1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập

83 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Tác giả Ngô Thị Phương Anh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 716,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay ở Việt Nam các tập đoàn kinh tế mới được hình thành và phát triển cho nên vấp phải rất nhiều hạn chế. Nghiên cứu về Chaebol - một trong những mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất Châu Á để nhằm xác định, rút kinh nghiệm và đưa ra chính sách cũng như biện pháp hiệu quả để phát triển mô hình tập đoàn phù hợp với xu thế nhưng vẫn đặc sắc Việt Nam

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Các từ tiếng Việt viết tắt

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

TĐKT Tập đoàn kinh tế

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

Các từ tiếng Anh viết tắt

CIEM Center Institute for Economic Management ( Viện nghiên cứu Quản

lý kinh tế Trung Ương)

Co Company (Công ty)

EVN Vietnam Elecricity (Tập đoàn Điện lực Việt Nam)

FPT The Corporation for Financing and Promoting Technology ( Tập đoàn tài chính và phát triển công nghệ)

Ltd Limited (Trách nhiệm hữu hạn)

MOCIE Ministry of Commerce Industry and Energy ( Bộ Thương mại

Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc)

PSPD People’s Solidarity for Participatory Democracy ( Đoàn kết nhân dân tham gia dân chủ)

R&D Research and Development (Nghiên cứu và phát triển)

UNDP United Nation Development Programme ( Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc)

VNPT Vietnam Posts and Telecommunications ( Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam)

VRG Vietnam Rubber Association ( Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam)

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1)Tính tất yếu phải nghiên cứu đề tài

Hiện nay khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang là xu hướng chiphối chủ yếu trong thế giới hiện đại Mỗi quốc gia đều đặt mục tiêu phải chủđộng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Quá trình đó đòihỏi các quốc gia phải có một đầu tàu kinh tế thực sự thúc đẩy nền kinh tế đilên mạnh mẽ, đủ sức cạnh tranh với nước ngoài và tìm được chỗ đứng trên thịtrường thế giới vốn rộng mở nhưng vô cùng khắc nghiệt Những đầu tàu kinh

tế đó chính là các tập đoàn kinh tế Tại các nước trên thế giới tập đoàn kinh tế

đã có bề dày lịch sử từ hàng trăm năm nay và thực sự đã trở thành một nhân

tố vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Còn ở Việt Nam khái niệm tập đoànkinh tế chỉ mới xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ trước Chính vì thếnhững nghiên cứu về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễnđều có nhiều hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu mô hình tập đoàn kinh tế trởthành một tất yếu khách quan

Việt Nam thuộc Châu Á - khu vực trong những năm gần đây được đánhgiá là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Cả thế giới

đã phải hướng sự chú ý của mình vào Châu Á khi chứng kiến sự phát triểnthần kỳ về kinh tế của châu lục này “Sân khấu thế giới đang di chuyển vềphía Đông”1 - đó là đánh giá mới đây nhất của các nhà kinh tế thế giới Đóngvai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế Châu Á phải kể đến khu vực ĐôngBắc Á với 3 nền kinh tế lớn là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Một đặcđiểm chung đáng lưu ý nhất ở các quốc gia này là nhân tố đóng vai trò quantrọng nhất trong nền kinh tế của họ đó chính là các tập đoàn kinh tế Ở NhậtBản nó có tên gọi Zaibatsu, ở Trung Quốc là Jituan Gongsi và ở Hàn Quốcđược gọi là Chaebol Đây là 3 mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất ở Châu

Á Mỗi loại hình tập đoàn kinh tế đều có đặc trưng nhất định về sở hữu và

1 "Trích Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm" Tác giả Kim Woo Chung - Sáng lập tập đoàn Daewoo

Trang 3

quản lý Trong đó mô hình Chaebol là mô hình có nhiều điểm tương đồngnhất với tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Theo cách xem xét đó, đề án: “Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn

Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập” đã được chọn để nghiên cứu.

Mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol của Hàn Quốc từ lâu đã được đánhgiá là một mô hình tập đoàn kinh tế điển hình Nhờ có các Chaebol mà nềnkinh tế Hàn Quốc đã trỗi dậy trong một thời gian ngắn Hai thập kỷ 60 và 70chứng kiến sự phát triển đỉnh cao nhất của mô hình này và đó cũng là thời kỳ

mà Hàn Quốc cùng với Đài Loan lập được hai trong số những kỷ lục kinh tếxuất sắc nhất Châu Á Có lẽ trong số đó có những thành tích xuất sắc vào bậcnhất thế giới

Bên cạnh đó, Hàn Quốc hiện nay được coi là đối tác thương mại và đầu

tư lớn thứ tư ở Việt Nam Nền kinh tế của Hàn Quốc hiện nay vẫn bị chi phốichủ yếu bởi hệ thống các Chaebol

2)Mục đích nghiên cứu

Hiện nay ở Việt Nam các tập đoàn kinh tế mới được hình thành và pháttriển cho nên vấp phải rất nhiều hạn chế Nghiên cứu về Chaebol - một trongnhững mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất Châu Á để nhằm xác định, rútkinh nghiệm và đưa ra chính sách cũng như biện pháp hiệu quả để phát triển

mô hình tập đoàn phù hợp với xu thế nhưng vẫn đặc sắc Việt Nam

Việt Nam và Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ toàn diện đến nay được 16năm Trong thời gian đó, Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối tácquan trọng nhất của Việt Nam Nghiên cứu các tập đoàn mà ảnh hưởng của

nó chi phối toàn bộ nền kinh tế Hàn Quốc sẽ giúp Việt Nam có những đốisách phù hợp trong quá trình hợp tác kinh tế với nước này và góp phần thúcđẩy hơn nữa mối quan hệ kinh tế nói riêng và mối quan hệ toàn diện nóichung Việt Nam - Hàn Quốc

Trang 4

3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hiện nay ở Hàn Quốc có khoảng trên 30 Chaebol lớn nhỏ, nhưng chỉ cókhoảng 5 Chaebol chi phối chủ yếu nền kinh tế Hàn Quốc Đề án này nghiêncứu về 3 trong số 5 Chaebol này Đó là các Chaebol: Samsung, Hyundae vàDaewoo

Các Chaebol ở Hàn Quốc ra đời từ những năm 50 ở Hàn Quốc nênphạm vi nghiên cứu sẽ được bắt đầu từ khi các Chaebol được ra đời cho đếnnay

Bên cạnh đó đề án cũng nghiên cứu về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

từ giai đoạn hình thành cho đến nay

4) Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề án là phương pháp thu thập sốliệu, phân tích, tổng hợp, so sánh

5) Kết cấu đề án

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề án

gồm 4 chương sau đây:

Chương 1:Tổng quan về mô hình tập đoàn kinh tế nói chung và Chaebol Chương 2: Thực trạng về tập đoàn kinh tế Chaebol ở Hàn Quốc

Chương 3: Giải pháp khắc phục những nhược điểm trong mô hình

tập đoàn kinh tế Chaebol ở Hàn Quốc

Chương 4: Tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ

CÁC CHAEBOL CỦA HÀN QUỐC

1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế và một số đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế (TĐKT)

Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến “Tập đoàn kinh tế”thường sử dụng các từ: “Consortium”, “Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”,

“Alliance”, “Syndicate” hay “Group”

Ở châu Á, trong khi người Nhật Bản gọi TĐKT là “Keiretsu” hoặc

“Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; còn ở Trung Quốc, cụm

từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này (chính xác hơn là Tổngcông ty)

Mặc dù về mặt ngôn ngữ, tùy theo từng nước, có thể dùng nhiều từkhác nhau để nói về khái niệm TĐKT, song trên thực tế việc sử dụng từ ngữlại phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại

TĐKT Ví dụ, Consortium trong tiếng latinh có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hay

các hội” bao gồm hai hay nhiều thực thể tập hợp lại để cùng tham gia vào mộthoạt động chung hoặc là đóng góp nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung.Khi tham gia vào một Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách phápnhân độc lập của mình Thông thường, vai trò kiểm soát của Consortium đốivới các công ty thành viên chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cảtập đoàn, đặc biệt là việc phân phối lợi nhuận Sự ra đời của một Consortiumđược xác lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ

của từng công ty thành viên tham gia Consortium Cartel: trong tiếng Anh

thường được dùng để chỉ TĐKT Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập

có cùng mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chếcung ứng hàng hoá, hoặc các biện pháp hạn chế khác Đặc trưng tiêu biểu

Trang 6

trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng hoá, dịch vụ nhưngcũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát giá mua nguyên vật liệuđầu vào Tại nhiều nước, mặc dù bị cấm bởi luật chống phá giá (Antitrustlaw); tuy nhiên, nhiều Cartel vẫn tiếp tục tồn tại trên phạm vi quốc gia vàquốc tế, dưới hình thức ngầm hoặc công khai, chính thức hoặc không chínhthức Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một sốloại hàng hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi hỏi những sảnphẩm có tính đồng nhất cao.

Trong khi đó, các từ/cụm từ như “Group”, “Business group”,

“Corporate group”, hay “Alliance” thường ám chỉ hình thức TĐKT được tổ

chức trên cơ sở kết hợp tính đặc thù của tổ chức kinh tế với cơ chế thị trường

Về đặc trưng, đó là một nhóm công ty có tư cách pháp nhân riêng biệt nhưnglại có mối quan hệ liên kết về phương diện quản lý Mối quan hệ giữa cáccông ty trong một TĐKT có thể là chính thức hoặc không chính thức

Có một điều đáng lưu ý là khi tồn tại như là một thực thể có tư cáchpháp nhân, thì TĐKT lại được gọi là Conglomerate và/hoặc Holdingcompany

Các nhà kinh tế thế giới cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềTĐKT:

Thứ nhất, TĐKT là tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các

thị trường khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung,trong đó các thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệtin cậy lẫn nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại (Left, 1978)

Thứ hai, TĐKT là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau

trong một thời gian dài (Powell and Smith Doesr, 1934)

Thứ ba, TĐKT dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông

qua ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn giữa cáccông ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sáp nhập với nhau để hìnhthành một tổ chức duy nhất (Granovette, 1994)

Trang 7

Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, tập đoàn kinh tế đượcxếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:

Nhóm công ty là một tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài vớinhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.Thành phần của nhóm công ty gồm có:

- Công ty mẹ, công ty con

- Tập đoàn kinh tế

- Các hình thức khác

Theo Viện nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương CIEM: khái niệmtập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cáchpháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ vềvốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khácxuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này “công ty mẹ”nắm quyền lãnh đạo, chi phối “công ty con” về tài chính và chiến lược pháttriển

