NHỮNG PHÁT MINH KHOA HỌC Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khoa học và kĩ thuật thế kí XIX đã có nhiều bước tiến vượt bậc.. Dmitri Ivanovich Mendeleiev 1834 – 1907 là mộ
Trang 1NHỮNG PHÁT MINH KHOA HỌC VÀ TIẾN BỘ KĨ THUẬT
1 NHỮNG PHÁT MINH KHOA HỌC
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khoa học và kĩ thuật thế
kí XIX đã có nhiều bước tiến vượt bậc.
1.1 Sinh học
Công trình khoa học nổi bật của thế kỉ XIX là học thuyết về sinh học của
Charles Darwin Charles Darwin ( 1809 – 1882)
là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự
nhiên học người Anh Ông là người đã phát hiện
và chứng minh rằng “Mọi loài đều tiến hoá theo
thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình
chọn lọc tự nhiên” Nội dung cơ bản của học
thuyết Darwin là quy luật tự nhiên cạnh tranh để
sinh tồn và khả năng sinh tồn của mỗi giống
loài,kể cả con người Tất cả các giống loài đều
trải qua quá trình tiến hoá để thích nghi với điều
kiện tồn tại, nếu không sẽ chịu sự đào thải của tự
nhiên
Lý thuyết chọn lọc của ông trong những năm 1930 được xem nhưlời giải thích chính yếu cho quá trình tiến hoá và ngày nay đã trở thành nềntảng cho lý thuyết tiến hoá hiện đại Khám phá của Darwin là lý thuyết đồngnhất cho các ngành khoa học sinh vật vì có thể đưa ra lời giải thích duy lý cho
sự đa dạng loài
Cuốn sách “Nguồn gốc muôn loài” (On the Origin of Species, 1959) đã
gây ra một cuộc cách mạng trong ngành sinh học có ảnh hưởng sang lĩnh vựckhoa học xã hội Cuốn sách nói rằng tiến hoá qua các thế hệ là do biến dị vàđiều này cung cấp lời giải thích khoa học cho sự đa dạng trong tự nhiên Ôngkiểm định sự tiến hoá của loài người và chọn lọc giới tính trong các cuốn
“Dòng dõi Con người” (The Descent of Man), “Quá trình Chọn lọc Liên quan đến Giới tính” (Selection in Relation to Sex), sau đó là “Biểu lộ Cảm xúc ở Con người và Loài vật” ( The Expression of Emotions in Man and Animals).
Charles Darwin
Trang 2Gregor Johann Mendel
Louis Pasteur
Theo sau Darwin là Mendel Gregor Johann
Mendel (1822 – 1884) là một nhà khoa học, một
linh mục Công giáo người Áo thuộc dòng
Augustine Ông được coi là “cha đẻ của di truyền
hiện đại” vì những nghiên cứu của ông về đặc điểm
di truyền ở đậu Hà Lan Mendel chỉ ra đặc tính di
truyêng theo những quy luật nhất định, ngày nay
chúng ta gọi là Quy luật Mendel
Nội dung quy luật của ông rất đơn giản, tuy
nhiên khi ông còn sống, ý nghĩa và tầm quan trọng
trong các công trình nghiên cứu của ông không
được công nhận, người ta cũng không quan tâm đến
các nghiên cứu của ông Đến tận thế kỉ XX, các kết luận của ông mới đượccông nhận Khi đó, ông được tôn vinh như là một khoa học thiên tài, một danhhiệu mà ông xứng đáng được nhận từ lúc sinh thời Ngày nay người ta vẫn xemnăm 1866 là mốc đánh dấu cho sự ra đời của Di truyền học và Mendel là cha
đẻ của ngành này
Ngành Y học có nhiều phát hiện quan trọng, tiêu biểu là vắc xin chống bệnh dại của Louis Pasteur Louis Pasteur (1822 – 1895), nhà hoá học, nhà vi
sinh học người Pháp, được gọi là “cha đẻ của ví sinh vật học”.
