Kinh tế học thể chế ra đời ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX, là “hệ thống lý thuyết được chấp nhận rộng rãi, trong đó nhấn mạnh đến tính hợp lý, khả năng thay đổi đồng hình và tính hợp pháp” (Scott, 2008) trong quá trình thể chế hóa của các doanh nghiệp. Trọng tâm của thuyết thể chế (Institutional Theory) phân tích vai trò của quá trình thể chế hóa, cũng như vai trò của các thể chế có vai trò định hình hành vi của các cá nhân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, học thuyết thể chế cũ dần bộc lộ các hạn chế. Chính vì vậy, cuối thập niên 1960, học thuyết thể chế mới ra đời với một số khía cạnh mới được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết cũ, kết hợp cùng phương pháp tiếp cận chi phí giao dịch của Ronald Coase, Oliver Williamson và Douglass North,...
Trang 1THUYẾT THỂ CHẾ
Kinh tế học thể chế ra đời ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX, là “hệ thống lý thuyết được chấp
nhận rộng rãi, trong đó nhấn mạnh đến tính hợp lý, khả năng thay đổi đồng hình và tính hợp pháp” (Scott, 2008)24 trong quá trình thể chế hóa của các doanh nghiệp Trọng tâm của thuyết thể chế (Institutional Theory) phân tích vai trò của quá trình thể chế hóa, cũng như vai trò của các thể chế có vai trò định hình hành vi của các cá nhân, doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, học thuyết thể chế cũ dần bộc lộ các hạn chế Chính vì vậy, cuối thập niên
1960, học thuyết thể chế mới ra đời với một số khía cạnh mới được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết cũ, kết hợp cùng phương pháp tiếp cận chi phí giao dịch của Ronald Coase, Oliver Williamson và Douglass North, Trước khi đi sâu phân tích hai quan điểm thể chế cũ
và mới trong hai phần nội dung chính (phần 2 và 3), phần đầu của chương sẽ làm rõ khái niệm
và phân loại về các thể chế (institutions25)
1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC THỂ CHẾ
1.1 Định nghĩa các thể chế
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thể chế phụ thuộc vào đặc điểm mỗi quốc gia và mục đích nghiên cứu, các học giả, tổ chức sẽ đưa ra các cách định nghĩa khác nhau Hamilton
(1932) là một trong những tác giả đưa định nghĩa đầu tiên về thể chế, “là một biểu tượng lời
nói để mô tả xã hội tốt hơn được sử dụng để mô tả Thể chế bao gồm cách suy nghĩ hay hành động phổ biến có từ lâu đời và đã trở thành quen của một nhóm người hoặc văn hóa, tập quán của một dân tộc”26 Đây là một trong những cách định nghĩa phổ biến của các học giả nghiên cứu, bởi nó đưa ra được các lý luận nền tảng phục vụ cho hoạt động phân tích, mô tả, kiểm tra và các đánh giá lý thuyết khác
24
Institutional theory is “a widely accepted theoretical posture that emphasizes rational myths, isomorphism, and legitimacy”
25
Institutions có 2 nghĩa là “các thể chế” hoặc “các tổ chức”, tùy theo văn cảnh có thể sử dụng khác nhau mặc dù “các tổ chức” thường được sử dụng nhiều hơn trong kinh tế quản trị Trong cuốn sách này, institutions được dịch là “các thể chế” để phân biệt khác với từ organizations là các tổ chức
26 “Institution is a verbal symbol which for want of a better describes a cluster of social usages It connotes a way of thought or action of some prevalence and permanence which is embedded in the habits of a group or the customs of a people In ordinary speech it is another word for procedure, convention, or arrangement; in the language of books it is the singular of which the mores or the folkways are the plural Institutions fix the confines of and impose form upon the activities of human beings The world of use and wont, to which imperfectly we accommodate our lives, is a tangled unbroken web of institutions”
69
Trang 2Dưới góc độ quản lý, thể chế là “một hệ thống cấu trúc mà trong đó, những cá nhân
nắm quyền lực được cam kết có các giá trị hoặc lợi ích nhất định”27 (Stinchcombe, 1968, trang 107) Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của quyền lực và cơ quan nhà nước trong bảo đảm các giá trị và lợi ích cho quốc gia Cùng góc độ tiếp cận này, Jepperson (1991, trang 145)
cho rằng, thể chế là các mô hình triển khai các quy định, quy tắc trên thực tế, trong đó, “mô
hình được triển khai thông qua các quy định thưởng, phạt được xây dựng bởi cơ quan quyền lực nhà nước nhằm xây dựng xã hội và chống lại các thay đổi tiêu cực”28 Định nghĩa này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của quyền lực nhà nước dưới hình thức kiểm soát Theo đó, sự tồn tại của các thể chế ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của các cá nhân, tổ chức và xã hội
Ngoài ra khái niệm “thể chế” cũng được một số tác giả định nghĩa, trong đó chủ yếu tập trung vào khả năng ảnh hưởng đến hành vi và mối quan hệ con người của con người trong tổ
chức Barley và Tolbert (1997) xác định thể chế là “các quy tắc xác định chung các tác nhân
xã hội và các hoạt động hoặc mối liên hệ giữa chúng” (trang 96) Burns và Scapens (2000)
cũng xác định thể chế là “các giả thiết chung nhằm xác định, đánh giá các hoạt động của con
người và mối liên hệ giữa các hoạt động này” (trang 8)29 Cả hai định nghĩa đều đề cập đến các hoạt động và mối quan hệ của các cá nhân và sự ảnh hưởng của các thể chế xã hội tới các hoạt động và mối quan hệ này Theo đó, các tác giả giải thích ảnh hưởng của thể chế xã hội đối với các hành động cá nhân trong các doanh nghiệp thông qua một số yếu tố như ngôn ngữ, quy tắc chung,…
Scott (1995) đưa ra khái niệm “thể chế” chi tiết và bao quát hơn Cụ thể, “thể chế là các
cấu trúc xã hội đã đạt được mức độ phát triển cao điển hình như các yếu tố văn hoá nhận thức, quy chuẩn, các hoạt động liên quan và các nguồn lực,… Những yếu tố này mang lại sự
ổn định, đảm bảo và ý nghĩa cho xã hội Các thể chế được lưu truyền bởi nhiều phương thức khác nhau, bao gồm các hệ thống biểu tượng, hệ thống quan hệ, thói quen, và các văn bản Các thể chế hoạt động ở các cấp thẩm quyền khác nhau, từ thế giới đến các mối quan hệ giữa các cá nhân trong nước” (trang 33) Theo quan niệm này, thể chế là các cấu trúc xã hội, các
mô hình quản lý lâu dài, ổn định nhưng dễ bị thay đổi và hoạt động khi triển khai từ cấp độ vĩ
mô đến cấp vi mô Thể chế cũng là một đặc điểm để phân biệt các doanh nghiệp vì các doanh nghiệp khác nhau có các thể chế khác nhau
1.2 Thể chế chính thức và phi chính thức
Như đã trình bày ở trên, thể chế là những quy tắc hoặc những ràng buộc do con người tạo ra nhằm tạo cơ chế khuyến khích sự trao đổi, phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Các ràng
27
A structure in which powerful people are committed to some value or interest
28
“Depart[ing] from the pattern are counteracted in a regulated fashion, by repetitively activated, socially constructed, controlsthat is by some set of rewards and sanctions”
29
“the shared takenforgranted assumptions which identify categories of human actors and their appropriate activities and relationships”
Trang 3buộc thể chế bao gồm những điều các cá nhân được phép, không được phép hoặc nên làm Theo cách này, thể chế là khung chuẩn mực mà con người phải tuân theo khi tương tác với nhau Phân biệt rõ ràng các loại hình thể chế (loại hình quy tắc) cho phép các doanh nghiệp dễ dàng phân tích và áp dụng phù hợp từng loại thể chế vào doanh nghiệp mình
