Nếu một FTA với Trung Quốc có thể buộc ASEAN phải tự do hoá hơn nữa các nền kinh tế của mình và tiến gần tới một không gian kinh tế thống nhất, điều này có thể là nguồn tạo ra sự tăng tr
Trang 1Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN
- Trung Quốc tới các quốc gia thành viên
2.1 Cơ hội
2.1.1 Thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong dài hạn
Trong vòng 10 năm tới, một vòng cung rộng lớn, bao quát hầu hết khu vực
Đông á sẽ hình thành nên một trong những Khu vực mậu dịch tự do lớn nhất và năng
động nhất thế giới, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc dự định sẽ đợc hoàn thành trongvòng 10 năm Việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong khung thờigian này sẽ không gặp phải trở ngại, bởi ASEAN đã và đang tích cực cắt giảm thuếquan theo quy định của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA): sáu nớc thành viên
cũ của ASEAN cam kết sẽ hạ mức thuế quan bình quân xuống dới 5% vào cuối 2003;bốn nớc thành viên mới là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar sẽ hạ mức thuếxuống dới 5% vào cuối 2006, đồng thời sẽ bỏ tất cả thuế quan, thực hiện mậu dịch tự
do vào năm 2018 Thuế quan của ASEAN hạ thấp sẽ có ảnh h ởng vô cùng thuận lợicho việc xuất khẩu hàng hóa trong nội bộ khối, đồng thời tạo cơ sở cho Khu vực mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc ACFTA sớm đợc hình thành Hơn thế nữa, khả năngtiếp cận lớn hơn với ngời láng giềng khổng lồ Trung Quốc có thể gây tác động kíchthích tiến trình tự do hoá chậm chạp của bản thân khu vực Jonathan Anderson thuộc
bộ phận nghiên cứu Châu á Thái Bình Dơng của công ty UBS Securities tại Hồng
Kông lập luận: “Đông Nam á không đa ra bất kỳ ý tởng gì gần với một thị trờng tự do
về lao động, vốn hay hàng hoá Nếu một FTA với Trung Quốc có thể buộc ASEAN phải tự do hoá hơn nữa các nền kinh tế của mình và tiến gần tới một không gian kinh
tế thống nhất, điều này có thể là nguồn tạo ra sự tăng trởng và đầu t mới ở trong nớc, trong lĩnh vực chế tạo cũng nh trong các nguồn chủ chốt” [24].
Tuy nhiên, khái niệm “10 năm” của ACFTA chỉ là một khung thời gian chứkhông phải là một khái niệm có tính tuyệt đối, và bởi vậy rất có khả năng là việc triểnkhai Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ đợc hoàn thành trớc thời hạn đã
định Ví dụ, việc triển khai Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã đợc đẩynhanh so với khung thời gian đã đợc dự kiến lúc đầu là 15 năm Vào tháng 1/ 2002,Thủ tớng Thái Lan Thashin thậm chí còn gợi ý hoàn thành Khu vực mậu dịch tự doASEAN - Trung Quốc trong vòng 2 năm
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc một khi đợc hình thành nhất
định sẽ phát sinh ảnh hởng đến sự phát triển của ASEAN và Trung Quốc, thậm chí củatoàn thế giới Về mặt kinh tế, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ đemlại những cơ hội tốt đẹp cho sự hợp tác thơng mại và đầu t giữa hai bên, cụ thể là:
2.1.1.1 Tăng cờng mở rộng tiềm năng thơng mại
Theo những mô phỏng mà Tổ nghiên cứu hỗn hợp của Nhóm chuyên gia về hợptác kinh tế ASEAN - Trung Quốc (ASEAN – China Expert Group on Economic
Cooperation) đã tiến hành dựa trên Dự án nghiên cứu về thơng mại toàn cầu (GTAP –
Trang 2Trung Quốc sẽ mang lại những cơ hội lớn cho các nớc tham gia với việc tạo ra mộtkhu vực thị trờng lớn nhất thế giới với hơn 1.7 tỷ ngời tiêu dùng, tổng thu nhập quốcnội vào khoảng 2 nghìn tỷ USD và tổng kim ngạch trao đổi thơng mại ớc tính lên đến1.23 nghìn tỷ USD [25] Tuy nhiên cần chú ý rằng mô hình GTAP không bao gồmBruney, Lào, Campuchia và Myanmar Nếu những nớc này tham gia vào khu vực mậudịch tự do và nếu họ giành đợc lợi nhuận thì FTA với Trung Quốc sẽ càng có tính khảthi cao hơn.
Với phơng pháp cân bằng tổng quát điện toán (Computational General Equilibrium – CGE), Viện chính sách kinh tế quốc tế Hàn Quốc KIEP cũng đã tiếnhành nghiên cứu về tác động của các khu vực mậu dịch tự do ở Đông á, trong đó cóKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Theo mô hình CGE, lợi ích kinh tế sẽkhông lớn nếu chỉ tính riêng tự do hoá thơng mại, nếu tính thêm các lợi ích của việctích luỹ vốn thì lợi ích kinh tế sẽ đợc mở rộng Cụ thể, khi Trung Quốc và ASEAN kýkết một FTA, tự do hoá thơng mại sẽ làm tăng GDP của ASEAN lên 0.23%, trong khitác động tổng hợp của tự do hoá thơng mại và tích luỹ vốn sẽ làm tăng GDP lên
2.08%, xấp xỉ 5 lần tác động riêng của tự do hoá [26] (tham khảo Phụ lục 7) Các kết
quả này cũng tơng tự nh nhận định mà Cựu Thủ tớng Trung Quốc Chu Dung Cơ đãphát biểu tại Hội nghị thợng đỉnh Trung Quốc – ASEAN tại Singapore tháng 11/
2000
Qua các số liệu đợc nghiên cứu từ 2 mô hình GTAP và CGE, có thể thấy, vềmặt kinh tế, việc hình thành ACFTA sẽ mang lại cục diện cùng có lợi cho Trung Quốc
và ASEAN:
Thứ nhất, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ góp phần tăng
tr-ởng GDP và xuất khẩu của cả ASEAN và Trung Quốc, nâng cao hiệu quả của nền kinh
tế nhờ tính cạnh tranh cao
Theo nghiên cứu của Ban th ký ASEAN, với việc thiết lập một FTA song
ph-ơng, GDP thực tế sẽ tăng lên đối với tất cả các nớc ASEAN và Trung Quốc (xem bảng 9).