Trong trường hợp bệnh dại, tác nhân gây bệnh
là virus, những vi sinh vật này quá nhỏ nên không thể
thấy được dưới kính hiển vi quang học thời bấy giờ
Pasteur đã dành 5 năm từ 1880 đến 1885 để nghiên
cứu căn bệnh này Xuất phát từ thực tế là bệnh dại tác
động đến hệ thần kinh, Pasteur dự đoán rằng tác nhân
gây bệnh phải nằm trong não hoặc tuỷ sống của
những người mắc bệnh Khi lấy bệnh phẩm thần kinh
của những động vật mắc bệnh dại như chó, thỏ,…
tiêm vào các cá thể khoẻ mạnh, ông đã gây được biểu
hiện bệnh dại ở các cá thể này Pasteur dùng tuỷ sống
của thỏ mắc bệnh dại để lấy virus dại và nuôi virus này
qua nhiều thế hệ khác nhau Virus thu được đã giảm
Trang 3bệnh do đã giảm độc lực nhưng vẫn có thể còn giữ được tính kháng nguyên cóthể kích thích hệ miễn dịch sản xuất kháng thể chống lại bệnh
Vắc xin ngừa bệnh dại đầu tiên trên cơ sở virus giảm độc lực này đãđược Pasteur, sau nhiều đắn đo suy tính, sử dụng vào ngày 6/7/1885 ở một bétrai tên là Joseph Meister, người bị chó dại cắn trước đó Đây là một thànhcông vang dội của Pasteur cũng như nên y khoa thế giới
Kết quả công trình nghiên cứu về bệnh dại được Pasteur trình bày trướcViện Hàn Lâm Khoa học Pháp vào ngày 1/3/1886
Ngoài những thành công đã kể trên, các phát hiện mới và quan trọng
khác còn có phát hiện về vi trùng lao của Robert Koch (1843 – 1910), phương pháo giải phẫu vô trùng của Joseph Lister (1827 – 1912), thí nghiệm về những phản xạ có điều kiện của nhà sinh lí học người Nga Ivan Pavlov (1849
– 1936) đã nghiên cứu về hoạt động của hệ thần kinh cấp cao của động vật vàcon người …
I.2 Hoá học và Vật lý
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực Hoá học thuộc về nhà hoá
học người Nga Mendeleiev.
Dmitri Ivanovich Mendeleiev ( 1834 – 1907) là
một nhà hoá học và nhà phát minh người Nga.Ông đã trình bày Quy luật Tuần hoàn, tạo ra phiênbản bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học choriêng mình và sử dụng nó để sửa các thuộc tínhcủa một số nguyên tố đã được phát hiện và cũng
để dự đoán các tính chất của 8 nguyên tố chưađược phát hiện
Bảng tuần hoàn là một phương pháp liệt kê các
nguyên tố hoaá học thành bảng, dựa trên số hiệu nguyên tử ( số proton tronghạt nhân), cấu hình electron và các tính chất hoá học tuần hoàn của chúng Cácnguyên tố được biểu diễn theo trật tự số hiệu nguyên tử tăng dần, thường liệt
kê cùng với kí hiệu hoá học trong mỗi ô Dạng tiêu chuẩn của bảng gồm 18 cột
và 7 dòng, với 2 dòng kép nằm riêng bên dưới cùng
Trang 4Các hàng trong bảng được gọi là các chu kì, trong khi các cột gọi là cácnhóm, một số có tên riêng như halogen hoặc khí hiếm Bởi vì theo định nghĩamột bảng tuần hoàn thể hiện những hướng tuần hoàn, bất kì bảng dưới dạngnào cũng có thể dùng để suy ra mối quan hệ giữa các tính chất của nguyên tố
và tiên đoán tính chất của các nguyên tố mới, chưa được khám phá hoặc chưatổng hợp được Do đó, một bảng tuần hoàn, dù ở dạng tiêu chuẩn hay các biếnthể, cung cấp khuôn khổ hữu ích cho việc phân tích thuộc tính hoá học Cacbảng như vậy được sử dụng rộng rãi trong hoá học và các môn khoa học khác
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực Vật lý thuộc về ông bà Pierre
và Marie Curie, với việc tìm ra chất phóng xạ thiên nhiên, đặt cơ sở đầu tiên cho lí thuyết về hạt nhân.