1.1.2 Một số đặc điểm chung của các tập đoàn kinh tế

Mặc dù có nguồn gốc xuất xứ khác nhau nhưng các TĐKT về cơ bảnđều có những đặc điểm chung như sau:

 Tập đoàn kinh tế có thể coi như sản phẩm của một lực lượng sản xuấtphát triển Nó ra đời và phát triển xuất phát từ yêu cầu của tích tụ, tậptrung, cạnh tranh, liên kết vì mục đích lợi nhuận, nó phản ánh hoạtđộng xã hội và văn hóa của một dân tộc hoặc đa quốc gia; nó thể hiệnviệc thực hiện chính sách kinh tế – xã hội và là sự biến đổi sản xuấtkinh doanh cho phù hợp với tiến bộ khoa học công nghệ của những tổchức và cá nhân trong sản xuất kinh doanh Xét về bản chất, đó là một

tổ chức kinh tế vừa mang tính chất của một doanh nghiệp kinh doanh vìmục đích sinh lời, vừa mang đặc trưng của một Hiệp hội kinh tế phục

vụ lợi ích chung của các thành viên

Trang 8

 Là tập hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau thông qua quan hệ vềđầu tư vốn.Cơ cấu của tập đoàn gồm công ty mẹ và các công ty thànhviên, các công ty thành viên trong tập đoàn là các thực thể kinh tế độclập, hợp tác trên nguyên tắc mọi thành viên đều bình đẳng trước phápluật Công ty mẹ là công ty có cổ phần hay vốn cổ phần chiếm đa số(cổ phần chi phối) ở các công ty thành viên và vì vậy có quyền chi phốihoạt động kinh doanh của các công ty thành viên thông qua việc phêduyệt điều lệ hoạt động và cử nhân sự của công ty vào bộ máy quản lý

và điều hành ở các đơn vị thành viên Các thành viên trong tập đoànđược phân công hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuyên ngành,theo sản phẩm hàng hóa làm ra, hay theo khu vực hoạt động, khôngcạnh tranh nội bộ

 Bản thân tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân mà là hình thứcliên kết các pháp nhân độc lập là công ty mẹ và các công ty con hay cácdoanh nghiệp liên kết trong tập đoàn Một doanh nghiệp ăn nên làm ra,

có nhiều vốn tích lũy từ lãi sau thuế, đều có khát vọng tiếp tục pháttriển bằng tái đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn nữa Doanhnghiệp này sẽ sử dụng vốn tích lũy của mình để đầu tư sang các ngànhhàng khác, ở các vùng lãnh thổ khác, do các doanh nghiệp khác kinhdoanh bằng nhiều cách, như lập doanh nghiệp mới, mua lại doanhnghiệp đã có, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần đại chúng đangniêm yết đến mức có quyền chi phối nó Đó là một quá trình dài của

sự tích lũy tư bản Cuối cùng, doanh nghiệp ban đầu sẽ trở thành chủ sởhữu vốn hay nắm tỷ lệ vốn chi phối trong vốn điều lệ ở nhiều doanhnghiệp khác, rồi thoát ly khỏi hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vựcsản xuất hàng hóa cụ thể, mà chỉ hoạt động đầu tư, trở thành công ty tàichính hay ngân hàng thương mại với tư cách là chủ sở hữu vốn chi phốitrong vốn điều lệ của nhiều doanh nghiệp khác

Trang 9

 Khi đó và chỉ khi đó mà thôi, tập đoàn kinh tế mới hình thành và pháttriển theo hướng vừa đa lĩnh vực ngành hàng kinh doanh, vươn ra thịtrường quốc gia và thế giới, vừa đa sở hữu Trong đó, công ty mẹthường cũng là một công ty cổ phần, hoạt động đầu tư vốn vào cácdoanh nghiệp con trên quy mô lớn doanh nghiệp con có thể tồn tạidưới loại hình công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty TNHH haycông ty TNHH một thành viên là công ty mẹ Vì vậy, tập đoàn kinh tế

là kết quả của quá trình tích tụ tư bản trong nền kinh tế thị trường Nókhông có “ngày sinh, tháng đẻ”, không có ai ra quyết định thành lậphay đăng ký thành lập như doanh nghiệp, do đó nó không phải là mộtthực thể pháp lý, nó vô hình, không có tư cách pháp nhân

 Quy mô của tập đoàn tương đối lớn và hoạt động đa dạng, đa nghành

Do 3 nguyên nhân chủ yếu là : thứ nhất, cùng với quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế; thứ hai là sau khi thực hiện cổ phần hoá và sắp xếp lại,các doanh nghiệp thường gặp nhiều khó khăn mới trong việc khẳngđịnh thương hiệu, nên phải không ngừng mở rộng quy mô, đa dạng hoáhoạt động, sản phẩm, khai thác đối tác và thị trường có triển vọng,nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của mình; thứ

ba, là trong bối cảnh thị trường thay đổi rất nhanh, việc kinh doanh đangành, đa lĩnh vực là một trong những chiến lược, định hướng lâu dàicho bất kỳ một doanh nghiệp nào kể cả những doanh nghiệp lớnchuyên sâu trong lĩnh vực truyền thống, vì chúng cho phép doanhnghiệp năng động nắm bắt và thực hiện những hoạt động mới, giúpdoanh nghiệp phát huy các nguồn lực bên trong, huy động nguồn lựcbên ngoài, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, góp phần phát triển thịtrường, tạo thế, tạo đà phát triển bền vững cho doanh nghiệp.Có thểnói, việc đa dạng hoá đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp là xu thếtất yếu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh, từ sự xuấthiện cung cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành và sự phát triển của

Trang 10

khoa học công nghệ, cũng như từ sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa cácđối thủ tiềm năng, buộc các doanh nghiệp phải bám sát thị trường vàphải nhạy bén, năng động nắm bắt những thời cơ mới cho phép khôngngừng mở rộng quy mô, tạo ra lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro trongkinh doanh.

1.2 Chaebol

1.2.1 Khái niệm

Chaebol là từ phiên âm tiếng Hàn để chỉ các TĐKT Hiện nay Chaebolkhông được dịch ra mà được sử dụng như một danh từ riêng để chỉ TĐKT đặctrưng của Hàn Quốc Chaebol được hiểu là tổ hợp công nghiệp một biến thểthuộc sở hữu của các gia đình Mỗi Chaebol gồm khoảng 40-50 công ty tuykhông có liên hệ với nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật nhưng lại thuộc sở hữu củacùng một gia đình Về kết cấu, các Chaebol là các conglomerate (tập đoàn)gia đình trong đó các thành viên của gia đình đóng vai trò chủ đạo Về nguồngốc truyền thống, chúng vẫn là các doanh nghiệp kiếu gia đình phong kiến dithực lại và phát triển lên dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Các dòng họ tạo lậpban đầu là những tộc trưởng tạo dựng công ty, do đó cơ cấu tổ chức của nómang hình thức tập đoàn đẳng cấp

1.2.2 Nguồn gốc hình thành và phát triển của các Chaebol

Mặc dù cho đến những năm 1960 chương trình phát triển công nghiệpquan trọng của Hàn Quốc vẫn chưa được bắt đầu nhưng trên thực tế đã xuấthiện nguồn gốc của việc hình thành những doanh nghiệp trong nền kinh tếmang màu sắc chính trị từ những năm 1950 Đã có một số người Hàn sở hữu

và quản lý những công ty khá lớn trong suốt thời kì cai trị của Nhật Bản Saukhi thoát khỏi sự đô hộ của Nhật Bản, có những người Hàn Quốc đã chiếmđược những tài sản trong các doanh nghiệp Nhật Bản và vài người trong số họ

đã phát triển nó thành các Chaebol vào thập niên 90 Các công ty đó chỉ thực

sự phát triển mạnh mẽ và hợp tác hình thành nên tập đoàn bắt đầu từ thời kì

Trang 11

tổng thống Park Chung Hee (nhiệm kì 1961-1979) Ông đã áp dụng mô hìnhtương tự như Zaibatsu – được phát triển ở Nhật Bản trong suốt thời kì MeijiEra Tuy vậy mô hình Chaebol vẫn có những khác biệt với mô hình Zaibatsuthể hiện ở những điểm như: Chaebol được điều hành bởi gia đình trong khiZaibatsu lại được điều hành bởi những nhóm các nhà quản lý chuyên nghiệp;trong các Chaebol quyền lực tập trung trong tay chính những người sở hữu,còn ở Zaibatsu có sự phân quyền và kết hợp chặt chẽ với các cổ đông;Chaebol thường hình thành những công ty con để sản xuất các sản phẩm phục

vụ xuất khẩu, trong khi các tập đoàn lớn của Nhật Bản lại thường thuê cácnhà đấu thầu bên ngoài

Chaebol đã trải qua thời kì phát triển thần kỳ bắt đầu từ những năm

1960 gắn chặt với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu của Hàn Quốc Thập niên 50

và đầu 60 sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là bông và sợi; thập niên 70 và 80 làsản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất; thập niên 90 là các sản phẩm điệnlạnh và công nghệ cao Chính Chaebol đã làm thay đổi thâm hụt thương mạivào năm 1985 sang thặng dư vào năm 1986 Cán cân thanh toán từ 4 tỷ đôla

Mỹ vào năm 1988 đã tăng lên 5 tỷ đôla Mỹ vào năm 1989 Những năm 1980

là thời kỳ mà các Chaebol phát triển bùng nổ trên thị trường xuất khẩu Cuốinhững năm 1990 họ đã trở thành những tổ chức tài chính độc lập và dần thoátkhỏi sự kiểm soát cũng như bảo trợ của Chính phủ

Trang 12

Bảng 1.1 Danh sách các Chaebol hàng đầu Hàn Quốc

Nguồn: Stephan Haggard, et al., (eds.), Economic Crisis and Corporate

Restructuring in Korea: Reforming the Chaebol , trang 41.