Bảng 9: Tác động của ACFTA tới GDP thực tế theo mô hình GTAP
(triệu USD)
Giá trị tăng thêm
Số tuyệt đối (triệu USD)
Số tơng đối (%)
Trang 3Mỹ 7,120,465.5 -2,594.5 -0.04
Nhật 5,078,704.5 -4,452.0 -0.09
ROW (Rest of World) 14,657,026.0 -6,272.0 -0.05
Tổng 28,298,952.1 -5,706.9 -0.03
Nguồn: Báo cáo của Nhóm chuyên gia ASEAN – Trung Quốc về hợp tác kinh tế (ASEAN –
China Expert Group on Economic Cooperation), “Xây dựng quan hệ kinh tế ASEAN - Trung
Quốc chặt chẽ hơn trong thế kỷ 21” – Ban th ký ASEAN (www.aseansec.org), tháng 10/ 2001.
Từ bảng trên có thể thấy, sau khi ACFTA đợc thành lập, tổng thu nhập quốc nộithực tế của cả ASEAN và Trung Quốc sẽ tăng thêm 7.6 tỷ USD; trong đó tổng thunhập quốc nội của ASEAN tăng thêm 0.9%, tơng đơng với 5.4 tỷ USD Trong số cácnớc ASEAN, tốc độ tăng lớn nhất thuộc về Việt Nam với 2.11% trong khi GDP củaIndonesia lại tăng lên nhiều nhất nếu tính theo giá trị tuyệt đối (2,267.8 triệu USD).Trong trờng hợp Trung Quốc, mặc dù GDP tăng thêm 2.2 tỷ USD nhng tốc độ tăng tr-ởng lại rất khiêm tốn, chỉ ở mức 0.28% Tuy nhiên, sự thay đổi về giá trị tuyệt đối haytơng đối không phải là quan trọng mà quan trọng hơn cả là các thay đổi đó đều theo
xu hớng tích cực đối với cả ASEAN và Trung Quốc Nói cách khác, lợi ích đầu tiên cóthể thấy đợc là Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ góp phần tăng trởngGDP thực tế của tất cả các thành viên tham gia
Cùng với sự tăng trởng của GDP thực tế, theo mô hình GTAP, việc thành lậpKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ làm cho xuất khẩu của ASEANsang Trung Quốc tăng 48%, tơng đơng với 13 tỷ USD, trong khi xuất khẩu của Trung
Quốc sang ASEAN tăng 55.1%, tơng ứng với 10.6 tỷ USD (xem bảng 10).
Từ bảng 10 có thể thấy trong số các nớc ASEAN, các nớc đợc lợi nhiều nhất từxuất khẩu là Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan; trong khi kim ngạch xuấtkhẩu song phơng tăng trởng lớn nhất là giữa Trung Quốc – Philippines và TrungQuốc – Thái Lan (tăng thêm lần lợt là 3,057.17 và 3,140.16 tỷ USD tính theo giá trịtuyệt đối) Ước tính, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ
đạt 680 tỷ USD vào năm 2005 [25]
Về thị trờng xuất khẩu, ngoài thị trờng xuất khẩu lớn là Mỹ, EU, Nhật Bản,ASEAN sẽ là thị trờng xuất khẩu quan trọng đối với Trung Quốc Về nhập khẩu,Trung Quốc cũng cần nhập khẩu nhiều nguyên liệu thô của ASEAN để chế biến vàxuất khẩu sang thị trờng thứ ba Ước tính từ năm 2001 đến 2005, Trung Quốc sẽ nhậpkhẩu khoảng 1.4 nghìn tỷ USD giá trị thiết bị, công nghệ và hàng hoá [25] Ngoài ra,với lợi thế về vị trí địa lý, chi phí vận chuyển thấp và các yếu tố văn hoá t ơng đồng,các nớc ASEAN và Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội hơn để trao đổi các sản phẩm có lợithế cạnh tranh của mình nh sản phẩm dầu khí, nông sản nhiệt đới, dầu thực vật, thuỷsản, thực phẩm, điện và điện tử gia dụng, hàng dệt may, giầy dép Các nớc ASEANcũng sẽ có cơ hội nhập khẩu nguyên liệu vải đầu vào để gia công xuất khẩu hàng dệtmay
Trang 4Bảng 10: Tác động của ACFTA tới xuất khẩu theo mô hình GTAP
Đơn vị: triệu USD
Tổng Indonesia Malaysia Philippines Singapore Thái Lan
-0 00
245.11
312.71
219.41 -20.97 -416.56
246.27 3,207.28 -688.07 1,012.59
1 1.17
152.88
-2 08.02
1 ,456.34
3,0 57.17
6 43.90
3 ,140.16 944.81 -813.34
511.53 -889.91 -1,557.07 6,842.13
-ROW 13.82- 19.731 543.70- 17.504 365.92- -89.28 482.25 67.774 -2,679.26 -1,360.73
ROW (Rest of World): Phần còn lại của thế giới
Trang 5Nguån: B¸o c¸o cña Nhãm chuyªn gia ASEAN - Trung Quèc vÒ hîp t¸c kinh tÕ (ASEAN – China Expert Group on Economic
Cooperation), “X©y dùng quan hÖ kinh tÕ ASEAN – Trung Quèc chÆt chÏ h¬n trong thÕ kû 21” – Ban th ký ASEAN (www.aseansec.org), th¸ng 10/ 2001.