Pierre Curie & Marie Curie
Pierre Curie (1859 – 1906) là một nhà vật lý người Pháp, còn Marie Curie (1867 – 1934) là một nhà vật lý và hoá học người Ba Lan – Pháp.
Sau khi tiến sĩ Antoine Henri Becquerel phát hiện ra urani có tính phóng
xạ, Marie và Pierre cùng nhau nghiên cứu các vật chất phóng xạ, đặc biệt làquặng urani uraninit, có tính chất kỳ lạ là phóng xạ hơn chất urani được chiết ra.Đến 1898 họ đã có giải thích hợp lý: uraninit có một chất phóng xạ hơn urani;ngày 26/12, Marie Curie tuyên bố sự hiện hữu của chất này
Sau nhiều năm nghiên cứu họ đã tinh chế vài tấn uraninit, ngày càng tập
Trang 5chloride) và hai nguyên tố mới, có tính phóng xạ mạnh hơn cả urani Pierre và
Marie quyết tìm ra nguyên tố ấy bằng cách phân tích khoáng vật pichblend (cóchứa uranium) Sau khi làm thí nghiệm nhiều lần, ngoài nguyên tố phóng xạ trêncòn có một nguyên tố nữa mà Marie phát hiện ra là polonium theo tên quê hương
của Marie (Pologne theo tiếng Pháp, Polska theo tiếng Ba Lan) và nguyên tố kia tên radi vì khả năng phóng xạ của nó (radiation).
Tuy nhiên, lúc đầu công bố, do lượng radi trong pichblend quá nhỏ nênPierre và Marie chưa thể lọc ra được, vì thế radi không được công nhận Sau lần
đó, Pierre và Marie quyết định lọc radi ra khỏi pichblend, và trong tám tấnpichblend thì chỉ có một gram radi nhỏ Vì thế nó rất đắt và quý
Vì phát hiện đặc biệt này, đến đầu thế kỉ XX ( năm 1903) hai vợ chồngCurie được nhận giải Nobel Vật lý cùng với Henri Becquerel cho các nghiên cứu
về bức xạ Tám năm sau, Marie Curie nhận giải Nobel hóa học trong năm
1911 cho việc khám phá ra hai nguyên tố hóa học radium và polonium Bà cố ýkhông lấy bằng sáng chế tiến trình tách radium, mà để các nhà nghiên cứu tự do
sử dụng nó
2 NHỮNG TIẾN BỘ KĨ THUẬT
Trang 6Khi nhắc đến thế kỉ XIX, những tiến bộ kĩ thuật đáng chú ý nhất chính là các phát minh về điện của các nhà phát minh lỗi lạc.
2.1. Mã Morse của Samuel Morse
Mã Morse hay mã Moóc-xơ là một loại mã hóa ký tự dùng để truyền cácthông tin điện báo được phát minh bởi
Samuel Morse Samuel Morse (1791 –
1872), tên đầy đủ là Samuel Finley
Breese Morse, người Mỹ, là một hoạ sĩ
và nhà phát minh tín hiệu vô tuyến
Mã Morse dùng một chuỗi đã
được chuẩn hóa gồm các phần tử dài và
ngắn để biểu diễn các chữ cái, chữ số,
dấu chấm, và các kí tự đặc biệt của một
thông điệp Các phần từ ngắn và dài có
thể được thể hiện bằng âm thanh, các
dấu hay gạch, hoặc các xung, hoặc các
kí hiệu tường được gọi là "chấm" và
"gạch" hay "dot" và "dash" trong tiếng
Anh Trong máy điện tín, cái chìa khóa
được đánh lên- đánh xuống, tạo nên
những tín hiệu bằng điện, những tín hiệu
điện này được gửi đi qua đường dây thép, và từ đó người nhân có thể chuyển ra
“Thư tín”
Vào ngày 6 tháng 1 năm 1838, hệ thống điện tín sử dụng mã hoá Morse
đã được công bố lần đầu tiên tại Morristown, New Jersey Đây là một thiết bị sửdụng xung điện để truyền tải tín hiệu liên lạc đã được mã hoá qua đường dâyđiện Qua mật mã Morse nội dung có thể gởi đi bằng nhiều dụng cụ khác nhau,chẳng hạn như khói lửa, đèn pin và máy điện tín
Mật mã Morse rất được thịnh hành vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19,đặc biệt đã gây ảnh hưởng rất lớn trong các cuộc chiến vào thời đó, như NộiChiến Mỹ Quốc, chiến tranh Nhật Bản và Liên Xô Đây là một thiết bị có ý nghĩaquan trọng trong chiến tranh Thông tin đã được truyền đi với tốc độ nhanh hơntrước, giúp cho những quyết định có thể đưa ra một cách chính xác và nhanh nhất