Theo North (1990), thể chế được chia thành 2 loại, bao gồm thể chế chính thức và thể
chế phi chính thức (Formal and Informal Institutions) Thể chế chính thức là chính sách bằng
văn bản, luật pháp và các quy định được cơ quan quyền lực nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Chúng cũng bao gồm các quy tắc trong các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị,
xã hội,… (North, 2005) Trong đó, quy tắc có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, ví dụ như quy tắc chính trị có khả năng tác động tới các quy tắc kinh tế và ngược lại Bên cạnh đó, các
thể chế chính thức thể hiện sự phân cấp rõ rệt: “từ hiến pháp, luật lệ và luật pháp thông
thường, các luật lệ cụ thể, và cuối cùng là các hợp đồng cá nhân” (North, 1990)30
Thể chế phi chính thức là các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức và các hiệp ước, công
ước được kí kết tự nguyện Mặc dù không được ban hành chinhs thức, tuy nhiên các quy tắc này được xã hội thừa nhận, tạo thành chuẩn mực văn hóa chung của một doanh nghiệp hoặc quốc gia Thể chế phi chính thức cũng là một nguồn quan trọng trong xây dựng thể chế chính thức Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng, kết hợp song song với thể chế chính chức nhằm thực hiện các chức năng quản lý Các thể chế phi chính thức tồn tại để điều phối các hoạt động có tính lặp lại của con người, cụ thể như: mở rộng, xây dựng và sửa đổi các quy tắc chính thức; các hành vi sai trái; và các tiêu chuẩn phải tuân theo
Về cơ bản, thể chế chính thức và phi chính thức đều có vai trò quan trọng trong quản lý, kiểm soát và định hướng các hành động của con người Trong đó đặc biệt nhấn mạnh rằng, 2 loại thể chế có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Các thể chế không chính thức đôi khi là kết quả của các thể chế chính thức và ngược lại Dưới đây trình bày về mối quan hệ của các loại thể chế; có thể bổ sung và tăng hiệu quả của các thể chế không chính thức:
Tạo ra một nhóm các tổ chức
Thiết lập hệ thống các quyền và đặc quyền
Cung cấp một cấu trúc mối quan hệ trao đổi ổn định trong cả hai thị trường kinh tế
và chính trị
Phát triển hệ thống quản lý căn bản của quốc gia với một loạt các cơ chế thực thi và bảo đảm thực thi pháp luật
Xúc tiến triển khai, đảm bảo thực thi các cơ chế, quy tắc trên thực thế
30
“from constitutions, to statute and common laws, to specific bylaws, and finally to individual contracts”
Trang 4Một cách khái quát, bản chất của thể chế thể hiện ở một số điểm quan trọng sau đây:
Các thể chế có thể là chính thức hoặc phi chính thức;
Nghiên cứu về các thể chế có phạm nghi nghiên cứu rộng hơn các nghiên cứu khoa học xã hội;
Các thể chế cung cấp cơ sở quản lý, kiểm soát hệ thống kinh tế xã hội;
Các thể chế hạn chế và tạo động cơ khuyến khích cho các hoạt động kinh tế;
Các thể chế duy trì các mối quan hệ giữa con người thông qua các tieue chuẩn hành động chung;
Các thể chế có thể là hữu hình hoặc vô hình (được thể hiện dưới dạng văn bản hay truyền miệng,
2 QUAN ĐIỂM ĐẦU TIÊN VỀ THỂ CHẾ
Lý thuyết thể chế đầu tiên (Old institutional theory or old institutionalisme) xuất hiện ở Đức và Áo vào cuối thế kỷ XX trong các cuộc tranh luận về việc sử dụng phương pháp khoa học của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội Menger (1883/1963) nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động phát triển hệ thống quy tắc chung cho nền kinh tế toàn cầu, trong đó lý thuyết thể chế là hiện tượng xã hội quan trọng cần được nghiên cứu và phát triển Các thể chế xã hội
là động lực phát triển xã hội Vào cuối những năm XIX và đầu thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm các mô hình thể chế kinh tế khác nhau Veblen (1919) cho rằng, toàn bộ nền kinh tế nói chung và mọi hành vi cá nhân nói riêng đều có thể được điều chỉnh
bởi các quy tắc, thể chế Tác giả định nghĩa thể chế là “các thói quen, các tục lệ chung được
xã hội chấp nhận31” (Veblen, 1919, trang 239) Tư tưởng cơ bản của trường phái thể chế là đề cao vai trò của các thể chế xã hội trong sự phát triển kinh tế Quan điểm đầu tiên về thể chế không thừa nhận tác động của các quy luật kinh tế khách quan, không phân tích sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà chỉ phân tích sự tiến hóa của tư liệu sản xuất Thuyết thể chế kinh tế ban đầu không phải là một lý thuyết được xác định cụ thể, đó một tập hợp các định hướng, nhận định, kết luận của các học giả Nhưng về cơ bản, đều có các đặc điểm sau (Hodgson, 2006):
(1) Mặc dù được các học giả nghiên cứu khá kỹ lưỡng tuy nhiên chưa có một định nghĩa thể chế thống nhất nào được lựa chọn sử dụng chính thức
(2)Các thể chế là những yếu tố chính của mọi nền kinh tế, do đó nhiệm vụ chính của các nhà kinh tế là nghiên cứu các thể chế và các quá trình duy trì, đổi mới và thay đổi thể chế
31
“settled habits of thought common to the generality of man”
Trang 5(3) Nền thể chế kinh tế là một hệ thống mở và đang phát triển, nằm trong một môi trường tự nhiên bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về công nghệ, và được gắn vào một tập các mối quan hệ xã hội, văn hoá,
Các khái niệm thể chế kinh tế ban đầu khác với các lý thuyết kinh tế học truyền thống Trong lý thuyết thể chế kinh tế ban đầu không chỉ nhấn mạnh đến hành vi của con người, mà còn xác định rõ ràng các định mức, giá trị của các quy tắc Lý thuyết này tập trung chủ yếu đến các thể chế hình thành nên “hành động” và “tư tưởng” của các cá nhân
2.1 Mô hình thể chế của Selznick
Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm về thể chế, Selznick (1948) định nghĩa thể chế là
“một hệ thống các hoạt động phối hợp có ý thức hoặc mối quan hệ của hai hoặc nhiều người”
(trang 25)32 Theo cách định nghĩa này, thể chế đại diện cho một cấu trúc xã hội, thể chế được xây dựng và triển khai trên thực tế nhằm phục vụ cho quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức Một thể chế có thể được xem xét, phân tích từ hai góc độ: (1) trong nền kinh tế, thể chế là một
hệ thống các mối quan hệ cung cấp nguồn lực, và (2) thể chế là cấu trúc xã hội, trong đó các cá nhân và cá nhân này tác động đến các hệ thống thể chế chính thức (Selznick, 1948)
Ngay từ đầu, Selznick (1948) đã phân biệt các thể chế là “sự biểu hiện cấu trúc của
hành động hợp lý the structural expression of rational action” (trang 25) được thiết kế để
đạt được các mục tiêu của tổ chức Sự phân biệt của Selznick tập trung vào khả năng quản trị
và sức mạnh nội tại của các doanh nghiệp Selznick (1957) giải thích: “Thể chế hoá là một
quá trình Quá trình này phát triển theo thời gian, phản ánh đặc điểm phát triển riêng biệt của tổ chức, những thành viên của tổ chức, các mục đích hướng tới, và cách tổ chức thích nghi với môi trường Thể chế hoálà quá trình truyền tải các giá trị vượt trội của các hoạt động đang diễn ra trong tổ chức” (trang 1617)33
Selznick (1957) thừa nhận sự khác biệt giữa khái niệm “tổ chức” và “thể chế” Theo đó,
“một tổ chức được thể chế hóa có xu hướng phát triển một năng lực vượt trội hoặc phát triển
đồng thời các khả năng”34 Ngoài xem thể chế hóa như một quá trình, Selznick (1957) cũng xem thể chế hóa là một biến, trong đó các tổ chức với mục tiêu được xác định chính xác và công nghệ phát triển tốt phụ thuộc vào thể chế hóa hơn các tổ chức có công nghệ lạc hậu và chưa có mục tiêu, hướng đi cụ thể Cách tiếp cận của Selznick mô tả quá trình thể chế hóa là
32
“a system of consciously coordinated activities or forces of two or more persons”
33
“Institutionalization is a process It is something that happens to an organization over time, reflecting the organization's own distinctive history, the people who have been in it, the groups it embodies and the vested interests they have created, and the way it has adapted to its environment In what is perhaps its most significant meaning, “to institutionalize” is to infuse with value beyond the technical requirements of the task at hand”
34
“As an organization is “institutionalized”, it tends to take on a special character and achieve a distinctive competence or, perhaps, a trained or builtin capacity”
Trang 6một “lịch sử tự nhiên” của tổ chức Theo thời gian, một tổ chức thiết lập các quy tắc, tiêu
chuẩn nhằm phát triển các cấu trúc, khả năng hoạt động “Học chế Selznick có xu hướng tạo
ra quan điểm: các tổ chức không phải là những sinh vật có lý trí mà là phương tiện để thể hiện giá trị” (Perrow, 1986, trang 159)35
Ngoài ra, dựa trên công thức của Selznick (1948), Stinchcombe (1968) đã xây dựng một
mô hình nhằm làm rõ hơn vai trò của quyền lực thể chế trong tổ chức Stinchcombe (1968)
định nghĩa một tổ chức là “một cấu trúc trong đó những người quyền lực có cam kết phải đem
với một số giá trị hoặc lợi ích cho tổ chức” (trang 107)36 Tác giả nhấn mạnh rằng các giá trị
và lợi ích chỉ được bảo vệ nếu những người giữ quyền lực thực hiện tốt trách nhiệm của mình Stinchcombe (1968) cố gắng xác định cách thức sửa dụng quyền lực của người nắm quyền
Theo đó, “bằng cách lựa chọn, xã hội hóa, kiểm soát các điều kiện về chức vụ, những thế hệ
sau của những người có quyền lực có khuynh hướng tái tạo cùng một thể chế”37
(Stinchcombe, 1968, trang 111)
2.2 Quan điểm thể chế của Parson
Tương tự, trong lý thuyết thể chế ban đầu, Parsons (1956) sử dụng các khái niệm về quy tắc, hợp đồng, và quyền hợp nhất các tổ chức trong nghiên cứu về thể chế tổ chức Parsons
(1956) định nghĩa tổ chức là “một hệ thống xã hội hướng tới thành công của một đối tượng cụ
thể và đóng góp cho sự phát triển của đối tượng đó mà điển hình là xã hội” (trang 63)38 Điều đó có nghĩa tổ chức là một nhóm người có chung một mục tiêu, đồng thời cũng đóng góp cho sự phát triển của toàn bộ xã hội Trong góc độ tiếp cận này này, các tổ chức bao gồm: chính phủ, các tập đoàn, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, hợp tác xã, các trường đại học, các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức từ thiện, và các lực lượng vũ trang Tác giả cho rằng, các tổ chức có khuynh hướng đánh giá tổ chức qua 3 tiêu chí, bao gồm: (i) kỹ thuật sản xuất; (ii) khả năng quản lý, kiểm soát và điều phối các nguồn lực và xử lý các tình huống;
và (iii) thể chế, liên quan đến việc liên kết tổ chức với các định mức và công ước của cộng
đồng và xã hội Mỗi tổ chức là một tập con của “một hệ thống xã hội rộng lớn hơn, là nguồn
gốc của ý nghĩa, sự hợp pháp của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức”39 (Parsons 1960, trang 6364)
35
Selznick's institutional school tends to produce an “exposé'' view of organizations: Organizations are not the rational creatures they pretend to be, but are vehicles for embodying (sometimes surreptitious) values
36
“a structure in which powerful people are committed to some value or interest”
37
“By selection, socialization, controlling conditions of incumbency, and hero worship, succeeding generations of powerholders tend to regenerate the same institutions”
38
