1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tình hình Việt Nam từ năm 75-95

63 597 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Việt Nam Từ Năm 75-95
Trường học Vietnamese Professionals Society
Thể loại Tài Liệu
Năm xuất bản 1995
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 325,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình Việt Nam từ năm 75-95

Trang 1

KINH T VIŒT NAM 1975 - 1995:

TˆNG TRЪNG N±A V©I hay phát tri‹n toàn diŒn

VIETNAMESE PROFESSIONALS SOCIETY

Trang 2

1995 này, nếu thập niên 70 mục kắch sự trổi dậy của các quốc gia châu Mỹ La-Tinh thì thập niên 80 đã thấy xuất hiện các quốc giatân hưng Á châu, mà điển hình là Tứ Long.

Chiến tranh lạnh đã nhường chỗ cho những cuộc cạnh tranh ráo riết trên thị trường quốc tế, khiến đã có nhà triết gia Hoa Kỳ gốcNhật phải ngán ngẩm mà kết luận rằng kỷ nguyên này rồi đây sẽ buồn chán l¡m vì chỉ còn chủ nghĩa tư bản san bằng mọi nơi.Hẳn nhà triết gia này quên bẵng rằng hiện vẫn còn tồn tại một vài ốc đảo nơi đang diễn tiến cuộc thắ nghiệm nhằm phát triển theo

"kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" Đó là trường hợp của Việt Nam với chắnh sách "Đổi Mới" thực thi từ sau Đại Hội Đảng kỳthứ 6

Trong tài liệu mà Hội Chuyên Gia Việt Nam có hân hạnh giới thiệu với quý vị nơi đây, những thống kê, những biểu đồ cùngnhững lời chú giải về cách kết cấu biểu đồ hoặc cách phân tắch thống kê, đều mang cái tham vọng rất khiêm tốn là cung cấp choquý bạn đọc một số căn bản khách quan Để từ đó, quý vị có thêm dữ kiện để lượng định công cuộc phát triển kinh tế dựa trên sựgán ghép của những định chế, "hạ tầng cơ sở" của kinh tế thị trường với chủ nghĩa, "thượng tầng cơ sở" Mác-Lê, đang diễn tiến tạiViệt Nam Tài liệu này sẽ trình bày những con số đã thu thập được từ những nguồn gốc khác nhau, liên quan tới những lãnh vựcnhư kinh tế vĩ mô, nhân dụng, giáo dục, xã hội và y tế

Cho dù chỉ góp nhặt thống kê, song trong công việc này chúng tôi cũng đã phải đương đầu với một số khó khăn xin được kể ra nơiđây

Khó khăn đầu tiên nằm ở mức độ khả tắn của những thống kê Đa số các thống kê này do Tổng Cục Thống Kê hay các cơ quanchắnh quyền tại Hà Nội cung ứng, rồi được các định chế quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hoặc các nhómngân hàng, xắ nghiệp ngoại quốc trắch dẫn, họa hoằn mới sửa đổi hay bổ túc thêm Hầu hết các quan sát viên ngoại quốc đều đồng

ý trên phẩm chất nghèo nàn của những thống kê do Việt Nam đưa ra, để rồi kết luận rằng không nên tin vào giá trị tuyệt đối củanhững con số được đưa ra, mà chỉ nên ghi nhận sự tiến triển (hay thoái hóa) của chúng

Do đâu những thống kê của Việt Nam bất khả tắn? Lý do đầu tiên nằm ở sự thiếu thốn phương tiện kiểm kê về tiền tài cũng như vềnhân lực được huấn luyện Sau đó, là thói quen khai báo có hậu ý, theo kiểu "tô hồng" hoặc "bôi đen" của các địa phương

Một lý do quan trọng nằm ở phương pháp kế toán quốc gia Trước 1988 còn áp dụng phương pháp kế toán dựa trên hiện vật theomẫu đồ Liên Xô, sau đó mới dần dần chuyển sang phương pháp kế toán quốc gia theo tiêu chuẩn Âu Mỹ Thành ra, những thống

kê trong khoảng thời gian 1975-1988 về số lượng vật chất còn có thể chấp nhận được, trong khi những thống kê như số lượng tiền

tệ lưu hành, tỉ số lạm phát, vì mẫu đồ phát triển thời đó dựa trên tập trung hoạch định, không thể nào so sánh được với những con

số tương đương trong một quốc gia theo kinh tế thị trường thuần tuý

Đôi khi trong công cuộc tìm kiếm, chúng tôi đã gặp phải những thống kê mâu thuẫn xuất phát từ những cơ quan khác nhau trêncùng một khoảng thời gian nghiên cứu: trong trường hợp này, phương pháp làm việc của chúng tôi là tìm kiếm những nguyên nhâncủa sự khác biệt, và xem xét xem nguyên nhân ấy có thể minh chứng cho sự chênh lệch kia chăng?

Cuối cùng, những thống kê thâu nhặt được trong khoảng thời gian từ 1975 tới 1986 rất nghèo nàn không những về mặt phẩm như

đã nói ở phần trên mà còn về lượng Phải đợi đến khi cấp lãnh đạo tại Việt Nam quyết định hướng về xuất khẩu và thu hút đầu tưngoại quốc thì Tổng Cục Thống Kê mới b¡t đầu có những cố g¡ng để thu thập và phổ biến các con số Do đó, nhu cầu về thống kêb¡t nguồn từ những đòi hỏi kiểm toán của các doanh nghiệp ngoại quốc hoặc, từ những chắnh sách nhằm thu hút ngoại tệ qua đầu

tư nước ngoài và xuất khẩu, chứ không xuất phát từ ý muốn có những khuôn thước vô tư để đo lường những điều kiện kinh tế nộiđịa

Trang 3

Để kết luận, tài liệu này là một đóng góp nhỏ của những người quan tâm đến tình hình kinh tế xã hội tại Việt Nam, ngõ hầu xâydựng một ngân hàng dữ kiện tương lai nhằm cung cấp những phương tiện để giúp cộng đồng Việt Nam có những suy diễn vàlượng định khách quan và thắch ứng Như tất cả các bước đầu, sẽ gặp phải nhiều thiếu xót vụng về, và cần được sự đóng góp và bổtúc của quý vị.