có thể
Trang 72.2 Điện thoại của Alexander Graham Bell
Từ sự phát minh ra bảng mã Morse, với một người ham mê và am hiểu
nó cùng niềm đam mê công việc dạy cho người khiếm thính, Alexander GrahamBell đã phát minh ra “máy điện báo âm thanh” và sau này đổi tên thành “điệnthoại”.Alexander Graham Bell (1847 – 1922) là nhà phát minh, nhà khoa học,
nhà cải cách người Scotland
Cấu tạo và cách sử dụng điện thoại
Chiếc điện thoại đầu tiên do Alexander Graham Bell chế tạo gồm mộtnam châm điện đôi có màng căng phía trước như mặt trống Giữa màng chắn làmột dây làm bằng sắt Có thêm một ống nghe hình như cái phễu tương tự nhưtrong các máy hát thời xưa Khi nói vào ống nghe, một chuỗi các rung động sẽđược tạo ra ở màng chắn, truyền tới dây sắt và tạo ra dòng điện dao động chạyqua dây dẫn Thiết bị nhận ở đầu dây bên kia là một đĩa kim loại được nối vớimột đường ống và một nam châm điện khác Các xung điện từ được truyền tới sẽlàm đĩa rung và tạo sóng âm tương ứng với những gì người gọi đã nói Alexander
đã gọi thiết bị của mình là “Máy điện báo âm thanh”
Ông đã phát minh ra điện thoại vì một sơ hở khi ông ta làm đổ axit lênđường dây điện thoại Ông đã gọi phụ tá của mình và hô to trên điện thoại là
“Ngài Watson, đến đây tôi cần ông” Ông Watson nghe được trên diện thoại và Watson hối hả chạy tới nói:"Có chuyện gì vậy, thưa ngài?" Alexander Graham
Bell nhận ra là thí nghiệm của ông đã thành công
2.3 Thomas Edison và bóng đèn điện
Trang 8Thomas Alva Edison (1847 – 1931) là một nhà phát minh và thương
nhân đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ
20 Ông được một nhà báo đặt danh hiệu "Thầy phù thủy ở Menlo Park", ông là
một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàngloạt vào quy trình sáng tạo, vì thế có thể coi là đã sáng tạo ra phòng nghiên cứucông nghiệp đầu tiên Một số phát minh được gán cho ông tuy ông không hoàntoàn là người đầu tiên có ý tưởng đó, nhưng sau khi bằng sáng chế đầu tiên được
thay đổi nó trở thành của ông (nổi tiếng nhất là bóng đèn), trên thực tế là công
việc của rất nhiều người bên trong công ty của ông
Tuy nhiên, Edison được coi là một trong những nhà phát minh giàu ýtưởng nhất trong lịch sử, ông giữ 1.093 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ dưới tên ông,cũng như các bằng sáng chế ở Anh Quốc,Pháp,và Đức (tổng cộng 1.500 bằngphát minh trên toàn thế giới)
Tháng 3 năm 1878 là đầu thời kì Edison bắt tay vào việc nghiên cứu đènđiện Vào thời bấy giờ người ta chỉ biết tới nguyên tắc của đèn hồ quang là loạiđèn được phát minh vào khoảng năm 1809 Khi đốt đèn hồ quang, người ta phảiluôn luôn thay thỏi than, ngoài đèn còn phát ra tiếng cháy sè sè và cho một sứcnóng quá cao, kèm theo một mùi khó chịu, không thích hợp với việc sử dụngtrong nhà Tới năm 1860, một loại đèn điện sơ sài ra đời tuy chưa thực dụngnhưng đã khiến cho người ta nghĩ tới khả năng của điện lực trong việc làm phátsáng Edison cũng cho rằng điện lực có thể cung cấp một thứ ánh sáng dịu hơn,
rẻ tiền hơn và an toàn hơn ánh sáng của đèn hồ quang của William Wallace.Edison đã tìm đọc tất cả các sách báo liên quan đến điện học Ông muốn thấu
Trang 9hiểu lý thuyết về điện lực có thể mang lại kiến thức cho mình vào các áp dụngthực tế.