Trang 6Theo nghiên cứu của Ban th ký ASEAN (tham khảo Phụ lục 8), xuất khẩu của
ASEAN và Trung Quốc sẽ tăng trởng mạnh nhất trong các ngành hàng dệt may và quần áo,thiết bị điện, máy móc và các ngành chế tạo khác Cụ thể, xuất khẩu các mặt hàng chế tạocủa Indonesia sang Trung Quốc tăng thêm 1,281.84 triệu USD Xuất khẩu các thiết bị điện
và máy móc của Singapore sang Trung Quốc cũng tăng 1,344.15 triệu USD Xuất khẩu dệtmay và quần áo của Thái Lan sang Trung Quốc tăng mạnh với 1,698.77 triệu USD Về phíaTrung Quốc, xuất khẩu các mặt hàng chế tạo của Trung Quốc sang Philippines tăng thêm1,169.78 triệu USD; trong khi xuất khẩu các thiết bị điện và máy móc sang Philippines vàThái Lan tăng lần lợt là 813.43 và 794.09 triệu USD Các mặt hàng dệt may và quần áo củaTrung Quốc sang hai nớc này cũng tăng trởng rất mạnh, lần lợt là 622.66 và 869.89 triệuUSD [25]
Thứ hai, Khu vực mậu dịch tự do này sẽ mang lại những cơ hội rất lớn cho các nớc
tham gia với việc tạo ra thị trờng cung cấp nguyên liệu phong phú hơn cho các nhà sản xuấttrong khu vực Jonathan Anderson, phụ trách bộ phận nghiên cứu Châu á Thái Bình Dơngcủa công ty UBS Securities tại Hồng Kông, cho rằng tuy Trung Quốc đa ra khẩu hiệu “tất cả
đều thắng” vào chính sách ngoại giao kinh tế của họ, song Khu vực mậu dịch tự do này về
lâu dài sẽ có lợi nhiều cho Trung Quốc Theo ông, “các hãng chế tạo của Trung Quốc đang
hy vọng nhảy vào các thị trờng xuất khẩu của các nớc Đông Nam á và nền kinh tế Trung Quốc cũng sẽ đợc lợi từ nguồn cung cấp ổn định hàng hoá và nguyên liệu” [24]
Thật vậy, xét về chi phí lao động, mức lơng ở Trung Quốc là rất thấp (tham khảo bảng 12, phần 2.2.3.3), chỉ bằng 1/50 so với Nhật Bản và Mỹ Năng suất lao động trong khu
vực chế tạo của Trung Quốc cũng rất thấp – chỉ bằng 1/25 mức của Mỹ và 1/26 mức củaNhật Vì năng suất thấp nh vậy nên nếu xem xét cơ cấu chi phí lao động trong ngành chếtạo, lơng của Mỹ chỉ cao hơn 1/3 so với Trung Quốc khi xét giá trị sản lợng theo USD.Ngoài ra, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế tạo Trung Quốc khá thấp Năm 2000,
tỷ lệ giá trị giá tăng trung bình của Trung Quốc chỉ là 26% - thấp hơn nhiều so với Mỹ vàNhật (tơng ứng là 49% và 43.6%) [6] Hơn nữa, các ngành công nghiệp của Trung Quốc phụthuộc chủ yếu vào các công nghệ nớc ngoài và cha có quyền sở hữu trí tuệ riêng của mình.Hầu hết các nhà máy chế tạo và hàng xuất khẩu của Trung Quốc đều thuộc các ngành giacông chế biến (trên thực tế, 55% [6] hàng xuất khẩu của Trung Quốc là sản phẩm của cácngành gia công chế biến) Điều này có nghĩa là khi khu vực chế tạo của Trung Quốc pháttriển, xuất khẩu của nớc này tăng, thì hàng nhập khẩu vào Trung Quốc cũng tăng tơng ứng.Tính trung bình, cứ trong 100 USD hàng xuất khẩu thì Trung Quốc cần nhập 50 – 70 USD[6] nguyên liệu Và nh vậy có thể nói rằng Trung Quốc càng xuất khẩu nhiều thì nớc nàycũng sẽ nhập khẩu càng nhiều nguyên liệu Nh vậy, loại thơng mại này không những có lợicho Trung Quốc mà còn đem lại nhiều lợi ích cho các nớc ASEAN, ví dụ: những nớc giàunguồn nguyên liệu nh Malaysia với diện tích trồng cao su và dầu cọ vô cùng lớn sẽ có cơhội mở rộng xuất khẩu các mặt hàng này sang thị trờng Trung Quốc (giá trị xuất khẩu dầu
cọ Malaysia sang Trung Quốc tăng 59% lên tới 60 triệu tấn trong 7 tháng đầu năm 2002[27]) Nhu cầu lớn về năng lợng của Trung Quốc cũng khiến nớc này trở thành nớc nhậpkhẩu dầu lớn và Malaysia, Indonesia là những nớc sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu này Mứctiêu dùng của Trung Quốc cũng sẽ khiến các nhà máy lọc dầu ở Đông Nam á luôn luôn
Trang 7bận rộn Và sự bùng nổ trong ngành xây dựng Trung Quốc sẽ đòi hỏi một lợng gỗ nhậpkhẩu khổng lồ, một lần nữa, lại là món lợi cho Malaysia
Thứ ba, sự hợp nhất về kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN sẽ mang lại hiệu quả
kinh tế to lớn cho các thơng nhân thuộc mọi ngành nghề và tạo nên sự liên hệ mật thiết hơn
về thông tin, giao thông và mậu dịch Thật vậy, một thị trờng lớn nh vậy một mặt sẽ giúpcho các nhà sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, mặt khác cũng có lợi cho việc hoàn thành
hệ thống phân công hợp tác sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó góp phần nâng cao nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp Hơn nữa, một thị trờng rộng lớn hơn đợc tạo ra bởiACFTA sẽ cho phép các ngành công nghiệp, đặc biệt là những ngành chỉ hoạt động trên thịtrờng trong nớc giảm giá sản phẩm nhờ vào việc sản xuất với số lợng lớn Điều quan trọnghơn là Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ tạo ra môi trờng cạnh tranh hơncho các công ty hoạt động trong khu vực do họ đã sẵn sàng đón nhận thử thách Với sức épcạnh tranh lớn hơn, các công ty hoạt động trong khu vực mậu dịch tự do sẽ có chính sáchcởi mở hơn đối với những đổi mới cũng nh tăng cờng đầu t cải tiến công nghệ, dẫn tới hiệuquả sản xuất cao hơn
Thứ t, Khu vực mậu dịch tự do sẽ thúc đẩy sự phân công chuyên môn hoá sản xuất
giữa các nớc trong khu vực dựa trên lợi thế tơng đối của từng nớc do nguồn lực sẽ đợc phân
bổ hợp lý vào những nơi và ngành đợc sử dụng có hiệu quả và năng suất hơn Mặc dùASEAN và Trung Quốc đang cạnh tranh nhau để giành giật thị trờng nớc thứ ba và thu hút
đầu t nớc ngoài, nhng xem xét cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của hai bên có thể thấy ASEAN
và Trung Quốc có sự bổ sung lẫn nhau về tài nguyên thiên nhiên và u thế thành phẩm côngnghiệp
Thật vậy, cơ cấu hàng hoá mậu dịch song phơng giữa Trung Quốc và 5 nớc ASEANnăm 1998 cho thấy, hàng xuất khẩu của 5 nớc ASEAN sang Trung Quốc chủ yếu gồm thiết
bị nghe nhìn điện tử (29.98%); khoáng sản (11.18%); sản phẩm cao su (8.8%); dầu mỡ độngthực vật (8.36%) và chế phẩm giấy (6.41%) Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu baogồm: Thiết bị nghe nhìn điện tử (41.565); sản phẩm thực vật (8.71%); hàng dệt (8.245);khoáng sản (7.92%); kim loại và chế phẩm kim loại (7.62%) [28] Qua đó có thể thấy tàinguyên thiên nhiên của hai bên có sự bổ sung lẫn nhau Cơ cấu hàng xuất khẩu trên cũngcho thấy tuy thiết bị nghe nhìn là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu nhất của 4 nớc ASEAN -Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines – và Trung Quốc, nhng u thế của mỗi bên hiệnnay có khác nhau Bốn nớc ASEAN nhập khẩu hàng cơ điện của Trung Quốc chủ yếu là đồ
điện cơ khí thông dụng, còn Trung Quốc nhập khẩu hàng cơ điện từ 4 nớc ASEAN phần lớnlại là sản phẩm cao cấp Về xuất khẩu hàng điện tử công nghiệp, 4 nớc ASEAN từ lâu đã t-
ơng đối có u thế, còn Trung Quốc ở vào thế khá yếu, nhng xuất khẩu đồ điện gia dụng củaTrung Quốc lại chiếm u thế Hiện nay về xuất khẩu thành phẩm công nghiệp, hàm lợng kỹthuật của 4 nớc ASEAN vẫn cao hơn Trung Quốc Mặc dù mấy năm gần đây, xuất khẩuhàng công nghệ cao của Trung Quốc đã tăng khá nhanh nhng u thế vẫn kém so với các nớcASEAN Tuy vậy, công nghệ tin học và viễn thông của Trung Quốc lại đang phát triển khánhanh và mạnh: Theo kế hoạch 5 năm lần thứ 10, đến năm 2005, quy mô và dung lợng củamạng lới thông tin và liên lạc của Trung Quốc sẽ đạt vị trí số 1 thế giới; số lợng máy vi tính
sử dụng trong nớc sẽ đạt 70 triệu chiếc và tỷ lệ dân sử dụng điện thoại sẽ đạt 40%; tỷ lệ giá
Trang 8trị gia tăng của ngành công nghiệp thông tin trong GDP sẽ tăng từ 4.5% hiện nay lên 7%;quy mô thị trờng sẽ tăng gấp đôi so với năm 2000 [29] Với xu thế đó, sản phẩm điện tử củaASEAN sẽ có rất nhiều cơ hội để thâm nhập thị trờng rộng lớn đầy tiềm năng ở TrungQuốc.