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ tất cả những người bạn, trong và ngoài Hội đã giúp đỡ và khuyến khắch chúng tôi trong lúc soạnthảo tập hồ-sơ này

Hội Chuyên Gia Việt Nam

Trang 4

Tổng Sản lượng nội địa (Produit Intérieur Brut, PIB hoặc Gross Domestic Product, GDP)

là tổng cộng các trị giá thặng dư, cộng thêm thuế trên trị giá thặng dư (Taxe à la valeur ajoutée hoặc Added Value Tax) đánh trêncác hàng hoá và thuế quan

Tổng Sản lượng nội địa liên hệ tới tất cả những hàng hoá và dịch vụ sản xuất trên lãnh thổ, cho dù do các công ty ngoại quốc

Lợi tức quốc gia (Revenu National hoặc National Income)

Tổng cộng các lợi tức sơ đẳng, trước khi phân phối giữa các khu vực kinh tế; hay nói cách khác, tất cả những lợi tức xuất phát từLao Động (lương bổng), Đất Đai và Tư Bản (lãi suất, tiền thuê, huê hồng ) cộng với doanh lợi

Lợi tức quốc gia = Chi tiêu quốc gia + Tiết kiệm (hay tắch lũy) quốc gia

Có 3 loại chi tiêu chắnh:

- Chi tiêu vào tiêu thụ của các "hộ", tức là việc xử dụng lợi tức các cá nhân để mua các vật tiêu phắ ( lương thực, quần áo ) hoặc

có tắnh cách bền bỉ lâu dài hơn như mua nhà mới

- Chi tiêu để đầu tư vào cơ sở, mua các tư liệu sản xuất mới, chế tạo phẩm

- Chi tiêu của chắnh quyền (phẩm vật và dịch vụ)

Tổng Sản Lượng quốc gia (Produit National Brut, PNB hoặc Gross National Product, GNP)

Là tiêu chuẩn chắnh để đánh giá mức độ sinh hoạt kinh tế của một quốc gia, bao gồm tất cả những hàng hoá và dịch vụ được sảnxuất bởi kinh tế nội địa cộng với những lợi tức phát xuất từ sinh hoạt của những người dân mang quốc tịch của quốc gia này từngoại quốc chuyển về

TSL Quốc gia = Giá trị của sản lượng tiêu thụ phẩm (biens de consommation hay consumer goods) + Giá trị của sản lượng chế tạophẩm (biens de production hay capital goods)

Tổng Sản Phẩm Xã Hội (Produit Matériel Social hay Social Material Product)

Là ngôn từ của xã hội chủ nghĩa để chỉ định toàn bộ của cải vật chất sản xuất trong xã hội trong một thời kỳ nhất định, như một

năm Giá trị vừa mới tạo ra gọi là Thu Nhập quốc dân, nguồn gốc của tắch luỹ và của tiêu dùng cá nhân (tương đương với Lợi Tức

quốc gia ở trên) Tổng sản phẩm xã hội được tắnh theo giá trị tổng sản lượng của các ngành thuộc lãnh vực sản xuất

Khấu hao (chiết cựu, amortissement hay depreciation)

Một phần của giá trị các máy móc, thiết bị, nhà cửa được trừ hao định kỳ trong tiến trình sản xuất, nhằm bảo tồn khả năng của xắnghiệp mua lại các tư liệu này Lý do của sự trừ hao này nằm ở sự việc tư liệu hư hỏng và bị soi mòn qua sử dụng thường ngày,hoặc trở thành lỗi thời với nhịp tiến bộ kỹ thuật

Trang 5

Ngân sách quốc gia (Budget)

Bảng thường niên ghi những khoản thu do chắnh quyền quản trị và những khoản chi do chắnh quyền thực hiện Thâm thủng ngânqũy xảy ra khi chắnh quyền chi tiêu nhiều hơn thu nhập

Cán cân thương mãi (balance commerciale hay trade balance)

Bảng ghi nhận sự chênh lệch giữa nhập khẩu (importations), tức những hàng hoá mua của nước ngoài và xuất khẩu (exportations),tức những hàng hoá bán ra nước ngoài

Cán cân thương mãi lỗ lã có nghĩa rằng mua hàng hoá của ngoại quốc nhiều hơn là bán hàng hoá ra ngoại quốc, và do đó mất đimột số ngoại tệ

Cán cân thương mãi không tắnh những hàng hoá b¡t nguồn từ buôn lậu

Cán cân chi phó (Balance des paiements hay balance of payments)

Bảng thường niên tổng kết tất cả những trao đổi giữa một quốc gia và ngoại quốc: hàng hoá, dịch vụ, tặng dữ, viện trợ, đầu tư dàihạn, ngoại trái Các khoản tiền thu thập nhờ du lịch, hay những khoản tiền do thân nhân ở nước ngoài gửi về cho người trong nước,cũng như đầu tư ngoại quốc đều được liệt kê trong cán cân chi phó

Cán cân trao đổi thường xuyên là một phần quan trọng của cán cân chi phó (balance des transactions courantes hay currentaccount balance) và cho phép theo dõi các xuất nhập của cán cân thương mãi và những chuyển ngân của các tư nhân

Trang 6

Năm 1994, Tổng Sản Lượng nội địa đạt được 170 000 tỷ đồng (15,4 tỷ Mỹ Kim).

Bảng sau đây so sánh các tỉ lệ tăng trưởng giữa các quốc gia Á Châu trong những năm qua, và chi thấy cả vùng đã vươn lên mãnhliệt, mà các quốc gia có những TSL yếu nhất thường có tỉ lệ cao nhất, âu đây là một qui luật thông thường

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TAI Á CHÂU

1971-80 1981-90 1991 1992 1993 (e) 1994 (e) 1995 (e)

Xuất xứ: Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, "Nihon Keizai Shimbun"

TSL nội địa bao gồm cả những sản lượng của các xắ nghiệp ngoại quốc đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, do đó cho nênTổng Sản Lượng quốc gia thường hay được dùng như tiêu chuẩn chắnh để đánh giá mức độ sinh hoạt kinh tế của một quốc gia.Vậy thì Tổng Sản Lượng quốc gia của Việt Nam ra sao?

Trang 7

Tổng Sản Lượng quốc gia và Lợi tức bình quân

Uớc Lượng về Tổng sản Lượng quốc gia và lợi tức bình quân

1975 1975 VNXHCN VNCH

TSL quốc gia (tỉ Mỹ Kim)(1) 1,5 2,5

TSL quốc gia bình quân (MK) 62 108

xuất xứ: "Economie du Vietnam: 1975-1995", CHEAAM, M-S de Vienne

VNXHCN: Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa

VNCH: Việt Nam Cộng Hòa

(1) Tổng Sản Phẩm tại VNXHCN

1976 1981 1983

Lợi tức quốc gia (tỉ Mỹ Kim) 4,97 5,14 5,78

Bình quân (MK) 101 94 101

Xuất xứ: General Statistical Office, Stefan de Vylder ("An Economy in transition")

Lợi tức bình quân bằng Mỹ Kim: so sánh giữa các quốc gia (1993)

Những quốc gia giàu nhất Những quốc gia nghèo nhất

Xuất xứ: Ngân Hàng Thế Giới, "Journal de Genève"

Đầu năm nay, báo "Journal de Genève" đã trắch dẫn những thống kê của Ngân hàng Thế Giới cho thấy Việt Nam được xếp hạngtrong các quốc gia nghèo nhất thế giới, đàng sau các xứ nổi tiếng giặc giã loạn lạc của châu Phi như Rwanda và Tchad Theo cácước lượng của Stefan de Vylder (NHTG), lợi tức bình quân không tiến trong 7 năm 1976-1983