Căn cứ từ đèn hồ quang của Wallace, Edison thấy rằng có thể có ánhsáng từ một vật cháy bằng chất đốt nóng Edison đã dùng nhiều vòng dây kimloại rất mảnh rồi cho dòng điện có cường độ lớn đi qua để những vòng dây đónóng đỏ lên, nhưng chỉ sau chốc lát, các vòng đó đều cháy thành than Vàotháng 4 năm 1879, Edison nảy ra 1 sáng kiến Ông tự hỏi cái gì sẽ xảy ra nếu sợidây kim loại được đặt trong 1 bóng thuỷ tinh không chứa không khí? Edisonliền cho goik Ludwig Boehm, một thợ thổi thuỷ tinh tại Philadelphia tới MenloPark và phụ trách việc thổi bóng đèn Việc rút không khí trong bóng đèn cũngđòi hỏi một máy bơm mạnh mà vào thời đó chỉ có tại trường đại học Princeton.Cuối cùng Edison cũng mang được chiếc máy bơm đó về Menlo Park
Edison thử cho 1 sợi kim loại rất mảnh vào trong bóng thuỷ tinh rồi rútkhông khí ra hết, khi nối dòng điện, ông có được thứ ánh sáng trắng hơn, thờigian cháy cũng lâu hơn nhưng chưa đủ Ngày 12/04/1879, để bảo vệ phát minhcủa mình, Edison xin bằng sáng chế về bóng đèn cháy trong chân không mặc dùông biết rằng loại đèn này chưa được hoàn hảo vì ông chưa tìm ra được thứ gìdùng làm tóc trong bóng đèn Edison đã dùng sợi Platine nhưng thứ này quá đắtlại làm tốn điện nhiều hơn là cho ánh sáng hữu ích Edison đã thử với nhiều thứkim loại hiếm, chẳng hạn như Rhodium, Ruthenium, Titan, Zirconium vàBaryum nhưng tất cả những chất đó chưa cho kết quả khả quan
Ngày 19/10/1879, nhà phát minh chợt nghĩ tại sao không dùng một sợithan rất mảnh Khi nối dòng điện, đèn cháy sáng, phát ra một thứ ánh sángkhông đổi Chiếc đèn điện đầu tiên của Thomas Edison đã cháy liền trong hơn
40 giờ đồng hồ Lúc đó, Edison mới tăng điện thế lên khiến cho sợi dây cháysáng gấp bội rồi đứt hẳn
Tóm lại, Thomas Edison đã "thất bại" đến hơn 10.000 lần thử nghiệm đểphát minh ra bóng đèn Bóng đèn sợi đốt ngày nay rất giống với bản gốc củaEdison Sự khác biệt chính là việc sử dụng các sợi vonfram, khí khác nhau nêncho hiệu quả cao hơn và tăng độ sáng nhiều hơn
2.4 Luyện kim và máy móc
Nhờ ứng dụng những thành tựu mới, sản lượng công nghiệp tăng lênnhanh chóng.Kĩ thuật luyện kim được cải tiến với việc sử dụng lò Bét-xme và lòMác-tanh đã đẩy nhanh quá trình sản xuất thép Nhờ đó, thép được sử dụng phổbiến trong sản xuất như chế tạo máy, làm đường ray, đóng tàu và xây dựng.Ngành luyện kim phát triển đã thúc đẩy việc khai thác than
Trang 10Lò Bessemer Lò Martin
Thế kỷ XIX được mệnh danh là thế kỷ của máy móc, sắt và động cơ hơi nước Máy móc ra đời là cơ sở vật chất, kỹ thuật của sự chuyển biến từ công trường thủ công đến công nghiệp máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản lên giai đoạnphát triển công nghiệp
Việc phát minh ra máy hơi nước đã làm cho giao thông liên lạc có
Trang 11- 1807: Fulton đã thiết kế tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước.
Tàu thủy chạy bằng hơi nước
- 1814: Stepheson chế tạo ra đầu máy xe lửa cải tiến kéo được 8 toa và chạy 6 km/h Năm 1825 ở Anh khánh thành đường xe lửa đầu tiên Từ đó,
xe lửa có một công dụng đáng kể trong lĩnh vực công nghiệp và giao thông
Việc sử dụng rộng rãi năng lượng điện đòi hỏi những động cơ hoàn chỉnh hơn để giúp các nhà máy phát điện hoạt động Do vậy, trong những năm
80 của thế kỉ XIX, những sáng chế máy tuốc bin phát điện chạy bằng sức hơi nước và tuốc bin phát điện cùng việc chuyển tải điện đi xa tạo điều kiện rất quan trọng để nâng cao năng suất lao động vượt bậc và mở rộng hơn nữa quy
mô sản xuất, cung cấp nguồn điện năng mạnh mẽ và rẻ tiền
Tiếp đó, những phát hiện về mỏ dầu lửa ở Mỹ và Nga đem lại cho loài
người một nguồn nhiên liệu mới cho nghành giao thông vận tải mà trước đó con người phải dùng than Song hành với đó, khí đốt và gas đã được người Anh và Pháp đưa vào phục vụ cuộc sống Năm 1897 một kĩ sư người Đức là Rudolf Diesel đã chế ra một loại động cơ đốt
trong không cần bugi, sử dụng dầu cặn nhẹ Động cơ Diesel chính là mang tên ông
Rudolf Christian Karl Diesel (1858 – 1913) là một nhà phát minh, một kĩ sư chế tạo máy ngườiĐức Nhờ phát hiện đó mà xe ô tô đã được phát minh
Trang 12
Bức ảnh kỷ niệm Bertha Benz (vợ của Karl Benz) bên cạnh chiếc xe Benz Patent Motorwagen
1888 Bà cũng chính là người phụ nữ đầu tiên lái ô tô đương đại chạy 106km mà không có sự giam
sát và hướng dẫn trực tiếp của Karl Benz
Tất cả sau những tiến bộ kỹ thuật trên, sản lượng các ngành công nghiệp tăng lên nhanh chóng So sánh trong những khoảng thời gian 1870-
1900, có thể thấy mức sản xuất thép từ 250 ngàn tấn lên 28.6 triệu tấn, dầu lửa
Trang 13khai thác từ 0.8 triệu tấn lên 20 triệu tấn, chiều dài đường sắt tăng lên gấp 4 lần.