Thứ năm, do hiện nay giữa ASEAN và Trung Quốc đang tồn tại tình trạng thiếu sự
phân công phối hợp với nhau, thậm chí có sự cạnh tranh tơng đối lớn, nên khi Khu vực mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc đợc xây dựng, nó sẽ làm cho mỗi bên có thể tận dụng lợithế so sánh để phát triển, hình thành nên hệ thống phân công ngành nghề lấy u thế cạnhtranh làm đặc trng Hơn nữa, nó còn giúp cho các bên thành viên có thể điều chỉnh toàn diệncơ cấu ngành nghề của mình một cách sâu sắc hơn ở các tầng bậc khác nhau Và nh vậy,thoả thuận lịch sử này sẽ tạo ra bớc phát triển mới cho toàn bộ khu vực, đúng nh nhận địnhcủa ông Andy Xie, chuyên viên kinh tế của tập đoàn Morgan Stanley Dean Witter có trụ sở
tại Hồng Kông: “Cả ASEAN và Trung Quốc đều đợc hởng lợi Các nớc ASEAN mạnh trong nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, chế biến lơng thực Còn Trung Quốc thì mạnh về hàng
điện tử tiêu dùng và các sản phẩm công nghệ thông tin” [15].
Thật vậy, căn cứ vào xu hớng tăng trởng kinh tế của Trung Quốc, có thể thấy quốcgia này sẽ trở thành một thị trờng vô cùng quan trọng cho hàng hoá toàn cầu Do đó, dùTrung Quốc có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm thì nớc này cũng đồng thời làmột thị trờng rộng lớn cho hàng hoá của các quốc gia ASEAN Trong bối cảnh Trung Quốcngày càng lớn mạnh và mức thu nhập đợc cải thiện, nhu cầu của quốc gia này về các sảnphẩm đa dạng chắc chắn sẽ tăng lên và khiến họ nhập khẩu nhiều hơn Đây là một cơ hộicho những công ty khôn khéo, biết tìm ra trong khu vực mậu dịch tự do những thị trờng còn
bỏ ngỏ Nguyên tắc cần nhấn mạnh ở đây là không một quốc gia nào có thể luôn có đ ợc lợithế so sánh đối với tất cả các mặt hàng Bảng sau nêu ra một số mặt hàng mà theo đó, cáckhu vực kinh tế của ASEAN có thể hy vọng khai thác một khi thị trờng của Trung Quốc đợc
mở ra
Bảng 11: Các khả năng trao đổi thơng mại giữa Trung Quốc và ASEAN-5
thị trờng xuất khẩu còn bỏ ngỏ
Philippines
Hoa quả tơi và khô hoặc hạt nhân tơi Sắt vụn
Động vật giáp xác và cá (tơi và đóng hộp) Quặng bạc, platinum
Sợi thực vật (trừ sợi cotton) Máy chạy bằng điện Quặng thép hàm lợng cao Thiết bị viễn thông
Quặng kim loại hàm lợng cao
Trang 9Đồ gia vị Máy văn phòng
Chất tẩy thiên nhiên Máy chạy bằng điện
Động vật chế biến/ dầu thực vật, … Máy ghi âm
Thiết bị in ấn
Indonesia
Cá và động vật giáp xác Dỗu thô và dầu tinh
Quặng kim loại hàm lợng cao Nhôm
Malaysia
Quặng uranium, thori hàm lợng cao Máy ghi âm
Động vật chế biến và dầu thực vật Máy bay…
Thái Lan
Cá và động vật giáp xác Da và da đã xử lý
Nguồn: Ellen H Palanca, “Tăng trởng kinh tế của Trung Quốc và ASEAN” - Báo cáo nghiên cứu của
Hệ thống trung tâm nghiên cứu APEC của Philippines (Philippines APEC Study Center Network PASCN), Manila, 2001.
Trang 10-Nói tóm lại, nếu Trung Quốc có thể duy trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao thì nó sẽtạo cho các nớc ASEAN một thị trờng rộng lớn hơn, đồng thời cho phép các nớc có chỗ đểphân bổ lại các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động không có sức cạnh tranh củamình Đặc biệt là với sự hình thành ACFTA, việc dỡ bỏ các hàng rào cản trở thơng mại giữaASEAN và Trung Quốc sẽ làm giảm chi phí kinh doanh trong sản xuất cũng nh thơng mại,
từ đó tăng hiệu quả kinh tế và khuyến khích gia tăng thơng mại giữa các nớc trong khu vực
2.1.1.2 Cải thiện môi trờng đầu t
Việc tăng cờng hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc và việc thành lập Khu vực mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ không chỉ đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hợp tác th ơngmại ASEAN - Trung Quốc hiện nay mà còn góp phần tăng cờng và mở rộng tiềm năng đầu
t của ASEAN và Trung Quốc, đồng thời cải thiện môi trờng đầu t hấp dẫn hơn và nâng caonăng lực cạnh tranh của ASEAN và Trung Quốc đối với thế giới
Thật vậy, việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc trớc hết sẽthu hút thêm đầu t của Trung Quốc vào khu vực này Sau nhiều năm phát triển, các doanhnghiệp Trung Quốc đã trở nên những doanh nghiệp hùng mạnh và mang tính cạnh tranh, vớilợng vốn đầu t ra nớc ngoài tăng khá nhanh, đặc biệt là vào giữa những năm 90 Các lĩnhvực đầu t của các doanh nghiệp Trung Quốc trải rộng từ muối tinh, sản phẩm cao su, d ợcphẩm và sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, chế biến thực phẩm, thiết bị điện gia dụng, chế biếnsản phẩm lâm nghiệp, cho tới hoá dầu, ngân hàng, bảo hiểm và vận tải đờng biển Các ph-
ơng thức đầu t cũng đa dạng, từ đầu t trực tiếp tới đầu t về công nghệ và xây dựng – vậnhành – chuyển giao (BOT) Nhờ nền kinh tế ngày càng phát triển và việc cải tổ cơ cấu kinh
tế công nghiệp của Trung Quốc, lợng đầu t ra nớc ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốcchắc chắn sẽ ngày càng tăng Trên thực tế, chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyếnkhích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu t ra nớc ngoài Trong tơng lai, ASEAN sẽ là thị tr-ờng đầu t nớc ngoài u tiên của các doanh nghiệp Trung Quốc do vị trí địa lý gần TrungQuốc và những điểm tơng đồng về văn hoá, đặc biệt sau khi khu vực mậu dịch tự do giữahai bên đợc thành lập Đầu t vốn luôn hớng tới việc thu nhiều lợi nhuận, bởi vậy, chắc chắncác doanh nghiệp Trung Quốc sẽ không bao giờ bỏ qua các cơ hội sản sinh ra lợi nhuận.Hơn nữa, dự kiến tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân của Trung Quốc trong thập kỷ tới đạt7%/ năm [5] và việc Trung Quốc trở thành thành viên của WTO sẽ mang lại nhiều cơ hộiquan trọng hơn để tăng cờng thơng mại và đầu t giữa ASEAN và Trung Quốc
Thứ hai, không chỉ các doanh nghiệp của ASEAN và Trung Quốc sẵn sàng đầu tnhiều hơn vào thị trờng chung này mà cả các doanh nghiệp Mỹ, EU và Nhật Bản quan tâmtới việc thâm nhập vào thị trờng Châu á cũng sẽ mong muốn đầu t vào thị trờng chung này
do các rủi ro và bất trắc về thị trờng giảm đi Ernest Bower, Chủ tịch Hội đồng kinh doanh
Mỹ – ASEAN, nhất trí cho rằng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ tạo ra
tiềm năng cho luồng đầu t mới tại Đông Nam á Ông nhận định: “FTA Trung Quốc – ASEAN đang cuốn hút một số thành viên của chúng tôi Họ coi đây là một cơ hội Chẳng hạn nh General Electric có thể vừa có một nhà máy động cơ tại Trung Quốc vừa có một nhà máy phụ tùng tại Malaysia Giả sử họ đóng thuế 60% Nếu phụ tùng có thể tiến tới đ ợc miễn thuế, điều này sẽ làm tăng sức cạnh tranh của họ trên toàn cầu ” [24] Nicholas Lardy,
một chuyên gia nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Viện kinh tế quốc tế tại Washington
Trang 11cũng cho rằng: Để phù hợp với WTO, Trung Quốc sẽ phải để cho các công ty n“ ớc ngoài tại các nớc ASEAN xuất khẩu sang nớc mình Một khi FTA này ra đời, tất cả các nhà sản xuất
sẽ đợc tiếp cận nh nhau” [24] Nh vậy, quá trình hội nhập của ASEAN vào Trung Quốc sẽ
thu hút thêm nhiều công ty đa quốc gia, điều mà một nền kinh tế riêng lẻ không thể làm đ
-ợc Hơn nữa, với dung lợng thị trờng lớn với tính cạnh tranh cao hơn, đầu t nhiều hơn vàhiệu quả kinh tế quy mô lớn hơn, các doanh nghiệp sẽ đầu t vào nghiên cứu và do đó sẽ thúc
đẩy sáng kiến công nghệ
Thứ ba, một thị trờng rộng lớn hơn và một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ hơn có thể sẽ làchất xúc tác đầu t đối với ACFTA Do giữa các quốc gia thành viên ASEAN cũng phải cạnhtranh về đầu t, nên các quốc gia này phải tự phát triển tới tiêu chuẩn cao hơn về mở cửa,trình độ lao động, sản xuất, kỹ năng quản lý, tổ chức, pháp luật, công lý, chất lợng cơ sở hạtầng Trong môi trờng kinh tế tự do, những quốc gia nào không đáp ứng đợc các điều kể trên
sẽ tụt hậu
Hơn nữa, thị trờng đợc mở rộng nhờ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
sẽ làm đa dạng sự lựa chọn của các nhà đầu t Các nhà đầu t có thể chọn một thị trờng cụ thểhoặc tận dụng một loạt cơ sở trong cả khu vực Nói cách khác, với Khu vực mậu dịch tự doASEAN - Trung Quốc, các nhà đầu t mang trong đầu một thị trờng tổng hợp, họ có thể chọn
đầu t ở Trung Quốc hoặc ở ASEAN Và nh vậy, thông qua việc dỡ bỏ những rào cản thơngmại và cho phép những nguồn đầu t lớn đợc thực hiện ở mức độ cao hơn, tin cậy hơn về mặtkinh tế, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ có sức kích thích tiềm tàng đốivới các dòng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài giữa các nớc thành viên cũng nh với bên ngoàiACFTA
Ngoài những lợi ích kinh tế đề cập ở trên, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - TrungQuốc còn đem lại một loạt những nguồn lợi kinh tế khác nh: các nớc này có thể cùng pháttriển các nguồn lợi hải sản, cùng giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trờng, đảm bảo việc cùngcung cấp các nguồn năng lợng, … Mặc dù Khu vực mậu dịch tự do bản thân nó không tác
động trực tiếp đến các vấn đề này, song các mối quan hệ gần gũi hơn sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho việc giải quyết các vấn đề liên quan Sự hợp tác kinh tế khu vực ở những nơi kháctrên thế giới đã chứng minh cho thực tế đó
Nói tóm lại, các tiềm năng và cơ hội cho sự tăng trởng kinh tế dài hạn, thay đổi cơcấu và phát triển thông qua khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là vô cùng quantrọng Nhng chúng ta cũng nhận thức rõ rằng cả 2 phía sẽ phải quản lý một cách hiệu quả,thích hợp và năng động, theo hình thức hớng về phía trớc, đối mặt với những thách thức mà
tự do hoá thơng mại và đầu t, cũng nh sự cạnh tranh trên thị trờng cả nớc thứ ba gây ra Đây
sẽ là một trong những thử thách lớn đối với cam kết kinh tế và ý chí chính trị về hợp tác bềnvững và hội nhập vì sự tăng trởng và phát triển chung, đồng đều trong khu vực
2.1.2 Tạo ra vị thế mới về chính trị trong các vòng thơng lợng, đàm phán đa phơng toàn cầu
Sự hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc không chỉ mang lại những lợi ích kinh tếmang tính chất tĩnh mà cả những lợi ích phi kinh tế và những lợi ích mang tính động Lýthuyết về hợp tác kinh tế khu vực cho thấy một trong những động cơ chính của việc khởi x -
Trang 12ớng hợp tác kinh tế khu vực là nhằm tạo ảnh hởng đến việc xác lập các lợi ích mang tínhchính trị, mà cụ thể ở đây là quyền đa ra các quy định kinh tế quốc tế Thành viên của mọi
tổ chức hợp tác kinh tế đều cần phải có quan điểm thống nhất trong việc tạo ra ảnh h ởngnày, bởi việc tham gia vào quá trình đề ra các quy định kinh tế quốc tế là cách quan trọng đểbảo vệ lợi ích của bất cứ nớc nào, dù lớn hay nhỏ, trong các hoạt động kinh tế quốc tế.Trong một thế giới đợc toàn cầu hoá, sự thống nhất và tính chất bắt buộc của các quy định
điều tiết nền kinh tế quốc tế buộc các nớc phải chú trọng đến quyền đề ra các quy định đó.Trong giai đoạn hiện nay, không một nớc nào, kể cả Mỹ, có thể độc quyền quyết định đốivới các quy định kinh tế toàn cầu Do vậy, việc tăng cờng sức ảnh hởng thông qua các tổchức liên kết kinh tế khu vực đã trở thành sự lựa chọn đối với các nớc, trong đó có ASEAN
và Trung Quốc
Một vài nhà quan sát cho rằng việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc không chỉ nhằm mục đích kinh tế Nói cách khác, đối với Trung Quốc, canhbạc ở đây không chỉ đặt vào lĩnh vực mậu dịch Hơn thế, việc củng cố quan hệ kinh tế chặtchẽ hơn với các nớc Đông Nam á láng giềng cũng đồng nghĩa với việc thiết lập ảnh hởng vàvai trò lãnh đạo khu vực, mà cụ thể ở đây là làm thiệt hại đến Mỹ và các cờng quốc kinh tếkhác cũng nh muốn tranh giành ảnh hởng với Nhật Bản, quốc gia vẫn chiếm vị trí đầu tầukinh tế ở Đông á Nh Naoko Munakata, nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Nhật Bản
-đã nhận định: “Trung Quốc hy vọng tới một lúc nào đó sẽ trở thành một cờng quốc đối trọng với Mỹ và Châu Âu, đoàn kết các nớc Châu á.” [24] Chính vì vậy, một FTA với
ASEAN sẽ giúp Trung Quốc khẳng định và củng cố vai trò trên trờng quốc tế, tăng cờngtiếng nói của mình trong khu vực và từ đó sẽ mở rộng ra toàn thế giới
Về phía ASEAN, mặc dù chiến lợc kinh tế của các nớc ASEAN có nhiều thay đổi saukhi xảy ra cuộc khủng hoảng khu vực năm 1997, tuy nhiên hội nhập và hợp tác khu vực vàquốc tế vẫn đợc đa ra nh một nội dung quan trọng chiến lợc của khối bởi việc hội nhập sâuhơn sẽ giúp các nớc này có tiếng nói mạnh mẽ hơn trên các diễn đàn khu vực và quốc tế.Chính vì vậy, các nớc ASEAN xác định rõ cần phải tham gia sâu rộng hơn vào hội nhậpkinh tế, tiếp tục tăng cờng mối liên kết với các nớc và tổ chức ngoài khu vực, việc duy trìnền kinh tế mở và hớng ngoại sẽ vẫn giữ vai trò quan trọng trong tơng lai Để đáp ứng nhucầu của quá trình toàn cầu hoá và đối phó với những thách thức do xu hớng cạnh tranh cũng
nh những chính sách của các nớc lớn trên thế giới, các nớc ASEAN không có sự lựa chọnnào khác là xích lại gần nhau hơn Nhng một mình ASEAN thôi thì cha đủ Cần phải vơn rangoài khu vực Đông Nam á Điều đó giải thích những nỗ lực của ASEAN để tăng cờng liênkết kinh tế với các nớc Đông Bắc á, trong đó Trung Quốc là một đối tác quan trọng Mốiquan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc có thể làm giảm áp lực mà một số nớc ASEAN đangcảm nhận từ việc Mỹ mở rộng cuộc chiến chống khủng bố vào ASEAN, mặt khác, ASEANcũng muốn ngăn ngừa nguy cơ bành trớng quân sự của Trung Quốc đối với khu vực này vàlôi kéo Trung Quốc vào hợp tác kinh tế là một cách để ASEAN ngăn chặn sự bành trớngnày Hơn thế nữa, do lộ trình thực hiện các chơng trình hợp tác trong ACFTA rất gần với lộtrình thực hiện các chơng trình của ASEAN nh khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khuvực đầu t ASEAN (AIA), chơng trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), … nên trongkhi thực hiện để hoàn thành ACFTA, các bớc giảm và xoá bỏ hàng rào thuế quan, phi thuếquan và các bớc tiến hành tự do hoá thơng mại, đầu t, hợp tác trong các lĩnh vực của
Trang 13ACFTA sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình thực hiện AFTA, AIA, AICO… của ASEAN Quantrọng hơn, tham gia vào một Khu vực mậu dịch tự do với Trung Quốc sẽ giúp các nền kinh
tế ASEAN ngày càng phát triển mạnh mẽ và vững chắc, từ đó làm cho tiếng nói của ASEAN
có thêm sức mạnh trong các vòng đàm phán đa phơng cũng nh trên các diễn đàn khu vực vàquốc tế, bởi tiềm lực kinh tế bao giờ cũng quyết định vai trò chính trị Theo ông Rodolfo C
Severino, Cựu tổng th ký ASEAN, "ASEAN phản ứng với một nền kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển bằng cách liên kết với nền kinh tế này với sự tự tin và nhìn thấy vô số cơ hội
từ sự trỗi dậy của Trung Quốc Đây là tiền đề cho quyết định của các nhà lãnh đạo ASEAN
và Trung Quốc đi đến thành lập ACFTA" [24] Nh vậy, rõ ràng ASEAN luôn đặt Trung
Quốc nh một trong những đối tác hàng đầu của mình và liên kết với Trung Quốc chính làmột chơng trình nghị sự đầy tham vọng và thách thức của ASEAN, đặt bối cảnh cho nhữngbiến đổi lịch sử trong con mắt của chính khu vực và của thế giới khi nhìn nhận khu vực
Nói tóm lại, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc có thể coi là biện phápchiến lợc có ý nghĩa trọng đại và là bớc quan trọng để hai bên đi tới nhất thể hoá kinh tế,cũng là bớc then chốt thúc đẩy quan hệ kinh tế song phơng phát triển Hơn thế nữa, vai tròcủa các nớc trong ACFTA sẽ đợc nâng cao trên trờng quốc tế, đồng thời ACFTA sẽ có lợithế hơn trong những cuộc đàm phán quốc tế với các nớc và khu vực khác trên thế giới với tcách là một khu vực mậu dịch tự do có quy mô lớn nhất thế giới Ngoài ra, với tiềm lực kinh
tế lớn mạnh của cả khu vực kinh tế Trung Quốc - ASEAN rộng lớn, đặc biệt là một nền kinh
tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, mối liên hệ kinh tế đợc tăng cờng giữa các nớc thànhviên, ACFTA sẽ trở thành một khối kinh tế đủ mạnh để giảm thiểu những rủi ro từ bênngoài khu vực, đồng thời các nớc trong khối sẽ tự tin hơn để cùng nhau đối phó khi cónhững rủi ro, tác động từ bên ngoài ảnh hởng đến kinh tế- xã hội của mỗi nớc nói riêng vàcủa toàn khối nói chung
2.1.3 Tạo ra môi trờng hoà bình, ổn định và hợp tác
Thứ nhất, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đợc thành lập sẽ đẩy mạnhtiến trình hợp tác ASEAN – Trung Quốc ACFTA sẽ khiến quan hệ láng giềng đối tác tincậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và ASEAN đợc củng cố và phát triển, an toàn và ổn định hơn
về mặt địa lý Sự hợp tác mật thiết giữa hai bên sẽ có thể loại trừ đ ợc cách nhìn không tốt vềnhau, tạo điều kiện cho việc duy trì môi trờng hòa bình ở Biển Đông, duy trì ổn định chínhtrị và an ninh trong khu vực, đồng thời việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN -Trung Quốc sẽ khẳng định vị trí tiên phong của hai bên về hợp tác tại khu vực Đông á trongtơng lai
Thứ hai, với 1,7 tỷ ngời tiêu dùng, tổng thu nhập quốc nội vào khoảng 2000 tỷ USD
và tổng kim ngạch trao đổi thơng mại ớc tính vào khoảng 1,23 nghìn tỷ USD, Khu vực mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc không chỉ vạch ra một hớng hợp tác mới cho hai bên trong
kỷ nguyên mới này, mà còn mang lại những tác động tích cực cho hợp tác trong khu vực
Đông á
Cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ năm 1997 cho thấy rõ là khu vực này cần thiếtlập một cơ chế hợp tác có hiệu quả nhằm ngăn chặn sự lây lan và sụp đổ về mặt kinh tế.Ngoài sáng kiến Chiang-Mai, mà đã tạo ra một hệ thống các Hiệp định hoán đổi song ph ơnggiữa các nớc ASEAN và Đông á, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ tạo ra