Khi nói đến nền kinh tế Hàn Quốc không chỉ người Hàn mà ngay cảquan khách báo chí quốc tế đều đề cập đến ba tập đoàn kinh tế hàng đầu – từ

lâu được coi là “rường cột” của nền kinh tế nước này Người Hàn Quốc ví bộ

ba này là “tam đại Chaebol” bao gồm: Samsung (Ba ngôi sao), Hyundae

Trang 13

( Hiện đại), Daewoo (Đại vũ) Lịch sử hình thành của ba Chaebol này có thểtrình bày ngắn gọn như sau:

Samsung là tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc, được sáng lập bởi Lee

Byung Chul - con trai một địa chủ Lớn lên trong thời kì mà Hàn Quốc chịu

sự chiếm đóng của Nhật Bản, từ nhỏ Lee được giáo dục theo kiểu truyềnthống Nho giáo Đến năm 10 tuổi Lee được gửi đến học ở trường tiểu học ởSeoul và sau đó theo học đại học Waseda, Tokyo Nhưng trước khi tốt nghiệpLee đã rời trường để trở về Seoul và không làm gì trong vài năm Năm 26 tuổiLee được thừa kế xưởng gạo của gia đình nhưng công việc kinh doanh khôngthuận lợi, Lee đã rời quê đến Daegu Năm 1938 Lee thành lập công ty tạiDaegu lấy tên là Samsung Công ty này đã có lúc rơi vào nguy cơ phá sản doảnh hưởng của việc chiếm đóng của Nhật Bản nhưng Lee vẫn kiên trì theođuổi công việc kinh doanh của mình Năm 1945 chiến tranh Nhật – Hàn kếtthúc, Samsung đã phát triển hưng thịnh với thị trường được mở rộng cả trongngoài nước, trở thành một trong mười Công ty thương mại lớn nhất ở NamHàn Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Lee đã rời Seoul đến Pusan tiếptục công việc kinh doanh của mình Đến năm 1953 Lee thành lập công ty sảnxuất đường tinh luyện lấy tên là Cheil Sugar, một năm sau đó là sự ra đời củaCheil Wool Texttile Company

Samsung được hưởng lợi rất lớn từ Chính sách thay thế nhập khẩu củaChính phủ, kết quả là cuối những năm 1950 Samsung đã giành được quyềnkiểm soát một số Ngân hàng thương mại và Công ty bảo hiểm Đến nhữngnăm 1960 Lee đã chọn điện tử là mặt hàng sản xuất chủ yếu của Samsung.Nếu như vào năm 1977 các kỹ sư của Samsung mới làm công việc là tháo dỡcác tivi màu từ Mỹ, Nhật, Châu Âu để xem xét và copy lại thì chỉ không đầy 3năm sau đó Samsung đã có thể tự sản xuất được mặt hàng này Đến năm 1979Samsung bắt đầu chế tạo đầu máy,…

Huyndai là TĐKT lớn thứ hai của Hàn Quốc, được sáng lập bởi Chung

Yu Jung – người mà những năm 30 đã rời quê lên Seoul khi vẫn còn ở độ tuổi

Trang 14

thiếu niên Khởi đầu với công việc ở bến tàu và xưởng gạo, đến năm 1940Chung mua lại cơ sở sữa chữa ôtô sau đó mở rộng sang lĩnh vực xây dựng,đóng tàu Sau chiến tranh thế giới thứ hai Chung phát triển quan hệ với Mỹ,với quân đội và giành được những dự án xây dựng của Chính phủ SyungmanRee Công ty có tên chính thức là Hyundai từ năm 1976 Với sự mở rộng liêntục cả về quy mô và lĩnh vực thì hiện nay Hyundai đã trở thành tập đoàn kinhdoanh lớn hoạt động đa ngành nghề.

Daewoo được thành lập vào những năm 1960, người sáng lập là Kim

Woo Chung – một trong những người trẻ nhất đứng đầu một Chaebol Trongmột thời gian dài Kim được coi như một nhà doanh nghiệp tiêu biểu của HànQuốc, Kim làm việc 100 giờ mỗi tuần và mỗi đêm chỉ ngủ 4 giờ Kim khôngbao giờ có kỳ nghỉ Chủ trương của người đứng đầu Daewoo là Daewoo luônphải đi đầu trong các lĩnh vực mới Lĩnh vực ban đầu và chủ yếu của DaeWoo

là các ngành công nghiệp nặng sau đó là các sản phẩm về điện máy DaeWooluôn được đánh giá là tập đoàn đi đầu trong tính sáng tạo, đổi mới và táo bạotrong kinh doanh

Bên cạnh các Chaebol truyền thống, gần đây ở Hàn Quốc bắt đầu xuấthiện những tập đoàn mức trung bình Ví dụ như Appeal Telecom được sánglập bởi Lee Ga Hyoung – một cựu viên chức của Samsung Appeal Telecomđang sản xuất và quảng bá sản phẩm điện thoại di động và sắp tới sẽ mở rộnglĩnh vực hoạt động của nó Ở Đức những tập đoàn kiểu tương tự như vậy đãđóng góp lớn cho nền kinh tế nên người ta cho rằng hoàn toàn có lý do đểnhững tập đoàn này giành được vị trí quan trọng trong nền kinh tế Hàn Quốc

Trang 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ CHAEBOL

HÀN QUỐC

2.1 Đặc trưng của Chaebol Hàn Quốc

Xét về cơ chế quản lý thì mỗi Chaebol lại có phương thức quản lý riêngnhưng nói chung các Chaebol đều có những đặc trưng chủ yếu sau:

Thứ nhất, trong cơ cấu của Chaebol các công ty thành viên hoạt động

kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành

Thứ hai, khác với tập đoàn công nghiệp của phương Tây mọi quyết

định quan trọng của Chaebol đều chỉ được quyết định ở cấp cao nhất - tức làChủ tịch và mọi nhân viên đều phải tuân thủ Tuy vậy các quan chức cũng cóvai trò quan trọng và đóng góp không nhỏ trong việc ra quyết định

Thứ ba, cơ cấu nhân sự trong các Chaebol nổi rõ lên là sự phân cấp,

phân tầng rõ rệt theo kiểu “pyramid scheme” (hệ thống kiểu kim tự tháp).Loại tổ chức này tạo nên sự thống nhất chặt chẽ trong hoạt động và thúc đẩymọi thành viên luôn nỗ lực để đạt được kết quả cao trong vị trí của mình vàphấn đấu lên vị trí cao hơn trong cơ cấu đó Tuy nhiên cách tổ chức nàykhông tránh khỏi những hạn chế của một cơ chế quản lý truyền thống là tínhcứng nhắc và thiếu sự điều chỉnh linh hoạt

Thứ tư, mức độ chi phối trong các Chaebol tương đối chặt chẽ và chủ

yếu do người sáng lập và hậu duệ của họ Ví dụ: Chung Ju Yung và gia đìnhkiểm soát 61,3% cổ phần của Chaebol Hyundai Chung Taeso và các con ông

ta kiểm soát tới 85,45% cổ phần của Chaebol Hanbo Sau khi In Koe Koo,người sáng lập Chaebol LG qua đời, quyển sở hữu và kiểm soát Chaebolthuộc về các con trai, con rể và anh em ruột của ông ta

Trang 16

2.2 Cơ cấu quản lý trong các Chaebol Hàn Quốc

2.2.1 Về cơ cấu sở hữu

Về sở hữu các Chaebol duy trì chế độ sở hữu theo huyết thống, tức là

do các cá nhân sáng lập ra nó kiểm soát và tuân thủ theo kiểu truyền thống làcha truyền con nối Các thành viên trong gia đình theo thứ tự (thường là contrai cả của gia đình thay cha nắm quyền kiểm soát và quản lý tài sản để kế tục

sự nghiệp của cha ông để lại) Theo "Uỷ ban buôn bán công bằng Hàn Quốc"thì phần sở hữu của các gia đình trong 30 Chaebol lớn nhất tăng từ 43,8%(năm 1995) lên 44,1% (năm 1996)

Cơ cấu sở hữu trong các Chaebol có thể chia làm 3 loại như sau:

Chủ sở hữu (Công ty mẹ) Các chi nhánh Công ty chi nhánh

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu sở hữu trực tiếp (Mô hình của Tập đoàn Han Jin)

Chủ sở hữu (Công ty mẹ) Công ty cổ phầnChi nhánh hay công ty chi nhánh

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu Công ty cổ phần (Mô hình của Tập đoàn Daewoo)

Chủ sở hữu (Công ty mẹ)Công ty cổ phầnCác tổ chức trung gianChi nhánh hay công ty chi nhánh

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu sở hữu hỗn hợp (Mô hình của Tập đoàn Samsung)

Nguồn: CLCSCN

Trang 17

2.2.2 Về cơ cấu quyền lực

Cơ cấu quyền lực trong chính quyền cũng như trong kinh doanh, cácChaebol hoàn toàn nhất quán với các giáo lý của Khổng Tử và các giá trịtruyền thống của Hàn Quốc Vì vậy, mô hình mà chúng áp dụng dường nhưchỉ có thể thực hiện được trong một nền chuyên chế độc tài Tất cả mọi ngườidân và xã hội đã chấp nhận điều này như một tập quán và truyền thống kinhdoanh

2.2.3 Về cơ chế điều hành

Trong mỗi Chaebol đều có một cơ quan điều hành riêng, cho dù tên gọikhác nhau, các cơ quan này đều có chức năng là giúp Chủ tịch tập đoàn phốihợp hoạt động của Công ty chi nhánh, điều hành nhân sự, tài chính, đầu tưnghiên cứu và triển khai (R&D) Bằng các hoạt động cụ thể, các cơ quan điềuhành góp phần nâng cao tính hiệu quả của tập đoàn nói chung, các Công tychi nhánh nói riêng Do quan hệ đẳng cấp, Chủ tịch Chaebol có vai trò chiphối các thành viên khác của Hội đồng Nhìn chung, Chủ tịch Chaebol mangtính độc đoán, gia trưởng, đó là đặc thù nổi bật nhất trong các tổ chức kinhdoanh Hàn Quốc

Ngày nay, với sự phát triển sâu rộng của xu thế toàn cầu hoá, khu vựchoá, các Chaebol thường vay nợ cao để mở rộng và phát triển kinh doanh.Thông thường vay từ 100 đến 200% số vốn tự có của họ để kinh doanh và nợngân hàng được Chaebol coi là nguồn lực không thể thiểu Chính vì vậy nềntảng tài chính của họ không được vững chắc và nhiều Chaebol đã đi đến phásản Do vậy, để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các Chaebol phải cơ cấu tổ chứcquản lý lại cho phù hợp với điều kiện kinh tế quốc tế đã thay đổi Do đó, hầuhết các chaebol đã tìm cách tăng mức độ nhất thể hoá theo chiều dọc, tức làquá trình các Công ty lớn thâm nhập rộng rãi vào các ngành khác, mà nhữngngành này có quan hệ với các ngành hiện đang kinh doanh của Công ty như

Trang 18

những bước trung gian của sản xuất và lưu thông để duy trì sự kiểm soát vàgiảm rủi ro