1 HỌC THUYẾT VỀ QUYỀN TỰ DO CÁ NHÂN VÀ QUỐC GIA DÂN TỘC
1.1 CHỦ NGHĨA T Ự DO CÁ NHÂN
Nguyên nhân: Những cuộc cách mạng tư sản diễn ra trong suốt 3 thế kỉ
qua đã giải phóng con người về mặt ý thức và thân phận thoát khỏi sự kiềm chếcủa chế độ độc đoán
Đặc điểm: Các nhà tự do cá nhân xem các cá nhân là đơn vị cơ bản
trong các phân tích về xã hội Các cá nhân đưa ra các lựa chọn và chịu tráchnhiệm cho các hành động của họ Tư tưởng tự do cá nhân nhấn mạnh đến phẩmgiá của mỗi cá nhân, vốn bao gồm cả các quyền và trách nhiệm Sự mở rộngngày càng tăng của phẩm giá đến nhiều người hơn bao gồm phụ nữ, nhữngngười thuộc các tôn giáo và các chủng tộc khác, là một trong những thắng lợi vĩđại của tư tưởng tự do cá nhân phương Tây
Sự xuất hiện của chủ nghĩa này:
1 Mở đầu là 2 bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789)
Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Tuyên ngôn Độc lập Mỹ là một văn kiện lịch sử có tính cách mạng và tiến
bộ, lần đầu tiên công bố quyền con người và quyền công dân, nêu cao nguyêntắc chủ quyền thuộc về nhân dân, hoàn toàn trái ngược với chế độ quân chủchuyên chế với quyền lực thuộc về giới quý tộc và nhà vua
Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1787):
Hiến pháp Hoa Kỳ là bộ luật tối cao của nước Hoa Kỳ Nó là bản hiến phápđược soạn thảo ngày 17/9/1787 dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa banhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp(Toà án)
do Montesquieu, một triết gia người Pháp đề xướng Nó được phê chuẩn sau cáccuộc hội nghị tại 13 tiểu bang đầu tiên Từ khi có hiệu lực năm 1789, bản Hiếnpháp đã được nhiều quốc gia khác tham khảo, lấy làm mô hình cho hiến phápnước mình
Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
Trang 14+ Bản tuyên ngôn nhanh chóng trở thành nền tảng của cuộc Cách mạngPháp, là di sản lớn nhất mà cuộc cách mạng này để lại, kết tinh những lýtưởng tiến bộ nhất của thời đại Khai sáng
+ Đặt ra mục đích và tiêu chí cơ bản cho các chính phủ kế nhiệm
+ Khiến các quyền tự nhiên và quyền dân sự được tán thành và đi vào luậtpháp
2 John Stuart Mill (Anh): trong cuốn
“Luận về tự do” đã nêu lên nguyên tắc “Cá
nhân có thể làm bất cứ điều gì không hại đến
người khác, không bi phạm quyền tự do của
người khác” Trong thực tế, điều này còn phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự
nghiêm ngặt của pháp luât của nơi đó
3 Alexis de Tocqueville (Pháp): ông cho rằng trào lưu dân chủ thế kỉ XIX
là không thể dập tắt được Ông ca ngợi tinh thần dân chủ, sức mạnh vật chất vàthành công của nước Mĩ nhưng ông cũng phê phán tính cách thiếu tế nhị, ngạo
mạn và thực dụng của người Mĩ trong tác phẩm “Nền dân chủ Hoa Kì”.
4 Trong khi đó, những người cấp tiến thuộc phải Hiến Chương ở Anh đòihỏi chế độ dân chủ hoàn toàn về chính trị với quyền tuyển cử phổ thông (chonam giới), quyền tham gia nghị viện của công nhân, thu hẹp quyền hạn củachính quyền đối với công dân Họ cho rằng, một khi đã có dân chủ hoàn toàn vềchính trị thì sẽ có sự bình đẳng về giáo dục, sẽ giảm bớt sự khác biệt lớn về tàisản và địa vị của mọi người
1.2 CHỦ NGHĨA QUỐC GIA: có 2 xu hướng
Trang 15- Những người dân chủ cho rằng: mỗi quốc gia đều có quyền độc lập,quyền tự do mỗi cá nhân, không ai được xâm phạm Nhà ái quốc chính trịngười Ý Mazzini (1805-1872) và các nhà yêu nước ở châu Âu đấu tranh cho tưtưởng này Mazzini bênh vực quan điểm này, kiên trì đấu tranh cho nền độc lập
và thống nhất của nước Ý Các nhà yêu nước ở Châu Âu hoạt động theo xuhướng này để cứu dân tộc mình khỏi sự thống trị ngoại bang như phong tràođấu tranh của các dân tộc ở vùng Ban căng, Trung Âu
- Phái đối lập đề cao dân tộc mình là siêu đẳng, là có sứ mệnh khai hoávăn minh cho các dân tộc khác, đưa ra những lập luận biện minh cho nhữngcuộc chiến tranh xâm lược Những người này có phần dựa vào học thuyết tiến
hoá luận về sinh học của Darwin “cạnh tranh để sinh tồn”, cho đó là quy luật
xã hội nên phải tiêu diệt hoặc thống trị các dân tộc khác để dân tộc mình tồn tại
- Tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc phản ánh mặt trái của kinh tế tư bản chủ nghