Những đòi hỏi cho việc thành lập các TĐKT là rõ ràng Với cấu
trúc doanh nghiệp có cấp độ, TĐKT được phép thống nhất quản lý trong đầu
tư, tài sản, các chiến lược kinh doanh và marketing Đồng thời TĐKT cũng khai thác được khả năng thành lập các công ty cổ phần, tách rời sở hữu với quản lý
Thứ tư: Các chính sách đặc biệt thúc đẩy sự hình thành các TĐKT cũng
được đưa ra TĐKT cần có tự chủ trong quản lý, quyền định giá, quyền quyết định bán ở đâu, đầu tư vào đâu, và sản xuất cái gì, quyền xuất khẩu sản phẩm
và nhập công nghệ nước ngoài Hầu hết các quyền kiểm soát do các cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ phải được chuyển giao cho lãnh đạo của các TĐKT
“Đề xuất thành lập và phát triển TĐKT” dẫn đến làn sóng phát triển đầu tiên của các TĐKT Vào cuối năm 1989, Trung Quốc đã có 1.630 TĐKT đăng
ký thành lập Tuy nhiên hầu hết đều là các TĐKT hình thành một cách lỏng lẻo, và vẫn chịu sự can thiệp lớn của Chính phủ
Trang 32Giai đoạn 4: Chính thức hoá các TĐKT(1991)
Để thúc đẩy sự phát triển của các TĐKT, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Đề án thí điểm TĐKT” vào tháng 12/1991 Mục tiêu chủ yếu của việc thí điểm là xác định những mô hình hiệu quả cao cho TĐKT, cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách để đưa ra các chính sách thuận lợi cho TĐKT và thúc đẩy lớn mạnh hơn sự phát triển của TĐKT
Các biện pháp cụ thể về việc xây dựng các TĐKT cũng được đưa ra Những biện pháp này mang lại cho doanh nghiệp nhiều quyền kiểm soát hơn Công ty mẹ (Công ty tập đoàn) được:
(1) Báo cáo trực tiếp cho cơ quan chính phủ có thẩm quyền về kế hoạch hàng năm và kế hoạch phát triển của mình
(2) Ký kết các hợp đồng trực tiếp với các cơ quan chính phủ được chỉ định và sau đó ký hợp đồng phụ với các công ty con hoặc các doanh nghiệp thành viên của mình
(3) Chịu trách nhiệm đối với việc hoàn trả các khoản vay cho các đầu tư lớn trong tập đoàn
(4) Quản lý các hoạt động kinh doanh và thương mại khác
(5) Báo cáo tất cả việc mua bán tài sản cho Uỷ ban quản lý và giám sát tài sản của nhà nước
(6) Bổ nhiệm lãnh đạo của các công ty thành viên
Việc kiểm soát công ty mẹ được đảm bảo thông qua:
- Thành lập mối quan hệ công ty mẹ - công ty con thông qua đầu tư
- Trực tiếp quản lý DNNN thành viên được phê duyệt
Vào năm 1997, thí điểm lần hai được bắt đầu với 63 TĐKT khác Thí điểm lần này tập trung vào vấn đề tiếp cận tín dụng và đầu tư vốn ở các TĐKT Công ty mẹ và công ty con của TĐKT cần phải được liên kết chủ yếu trên vốn đầu tư ban đầu Sự phát triển trong tương lai của các TĐKT cần phải
Trang 33hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, ngoại thương và trao đổi thông tin Một cuộc cải cách khác là tách rời DNNN với các cơ quan hành chính của chính phủ Thay vào đó, chính phủ Trung Quốc
đã thành lập Uỷ ban trung ương các DNNN lớn, cơ quan trực tiếp giám sát các TĐKT Từ đó trở đi, sự phát triển của TĐKT chuyển sang một giai đoạn mới
Giai đoạn 5: Tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế (2000)
Các tập đoàn quốc gia thành công ở các nước tư bản như tập đoàn Nokia, Wall Mark, Sony… hướng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đi đến kết luận rằng việc phát triển các TĐKT là một cách hiệu quả để đuổi kịp với các tập đoàn khổng lồ trong một thời gian ngắn và có thể đây là cách duy nhất mà các doanh nghiệp của Trung Quốc có thể cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế Trong “kế hoạch 5 năm lần thứ X” năm 2000, Trung Quốc đã đề ra mục tiêu thành lập các TĐKT có tiềm lực to lớn trong đổi mới công nghệ, thương hiệu, quyền tài sản và cạnh tranh quốc tế mạnh với chủ trương phát triển khoảng 30
- 50 tập đoàn đạt tiêu chuẩn quốc tế trong tương lai gần Và năm 2000, Trung Quốc đã thành lập Uỷ ban giám sát và quản lý tài sản Nhà nước, trong đó có việc quản lý và giám sát tài sản Nhà nước tại các tập đoàn
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế nhiều hơn Thị trường nội địa ngày càng được quốc tế hoá, nền kinh tế Trung Quốc phải áp dụng các chính sách mở cửa trong mọi lĩnh vực Nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư thêm vào Trung Quốc
và điều chỉnh các chiến lược hoạt động Để chiếm ưu thế và tìm được vị trí của mình trong quá trình toàn cầu hoá, các TĐKT Trung Quốc sẽ phải có khả năng cạnh tranh quốc tế và không thể dựa dẫm vào sự bảo hộ của chính phủ Điều đó sẽ buộc các TĐKT Trung Quốc phải cạnh tranh với cả các doanh nghiệp trong nước và cần dựa vào lợi thế về các nguồn lực là lao động rẻ Do
Trang 34đó, các ngành sử dụng nhiều lao động và vốn tương đối lớn là những ngành chính có thể mang lại sự tăng trưởng cho các TĐKT Trung Quốc
2.1.3 Vai trò của Chính phủ đối với quá trình hình thành và phát triển TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc
Do hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu của nhà nước nên việc phát triển các TĐKT của Trung Quốc chịu ảnh hưởng của chính phủ nhiều hơn là của các lực lượng thị trường Vai trò của chính phủ thể hiện thông qua các chính sách sau:
- Thúc đẩy liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp thông qua những biện pháp khác nhau Vai trò của Nhà nước được thể hiện ở việc tạo dựng những nền tảng ban đầu, hỗ trợ các điều kiện kinh tế vĩ mô đồng thời ngăn chặn những tiêu cực có thể nảy sinh từ sự phát triển của TĐKT có thể gây ra cho nền kinh tế Bởi vậy có hai cách thành lập TĐKT ở Trung Quốc: một là dựa vào các điều kiện khách quan, các doanh nghiệp tự tập hợp với nhau để thành lập tập đoàn gọi là liên kết tự nguyện; hai là Nhà nước đứng ra thành lập các tập đoàn mang tính ép buộc hướng tới các mục tiêu mà chính phủ đề
ra Do có tính cưỡng chế là tối thiểu nên cách thành lập tập đoàn theo cách thứ nhất được nhiều doanh nghiệp ủng hộ và đang được triển khai rộng rãi ở Trung Quốc
- Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi như môi trường pháp luật, phát triển thị trường chứng khoán, thị trường hàng tiêu dùng và thị trường thông tin Trong điều kiện hiện nay, các TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc hình thành chủ yếu trên cơ sở lấy vốn làm đầu mối liên kết, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Với thực lực kinh tế khá mạnh, các TĐKT Trung Quốc ra đời còn có tính chất là sản phẩm của cạnh tranh thị trường (chính phủ muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNN) và là kết quả
Trang 35của quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trung Quốc, theo hướng xuyên khu vực, xuyên ngành nghề và xuyên quốc gia hoá các hoạt động kinh tế
- Chính sách ưu đãi về tín dụng và thuế cho các tập đoàn Chính phủ cho phép công ty mẹ thành lập công ty tài chính của tập đoàn Công ty tài chính này có trách nhiệm huy động các nguồn vốn của công ty con này để hỗ trợ vốn cho công ty con khác (theo quy định hiện hành lúc đó, chỉ có các ngân hàng quốc doanh được phép thực hiện hoạt động tương tự) Bên cạnh đó, Chính phủ còn cho phép thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chung Tính ưu đãi của chính sách này thể hiện ở chỗ: trong tập đoàn có công ty lỗ,
có công ty lãi, vì vậy, khi tính chung thì mức thuế phải nộp của cả tập đoàn sẽ giảm so với tính riêng từng doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với công ty mẹ và các công ty con quan hệ chặt chẽ (100% vốn) Thực chất là biện pháp bù trừ lỗ lãi giữa các công ty trong tập đoàn
Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện một số chính sách ưu đãi nhằm giảm nợ, tăng vốn chủ sở hữu cho các DNNN, trong đó các TĐKT Nhà nước
là đối tượng được đặc biệt quan tâm Năm 2001, có 1.301 tập đoàn (chiếm 48%) được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi này, trong đó: vốn chủ sở hữu ở
272 tập đoàn đã tăng lên nhờ chính sách chuyển nợ thành đầu tư khi cho phép các tập đoàn được chuyển khoản cho vay thành đầu tư của Chính phủ trung ương; 364 tập đoàn (chiếm 13,4%) được hưởng lợi từ các chính sách tương tự của Chính phủ địa phương; 577 tập đoàn được chuyển vốn tích luỹ trước đây của các doanh nghiệp thành viên thành vốn đầu tư của Nhà nước tại công ty
mẹ khi hình thành tập đoàn; 332 tập đoàn chuyển nợ ngân hàng thành vốn chủ
sở hữu dưới dạng cổ phần
- Đầu tư đào tạo các cán bộ quản lý, có chính sách ưu đãi về lương để thu hút nhân tài Trước đây, mọi nhân viên đi ra nước ngoài thì phải được phép của cơ quan chủ quản Nhưng đối với tập đoàn, chỉ có cán bộ chủ chốt
Trang 36của công ty trong tập đoàn mới phải xin phép để được ra nước ngoài quan hệ với đối tác Trung Quốc cũng là một trong số ít những nước đang phát triển đã thành công trong lĩnh vực ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám Với biện pháp trả lương bằng hoặc tương đương với các nước phát triển, Trung Quốc
đã huy động được số lượng lớn các Hoa kiều, các lưu học sinh và các doanh nhân nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp trong nước Trung Quốc cũng sử dụng kinh nghiệm của đội ngũ này để xây dựng các loại hình doanh nghiệp, các chiến lược kinh doanh cạnh tranh … đã được áp dụng thành công
ở các nước phát triển
- Trong quá trình thành lập các TĐKTNN, Chính phủ đã tăng quyền tự chủ cho các tập đoàn thông qua chính sách uỷ quyền kinh doanh Khi cải cách DNNN, các doanh nghiệp bị quản lý chặt (phải xin phép cơ quan chủ quản trước khi quyết định nhiều vấn đề trong kinh doanh) thì DNNN là công ty mẹ trong tập đoàn được phân cấp quyết định nhiều vấn đề hơn như: công ty mẹ được quyền tự quyết định đầu tư, đủ tư cách tự đảm bảo các khoản nợ, có quyền trực tiếp xuất nhập khẩu và có thể phát hành cổ phần trên toàn thế giới Tóm lại, Chính phủ có vai trò rất quan trọng đối với hình thành và phát triển TĐKT Có thể nhận thấy quá trình hình thành và phát triển các TĐKT Trung Quốc gắn liền với quá trình cải cách và mở cửa nền kinh tế cũng như những đổi mới về tư duy kinh tế Đặc biệt, mối quan hệ giữa Nhà nước và các DNNN trong quá trình thành lập TĐKT Nhà nước thể hiện ở chỗ: khi Nhà nước còn là cổ đông chính, Nhà nước càng hoàn thiện năng lực hoạch định và thực thi một hệ thống các mục tiêu (về xuất khẩu, lợi nhuận, tiến bộ công nghệ) và các biện pháp chế tài (ngừng cung cấp tài chính hoặc trợ giúp, trừng phạt các nhà quản lý, tư nhân hoá hoặc buộc phá sản) nên hiệu quả quản lý càng được nâng cao
Trang 37Cách làm của Trung Quốc là thận trọng, từ chỗ khuyến khích sự liên kết, hợp tác kinh tế thực hiện hình thức “Cùng quản lý” giữa các doanh nghiệp mà không làm thay đổi hình thức sở hữu đến việc chính thức hình thành các TĐKT Đồng thời từng bước nới lỏng dần sự quản lý tập trung của Nhà nước, giao thêm quyền tự chủ kinh doanh cho các TĐKT; mở rộng dần phạm vi hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp từ lĩnh vực sản xuất, cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm sang các lĩnh vực khác như nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chia sẻ thông tin; thực hiện mối liên kết kinh tế giữa công ty mẹ và các công ty con chủ yếu dựa trên việc đầu tư cổ phần
Trung Quốc hiện vẫn đang trong thời kỳ chuyển đổi nền KTTT, vẫn chưa tới lúc phức tạp nhất; tới giai đoạn chín muồi hơn, chắc sẽ xuất hiện nhiều vấn đề hơn
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH TĐKT NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC
2.2.1 Đặc trưng cơ bản của các TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc
Hiện nay, Trung Quốc đã bước đầu hình thành và đang không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN Kinh tế công hữu tiếp tục lớn mạnh, kinh tế phi công hữu như kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng Ngoài ra, Trung Quốc đang tiếp tục xây dựng và thực hiện quan điểm phát triển khoa học, xây dựng toàn diện xã hội khá giả và hài hoà, từ đó đặt ra cơ sở vững chắc hơn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Bởi vậy, hình thành và phát triển mô hình TĐKT nói chung và TĐKTNN nói riêng là một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra nhằm cải cách cơ cấu kinh tế còn chưa hợp lý, trình độ kỹ thuật ngành nghề thấp, ngành dịch vụ phát triển chậm, tỷ lệ đầu tư liên tiếp quá cao, tỷ lệ tiêu thụ nội địa còn quá thấp,
Trang 38phương thức tăng trưởng kinh tế thấp và nghiêng về chú trọng quy mô nền kinh tế lớn, nguồn tài nguyên hạn hẹp và sức ép đối với môi trường ngày một gia tăng Biện pháp đặt ra là Chính phủ tăng cường điều tiết vĩ mô nền kinh tế như đưa ra các chiến lược, chính sách trên cả ba phương diện: kinh tế, luật pháp và hành chính để giảm thiểu những ảnh hưởng tác động tới sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc hiện nay và trong tương lai
2.2.1.1 Cách thức thành lập
Tập đoàn thường được hình thành và phát triển từ quá trình tích tụ, tập trung vốn, đầu tư chi phối lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoặc tự nguyện liên kết với nhau để tạo thành TĐKT có tiềm lực kinh tế, tài chính đủ mạnh,
đủ sức cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, một số nước hình thành tập đoàn trên cơ sở một DNNN có quy mô rất lớn (Nhật Bản, Pháp, Malaixia) hoặc giữa các DNNN có sẵn các mối quan hệ mật thiết bên trong và cơ cấu tổ chức theo hướng tập đoàn (Trung Quốc) Các TĐKT ở Trung Quốc được hình thành theo 3 con đường khác nhau Đó là:
- Nếu ở trình độ liên kết cao thì thành lập ra công ty mẹ - công ty con hoặc liên hiệp các doanh nghiệp tương đối tập trung thống nhất để điều phối chung
(2) Một số DNNN nòng cốt tự nguyện đầu tư vào các doanh nghiệp
khác Ở phương thức hình thành tập đoàn này được chia thành 3 mức độ liên kết khác nhau, do đó tạo thành 3 loại tập đoàn khác nhau:
Trang 39- Nếu là liên kết chặt chẽ thì doanh nghiệp nòng cốt áp dụng các phương
thức cổ phần khống chế (khống cổ), thầu khoán, hoặc thuê để có được
quyền lãnh đạo quyết sách tại các doanh nghiệp thành viên
- Nếu là liên kết nửa chặt chẽ thì doanh nghiệp nòng cốt tham gia cổ phần tại các doanh nghiệp có liên quan để có được điều kiện thuận lợi trong SX
- KD hoặc có được lợi thế hiệp tác ổn định, từ đó hình thành nên tập đoàn
- Nếu là liên kết lỏng lẻo thì giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hình thành quan hệ hiệp tác sản xuất - KD trên cơ sở những ràng buộc bằng hợp đồng kinh tế
(3) Thông qua mua bán và sáp nhập giữa các doanh nghiệp Các thể
chế pháp lý của Trung Quốc đã tạo điều kiện để cho các tập đoàn trong nước thoả thuận với chính phủ và các tập đoàn nước ngoài để tiến hành quá trình mua lại, hợp nhất và sáp nhập nhằm hình thành các tập đoàn với đầy đủ ý nghĩa nhất của mô hình TĐKT
2.2.1.2 Cơ cấu sở hữu
Các tập đoàn ở Trung Quốc có sở hữu đa dạng, và đó là một trong những nội dung cơ bản xây dựng doanh nghiệp hiện đại ở Trung Quốc Các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn bao gồm:
- Doanh nghiệp 100 % vốn nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện là DNNN chỉ có ở những nơi cần có DNNN (các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác không được đầu tư hoặc không muốn đầu tư) nhằm mục tiêu phát triển sức sản xuất của cả nền kinh tế Ngoài ra, DNNN của Trung Quốc được xác định lại bao gồm cả loại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ
cổ phần kiểm soát (chia ra loại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm trên 50% số cổ phiếu và loại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ dưới 50% nhưng là cổ đông lớn nhất trong công ty cổ phần)
Trang 40- Doanh nghiệp cổ phần, chủ yếu được thành lập do phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tư trên nguyên tắc tập đoàn nắm cổ phần chi phối
- Doanh nghiệp liên doanh, chủ yếu là liên doanh với nước ngoài trong
đó vốn góp của tập đoàn chiếm tỷ lệ đáng kể Theo Luật Công ty của Trung Quốc, công ty liên doanh giữa hai hoặc nhiều DNNN thì được coi
là sở hữu Nhà nước
Theo đó, những đặc điểm chủ yếu về cơ cấu sở hữu của các TĐKT ở Trung Quốc là:
Đặc điểm đầu tiên và nổi bật nhất thể hiện ở chỗ các TĐKT ở Trung
Quốc là những cụm doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ đan xen giữa các doanh nghiệp thành viên trong đó lấy chế độ công hữu về TLSX làm chủ thể Các doanh nghiệp nòng cốt, các doanh nghiệp ở cấp độ trực tuyến của tuyệt đại đa số các TĐKT lấy chế độ sở hữu toàn dân hoặc sở hữu tập thể về TLSX làm chủ thể, không giống như các TĐKT ở các nước tư bản lấy chế độ sở hữu tư nhân làm chủ thể
Đặc điểm thứ hai, là các tập đoàn được tổ chức trên cơ sở tự nguyện,
cùng có lợi, cùng phát triển, không phải theo phương thức “cá lớn nuốt cá bé” của các nước tư bản
Các TĐKT Trung Quốc ra đời trong điều kiện một mặt là, giữa các doanh nghiệp có sự thống nhất về lợi ích căn bản, mặt khác trên thực tế thì tài sản của các DNNN là tài sản của các doanh nghiệp thuộc chính quyền địa phương, thuộc các ngành, cho nên giữa các doanh nghiệp ấy có sự khác nhau
về lợi ích Do vậy các doanh nghiệp Trung Quốc liên hiệp với nhau trên cơ sở được chính quyền các cấp và các ngành hướng dẫn bằng chính sách, chỉ đạo theo quy hoạch, bắc cầu, tổ chức phối hợp, tự nguyện liên kết, cùng có lợi ích, cùng phát triển đồng thời thông qua các hình thức thôn tính, sát nhập, mua cổ