2.3 Xu hướng đa dạng hóa trong các Chaebol Hàn Quốc

2.3.1 Tính tất yếu phải đa dạng hóa

Đa dạng hóa là xu thế chung của các tập đoàn trên thế giới Theo sốliệu thống kê cho thấy vào những năm 70 hai phần ba trong số 500 công tyhoạt động ở nước Mỹ đã thực hiện đa dạng hóa ở mức độ cao Ban đầu cáccông ty thường mở rộng hoạt động theo vùng địa lý để tăng trưởng Khi gặpphải giới hạn của nhu cầu của thị trường về không gian các công ty chuyểnsang thực hiện đầu tư phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao khả năng sinhlời và sức cạnh tranh thông qua cải tiến công nghệ, giảm chi phí sản xuất vàcuối cùng là các công ty mở rộng danh mục sản phẩm của mình để đưa ra thịtrường Các tập đoàn kinh tế đa dạng hóa với mức độ tăng trưởng cao đã gópphần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của một số nước và Hàn Quốccũng không phải là ngoại lệ Các Chaebol Hàn Quốc thực hiện chiến lược đadạng hóa nhanh chóng lớn mạnh và trở thành động lực cho sự phát triển kinh

tế thần kỳ của Hàn Quốc trong vài thập kỷ qua

2.3.2 Đặc trưng trong đa dạng hóa của các Chaebol Hàn Quốc

Sự phát triển theo khuynh hướng đa dạng hóa của Chaebol được bắtđầu từ những năm 50 khi các Chaebol thu nhận về tay mình các công ty thuộc

sở hữu Nhà nước và mua lại các công ty tư nhân hoạt động yếu kém Cho đếnnay vì nhiều nguyên nhân khác nhau các Chaebol vẫn tiếp tục đa dạng hóa và

đa dạng hóa đã trở thành một trong những đặc trưng không thể thiếu khi nhắcđến các Chaebol Hàn Quốc Khuynh hướng này thể hiện qua một số đặc trưngchủ yếu sau:

Một là: Các Chaebol đa dạng hóa với tốc độ nhanh

Tốc độ đa dạng hóa nhanh của các Chaebol thể hiện qua 2 tiêu chí: sốlượng gia tăng nhanh chóng số chi nhánh và công ty thành viên, số lĩnh vực

Trang 19

mà các Chaebol tham gia hoạt động Thập kỷ 70 đánh dấu sự phát triển vớitốc độ cao của các Chaebol Trong số 191 công ty thuộc 10 Chaebol dẫn đầu(bảng xếp hạng năm 1984) thì có tới 60% được hình thành trong thời kỳ này.

Số lượng các công ty của 30 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc đã tăng 30% trongthời kỳ 1993 – 1997 Nếu so với năm 1987 thì số lượng công ty thành viêncủa 30 Chaebol hàng đầu đã tăng gần gấp rưỡi Ví dụ điển hình là Hyundai.Đầu những năm 70 Hyundai chỉ có 4 công ty mới được tách ra từ công tyđóng tàu thì cuối những năm 70 Huyndai đã tấn công vào các lĩnh vực khácnhư cơ khí, phụ tùng ôtô, xây dựng, lọc dầu và nâng số công ty thành viên củamình lên 20 công ty Trong mỗi lĩnh vực Hyundai lại có nhiều công ty con,như trong lĩnh vực xây dựng và đồ gỗ Hyundai có tới 6 công ty con: HyundaiCement Co Ltd; Dongsu Industrial Co Ltd; Hyundai Wood Industry Co.Ltd; Keumkay Development Industrial Co.Ltd; Keumkay Co.Ltd; KoreaChemical Co Ltd Về lĩnh vực nếu lúc đầu Huyndai hoạt động trong lĩnh vựcđóng tàu thì đến năm 1993 Hyundai đã tham gia trên 30 lĩnh vực khác nhau.Hiện nay Hyundai là Chaebol có số thành viên nhiều thứ ba ở Hàn Quốc (chỉsau Samsung và SK)

Hai là: Các Chaebol đa dạng hóa với mức độ cao

Theo số liệu thống cho thấy tốc độ đa dạng hóa trung bình của các công

ty thuộc 20 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc lớn gấp 10 lần so với tốc độ đa dạnghóa các công ty không thuộc Chaebol Chaebol có quy mô lớn thì tốc độ đadạng hóa càng cao Số lượng công ty thành viên của 30 Chaebol lớn nhất ởHàn Quốc trung bình là 27,5 công ty, đáng chú ý nhất có Samsung (80),Hyundai (57), LG (49), SK (46) Về mức độ đa dạng hóa trung bình của 20Chaebol hàng đầu là 15,5 (tính theo số ngành mà các công ty tham gia kinhdoanh), chỉ số này cao hơn nhiều so với mức trung bình các công ty của cácnước trên thế giới

Trang 20

Ba là: Sự đan xen giữa đa dạng hóa liên hệ và đa dạng hóa không liên

sẻ rủi ro với các Chaebol khác

2.3.3 Nguyên nhân đa dạng hóa

Một là: Chính sách kinh tế của Chính phủ trong sự nghiệp công nghiệp hóa

Các Chaebol được hưởng lợi chủ yếu từ chính sách công nghiệp hóacủa Chính phủ Park Chung Hee Chính sách này được chia ra làm hai giaiđoạn:

Giai đoạn 1962 – 1972 Chính phủ đẩy mạnh cải cách và xây dựng thểchế nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu

Giai đoạn 1973-1979 Chính phủ tập trung vào các ngành trọng điểm làcông nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất Chính phủ dành ưu đãi cho cáccông ty tham gia vào hai lĩnh vực này như: ưu đãi về thuế, tài chính và một sốquyền lợi khác Cho nên trong điều kiện đó sự lựa chọn hợp lý nhất cho cácChaebol là tham gia vào những ngành có sự điều tiết của Chính phủ Bởi vìđầu tư vào những ngành này sự tồn tại của công ty sẽ được đảm bảo, sẽ đượcvay vốn với lãi suất thấp ở ngân hàng và khi công ty không có khả năng thanhtoán thì Chính phủ sẽ can thiệp để cho công ty tiếp tục hoạt động Đến cuốinhững năm 70, 9 trong số 10 Chaebol lớn nhất đã đầu tư vào công nghiệp

Trang 21

nặng Samsung vốn nổi tiếng với những sản phẩm công nghiệp nhẹ như dệt vàthực phẩm (tổng vốn đầu tư chiếm tới hơn 66% tổng giá trị tài sản) thì đếnnhững năm 70 cũng đẩu tư vào công nghiệp nặng Năm 1983 đầu tư vàongành này của Samsung chiếm tới hơn 33% trong khi đầu tư vào công nghiệpnhẹ chỉ còn 17%.

Thái độ coi trọng và ưu tiên dành cho các công ty của Chính phủ làmcho các Chaebol chú ý đến việc mở rộng quy mô hơn là gia tăng lợi nhuận Vìkhi mở một công ty mới thì các Chaebol lại được vay tiền từ các ngân hàngcủa Chính phủ, khi vay được vốn mà thành lập công ty khác thì lại được vayvốn tiếp Do đó các Chaebol liên tiếp thành lập các công ty mới để được vaynhiều vốn từ các ngán hàng của Chính phủ và nước ngoài

Bên cạnh đó, Chính phủ không cho phép các Chaebol thực hiện phá sảnđối với các công ty thành viên hoạt động kinh doanh không hiệu quả do longại những hậu quả về chính trị và xã hôi khi tình trạng thất nghiệp gia tăng.Chính sách này cùng các biện pháp hỗ trợ giúp các công ty tiếp tục duy trì và

mở rộng hoạt động Bởi vậy mà quy mô và lĩnh vực hoạt động của Chaebolngày một gia tăng

Cuối cùng là Chính phủ giảm thiểu rủi ro cho các Chaebol bằng cáchthủ tiêu cạnh tranh trong thị trường nội địa Các công ty thuộc Chaebol đượcvay vốn với lãi suất thấp hơn nhiều so với các công ty không thuộc Chaebol

Ví dụ: năm 1970 mức lãi suất cho các Chaebol chỉ có 7,2% trong khi mức lãisuất trên thị trường là 35,2% Chính phủ cũng thực hiện bảo vệ sản phẩm củaChaebol bằng cách kiểm soát hàng nhập khẩu Do vậy Chaebol độc quyền,tích lũy được nguồn vốn lớn tạo điều kiện tham gia vào những ngành khôngphải trọng điểm

Hai là: Tình trạng kém phát triển của yếu tố đầu vào và mức chi phí giao dịch thấp

Williamson đưa ra nhận định rằng mức độ phát triển của thị trường yếu

tố đầu vào và chi phí giao dịch có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực

Trang 22

hiện và mức độ đa dạng hóa của sản phẩm của các công ty Nếu các yếu tốnguồn lực cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoạt động thông suốtthông qua thị trường thì doanh nghiệp khi chuyển đổi sang hoạt động kinhdoanh sẽ phải gánh chịu chi phí giao dịch lớn và ngược lại Ở Hàn Quốc tronggiai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường vốn và thị trường lao động chưahình thành Sự thiếu vắng của thị trường yếu tố đầu vào cùng với mức chi phígiao dịch thấp là nhân tố khuyến khích các Chaebol thực hiện đa dạng hóa.

Ba là: Xuất phát từ việc các Chaebol mong muốn có sức mạnh để cải thiện quan hệ với Chính phủ và tự bảo vệ mình

Nếu Chaebol không tuân thủ các kế hoạch của Chính phủ thì chính phủ

sẽ cắt nguồn tài chính và khi đó sớm hay muộn Chaebol cũng phải đối mặtvới rủi ro tài chính của việc mất khả năng thanh toán Chính phủ can thiệpvào kinh doanh của Chaebol, Chaebol dễ bị tổn thương trước những thay đổi

về thể chế chính trị Do đó đa dạng hóa lá cách để Chaebol tăng khả năng tựchủ của mình Các lĩnh vực mà Chaebol thực hiện đa dạng hóa có tài chínhphi ngân hàng, xây dựng, thương mại Năm 1980, 10 Chaebol lớn nhất đã đầu

tư vào lĩnh vực tài chính phi ngân hàng (như bảo hiểm) và 8 Chaebol đầu tưvào lĩnh vực thương mại Hiện nay 30 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc đã sở hữu

30 trong số 35 công ty bảo hiểm và 13 trong số 38 ngân hàng thương mại

Bốn là: Đặc điểm của hệ thống quản lý

Quyền lực trong các Chaebol tập trung trong tay một số người nhưnglại không được pháp luật bảo vệ Do vậy để mở rộng phạm vi quyền lực củamình đồng thời giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp, tìm kiếm cơ hộ thăng tiếntrong hệ thống cấp bậc quản lý, các nhà quản lý thường sử dụng đa dạng hóanhư một giải pháp an toàn và hữu hiệu nhất