“a social system oriented to the attainment of a relatively specific type of goal, which contributes to a major function of a more comprehensive system, usually the society”
39
A wider social system which is the source of the meaning, legitimation, or higherlevel support which makes the implementation of the organization's goals possible
Trang 7Cũng trong phân tích về thể chế và các tổ chức, Parsons (1956) đề cập và phân tích “văn hóa thể chế” bằng cách kiểm tra mối quan hệ giữa một tổ chức và môi trường xung quanh trong các bối cảnh khác nhau Trong phần lớn các bài viết của mình, tác giả Parsons nhấn mạnh đến tính khách quan của các thể chế trong tổ chức Theo Parsons (1934/1990), tính khách quan của hệ thống chế định xác định mối quan hệ giữa các cá nhân Parsons cho rằng các quy tắc trong thể chế cho phép các tổ chức đảm bảo sự tồn tại và phát triển Một điều đáng chú ý, trong các nghiên cứu của mình Parsons chỉ tập trung vào thể chế hoá ở cấp độ cá nhân, trong đó xuất phát từ quan niệm của một người hoặc một nhóm người để hình thành hệ thống quy tắc
2.3 Quan điểm hành vi
March và Simon (1958) phát triển các lý thuyết liên quan đến cách thức định hình hành vi
cá nhân (Carnegie School) của các tổ chức thông qua “các chương trình hiệu suất Performance programs” và các cách thức giải quyết các vấn đề Theo March và Simon (1958), trong nhiều
trường hợp, “quá trình tìm kiếm và lựa chọn đã được rút gọn Hầu hết hành vi, đặc biệt là
hành vi trong các tổ chức được điều chỉnh, kiểm soát bởi các thói quen”40 (trang 141142) Thói quen định hướng hoạt động các cá nhân chỉ theo một khuôn khổ nhất định Các thói quen như vậy làm giảm mức độ quyết đoán của các cá nhân khi thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức Các yếu tố như khả năng nhận thức, quy tắc và thói quen tác động trực tiếp tới khả năng
hành động hợp lý của các cá nhân Và tập hợp “các cá nhân có các hành động hợp lý là và phải
là một cá thể trong tổ chức có thể chế”41 (Simon, 1947, trang 102) Những luận cứ của March
và Simon mặc dù được đưa ra từ rất lâu, tuy nhiên, các nhận định của 2 học giả này về quan điểm hành vi vẫn nằm trong số những lý thuyết rõ ràng nhất về các đặc điểm, tính năng và các chức năng vi mô của các loại hình thể chế (Powell và DiMaggio, 1991, trang 1526)
2.4 Quan điểm nhận thức
Nền tảng của quan điểm nhận thức (Cognitive Theory) là các kiến thức thuộc lĩnh vực tâm lý học nhận thức (cognitive psychology) Trong những năm 1940 và 1950, Lý thuyết nhận thức (SR) (stimulusresponse) bắt đầu được điều chỉnh để phù hợp với quá trình vận động liên tục của một tổ chức (SOR) (Lewin, 1951) Nguyên nhân là do, từ lâu, các nhà tâm
lý học đã gặp khó khăn trong khi nghiên cứu các chủ đề liên quan đến các cá nhân những người có nhận thức, lý trí, quan điểm và những hạn chế về nhận thức Lý thuyết nhận thức đã chỉ ra và phân tích các thiếu sót trong nhận thức của các cá nhân và coi đây là các cơ sở cho phép các nhà quản lý tổ chức quản lý và đưa ra các quyết định hiệu quả
40
“Search and choice processes are very much abridged Most behavior, and particularly most behavior
in organizations, is governed by performance programs”
41
“the rational individual is, and must be, an organized and institutionalized individual”
Trang 8Tuy nhiên, một số nhược điểm trong nhận thức có thể gây ra những sai lầm trong việc đánh giá thông tin quản lý Nisbett và Ross (1980) đưa ra 2 xu hướng lỗi nhận thức thường
gặp, bao gồm: “(1) xu hướng không áp dụng các quy tắc logic; các phương pháp phân tích
khoa học và (2) Xu hướng độc tài, bỏ qua những yếu tố khác quan trong việc ra quyết định”42
(trang 31) Các quan điểm trên đã làm sang tỏ những hạn chế về nhận thức của các cá nhân Theo đó, để có thể giải thích và hiểu rõ thế giới, các cá nhân cần tích cực nâng cao khả năng nhận thức
Gần đây, các nhà xã hội học lại có khuynh hướng nghiên cứu tập trung tới yếu tố cấu trúc tổ chức, đồng thờim các cá nhân chỉ hoạt động một cách thụ động theo các yêu cầu của
hệ thống xã hội Sự ra đời của “Lý thuyết về nhận dạng” đã khắc phục các nhược điểm cho quan điểm này Lý thuyết chỉ ra mối quan hệ giữa đặc điểm, tính cách, sự vận động các cá nhân tới khả năng tạo ra, duy trì và thay đổi các cấu trúc xã hội Tính cách cá nhân được hình thành một phần thông qua các tương tác của cá nhân trong xã hội
3 QUAN ĐIỂM MỚI VỀ THỂ CHẾ
Quan điểm mới về thể chế (New or neoinstitutional theory or new institutionalisme) được xây dựng dựa trên ba nghiên cứu chính, bao gồm: John Meyer và Brian Rowan (1977), DiMaggio và Powell (1982); và của Zucker (1977) Tuy nhiên, giữa 3 quan điểm này tồn tại một số mâu thuẫn nhất định Trong khi hai nghiên cứu đầu tiên coi môi trường của một tổ chức là nguồn cho các thể chế, thì Zucker coi chính thể chế là một nguồn thúc đẩy sự phát triển của tổ chức
Bên cạnh đó, quan điểm mới về thể chế cũng được xây dựng dựa trên thuyết “Kỹ thuật quyết định” của Veblen và trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển Tiếp sau đó, đến năm 1970, Meyer và Rowan (1977) và Zucker (1977) đưa ra cách tiếp cận mới về quan niệm này, trong đó nhấn mạnh tới vai trò của văn hoá và nhận thức trong
phân tích thể chế Meyer và Rowan (1977) chỉ ra rằng “thể chế là kết quả kết hợp hợp pháp
các hoạt động của các tổ chức, góp phần bảo đảm nguồn lực, sự ổn định và nâng cao khả năng tồn tại của tổ chức”43 (trang 340) Tiếp sau đó, tới năm 1991, Powell và DiMaggio
(1991) đưa ra các nhận định về “chủ nghĩa thể chế mới” (New institutionalism) Nghiên cứu
của Powell và DiMaggio (1991) gần như bác bỏ toàn bộ các mô hình và cách diễn giải của quan điểm thể chế cổ điển Thay vào đó, quan điểm thể chế mới tập trung vào khả năng nhận thức, cũng như tác động của nhận thức cá nhân tới sự thay đổi thể chế trong tổ chức, xã hội
42
“(1) a tendency to overuse simplistic strategies and to fail to employ the logical and statistical rules that guide scientific analysis and (2) a “tendency to attribute behavior exclusively to the actor's dispositions and to ignore powerful situational determinants of the behavior”
43
“institutional rules function as myths which organizations incorporate, gaining legitimacy, resources, stability, and enhanced survival prospects” (p 340)
Trang 9Khái quát lại, lý thuyết thể chế mới chỉ ra rằng các doanh nghiệp có khuynh hướng đạt được sự ổn định và đồng nhất cao sau khi áp dụng thực hiện các thể chế Chính điều này đã cho phép các doanh nghiệp đảm bảo được sự duy trì và ổn định phát triển (Powell và DiMaggio, 1991)
3.1 Sự khác nhau giữa quan điểm đầu và quan điểm mới về thể chế
Xét trên nhiều khía cạnh, quan điểm thể chế mới có khá nhiều điểm tương đồng với quan điểm thể chế cũ Theo Powell và DiMaggio (1991, trang 12), cả hai cách tiếp cận đều tập trung nghiên cứu thể chế thông qua các mô hình tổ chức, đồng thời cũng tập trung vào mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân với môi trường hoạt động của họ Bên cạnh đó, 2 quan điểm cũng đã nêu ra và phân tích các khía cạnh còn hạn chế trong thể chế của các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò định hình thể chế tổ chức của yếu tố văn hóa
Bên cạnh các điểm tương đồng, quan điểm đầu và quan điểm mới về thể chế cũng có những điểm khác biệt được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:
Bảng 2: Sự khác nhau giữa quan điểm đầu và quan điểm mới về thể chế
Nguồn của sự thay đổi Theo sở thích Bắt buộc về tính chính xác Cấu trúc Cấu trúc phi chính chức Cấu trúc chính thức
Tổ chức tham gia Cộng đồng địa phương Lĩnh vực, ngành hoặc xã hội Bản chất của sự gắn kết Sự hợp tác thực hiện Cùng xây dựng
Cơ sở của phê bình Lý thuyết nhận thức Lý thuyết hành động
Bằng chứng phê bình Không có tiêu chuẩn Có tiêu chuẩn
Hình thức nhận thức Giá trị, quy tắc, thái độ Phân loại, thói quen, tình huống
Lý thuyết tâm lý xã hội ứng dụng Lý thuyết xã hội hóa Lý thuyết phân bổ
Cơ sở nhận thức hoặc mục tiêu
đặt hàng
Cam kết Thói quen, hành động thực tế
Những điều cần phải thực hiện Chính sách Kỷ luật
Nguồn: Powell và DiMaggio (1991, trang 12)
Trang 10Chủ nghĩa thể chế mới xem xét tính hợp pháp của thể chế là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển Trong khi theo quan điểm thể chế cũ, sự ổn định của một doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào khía cạnh chính trị, các xung đột lợi ích nhóm (Powell và DiMaggio, 1991)
3.2 Ba cơ chế thay đổi đồng hình theo thể chế
Thay đổi là quá trình phát triển, thay đổi đối liên tục nhằm xây dựng và hoàn hiện hệ thống cấu trúc và quy trình phù hợp, góp phần đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp Xét ở góc độ rộng hơn, có thể coi thay đổi chính là quá trình hội tụ đồng hình theo thể chế Vì vậy, quá trình thay đổi trong lý thuyết tổ chức thể chế mới bắt nguồn từ hai nguồn gốc: đồng
hình hoặc không không hồng hình “Thay đổi tổ chức có thể là kết quả của quá trình đồng
nhất các tổ chức chứ không nhất thiết là khiến tổ chức hoạt động hiệu quả hơn”44 và “đồng
nhất hóa xuất hiện trong nội tại các lĩnh vực tổ chức”45 (DiMaggio và Powell, 1983) Sự thay đổi đồng hình được nghiên cứu trong các giả định cơ bản của lý thuyết thể chế (DiMaggio và Powell, 1983) DiMaggio và Powell (1983) xác định ba cơ chế thay đổi đồng hình theo thể chế (Three Mechanisms of Institutional Isomorphic Change), gồm (i) đồng hình cưỡng ép (coercive), đồng hình mô phỏng (mimetic) và đồng hình theo quy chuẩn (normative isomorphism) Đồng hình cưỡng ép bắt nguồn từ các ảnh hưởng chính trị, đồng hình mô phỏng nhằm đáp ứng theo các tiêu chuẩn có sẵn, và đồng hình theo quy chuẩn được là kết quả của quá trình chuyên nghiệp hoá DiMaggio và Powell (1983) coi chủ nghĩa thể chế mới là lời giải thích cho sự thành công của doanh nghiệp Ba cơ chế thay đổi đồng hình theo thể chế sẽ được mô tả trong các phần sau:
3.2.1 Thay đổi đồng hình cưỡng ép
Thay đổi đồng hình cưỡng ép (Coercive isomorphism) phát sinh từ những tiêu chuẩn, quy tắc chính thức và không chính thức do chính quyền nhà nước đặt ra (DiMaggio và Powell, 1983) Nhà nước là của chủ thể phát sinh chính của đồng hình cưỡng ép Cụ thể, nhà nước xây dựng và ban hành các bộ luật, quy tắc, nhằm đảm bảo sự phát triển và ổn định của đất nước, tuy nhiên, các quy định này buộc mọi doanh nghiệp phải thay đổi hoạt động theo một khuôn khổ, đường lối nhất định
Đa phần các quy định, nguyên tắc đều định hướng các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, nhưng trong một số trường hợp cũng tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DiMaggio và Powell, 1983) Không chỉ xuất phát từ phía nhà nước, đồng hình cưỡng
ép còn là kết quả của các áp lực chính thức và phi chính thức từ các doanh nghiệp khác, hoặc
44
“organizational change occurs as the result as of processes that make organizations more similar without necessarily making them more efficient”
45
“homogenization emerges…out of the structuration of organizational fields”