Trang 8

Lợi tức quốc gia và TSL nội địa được ước lượng cho khoảng thời gian 1984-1990

Lợi tức quốc gia (a) 155,3 164,1 169,6 178,7 190,3 194,1 199,6

Dịch vụ không vật chát và khấu hao (b) 55,9 59,1 61,1 61 61,6 77,9 89

TSL nội địa đo với giá cả 1982 (c) 211,2 223,2 230,7 239,7 251,9 272 286,6

TSL nội địa với giá cả hiện hữu (c) (d) 64,8 131,1 636 3099 13266 25557,8 38167

Lợi tức quốc gia (tỉ số tăng trưởng) 3,3 5,7 3,3 5,4 6,5 2 2,8

Chú thắch: các con số đều là số tròn

a: từ "lợi tức quốc gia " phải được hiểu theo nghĩa của Hệ thống Kế toán hiện vật Sự khác biệt căn bản với hệ Thống Kế ToánChương Mục Quốc Gia của LHQ là HTKTHV không bao gồm khấu hao và các dịch vụ kg vật chất

b: kể cả ước lượng về những hoạt động kinh tế không được khai báo

c: Ước lượng của các chuyên gia của Ngân hàng Thế Giới

d: Đồng mới

Xuất xứ: "Transition to the market ", Ngân hàng Thế Giới

Bảng trên cho thấy TSL nội địa cũng như Lợi tức quốc gia có tiến triển từ năm 1984, tuy nhiên lợi tức gia tăng có phần chậm đi từnăm 1989 so với những năm trước Khi theo dõi gia tăng dân số, thì được biết rằng nhịp độ gia tăng dân số có khuynh hướng sútgiảm với thời gian, do đó không thể nào mãi mãi viện dẫn là dân số gia tăng quá mau đối với sản lượng để biện minh cho sự giatăng lợi tức bình quân chậm chạp (Để biết thêm chi tiết, xin coi đoạn về "Cảnh nghèo tại Việt Nam" trong những trang sau)

Trang 9

(1) = Nghiệp Đoàn Chủ Nhân Pháp, C.N.P.F.

(2) = W.I CARR (ngân hàng INDOSUEZ)

(3) = ước lượng

Trang 10

So sánh gi»a nông nghiŒp và công nghiŒp

Th¿c t‰ và ܧc mong: k‰ hoåch ngÛ niên 1976-80

Trang 11

So sánh quốc tế về cấu trúc sản lượng

CƠ CẤU SẢN LƯƠNG TAI CÁC QUỐC GIA CÓ LƠI TỨC THẤP 1987-1988

Đóng góp vào TSP nội địa

Nông Nghiệp (1) Công Nghiệp (1)

(2) = Không kể Trung Quốc và Ấn Độ

Xuất xứ: Thống kê chắnh thức&Tường trình Phát triển Thế Giới,1989

Bảng trên cho thấy nông nghiệp đóng góp nhiều vào Tổng Sản Lượng nội địa so với các quốc gia cùng có lợi tức thấp, đặc biệt khiđối chiếu với Trung Quốc và Ấn Độ Trình độ mở mang về kỹ nghệ của Việt Nam còn thấp hơn là trình bày trong bảng vì con số

30% bao gồm cả sự đóng góp của năng lượng và hầm mỏ.

Trang 12

Nông nghiệp: Sản Lượng thóc gạo

Sản Lượng thóc gạo tại Việt Nam

(*) = nhiều nguồn gốc thống kê khác nhau, xin tham khảo các bảng khác

300 ký tương đương với mức độ dinh dưỡng được coi như tối thiểu, thế mà phải đến 1984 mới thấy sản lượng thóc gạo bình quânnhắch được lên trên mức độ đó Sau khi tăng đôi chút, đến năm 1987 lại thấy sút giảm Đầu năm 1988, nạn thiếu đói xảy ra tạimiền B¡c làm ảnh hưởng đến trên 10 triệu người, đã khiến chắnh quyền phải kêu gọi quốc tế viện trợ khẩn cấp

Trước tình thế đó, chắnh quyền đã phải áp dụng một số biện pháp nhượng bộ nông dân Nghị quyết về "Đổi mới cách quản lý kinhtế trong nông nghiệp", và sau đó cuộc cải tổ chế độ khoán áp dụng từ năm 1980 đã có ảnh hưởng tốt trên sản lượng nông nghiệp.Điều giúp nông nghiệp Việt Nam phục hồi mau nhất là việc tăng cường đầu tư Nhà Nước vào nông nghiệp, nhất là trong các côngtrình thuỷ lợi tại các vùng đồng bằng sông Cửu Long

Kể từ năm 1988, sản lượng thóc gạo bình quân đầu người gia tăng, nhờ những biện pháp cải thiện nông nghiệp nới lỏng kiểm soáttrên các hợp tác xã nông nghiệp và trên các tuu nhân Cho đến bây giờ thì Việt Nam đứng hạng ba thế giới về xuất cảng gạo, song

ai lời ai lỗ trong việc xuất cảng gạo này?

Vào khoảng cuối năm 1993, các tàu ngoại quốc đã nối đuôi nhau tại hải cảng Sài gòn để chờ chất gạo lên tàu Họ đã phải đợi rấtlâu Nguyên nhân chắnh, không phải là mất mùa hay thiên tai đã khiến số lượng gạo tung ra thị trường sút giảm, vì trong lúc đó, có

cả đến 2 triệu tấn gạo dư thừa ứ đọng tại vùng châu thổ sông Cửu Long Những nguyên nhân chắnh phát xuất từ hệ thống xuấtkhẩu quốc doanh, gồm 17 công ty chia nhau độc quyền xuất khẩu gạo

Các công ty xuất khẩu đều than phiền rằng đã gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng để thu mua gạo Thêm vào đó, 17công ty này cạnh tranh nhau ráo riết để thu mua gạo, đưa đến tình trạng thua lỗ, khiến một số m¡c nợ nặng nề, có nơi nợ tắnh ragần 25 tỉ đồng Các thân chủ ngoại quốc xét thấy chất lượng gạo thì yếu kém, gạo lại thường được công ty xuất khẩu đem trao với

Trang 13

rất nhiều chậm trễ so với thời điểm đã giao hẹn trên hợp đồng, mà thêm vào đó giá vận tải gạo từ Việt Nam lại cao, nên đã làm áplực để giảm giá gạo Mặc dù giá chắnh thức là 170 Mỹ Kim 1 tấn gạo tấm, họ chỉ chịu mua với giá 150 Mỹ Kim một tấn, và luônluôn kiếm được người chịu bán cho họ với cái giá đó Rốt cuộc, họ trả 170 Mỹ Kim nhưng ngược lại, công ty xuất khẩu nhận muacủa họ phân bón hoá học với giá m¡c hơn, để bù vào chỗ 20 Mỹ Kim khác biệt kia Số lượng phân bón phải trả giá rất đ¡t này nằmtồn kho vì ế ẩm, do đó công ty xuất khẩu dù có xuất cảng được gạo nhưng vẫn bị lỗ lã.