Trang 23

Năm là: Tính chất biến động của của môi trường kinh doanh

Trong điều kiện môi trường kinh tế có nhiều biến động phức tạp, đadạng hóa chính là giải pháp tối ưu của các Chaebol để giảm thiểu rủi ro vàtăng khả năng cạnh tranh

2.4 Vai trò của các Chaebol đối với kinh tế Hàn Quốc

Một là: Đầu tàu kinh tế của Hàn Quốc

Vai trò này của các Chaebol bắt đầu từ những năm 60 (khi tổng thốngPark Chung Hee nắm quyền ) xuyên suốt cho đến nay Để các Chaebol thựchiện vai trò của mình, chính phủ Hàn Quốc lên kế hoạch phát triển kinh tế -vốn đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, cùng với đó chính phủ cũng giaocho Chaebol những ưu đãi đặc biệt Trên thực tế Chaebol đã rất thành côngvới mục tiêu này

Từ khi được hình thành cho đến trong suốt những năm 70 Chaebol đãthực sự trở thành trụ cột kinh tế của Hàn Quốc Chaebol đã sản xuất kinhdoanh thương mại và dịch vụ, thu hút chuyển giao công nghệ,… Các Chaeboltrong thời kì này đã đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tếcủa nền kinh tế với tỷ lệ hàng năm trung bình 20-30% GDP và tỷ lệ xuất khẩuchiếm khoảng 40%, đồng thời đã tạo ra nền công nghệ hiện đại cho nền sảnxuất Hàn Quốc Chỉ tính riêng năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của 4Chaebol hàng đầu là Daewoo, Hyundai, LG và SK đã lên đến 111,7 tỷ USD,chiếm 58% tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc, chiếm 1/3 tổng giá trị tư bảncủa thị trường

Đóng góp lớn nhất cho nền kinh tế Hàn Quốc phải kể đến 3 tập đoàn thường được mệnh danh là những “đại gia” của Hàn Quốc: Samsung (Ngôisao), Hyundai (Hiện đại) và Daewoo (Đại vũ) Họ là những đại gia xuyên suốtthế kỉ 20 và 21 Bên cạnh đó cũng tồn tại những tập đoàn khác như: LG,Ssangyong,…cũng được coi là hệ xương sống của nền kinh tế Hàn Quốc

Trang 24

-Samsung từ lâu rồi được xem là hiện tượng, là đặc trưng điển hình của

sự năng động, sáng tạo trong nền kinh tế của xứ Hàn Daewoo là "vua" củanhiều kiểu ô-tô các loại, còn Hyundai là "anh cả đỏ" của kỹ nghệ đóng tàuthủy và các thiết bị quan trọng của công nghiệp quốc phòng

Chaebol cũng chính là nhân tố quan trọng nhất kéo Hàn Quốc ra khỏicuộc khủng hoảng tài chính Ba tập đoàn đi đầu trong thời kỳ này là: SamsungElectronics, Huyndai Motor và LG Electronics Trong khi các đối thủ cạnhtranh bị cản bước bởi những cơn khủng hoảng thì dường như ba tập đoàn này

bị ảnh hưởng không mấy đáng kể Bằng chứng gần đây nhất về chiến lượckinh doanh của các tập đoàn này là vào 19 tháng 9 mới đây, Hyundai thôngbáo mở thêm một nhà máy ô tô 600 triệu đô la mới ở Brasil Số vốn của tậpđoàn Hyundai Motor bao gồm cả công ty con Kia Motor, là 3,9 triệu USD vàonăm ngoái, đồng thời Hyundai cũng đang mong đợi một bước phát triến mớivào hai năm tiếp theo "Nhà máy ở Brasil là sự quyết tâm của chủ tịch tậpđoàn Chung Mong Koo để đạt mục tiêu tăng số vốn sản xuất lên tới 6 triệuUSD vào năm 2010," người phát ngôn Jake Jang của Hyundai nói

Sau thông báo của Hyundai hai ngày là công bố của Samsung về việcchào mua hãng sản xuất thẻ nhớ SanDisk của Mỹ với giá là 5,85 tỉ USD Vềphần mình, LG đã nhiều lần nhấn mạnh là đến năm 2010 sẽ đạt mục tiêu trởthành một trong ba nhà phân phối thị trường có ảnh hưởng nhất ở một số sảnphẩm như ti vi, điện thoại di động và những trang thiết bị tại nhà như tủ lạnh

và máy điều hòa không khí Những nhà quản lý của bộ ba tập đoàn này chobiết tất nhiên là họ biết được tình hình kinh tế đang có dấu hiệu đi xuốngnhưng đó cũng chính là cơ hội cho họ phát triển nền sản xuất công nghiệp củamình

Danh sách 10 Chaebol có tổng thu nhập lớn nhất:

1 Samsung 153,2 tỷ USD (2006)

2 LG Group 94,8 tỷ USD (2007)

3 SK Corporation 75,9 tỷ USD (2006)

Trang 25

4 Hyundai Group 57,2 tỷ USD

Đi đầu trên con đường chinh phục thị trường thế giới phải kể đến

Chaebol Samsung Tập đoàn này có ba lĩnh vực kinh doanh quan trọng để tạo

nên thê chân vạc vững chắc là: lĩnh vực điện tử ( Samsung Electronics), côngnghiệp nặng (Samsung Heavy Industries) và kỹ thuật xây dựng (SamsungEngineering & Construction) Trong đó Samsung Electronics, thành lập năm

1969, là một bộ phận lớn nhất của tập đoàn Samsung, và hiện nay được coi làmột trong những công ty điện tử lớn nhất thế giới Theo bảng xếp hạng 500thương hiệu mạnh nhất toàn cầu mới nhất của Fortune, năm 2007, trong sốcác công ty điện – điện tử, Samsung có mức doanh thu đứng thứ hai thế giớivới 106 tỉ USD nhưng lợi nhuận lại đạt mức cao nhất thế giới với gần 8 tỉUSD Thế nhưng, ít người biết rằng cho đến đầu những năm 90, Samsung chỉ

là một công ty châu Á chưa có tên tuổi, sản phẩm vẫn nằm ở những chỗ khuấtcủa các cửa hàng và ít được chú ý bởi thiết kế hầu như lặp lại và công nghệthua xa các đối thủ sừng sỏ đến từ Nhật Bản

Bằng những thay đổi hợp lý trong quản lý và tiếp thị, Samsung đã bứtphá ngoạn mục khi dần vươn lên trở thành một trong những thương hiệu hàngđầu thế giới kể từ năm 1997, thời điểm mà các nước trong khu vực nhưPhilippines, Hong Kong, Indonesia, Malaysia, nói chung và Hàn Quốc nói

Trang 26

riêng đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ, dẫn đến phảithu nhỏ quy mô.

Đến năm 2005, theo báo cáo của Interbrand, Samsung đã trở thànhthương hiệu hàng điện tử tiêu dùng hàng đầu và được biết đến nhiều nhất trêntoàn cầu, thay thế vị trí mà trước đó do Sony nắm giữ nhiều năm liền Năm

2006, tạp chí Business Week xếp Samsung hạng 20 trong 100 thương hiệuhàng đầu thế giới và hạng nhì trong ngành công nghiệp điện tử Trong danhsách 100 công ty sáng tạo nhất cũng do Business Week đưa ra, Samsung xếphạng 20 Năm 2007, điện thoại di động Samsung lại tiếp tục qua mặt công tyđiện thoại di động hàng đầu của Mỹ là Motorola để trở thành hãng sản xuấtđiện thoại di động thứ nhì trên thế giới Cuối năm 2007, lần đầu tiên, doanh sốnăm của Samsung vượt qua con số 100 tỉ USD Trước đó chỉ có hai công ty

đồ dùng điện và điện tử vượt qua được ngưỡng 100 tỉ USD, là Siemens củaĐức và Hewlett - Packard của Mỹ Thành tích này được coi là điều khó tinđược với một công ty vừa mới thành lập năm 1969 (Siemens lập năm 1847,Hewlett-Packard năm 1939)

Samsung cũng trở thành một trong những công ty có giá trị thương hiệutăng nhanh nhất thế giới Năm 2000, thương hiệu Samsung được Interbrandđịnh giá là 5,2 tỉ USD, xếp hạng 43 trên thế giới Sau khi chi 508 triệu USDcho quảng cáo trong năm 2000, thương hiệu Samsung được nâng lên hạng 42,trị giá 6,3 tỉ USD trong năm 2001, Như vậy, đầu tư cho quảng cáo, tiếp thị đãthu lợi được gấp đôi Năm 2006, thương hiệu Samsung có giá trị hơn 16 tỉUSD, xếp hạng 20 trên thế giới trong khi chi phí dành cho marketing là hơn 1

tỉ USD

Trang 27

Bảng 2.4 Giá trị thương hiệu Samsung (giai đoạn 2003-2007)

Đơn vị tính: Tỉ USD

Nguồn:Business Week - InterBrand

Samsung là xương sống chính của nền kinh tế Hàn Quốc bên cạnh cáccông ty như Hyundai, Daewoo, SK Telecom, Kia… Theo nhật báo WallStreet Journal, tại Hàn Quốc, Samsung là tập đoàn kinh tế lớn nhất, đóng góp15% kinh tế quốc gia và 20% xuất khẩu của cả nước Tuy nhiên, từ lâu,Samsung đã vượt ra biên giới Hàn Quốc, trở thành tập đoàn đa quốc gia và đã

có mặt ở 61 nước

Trang 28

Bảng 2.5 Số liệu thống kê vị trí và thị phần toàn cầu của Samsung năm 2007

Nguồn: Theo Gartner Dataquest, IDC, Display Search

Thành công kinh doanh tiếp theo thuộc về Chaebol Hyundai

Tàu biển là một trong 6 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Hàn Quốccùng với bán dẫn, ô tô, thiết bị viễn thông không dây, máy móc và sản phẩmhoá dầu Xuất khẩu tầu biển sẽ chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt kỷlục 21,8 tỉ USD trong năm nay Hyundai Heavy Industries Co là hãng đóngtàu biển lớn nhất thế giới, đang tăng doanh số bán hàng bởi vì nâng cao kinhdoanh hàng hải toàn cầu dẫn đến nhu cầu tầu biển lớn sẽ tăng nhanh Đây làlĩnh vực các công ty Hàn Quốc có thế mạnh nhất

Hyundai Heavy và hai công ty con của Hyundai là Hyundai MipoDockyard Co và Hyundai Sambo Heavy Industries Co gặt hái được 12 tỷUSD từ xuất khẩu trong năm nay, xếp hạn thứ 4 sau Samsung ElectronicsCo., LG Electronics Co và Hyundai Motor Co

Trang 29

Xuất khẩu tàu biển mang về cho Hyundai khoảng 9,3 tỷ USD, trong khi

đó các ngành khác như là dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi, máy móc và động cơ,thiết bị xây dựng và hệ thống điện mang về số còn lại

Hyundai Heavy ký được thương vụ kỹ thuật ngoài khơi lớn nhất thếgiới với tổng số tiền hợp đồng là 1,6 tỷ USD với Các Tiểu vương quốc Ả Rậpthống nhất (UAE) vào hôm 20/12/2006 Hyundai đồng ý xây dựng 3 giànkhoan kỹ thuật và đặt ống dẫn dầu đặt dưới đáy biển từ giếng dầu Umm Shaifcho ADAM-OPCO - một công ty con của Tổng Công ty dầu mỏ nhà nướcUAE vào năm 2010 Thiết bị này sẽ khai thác 300.000 thùng dầu thô mỗingày và 1 tỷ feet khối khí tự nhiên

Tháng 9/2006, Hyundai Heavy hoàn thành việc lắp đặt và chạy thử hệthống sản xuất trị giá 30 triệu USD, hệ thống bao gồm 324 robot, robot nàyphục vụ việc lắp ráp xe hơi tại nhà máy Kia Motors Corp ở Slovakia Đây làthương vụ xuất khẩu robot công nghiệp chưa từng có ở Hàn Quốc

Các trạm phát điện trọn gói (PPS) do Hyundai Heavy phát triển vàđược Bộ Thương mại - Công nghiệp và Năng lượng (MOCIE) chọ là “sảnphẩm siêu hạng của thế giới” là mặt hàng xuất khẩu phổ biến của Hàn Quốc.Hyundai Heavy đảm bảo có đủ đơn hàng PPS từ 20 nước ở Châu Á, Trung vàNam Mỹ và Châu Phi cho năm 2007 Ở Cu Ba, Hyundai Heavy đang lắp đặt

554 PPS trị giá tới 720 triệu USD

Ngành kinh doanh thiết bị xây dựng của Hyundai Heavy cũng gặp đượcnhu cầu lớn Công ty đã thu được 200 triệu USD từ bán được 3.000 thiết bịxây dựng và ô tô công nghiệp tại Châu Âu trong tháng 9 Có được thành quảnày nhờ có xúc tiến tích cức thông qua các cuộc triển lãm và nhu cầu xâydựng đang tăng ở Đông Âu

Cũng trong tháng 9, Hyundai Heavy chứng tỏ tiềm năng của ngànhcông nghiệp năng lượng mặt trời của Hàn Quốc do nhận được đơn hàng rấtlớn ở nước ngoài Ngành kinh doanh hệ thống điện thu được 50 triệu USD đểxây dựng trạm điện mặt trời ở Tây Ban Nha

Trang 30

Tất nhiên, ngành đóng tàu biển là ngành có đóng góp lớn nhất trongxuất khẩu của Hyundai, xuất khẩu tàu biển chiếm tới 93% doanh số bán racủa ngành đóng tàu Nhờ có đầu tư lớn vào phát triển công nghệ và mở rộngnhà xưởng của các hãng đóng tàu biển lớn như Hyundai Heavy, mà Hàn Quốctrở thành nước dẫn đầu thế giới trong ngành công nghiệp đóng tàu suốt 4năm liên tục Hàn Quốc nhận được hơn 40% đơn hàng đống tàu thế giới trong

11 tháng đầu năm, trong đó ưu tiên đóng các tàu vận chuyển khí thiên nhiênhoá lỏng, tàu chứa dầu lớn và tàu container

“Xuất khẩu tàu biển đã góp phần làm cho thặng dư thương mại lên tới

19 tỷ USD trong năm nay.” Hiệp hội đóng tàu biển Hàn Quốc cho biết, “Sựđóng góp của ngành công nghiệp vào nền kinh tế đất nước tăng nhanh chóngbởi 200.000 người đang làm việc tại các nhà máy đóng tàu hoặc dịch vụ cungứng.”

Ba là: Phát huy tốt những lợi thế của doanh nghiệp gia đình

Sự tiến bộ về mặt khoa học kỹ thuật của các doanh nghiệp Hàn Quốcđóng một vai trò quan trọng trong việc "mài sắc" ưu thế cạnh tranh so với cáccông ty khác trên thế giới Ông Kim Joo Hoon, cố vấn Bộ trưởng tài chínhKang Man Soo cho rằng mặc dù số lượng hàng xuất khẩu tăng trong năm gầnđây nhưng vẫn còn tồn tại các doanh nghiệp kinh doanh nhỏ bị ngưng trệ sảnxuất "Những nhà xuất khẩu lớn lấy những sản phẩm có chất lượng tốt từnhững nhà cung cấp địa phương với chi phí thấp so với nguồn hàng lấy từNhật hoặc Tây Âu" Ông Kim nói "điều này sẽ giúp đỡ những nhà xuất khẩucạnh tranh được trong tương lai"

Có lẽ nhân tố quan trọng nhất cho phép các tập đoàn tiến hành mở rộngkinh doanh một cách mạnh mẽ là hệ thống quản lý của họ Người phân tíchcủa tập đoàn này nói rằng những nhà xuất khẩu lớn ở Hàn Quốc cũng đượcđiều hành bởi sự kiểm soát của những tập đoàn gia đình hay những đại diệncủa họ

Trang 31

Như vậy một khi những tập đoàn gia đình này nắm và sử dụng quyềnlực tuyệt đối trong những quyết định đầu tư quan trọng thì những kế hoạchlàm ăn lâu dài sẽ tiến hành được dễ dàng "Chúng tôi rất tự tin vào những đầu

tư của mình sẽ tạo ra những bước phát triển mới, nhất là khi nền kinh tế toàncầu thoát khỏi tình trạng khó khăn" Ông Jang của tập đoàn Hyundai nói

2.5 Mối liên hệ giữa Chaebol và chính phủ

Những công ty được thành lập ở Hàn Quốc vào cuối những năm 40 đầunhững năm 50, có mối liên hệ khá chặt chẽ với Chính phủ của tổng thống ReeSyung Man (nhiệm kì 1948-1960) Điều này giải thích vì sao các doanhnghiệp này lại nhận được những ưu đãi đặc biệt từ Chính phủ

Sau khi quân đội giành được chính quyền vào năm 1961, tổng thốngPark Chung Hee đã tuyên bố sẽ xóa bỏ hoàn toàn nạn tham nhũng và bất công

xã hội còn tồn tại từ thời tổng thống Ree Một vài nhà tư bản công nghiệp đã

bị bắt và bị buộc tội tham nhũng Nhưng sau đó các lãnh đạo của chính quyềnmới lại nhận ra rằng họ không thể thực hiện mục tiêu cải cách kinh tế củamình nếu không có sự giúp đỡ của các Chaebol Một thỏa thuận hợp tác giữaChính phủ và Chaebol đã được ký kết nhằm thực hiện mục tiêu quan trọngtrước mắt là cải cách nền kinh tế đất nước

Sự hợp tác giữa Chính phủ và Chaebol kéo theo nó là sự phát triểnđáng kinh ngạc của nền kinh tế bắt đầu từ đầu những năm 60 Khởi đầu là sảnxuất những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và công nghiệp nhẹ, tiếp đến là côngnghiệp nặng, hóa chất, công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu Các nhà chínhtrị và các nhà lập kế hoạch của Chính phủ rất tin tưởng vào kế hoạch hợp tácvới các Chaebol Mối quan hệ hợp tác này thể hiện ở Chỗ chính phủ đưa racác kế hoạc chi tiết để phát triển công nghiệp, các Chaebol thực hiện các kếhoạch đó Park coi Chaebol là đầu tàu của nền kinh tế, khuyến khích sản xuất

để xuất khẩu (điều này ngược với chính sách chỉ nhập khẩu của tổng thốngRee), quy định về hạn ngạch cũng được thiết lập

Trang 32

Các Chaebol được Chính phủ cho phép hưởng một loại trợ cấp và đặcquyền, bao gồm việc hạn chế các công ty đa quốc gia tham gia thị trường, hỗtrợ chiến lược tạo vốn và các hoạt động phát triển công nghệ hướng vào xuấtkhẩu.Bên cạnh đó được bảo hộ về thị trường để làm chủ các công nghệ phứctạp, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và buộc

họ phải đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu của mình để cạnh tranh trên thịtrường quốc tế

Các Chaebol có thể phát triển mạnh là do hai nhân tố chủ yếu là: nguồnvốn vay từ nước ngoài và những ưu đãi đặc biệt từ phía Chính phủ Bên cạnh

đó tiếp nhận các nguồn công nghệ hiện đại từ nước ngoài cũng là nhân tố thenchốt dẫn đến thành công (Hàn Quốc đã mua lại những công nghệ và bằngsáng chế từ nước ngoài để sản xuất nhưng lại bán sản phẩm với giá thành rẻhơn các nước trên thế giới) Với chủ trương “vốn đi đầu” Chính phủ đã lựachọn một số các công ty và đứng ra đảm bảo để các công ty đó có thể đượctiếp nhận nguồn vốn vay từ nước ngoài, thêm vào đó là nguồn vốn huy độngđược từ các ngân hàng trong nước

Mối quan hệ giữa Chaebol và Chính phủ thu được nhiều thành công vàthực hiện được mục tiêu kinh tế của Chính phủ Tuy nhiên các quyết định củaChính phủ đưa ra không được sự tham gia của giới kinh doang cộng thêm với

sự can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các Chaebol đã dẫn tớiviệc lệ thuộc quá nhiều của Chaebol vào Chính phủ Chính vì thế để có thể tựchủ và tăng sức đề kháng trước những biến động bất thường của môi trườngkinh doanh, các Chaebol đã có nhiều hoạt động để giảm dần sự phụ thuộc quánhiều vào Chính phủ

2.6 Những điểm yếu của Chaebol

Một là: Sự thao túng quá lớn của các Chaebol với nền kinh tế Hàn Quốc

Trang 33

Địa vị và quyền lực đặc biệt của Chaebol được Chính phủ nâng đỡ đãdẫn đến thái độ bất chấp trách nhiệm xã hội Nó tạo nên sự độc quyền về giá

cả gây lạm phát triền miên, kèm theo tệ nạn buôn lậu, trốn thuế Do tính ích

kỷ của hệ thống gia đình trị, chế độ làm việc nhiều giờ khi tiền lương thấp,giá cả bị đẩy lên cao đã dẫn đến tình trạng khoảng cách giàu - nghèo tăng và

đe dọa sự ổn định xã hội

Mới đây Chủ tịch của Samsung – ông Lee Kun Hee phải từ chức dotrốn thuế và lạm dụng tín dụng Việc ông Lee từ chức đã được tường thuậttrực tiếp trên đài truyền hình quốc gia Hàn Quốc, đánh dấu sự sụp đổ của mộttrong những nhân vật quyền lực nhất Hàn Quốc cũng như là dấu hiệu về ngàykết thúc quyền nắm giữ nền kinh tế quốc gia của các tập đoàn kinh tế do cácgia đình lập ra và điều hành

Một lần nữa Hàn Quốc lại phải đối mặt với nghịch lý sâu sắc nhất trongphép lạ kinh tế của mình là: Vì sao một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, tổngsản lượng lên tới 960 tỷ đôla Mỹ lại có thể nằm trong sự kiểm soát của mộtnhóm các tập đoàn gia đình như Samsung, Huyndae, Daewoo,… Theo thống

kê của Ngân hàng trung ương Hàn Quốc, 30 Chaebol lớn nhất kiểm soát tới40% nền kinh tế

Vấn đề bây giờ là Hàn Quốc có tiến tới việc làm suy yếu quyền kiểmsoát của các tập đoàn gia đình đối với nền kinh tế hay không hay ít nhất cũngphơi bày sự kiểm soát đó trước sự xem xét kỹ lưỡng trước công chúng và sựgiám sát của pháp luật Lên tiếng sau khi Chủ tịch Lee từ chức về tội trốn thuế

và lạm dụng tín dụng, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak hứa sẽ tiêuchuẩn toàn cầu về điều hành doanh nghiệp cho các công ty nước này

Ở Hàn Quốc có một sự phê phán rộng rãi đối với các Chaebol mà cungcách điều hành khép kín có vẻ như đã lỗi thời trong một đất nước năng động

và cởi mở, đã thực thi dân chủ từ đầu những năm 1990 Đối với nhiều ngườiHàn Quốc, Chaebol làm cho họ nhớ lại thời kỳ chuyên chế trước đây khi màcác tập đoàn công nghiệp cấu kết với các giới quân đội cầm quyền Tuy vậy

Trang 34

họ vẫn coi các Chaebol là viên kim cương đặt trên trước vương miện tôn vinhmột trong những nền kinh tế thành công nhất trên thế giới Chính tham vọngcũng như động lực của các Chaebol đã làm cho nền kinh tế Hàn Quốc bùnglên từ đống tro tàn sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) Hiện nayHàn Quốc là nền kinh tế thứ 11 thế giới và mức sống cao nhất nhì Châu Á.

Nhìn chung trong thời gian qua Chính phủ đã tỏ ra khắt khe vớiChaebol hơn trong thời kỳ trước nhưng cũng không rõ sức ép này đến đâu.Trong vụ ông Chung Mong Koo – Chủ tịch tập đoàn Huyndai ( bao gồm cảcông ty xe hơi Hyundai) bị kêu án 3 năm tù về tội biển thủ công quỹ nhưngsau đó tòa phúc thẩm cho hưởng án treo do những đóng góp của ông trongnền kinh tế Hàn Quốc Tòa cũng miễn thi hành án tù 3 năm về tội gian lận kếtoán với Chủ tịch tập đoàn SK- một Chaebol khác Sở dĩ như vậy vì người ta

lo ngại nếu thực thi sẽ tạo ra một tiền lệ ảnh hưởng xấu đến các Chaebol khác

mà trong đó những người lãnh đạo gần như là không thay thế được Do vậyngành tư pháp Hàn Quốc thường có truyền thống là “nhẹ tay” với các “đạigia”, thường cho họ khỏi ngồi tù sau khi đã đóng một khoản tiền từ thiện lớn

Hai là: Làm mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu kinh tế quốc gia, công nghiệp nhẹ bị bỏ rơi, công nghiệp nặng cũng chỉ tập trung vào một số ngành nhất định

Trong thời kỳ đầu khi đưa ra mục tiêu cải cách kinh tế sau chiến tranh,Chính phủ Hàn Quốc đã khuyến khích các Chaebol nước này đầu tư vào cácngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất Khi đầu tư vào hai ngànhnày, Chaebol sẽ được hưởng ưu đãi rất lớn của Chính phủ Chính vì thế cácChaebol đầu tư lớn vào công nghiệp nặng, dẫn đến công nghiệp nhẹ bị bỏ rơi.Nhưng sau đó để giảm ảnh hưởng của Chính phủ vào kinh doanh của mình,cũng như xuất phát từ yêu cầu phải đa dạng hóa để hạn chế rủi ro và gia tănglợi nhuận các Chaebol đã giảm đầu tư vào công nghiệp nặng, tăng đầu tư vàosản phẩm công nghệ cao như điện tử, điện lạnh, tài chính,… Chính điều này

đã dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc

Trang 35

Ba là: Sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lực

Các Chaebol không chỉ được hưởng những ưu đãi về thuế, điều kiệnthuận lợi từ phía Chính phủ mà còn tập trung được nguồn lực và tài nguyênlớn Do đó đã dẫn tới tình trạng những nguồn lực cần thiết cho sản xuất chỉtập trung trong tay một nhóm Chaebol, gây bất lợi rất lớn với những công tynằm ngoài Chaebol Số liệu cho thấy rằng có tới 94,6% các công ty vừa vànhỏ không được nhà nước đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khiến chúngsụp đổ kéo theo thất nghiệp và bất ổn xã hội

Bốn là: Tình trạng vay nợ quá lớn của các Chaebol

Với sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa cộng thêm tốc

độ đa dạng hóa diễn ra quá nhanh thì các Chaebol thường vay nợ cao để mởrộng và phát triển kinh doanh Thông thường họ vay từ 100-200% số vốn tự

có để mở rộng kinh doanh va coi nợ ngân hàng là nguồn lực không thể thiếu

Đa dạng hóa mang lại những lợi ích nhất định cho sự tăng trưởng củacác Chaebol và nền kinh tế Hàn Quốc nói chung nhưng bên cạnh đó chiếnlược này cũng làm cho tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của các Chaebol khôngngừng gia tăng ( do để đa dạng hóa các Chaebol buộc phải huy động vốn bổsung từ bên ngoài chủ yếu là từ các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư nướcngoài) Từ năm 1970 đến nay tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của 30 Chaebolhàng đầu luôn ở mức cao Thời điểm năm 1982 và 1997 tỷ lệ này là gần400% Tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản cao làm cho mức chi phí về vốn lớndẫn đến mức doanh lợi thấp và làm xuất hiện nguy cơ mất khả năng thanhtoán Vì lý do này đã khiến nhiều Chaebol phá sản vào cuối năm 1997

Năm là : Tình trạng tiêu cực trong hoạt động của Chaebol

Kết quả điều tra cũng cho thấy tình trạng tham nhũng phổ biến trongcác Chaebol đặc biệt là sự tồn tại của các quỹ đen và tình trạng hối lộ Gầnđây, người khổng lồ Samsung, tập đoàn được coi là “bầu sữa” đối với hàngngàn nhà cung cấp linh kiện đã chao đảo vì những lời buộc tội tham nhũng

Trang 36

Kim Yong-Chul, cựu luật sư trưởng của Samsung tố cáo tập đoàn này có mộtquỹ đen khổng lồ lên tới 217 triệu USD để phục vụ cho mục đích hối lộ.Theo vị luật sư này, quỹ đen nói trên được lập ra bằng tiền của tập đoàn và ẩndưới dạng cổ phiếu giả cũng như nằm trong các tài khoản ngân hàng đứng têncác quan chức tập đoàn, trong đó có chính vị luật sư này Quỹ này được dùng

để hối lộ các chính trị gia, cơ quan luật pháp và báo giới, và thậm chí đượcchi cho bộ sưu tập nghệ thuật của gia đình ông Chủ tịch tập đoàn Mặc dù Samsung kịch liệt phản đối lời buộc tội này, nhiều người Hàn Quốc tỏ

ra vô cùng lo ngại khi thấy tập đoàn vốn là niềm tự hào của họ về sức mạnhxuất khẩu của Hàn Quốc cũng như tiêu chuẩn toàn cầu về trách nhiệm doanhnghiệp, vẫn là “con tin” của “văn hóa tham nhũng” Hiện các quan chức củaSamsung bị cấm không được ra khỏi Hàn Quốc Cơ quan chức năng liên tụctới kiểm tra các văn phòng của tập đoàn để tìm kiếm các dấu hiệu phạm tội

Có thể nói cho tới nay, Hàn Quốc đã phát mệt vì các vụ scandal thamnhũng trong các doanh nghiệp lớn của nước này Tuy nhiên, do kinh tế HànQuốc vẫn phụ thuộc quá nặng nề vào các Chaebol - và ảnh hưởng của những

“ông lớn” này là quá rộng, người Hàn Quốc lo sợ rằng, việc đối xử “nặng tay”với họ sẽ gây tổn thương đối với chính nền kinh tế nước này Chính vì lẽ đó, người dân Hàn Quốc gần như đã quen với việc năm nào nướcnày cũng cũng chao đảo vì một vụ scandal liên quan tới một trong số cácchaebol “Điều đáng ngại trong vụ này là mọi người vẫn thường coi Samsung

là một trong những doanh nghiệp được quản lý tốt nhất ở Hàn Quốc Bởi thế,mọi người sẽ đặt câu hỏi là liệu trên thực tế, mức độ tham nhũng ở các doanhnghiệp khác ở Hàn Quốc còn trầm trọng đến mức nào”, Tom Coyner, Chủtịch công ty tư vấn quản lý Soft Landing Korea, nói

Mặt khác, các Chaebol khuyến khích công ty con mua cổ phần củanhau nhằm ngăn cản sự tham gia của nhà đầu tư bên ngoài Do mô hình tổchức khép kín của các Chaebol nên hiện tượng chuyển nhượng cổ phần bấthợp pháp diễn ra khá thường xuyên và rất khó phát hiện các gia tộc sáng lập

Trang 37

Chaebol lợi dụng điều này để thu lợi bất chính Một tổ chức dân sự có tên làĐoàn kết nhân dân tham gia dân chủ (PSPD) đã âm thầm điều tra suốt 10 nămqua và phát hiện hơn 70 trường hợp bất hợp pháp, chiếm tỷ lệ 27% các vụchuyển nhượng cổ phần đã thực hiện ở 64 trong 250 công ty con thuộc 38Chaebol Điển hình là năm 2001, cha con Chủ tịch Hyundai Chung MongKoo lần lượt thâu tóm 40% và 60% cổ phần của Glovis, công ty vận tải có lãinhất của Hyundai Ngay sau đó, họ đã thu được 13,3 tỷ won (13,6 triệu USD)tiền cổ tức; 104,3 triệu USD tiền bán cổ phiếu và 417 triệu USD chênh lệchgiá khi Glovis lên sàn chứng khoán PSPD đã phát hiện hơn 30 vụ chuyểnnhượng bất hợp pháp như vậy tại Hyundai, 10 vụ ở Samsung, 3 vụ ở LG,

Sáu là: Sự thiếu năng động trong điều hành của Chaebol

Các Chaebol bắt đầu bộc lộ hạn chế trước yêu cầu năng động của thịtrường Các Chaebol được công nhận đã đóng góp lớn trong công cuộc côngnghiệp hóa đất nước, các thương hiệu như Samsung, LG, Hyundai đã trởthành niềm tự hào của Hàn Quốc

Tuy nhiên, bước vào thời đại toàn cầu hóa, nền kinh tế Hàn Quốc phảichuyển dần từ chế tạo sang dịch vụ có giá trị gia tăng cao, sử dụng có hiệuquả hơn đồng vốn và lao động, từ các đại công ty nặng nề sang các doanhnghiệp nhỏ năng động, từ cung cách quản lý gia tộc khép kín sang các tổ chứctoàn cầu, minh bạch và quản lý chuyên nghiệp thì các Chaebol không đáp ứngđược Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn rất thấp, người tài khó có cơ hội phát triển ởcác Chaebol, nơi chỉ coi trọng lòng trung thành, quản lý gia trưởng, độc đoán

Khi các cơ sở sản xuất lớn chuyển dần từ các nước công nghiệp hóasang Trung Quốc để tận dụng nhân công rẻ và thị trường tiêu thụ khổng lồ,người Hàn Quốc chợt nhận ra rằng họ không có doanh nghiệp dịch vụ nào cókhả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Các Chaebol với quy mô to lớnrất khó xoay trở trước tình hình mới

Trang 38

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM CỦA MÔ

HÌNH CHAEBOL

3.1 Những giải pháp được chính phủ Hàn Quốc áp dụng

Những nhược điểm trong mô hình Chaebol đã được bộc lộ rõ trongkhủng hoảng về tài chính tiền tệ xảy ra ở Hàn Quốc vào năm 1997-1998 Điều

đó cho thấy các Chaebol luôn đóng vai trò hạt nhân trong mọi vấn đề về kinh

tế Chính vì thế ngay sau khủng hoảng Chính phủ Hàn Quốc đã yêu cầu cácChaebol phải cải cách để tổ chức tốt hơn việc kinh doanh Cụ thể là Chínhphủ đã đề ra 5 quy định ban đầu và 3 quy định bổ sung (gọi là quy tắc 5+3)bắt buộc các Chaebol phải tuân theo

Năm quy định ban đầu:

- Củng cố năng lực kinh doanh để giữ vai trò hạt nhân trong nền kinh tế

- Cải thiện chất lượng vốn

- Xóa bỏ tình trạng bảo đảm vay nợ

- Tăng tính minh bạch trong quản lý

- Nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý

Chính phủ cũng coi 5 quy định này giữ vai trò chủ chốt trong việc khôi phụclại nền kinh tế sau khủng hoảng

Ba quy định bổ sung:

- Giảm bớt những quyền sở hữu không cần thiết

- Ngăn ngừa việc chống cạnh tranh trong nhóm tập đoàn và tình trạnggian lận trong nội thương

- Ngăn ngừa hành vi trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế

Trang 39

Sự thụt lùi về kinh tế của Hàn Quốc thời kỳ 1989 – 1993 làm cho người

ta tin rằng khủng hoảng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Hàn Quốc là dokết quả của sự đa dạng hóa quá mức và đầu tư quá mức của các Chaebol Do

đó đầu năm 1993 Chính sách chuyên môn hóa được tăng cường với các biệnpháp can thiệp trực tiếp và gián tiếp vào các hoạt động đầu tư của cácChaebol như: điều chỉnh tài sản đầu tư, thông qua Luật Thương mại tự do,hạn chế giới hạn các khoản vay tín dụng, tăng cường sự kiểm soát của Ủy bangiám sát tài chính và các ngân hàng đối với các Chaebol Chính phủ cũng yêucầu 30 Chaebol hàng đầu mỗi Chaebol lựa chọn 3 ngành công nghiệp cốt lõi(các công ty cốt lõi), từ đó sẽ được hưởng những ưu đãi của Chính phủ đểnhanh chóng trở thành các công ty mạnh có khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế

Sau khủng hoảng tài chính năm 1997 vấn đề tập trung vào kinh doanh

cơ bản lại được đặt ra với 30 Chaebol hàng đầu Tháng 7/1998 Chính phủ vàcác nhà lãnh đạo công nghiệp Hàn Quốc ( tổ chức bảo vệ quyền lợi củaChaebol) đã quyết định thực hiện chính sách “Big Deal” mà nội dung chủ yếu

là thực hiện hợp nhất hoặc là mua lại các công ty của 5 Chaebol hàng đằunhằm hạn chế đầu tư quá mức và đầu tư trùng hợp làm giảm khả năng cạnhtranh của sản phẩm Hàn Quốc Việc sáp nhập có thể thực hiện theo 3 cách:một công ty của một Chaebol sáp nhập vào một công ty của một Chaebolkhác; thành lập một công ty mới trên cơ sở các công ty của các Chaebol; hoặccác Chaebol bán công ty của mình cho một công ty thuộc sở hữu Nhà nước vàcông ty này sẽ được tư nhân hóa ngay sau khi mua lại xong các công ty củacác Chaebol Thực hiện yêu cầu này của Chính phủ đến 9/1998, 5 Chaebolhàng đầu đã sáp nhập các kinh doanh của mình trong 7 ngành công nghiệp(hóa dầu, động cơ thủy, lọc dầu, chất bán dẫn…) Ví dụ: trong lĩnh vực bándẫn Hyundai Electric.Ind đã hợp nhất với LG Semicon của Chaebol LG; tronglĩnh vực ôtô Hyundai Motor đã mua lại Kia Motor.Co Đối với các Chaebolxếp hạng 6 đến 30 Chính phủ cũng yêu cầu các Chaebol phải thu hẹp phạm vi

Trang 40

kinh doanh Chính phủ đã xây dựng và ban hành một số văn bản pháp quy tạo

cơ sở pháp lý cho các Chaebol tổ chức lại hoạt động kinh doanh như quy định

về thủ tục phá sản, sửa đổi lại luật lao động

3.2 Đề xuất một số giải pháp

Nhóm giải pháp được Chính phủ Hàn Quốc đưa ra sau khủng hoảng chỉkhắc phục được phần nào những bất cập tồn tại trong mô hình Chaebol Chođến bây giờ việc khắc phục hoàn toàn những căn bệnh cố hữu trong mô hìnhnày vẫn còn là bài toán khó Các nhà kinh tế đã đưa ra một số những giảipháp sau đây:

3.2.1 Các giải pháp từ phía chính phủ

Thứ nhất, khi chính sách của Chính phủ là một trong những nguyên

nhân dẫn đến những bất cập trong hoạt động của Chaebol thì việc Chính phủtham gia vào khắc phục trong hoàn cảnh nhất định là cần thiết nhưng một sựbảo trợ quá mức sẽ làm yếu đi khả năng cạnh tranh của tập đoàn Ở đây Chínhphủ cần thay đổi về cơ bản mối quan hệ với các Chaebol bằng cách xây dựngcác thể chế trên cơ sơ kinh tế thị trường và chấm dứt ưu đãi đối với nhữngChaebol lớn Vấn đề điều chỉnh và xây dựng hệ thống luật pháp là vấn đềđược đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó Chính phủ cũng phải thực hiện các biệnpháp giám sát, đồng thời yêu cầu các Chaebol phải minh bạch hóa các hoạtđộng của mình

Thứ hai, tạo dựng thị trường vốn hiệu quả và thị trường cạnh tranh bình

đẳng giữa các công ty thuộc Chaebol và các công ty không thuộc Chaeboltrên thị trường sẽ điều chỉnh chính sách ứng xử của các Chaebol thay thế tácđộng điều tiết của Chính phủ

Thứ ba, tăng cường hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

để vừa tăng tính cạnh tranh, vừa đưa nền kinh tế thoát khỏi sự phụ thuộc vàocác Chaebol Để thực hiện điều này bên cạnh việc Chính phủ phải giảm bớtnhững ưu đãi đặc biệt về vốn cho các Chaebol thì cần tạo điều kiện thuận lợi

Ngày đăng: 13/04/2013, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Directed Research in Economics, University of Northern Iowa ,“Failure of the Miracle: Why South Korea's Managed Economy Is Dying” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Failure of the Miracle: Why South Korea's Managed Economy Is Dying
2) Phil Sang Lee- Dean, school of business administration, Korea University, “Economic Crisis and Chaebol Reform in Korea” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Crisis and Chaebol Reform in Korea
3) Thayer Watkins, Silicon Valey & Tornado Alley USA, “Chaebol of South Korea”.Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chaebol of South Korea”
1) Báo cáo của một nhóm giáo sư và chuyên gia thuộc đại học Harvard về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội VN 2010-2020, “Lựa chọn thành công” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn thành công
2) Nguyễn Kim Anh, “Một số vấn đề về các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và các ngân hàng do Tập đoàn kinh tế mới thành lập”, tạp chí Quản lý kinh tế số 19 (3+4/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và các ngân hàng do Tập đoàn kinh tế mới thành lập
3) PGS.TS Phan Đăng Tuất, “Lựa chọn mô hình hoạt động cho Tập đoàn kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn mô hình hoạt động cho Tập đoàn kinh tế Việt Nam
4) Vũ Phương Thảo “Khuynh hướng đa dạng hóa trong các Chaebol của Hàn Quốc”, tạp chí nghiên cứu Châu Á- Thái Bình Dương, số 4 năm 2005.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng đa dạng hóa trong các Chaebol của Hàn Quốc”, tạp chí nghiên cứu Châu Á- Thái Bình Dương, số 4 năm 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Danh sách các Chaebol hàng đầu Hàn Quốc - Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Bảng 1.1 Danh sách các Chaebol hàng đầu Hàn Quốc (Trang 12)
Bảng 2.4  Giá trị thương hiệu Samsung (giai đoạn 2003-2007) - Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Bảng 2.4 Giá trị thương hiệu Samsung (giai đoạn 2003-2007) (Trang 27)
Bảng 2.5  Số liệu thống kê vị trí và thị phần toàn cầu của Samsung - Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Bảng 2.5 Số liệu thống kê vị trí và thị phần toàn cầu của Samsung (Trang 28)
Bảng 4.2 Xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng - Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Bảng 4.2 Xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w