Sang đến các nông dân, tình trạng cũng không sáng sủa hơn Mức sống đã sút giảm nhiều tại các thôn quê, theo lời tố cáo của HiệpHội Nông dân: một nửa các gia đình sinh sống nơi thôn dã chịu cảnh khốn khó; đa số còn lại chỉ đủ ăn (40%), và các gia đình cóthể gọi là có của ăn của để chỉ là thiểu số (8%)

Năm 1993, sản lượng nông nghiệp gia tăng chậm hơn so với mấy năm trước: từ hơn 10% vào năm 1990, sự tăng trưởng đã tụtxuống khoảng 6% trong năm 1992, và chỉ còn 2% trong năm 1993 25 triệu tấn lương thực được sản xuất ra, trong đó có 1,8 triệutấn gạo được xuất cảng, có thể coi như hoàn toàn thua lỗ về phần các nông dân miền châu thổ sông Cửu Long Phải kể là từ năm

1988, nông nghiệp đã không nhận được trợ cấp của Nhà Nước để xây cất hạ tầng cơ sở như thủy lợi, tu sửa đường xá Giá các nôngphẩm đã sút giảm hơn 1 phần 5 trong năm 1993, trong khi giá thuốc trừ sâu và phân bón đã gia tăng hơn 12%, các dịch vụ gần 1phần 4, khiến mãi lực của nông dân càng ngày càng hao mòn Nông dân Việt Nam vẫn còn sử dụng những kỹ thuật cổ truyền nhưxấy gạo bên lề đường, khiến 1 phần 3 sản lượng bị mất do hình thức phơi gạo lộ thiên này, mà lại không đạt được chất lượng tốt để

có thể cạnh tranh với một số quốc gia xuất cảng gạo khác, như Thái Lan chẳng hạn, rốt cuộc chỉ có thể xuất cảng sang một số thịtrường giới hạn

Hiện nay, nông dân Việt Nam ( 80% dân số ) sống trên 10 triệu héc-ta ruộng, mỗi gia đình canh tác thửa ruộng nhỏ xắu mà diệntắch trung bình khoảng từ 0.2 đến 5 héc-ta Có muốn cơ giới hoá nông nghiệp để gia tăng năng suất cũng khó vì trước hết là diệntắch các thửa ruộng cùng một người canh tác quá nhỏ, thứ nhì là nhân công trong nông nghiệp dư thừa rất nhiều, hiện ở trong tìnhtrạng thiểu dụng

Nói tóm lại, trong dây chuyền xuất cảng gạo này, người thiệt thòi nhất là người sản xuất gạo Những công ty xuất khẩu quốcdoanh thì hoàn toàn thiếu hiệu suất và thua lỗ Còn người được lời nơi đây là các khách hàng ngoại quốc đang ở thế thượng phong

Trang 14

Về khoảng thời gian này, chúng ta cũng có những thống kê sau:

SẢN LƯƠNG CÔNG NGHIệP (tắnh theo giá 1982)

Vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế quốc gia luôn luôn được nh¡c nhở và xác định một cách mạnh mẽ

Trong khu vực công nghiệp, khoảng 660 xắ nghiệp trên tổng số hơn 3000 xắ nghiệp đặt dưới quyền kiểm soát của Trung Ương,những doanh nghiệp còn lại thuộc địa phương Các DNQD trực thuộc Trung Ương tập trung chung quanh hai vùng kỹ nghệ lớn là

hà Nội và Sàigòn, trong khi các DNQD thuộc các địa phương tản mát trên toàn quốc

Khoảng 55% sản lượng công nghiệp do khu vực quốc doanh cung cấp, tuy nhiên tất cả kỹ nghệ nặng và hầu hết các cơ sở có tầmvóc đáng kể của kỹ nghệ nhẹ đều do Nhà Nước làm chủ Trong khi đó, tư nhân và hợp tác xã hiện diện trong tiểu công nghệ, chếbiến thực phẩm tầm vóc nhỏ, may mặc hoặc ráp nối Những cơ sở xuất khẩu hoặc chế biến cho xuất khẩu lớn nhất đều nằm trong

Trang 15

khu vực quốc doanh hoặc có hình thức liên doanh Tuy nhiên, các đồ vật được xuất khẩu do tư nhân sản xuất như gạo, tôm, phê, trái cây

cà-Sản lượng kỹ nghệ nặng được chia tương đối đều giữa miền Nam và miền B¡c, trong khi 2 phần 3 sản lượng kỹ nghệ nhẹ do miềnNam cung ứng, với 41% sản lượng kỹ nghệ nhe tập trung tại thành phố Sàigòn

Miền B¡c sử dụng 76% tổng số nhân công của kỹ nghệ nặng và 56% của kỹ nghệ nhẹ Trong khi đó, 47% của sản lượng kỹ nghệnặng và 34% của sản lượng kỹ nghệ nhẹ do miền B¡c cung ứng Thành ra, sản lượng bình quân tại miền Nam cao gấp 3,6 lần sảnlượng bình quân của miền B¡c trong kỹ nghệ nặng, và 2,5 lần sản lượng bình quân trong kỹ nghệ nhẹ Người ta giải thắch sự chênhlệch về năng suất này do nhân công thừa thãi và những kỹ thuật cũ kỹ được sử dụng tại miền B¡c Số công nhân viên trung bình tạimiền B¡c là 287, trong khi đó, chỉ 140 tại miền Nam

Trở ngại lớn nhất mà nền kỹ nghệ nội địa phải đương đầu vào mấy năm sau này là hiện tượng buôn lậu lan tràn Người ta ướclượng những hàng hoá buôn lậu này trị giá khoảng từ 600 đến 900 triệu Mỹ kim cho năm 1994, chúng có đặc tắnh là giá rẻ hơnhàng nội hoá và hàng nhập cảng chịu thuế quan Trong các ngành nội địa gặp khó khăn vì buôn lậu, có ngành chế tạo lốp xe đạp

và sản xuất đồ nhựa hay được trắch dẫn Các mặt hàng buôn lậu rất phong phú, đi từ những đồ vật nhỏ nhặt nhất như lọ keo cho tới

xe hơi, buôn lậu được tổ chức qui mô với sự hậu thuẫn của các cơ quan chắnh quyền địa phương hoặc trung ương

Nhờ một bài trắch dẫn từ báo Lao Động (13/11/1994), tầm quan trọng của buôn lậu trong năm qua có thể được ước lượng Năm

1994, buôn lậu đã gia tăng 57% số vụ và 44% số bị can so với cùng kỳ năm 1993:

" Các cơ quan chức năng đã phát hiện 4344 vụ buôn lậu, 2637 vụ buôn bán hàng cấm, 6137 vụ kinh doanh trái phép, tài sản thunộp ngân sách trị giá 384 tỉ đồng Hành vi nhập lậu văn hóa phẩm có nội dung đồi trụy, thuốc lá, ô-tô, xe máy tiếp tục xảy ra dướidanh nghĩa "quà tặng" (vụ 4 đối tượng ở Hà Nội hai lần nhận quà biếu với 28 ô-tô bốn chỗ ngồi, 403 đĩa compact và 6600 đĩalaser), "chờ làm thủ tục hải quan" Phần lớn các vụ buôn lậu sử dụng phương tiện vận tải của Nhà Nước (kể cả quân đội, công an)gây khó khăn cho lực lượng chống buôn lậu "

Cũng tờ Lao Động (20/11/94) cho biết rằng số hàng chở lậu trên chiếc tàu Việt Xô 11 từ Hong Kong về bốc dỡ chở đầy 42 xe tải,gồm 61 loại hàng với số lượng lớn như 602 tivi, 1057 cátxét, 546 thùng loa, 240 nồi cơm điện, 248 máy giặt, 915 tủ lạnh đều làhàng cũ, và 379 vành xe đạp, 165 khung xe, 160 săm lốp xe v.v là hàng mới

Trang 16

Cán cân thương mãi

CƠ CẤU MậU DịCH: So sánh quốc tế

Tỉ trọng các loại hàng xuất khẩu vào năm 1987

Nông phẩm Khoáng phẩm (1) Sản phẩm chế biến

(2) = Không kể Trung quốc và Ấn Độ

Xuất xứ: chắnh quyền Việt Nam, trắch dẫn từ "Tường trình về Phát triển Kinh Tế", 1989

Trang 17

XuÃt nhÆp khÄu trong næm 1994

CÁN CÂN THÐ÷NG M‚I 1994 (TriŒu MÏ Kim)

TÌ tr†ng xuÃt/nhÆp khÄu

Trang 18

Hãy thử coi xem những con số liên quan tới sự lỗ lã của cán cân thương mãi có phản ảnh sự thật không? Trong năm 1994, nhânbáo cáo của chắnh phủ tại kỳ họp thứ 5 của quốc hội khóa 9, đã thấy báo động về thâm thủng ngân sách và các báo chắ chắnh thức

đã lên tiếng về vấn đề thất thu thuế, trong đó thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng, một phần tư ngân sách Theo họ nhận định,

số chắnh thức được loan báo ra

Thành ra, nỗi lo âu hiện tại của cấp lãnh đạo Hà Nội trước con số mới chắnh thức mà đã lên tới 900000 Triệu Mỹ Kim rồi cũng dễhiểu thôi

Trang 19

Đầu tư ngoại quốc

Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào tháng 12 năm 1987 nhằm thu hút tư bản ngoại quốc ấn định các hìnhthức đầu tư, các quyền của cá nhân hay công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt nam, những bổn phận của họ

Sự đầu tư được khuyến khắch trong 4 lãnh vực chắnh là canh nông, kỹ nghệ, hạ tầng cơ sở và dịch vụ Cho đến ngày hôm nay thìđầu tư ngoại quốc đã đạt được kết quả sau:

Các quốc gia có kim ngạch đầu tư quan trọng (1988-1994)

- Tổng số kim ngạch đầu tư được chấp thuận trên giấy tờ, tức là vốn đăng ký

- Khoản tiền được tháo khoán

- Khoản tiền được thực sự du nhập vào trong nước

Theo báo cáo của Ủy ban Hợp Tác và Đầu Tư Quốc tế của Nhà Nước thì tắnh đến tháng 11 năm 1993, Hà Nội đã cấp 804 dự ánđầu tư trực tiếp với tổng số vốn đăng ký là 7 tỷ Mỹ Kim Nhưng số vốn thực sự tháo khoán chỉ đạt 2 tỷ 38 triệu Mỹ Kim Phần lớncác dự án và vốn đầu tư được tháo khoán mạnh từ năm 1993, khi Hoa Kỳ không còn chống việc Pháp và Nhật ứng trả tiền cho HàNội số nợ 130 triệu của Quỹ Tiền Tệ quốc Tế, và các công ty Hoa Kỳ được tiến hành đấu thầu những công trình do các định chếtài chánh quốc tế tài trợ

Trang 20

Ngoài ra, trong số dự án đầu tư có 89% dự án theo hình thức liên doanh (đôi bên cùng góp vốn, mà bên VN là hầu hết các xắnghiệp quốc doanh), 7,4% dự án ở dạng hợp doanh (làm theo hợp đồng) và chỉ có 3,6% dự án do công ty ngoại quốc bỏ vốn100%, mà nguồn vốn quan trọng đều nằm trong lãnh vực khai thác dầu thô Trên giấy tờ, trị giá 26 dự án khai thác dầu thô khoảng1,2 tỷ Mỹ Kim, mà phần lớn vẫn còn trong giai đoạn thăm dò, tìm kiếm Như vậy ngân khoản đầu tư trong đất liền còn lại khoảng5,8 tỷ Mỹ Kim, tập trung các lãnh vực sản xuất tiêu dùng, chế biến thực phẩm xuất khẩu, kinh doanh khách sạn, du lịch Trong khicác dự án về công nghiệp và hạ tầng cơ sở coi như không có, có được tài trợ là do ngân khoản cho vay từ các định chế quốc tế.Thật ra, muốn biết số tiền sẽ thực sự được du nhập vào Việt Nam ra sao, ta có thể căn cứ trên tổng số kim ngạch đầu tư trong 5năm qua.

Những điều do Uỷ ban Hợp Tác và Đầu Tư Quốc Tế để lộ ra cho thấy vào năm 1992, trên 477 dự án đầu tư, với trị giá là 901Triệu Mỹ kim, chỉ có 261 được thực sự tiến hành Trên con số này, phải rút ra 130 triệu là những đóng góp của phắa VN dưới dạngđất đai, cơ sở hãng xưởng sẵn có; sau đó, phải trừ đi 408 triệu bỏ vào công cuộc tìm kiếm dầu hỏa, không thể coi như là đầu tưđược Rốt cuộc, còn lại vỏn vẹn 33 Triệu $ được du nhập thực sự, so với 571 triệu được tháo khoán, và trên số vốn đăng ký là 901triệu tức khoảng 1/30 số vốn đăng ký

Đến khi du nhập vào trong nước, vốn có được sử dụng đắch đáng hay không, lại là vấn đề khác

Theo ông Lê Đăng Doanh (Viện Nghiên Cứu quản lý kinh tế trung ương), "khả năng hấp thụ vốn chưa đạt yêu cầu", và mới sử

dụng được 22% vốn nước ngoài vì những nguyên nhân sau:

- qui hoạch về ngành và qui hoạch lãnh thổ chưa cụ thể,

- chắnh quyền chưa hiểu qui cách làm dự án,

- khả năng xây dựng và tổ chức thực hiện dự án còn yếu kém,

Trang 21

Ngoại trái

Ngoại trái là một trong những lãnh vực hiếm thống kê nhất, và đưa ra những thống kê mâu thuẫn nhất

Sau đây là những ước lượng của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu:

Ngoại trái (Triệu Mỹ Kim)

1988 1989 1990 1991 1992 1993 (e) 1994 (e)

Ngoại trái 12991 14034 14582 15311 15400 16800 17500

e: do Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ước lượng

Xuất xứ: NHPTAC

Theo tài liệu "Vietnam Country Report" (9/1992) của institute of International Finance (Hoa Kỳ), tổng số nợ của Việt Nam từ năm

1985 đến năm 1990 chiếm khoảng 24,2% (1985) đến 37,3% (1990) của Tổng sản Lượng nội địa

Năm 1993, Hà Nội đã vay được từ Ngân Hành Thế Giới 228,5 triệu Mỹ Kim, có thời hạn trả nợ từ 40 tới 50 năm với 10 năm ânhạn, không có lãi mà chỉ trả lệ phắ dịch vụ là 0.75% trên tổng số vốn đã rút Số tiền vay này nhằm thực hiện 2 dự án:

- Chấn chỉnh hệ thống giáo dục tiểu học gồm việc tu bổ 10300 lớp học và xây dựng 12000 hệ thống vệ sinh, nước uốngcho các trường tiểu học, trị giá 70 triệu Mỹ Kim

- Tu bổ nâng cấp các con đường quốc lộ số 1 từ Hà Nội đi Vinh, Sàigòn đi Cần Thơ

Năm 1995 này, Ngân Hàng Phát triển Á châu sẽ cho Việt Nam vay 80 triệu Mỹ Kim để tự do hóa thị trường canh nông, mở rộngvai trò lãnh vực tư nhân, cải thiện khung cảnh pháp lý, tăng cường cơ sở cần thiết cho kinh tế thị trường

Thành ra, món nợ quốc tế chỉ có thể gia tăng

Trang 22

Ngân sách

Thâm thủng ngân sách là vấn đề kinh niên theo đuổi cáp lãnh đạo tại Việt Nam Năm vừa qua, ngay giữa năm mà cả nước đã đượcbáo động về tình trạng thất thu thuế Tháng 1/1995, Hà Nội chắnh thức loan báo rằng thâm thủng ngân quỹ năm vừa qua lêntới 7300 tỷ Đồng, tức 4% của Tổng sản Lượng nội địa năm 1994

Ngân Sách Quốc Gia ('000 tỉ Đồng)

1988 1989 1990 1991 1992 e 1994 (*)

Thâm thủng ngân quỹ -8,3 -9,1 -6,4 -1,3 -3,1 -7,3

Xuất xứ: Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

e = do QTTQT ước lượng

(*) = Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước, tin AFP

Thâm thủng ngân quỹ có nghĩa là Nhà Nước tiêu nhiều hơn là thu Qua bảng sau đây, ta hãy thủ theo dõi các chi khoản thôngthường của Nhà Nước Hà Nội:

Chi Tiêu Thông thường 1986-1992 (Đơn vị: Triệu Đồng)

Tổng cộng chi tiêu thông thường 84906 394791 2167000 5045000 7062000 9946000

Tỉ trọng trên TSL nội địa

Trang 23

Tỉ trọng trên các chi tiêu thông thường (1)

Xuất xứ: Bộ Tài Chánh và Uớc lượng của các chuyên gia trong Ngân Hàng Thế Giới

Bảng trên cho ta thấy tỉ trọng yếu kém trong công chi và trong Tổng sản lượng nội địa của những chi khoản dành cho giáo dục, ytế và trợ cấp Mục trợ cấp này chỉ định chi khoản của Bộ Lao Động-Thương Binh-Xã Hội, do đó khi so sánh với các lãnh vực phảibao quản thì tuy lớn hơn các khoản dành cho giáo dục, y tế nhưng thật ra không thể gọi là đáng kể !

Sự thờ ơ của cấp lãnh đạo tại Việt Nam trước các vấn đề giáo dục, y tế, và xã hội đã đưa đến tình trạng suy xụp của những

lãnh vực này, sẽ được trình bày trong Phần sau của tập hồ sơ này

Trang 24

Cán cân chi phó

Cán cân chi phó tổng kết các trao đổi của Việt Nam đối với nước ngoài từ năm 1985 Tình trạng luôn luôn thâm thủng của cán cân chi phó do sự lỗ lã của cán cân thương mãi và của cán cân trao đổi thông thường gây ra, mà các nguồn ngoại trợkhông thể nào bù đ¡p nổi

Xuất xứ: QTTQT, Stefan de Vylder

CÁN CÂN CHI PHÓ 1985-1992 (Triệu Mỹ Kim)

Trang 25

TBKT = Thời Báo Kinh Tế

W.I CARR = Indosuez Bank

Sự chuyển đổi từ hệ thống kế toán Hiện Vật theo kiểu Liên Xô sang hệ thống kế toán Quốc Gia theo Liên Hiệp Quốc được xúc tiến

từ năm 1990 Trước đó, tất cả những thống kê về tiền tệ đều khó tin vì ở vào buổi giao thời, giữa hai hệ thống kế toán, giữa haimẫu đồ phát triển Đừng quên rằng trong mẫu đồ phát triển tập trung hoạch định, không có hiện tượng lạm phát vì Nhà Nước đơnphương ấn định mọi giá cả mà bất chấp các điều kiện cung cầu trên các thị trường Quan niệm về tiền tệ của chắnh quyền ViệtNam rất đơn sơ và phản ảnh triết lý duy vật của cấp lãnh đạo: họ tin vào vật chất, vào số lượng nên nghĩ rằng muốn chống lạmphát thì chỉ việc rút bớt một phần tiền đang lưu hành Việc này đã xảy ra nhân lần đổi tiền vào những năm 84-85: các số tiền bằngđồng cũ mang lại ngân hàng chỉ được đổi sang đồng mới dưới một giới hạn nào đó, phần còn lại b¡t buộc phải ký thác vào trongchương mục các ngân hàng

Hiện nay, sau khi vật giá leo thang 17,4% trong năm 1994, riêng giá lương thực đã gia tăng 39% trong 4 tháng cuối năm (theobáo Tuổi Trẻ, 1/1995), nghe đâu rằng Nhà Nước có ý định đặt tiêu chuẩn lưu hành cho tờ 2000 đồng: tờ nào bị coi là cũ kỹ, nhàunát sẽ bị loại bỏ ra ngoài vòng lưu hành, biện pháp này cũng có mục đắch tương tự biện pháp đổi tiền có giới hạn và b¡t buộc kýthác phần còn lại !

Thông thường, có ba đơn vị tiền tệ được thông dụng tại Việt Nam: vàng, Mỹ Kim và đồng bạc VN Theo cuộc thăm dò về điềukiện sinh sống 1992-1993, 44% tiền dành dụm của các hộ gia đình mang hình thức vàng Kể từ ngày 1/10/1994, Hà Nội đã ra biệnpháp cấm lưu hành đồng Mỹ Kim để củng cố đồng bạc Theo đó, các cửa tiệm, khách sạn, hãng máy bay, taxi chở khách khôngđược phép quảng cáo bằng Mỹ Kim, mọi dịch vụ mua bán bó buộc phải dùng đồng bạc Mọi cơ chế của VN phải để ngoại tệ trongcác trương mục ngân hàng và không được phép giữ thanh khoản như trước nữa Do đó, giờ đây mọi dịch vụ quan trọng như buônbán nhà cửa, xe hơi đều tắnh bằng "cây" (vàng)

Lạm phát hiện nay là mối đe dọa lớn cho cấp lãnh đạo tại Việt Nam

Trang 26

Thực Trạng Giáo Dục tại Việt Nam

Muốn nghiên cứu về thực trạng Giáo dục tại Việt Nam, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi tìm thống kê khả tắn

- Các nguồn tài liệu đều do các cơ quan chắnh thức của chắnh quyền Việt Nam cung cấp, hoặc dưới dạng của cơ quan, hoặc dướidạng hỡp tác với các cơ quan quốc tế Không có các cơ quan độc lập nghiên cứu để có thể đối chiếu

- Các tài liệu cho các con số, mà có khi không cho biết nguồn gốc cùng năm nghiên cứu

- Cùng một dữ kiện, mà các tài liệu không cho số cùng năm để dễ bề so sánh

- Cùng một dữ kiện, mà hai tài liệu cho hai số khác nhau

Do đó, các thống kê trong tài liệu này phải được nhìn m¡t dưới con m¡t thận trọng

Ngoài ra, chúng tôi có vài con số thống kê về những năm ngay sau 1975, nhưng những con số này có lẽ không đúng l¡m, nênkhôgn cho vào tài liệu này

I Thống kê

1 Ngân sách dành cho Giáo dục

1.1 Ngân sách quốc gia

Theo tài liệu của UNESCO (1) (Education and Human Ressources Sector Analysis - Synthesis Report), mặc dù Tổng sản lượngquốc gia (TSLQG) tại Việt Nam gia tăng từ năm 1986 (6% năm 1988, 8% năm 1989, 6,4% năm 1990, 4% năm 1992), ngân sáchquốc gia tắnh theo tỷ lệ Tổng sản lượng trong nước (TSLTN) lại giảm đi (14,5% năm 1984, 11,4% năm 1988) và thâm hụt ngânquỹ quốc gia vẫn ở mức độ cao (20% củ lợi tức quốc gia năm 1990 và 17,3% năm 1991)

1.2 Ngân sách dành cho Giáo dục

Theo tài liệu của (1), ngân sách cho Giáo dục chiếm 2% TSLTN, trong khi đó trung bình tại Á Châu, tỷ lệ này vào khoảng 3%(Ngân Hàng Thế Giới, NHTG, 1990) Tài liệu Atlas Việt Nam đưa ra con số 1% TSLTN tại Việt Nam, 3,4% tại Trung Quốc và3,5% tại Thái Lan vào năm 1989 (NHTG, 1992)

Nếu tắnh theo tỷ lệ ngân sách quốc gia thì ngân sách cho Giáo dục như sau : 6,9% năm 1986, 6,2% năm 1987, 6,9% năm 1988,8,1% năm 1989 Tuy nhiên nếu khấu trừ lạm phát thì trị giá thật tắnh theo đầu người sẽ giảm đi Con số mới nhất được kể trong tàiliệu (1) là 5,5% ngân sách quốc gia dành cho Giáo dục

Theo tài liệu (1) ngân sách này bao gồm ngân sách từ trung ương (25%) và từ địa phương (75%) Ngân sách cho các đại học vàtrường huấn nghệ gần hoàn toàn do trung ương tài trợ, và có chiều huuớng gia tăng cho đại học 80% ngân sách cho Giáo dục phổthông là do các cấp địa phương tài trợ (xây trường tiểu học do cấp xã chịu trách nhiệm, trường trung học phổ thông do cấp huyện,trường trung học kỹ thuật và chuyên nghiệp do cấp tỉnh) Ngân sách trung ương phần lớn được dùng để trả lương giáo chức và cấphọc bổng cho sinh viên (25% ngân sách cho đại học) nhưng ngân sách cho học bổng giảm đi rất nhiều

Trang 27

Ngân sách quốc gia dành cho Giáo dục và Huấn Nghệ, 1986 đến 1989 :

514937

32053(6,2%)

2839719

196729(6,9%)

6671100

541980(8,1%)Tỷ số ngân sách theo trình độ

100%

3,3647,928,9111,636,541,7919,85

100%

4,4950,639,1610,03

1,3824,31

100%

3,2949,318,3715,05

1,1122,87

100%

(Xuất xứ : UNESCO)

Theo bài biên khảo của Từ Mai năm 1992 (6) (Vài ý nghĩ về giáo dục tại Việt Nam sau giai đoạn cộng sản Từ Mai - Đức quốc,1992), ngay từ những thập niên 1960 và 1970, mỗi năm Nhật dành khoảng 20,1% ngân sách quốc gia cho Giáo dục trong khi ĐàiLoan và Tân Gia Ba cùng dành 19,3% và thái Lan cũng được 14,9% (1975) Nhật vẫn tiếp tục nâng ngân sách Giáo dục lên tới22% ngân sách quốc gia và Đại Hàn đặt mục tiêu cho năm 2001 là 30%

Nếu tắnh theo TSLQG, trong thập niên 1980, một số nước điển hình trên thế giới chi cho Giáo dục như sau :

Trang 28

1.3 Học phắ và chi tiêu của gia đình

Từ năm học 1988 - 1989, gia đình phải trả học phắ cho con em, chỉ trừ lớp 1 đến lớp 3 là trên nguyên t¡c miễn phắ Học phắ cholớp tiểu học và trung học đệ nhất cấp là 1,5 - 2,0 ký gạo / tháng, cho trung học đệ nhị cấp là 3 ký gạo / tháng Gia đình còn phảichịu tiền giấy bút, sách vở, đồng phục, ăn uống, đóng góp b¡t buộc cho trường và hội phụ huynh Vì vậy rất nhiều gia đình vốn đãchật vật vì miếng ăn đành phải cho con em bỏ học

Tài liệu (3) (Issues of Education Development in Vietnam - Nguyễn Bá Cần, Đoàn Hải, Nguyễn Công Mỹ, John Luke Gallup) chobiết phắ tổn gia đình phải trả cho một học sinh trong một năm học (trung bình toàn quốc)

đơn vị : 1000 đồng / năm

Các khoản lệ phắ Tiểu học Trung học đệ

nhất cấp

Trung học đệnhị cấp

Huấn nghiệp Đại học

13,5025,800,2024,3010,60

34,9016,90

38,6053,903,1046,6039,50

114,6020,50

62,8086,2010,60122,0097,90

221,7050,30

18,4084,9024,4079,7048,40

407,3037,90

69,80157,9022,6017,8050,50

* Tiền cơ sở vật chất, tiền bảo trợ học đường, mua học bạ, tiền in phiếu liên lạc, phiếu y tế

Sự đóng góp của gia đình lại còn chênh lệch tuỳ theo các cấp học, theo trường và theo từng vùng Sinh viên thuộc gia đình khá giảtương xứng trả ắt hơn học sinh các lớp dưới thuộc gia đình nghèo Gia đình giàu tại một vùng có thể đóng góp ắt hơn gia đìnhnghèo tại một vùng khác Ngoài ra so với sự đóng góp của quốc gia thì sự đóng góp của gia đình lại càng nặng hơn cho cấp dưới.Tỷ lệ dành cho Giáo dục trong ngân quỹ gia đình, theo cấp học và theo QUINTILE ngân quỹ (trung bình toàn quốc) :

Quintile ngân quỹ Tiểu học Trung học đệ

nhất cấp

Trung học đệnhị cấp

Huấn nghiệp Đại học

10,105,954,583,512,03

23,4613,8110,628,164,71

24,4814,4111,088,514,91

41,O124,1418,5714,268,23

Ta thấy phắ tổn gia đình phải trả cho con em đi học càng cao theo tỷ lệ cho những gia đình nghèo thuộc ba quintile thấp nhất.Hậu quả là những năm gần đây, trẻ em bỏ học hoặc không hề được đi học ngày càng nhiều, nạn mù chữ gia tăng, sự chênh lệchtrong xã hội càng trầm trọng hơn Nền giáo dục căn bản cho mọi trẻ em, điều kiện tiên quyết cho sự cải tiến xã hội và phát triểnđất nước, đang nhanh chóng xuống dốc

Trang 29

2 Thống kê về số trường, số học sinh và số giáo chức

Trước năm 1990, giáo dục căn bản gồm 5 năm tiểu học và 4 năm trung học Sau 1990, giáo dục căn bản rút lại còn 5 năm tiểu học.Các cấp giáo dục được gọi như sau : tiểu học là cấp I, trung học đệ nhất cấp (4 năm) là cấp II, trung học đệ nhị cấp (3 năm) là cấpIII

2.1 Dữ kiện tổng quát

Theo Base de données PC GLOBE 1990 (7) (PC GLOBE 1990)

Theo báo Tuổi Trẻ số 18/91, số giáo chức như sau :

Theo tài liệu (2) các sĩ số và số thầy giáo như sau :

Tiểu học +Trung học I

Trung học II Kỹ thuật Đại học

Số người dưới 18 tuổi được học nghề chỉ có 20% Nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp chỉ tập hợp được có 10% số sinh viên

Tài liệu UNESCO cho những sĩ số tổng quát sau đây :

1980 / 81 1985 / 86 1989 / 90 1990 / 91 1991 / 92Nhà trẻ

Trang 30

Ta thấy chiều hướng đáng lo ngại là trong mọi cấp học, số học sinh đều giảm đi, từ nhà trẻ lên đến đại học Trong lứa tuổi 6 - 12,tỷ lệ đi học giảm 0,8% mỗi năm mặc dù số tuyệt đối có gia tăng.

14 308

187 080

323 09810,3

35,101,731,02104,00 106,20

Số học sinh tiểu học có gia tăng, nhưng tỷ lệ tắnh theo lứa tuổi 6 - 10 tuổi giảm đi từ 110% năm 1987 / 88 xuống 106% năm 1991 /

92 Số học sinh cho một thầy giáo xấp xỉ là 35 trong 8 năm gần đây

Trang 31

Trung h†c ÇŒ nhÃt cÃp, 1981 ljn 1991

1981 / 82 1985 / 86 1989 / 90 1990 / 91 1991 / 92Giáo viên (t°ng sÓ)

18,301,731,82

* K‹ cä ti‹u h†c

T› lŒ h†c sinh xong ti‹u h†c và vào trung h†c giäm tØ 92% næm 1986/87 xuÓng 72% næm 1989/90

Trung h†c ÇŒ nhÎ cÃp, 1981 ljn 1991

1981 / 82 1985 / 86 1989 / 90 1990 / 91 1991 / 92Giáo viên (t°ng sÓ)

16,701,072,13

TØ trung h†c ÇŒ nhÃt cÃp lên trung h†c ÇŒ nhÎ cÃp t› lŒ cÛng giäm Çi, tØ 45% næm 1986/87 xuÓng 30% næm 1989/90

Ngày đăng: 26/10/2012, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sau đây so sánh các tỉ lệ tăng trưởng giữa các quốc gia Á Châu trong những năm qua, và chi thấy cả vùng đã vươn lên mãnh liệt, mà các quốc gia có những TSL yếu nhất thường có tỉ lệ cao nhất, âu đây là một qui luật thông thường. - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng sau đây so sánh các tỉ lệ tăng trưởng giữa các quốc gia Á Châu trong những năm qua, và chi thấy cả vùng đã vươn lên mãnh liệt, mà các quốc gia có những TSL yếu nhất thường có tỉ lệ cao nhất, âu đây là một qui luật thông thường (Trang 6)
Bảng trên cho thấy rằng Tổng Sản Lượng nội địa có giă tăng khả quan từ năm 1988. Khi chia Tổng Sản Lượng nội địa cho dân số, thỡ tè sể gia tổng sỳt giọm hÊn. - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng tr ên cho thấy rằng Tổng Sản Lượng nội địa có giă tăng khả quan từ năm 1988. Khi chia Tổng Sản Lượng nội địa cho dân số, thỡ tè sể gia tổng sỳt giọm hÊn (Trang 6)
Bảng trên cho thấy TSL nội địa cũng như Lợi tức quốc gia có tiến triển từ năm 1984, tuy nhiên lợi tức gia tăng có phần chậm đi từ năm 1989 so với những năm trước - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng tr ên cho thấy TSL nội địa cũng như Lợi tức quốc gia có tiến triển từ năm 1984, tuy nhiên lợi tức gia tăng có phần chậm đi từ năm 1989 so với những năm trước (Trang 8)
Bảng trên cho thấy nông nghiệp đóng góp nhiều vào Tổng Sản Lượng nội địa so với các quốc gia cùng có lợi tức thấp, đặc biệt khi đối chiếu với Trung Quốc và Ấn Độ - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng tr ên cho thấy nông nghiệp đóng góp nhiều vào Tổng Sản Lượng nội địa so với các quốc gia cùng có lợi tức thấp, đặc biệt khi đối chiếu với Trung Quốc và Ấn Độ (Trang 11)
Bảng này cho ta thấy tỷ lệ trẻ em từ 6 đến 10 tuổi không được đi học rất cao. - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng n ày cho ta thấy tỷ lệ trẻ em từ 6 đến 10 tuổi không được đi học rất cao (Trang 36)
Bảng này cho thấy là người Việt Nam hồi xưa ắt được đi học (những người trên 65 tuổi) - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng n ày cho thấy là người Việt Nam hồi xưa ắt được đi học (những người trên 65 tuổi) (Trang 37)
Bảng 1: Các cơ sở y tế và giường bệnh - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng 1 Các cơ sở y tế và giường bệnh (Trang 43)
Bảng 2: Số giường cho 10000 người - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng 2 Số giường cho 10000 người (Trang 44)
Bảng 4: Các bác sĩ trên thế giới - Số bác sĩ cho 10000 người - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng 4 Các bác sĩ trên thế giới - Số bác sĩ cho 10000 người (Trang 46)
Bảng 5: Số trẻ em suy dinh dưỡng (Chi tiêu 1000 Đồng một năm) - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng 5 Số trẻ em suy dinh dưỡng (Chi tiêu 1000 Đồng một năm) (Trang 49)
Bảng trên cho thấy sự trầm trọng của vấn đề y tế tại Việt Nam hiện tại. Trong nhóm khá giả nhất, nghĩa là nhóm 20% người nằm trên chóp bu, có thể chi tiêu mỗi người trên 2,5 triệu đồng (250 Mỹ kim) mỗi năm, cũng đã có hơn 30% đứa con thiếu dinh dưỡng. - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng tr ên cho thấy sự trầm trọng của vấn đề y tế tại Việt Nam hiện tại. Trong nhóm khá giả nhất, nghĩa là nhóm 20% người nằm trên chóp bu, có thể chi tiêu mỗi người trên 2,5 triệu đồng (250 Mỹ kim) mỗi năm, cũng đã có hơn 30% đứa con thiếu dinh dưỡng (Trang 49)
Bảng sau đây cho thấy tỉ số người nghèo khó trên 7 miền chắnh của Việt Nam. - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng sau đây cho thấy tỉ số người nghèo khó trên 7 miền chắnh của Việt Nam (Trang 58)
Bảng trên cho thấy rằng tiêu thụ thay đổi tùy theo từng miền. Bảng này gồm hai phần: phần chi tiêu tắnh theo thời giá địa phương và phần chi tiêu được tắnh toán sau khi đã loại bỏ những khác biệt về giá cả giữa các miền - Tình hình Việt Nam từ năm 75-95
Bảng tr ên cho thấy rằng tiêu thụ thay đổi tùy theo từng miền. Bảng này gồm hai phần: phần chi tiêu tắnh theo thời giá địa phương và phần chi tiêu được tắnh toán sau khi đã loại bỏ những khác biệt về giá cả giữa các miền (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w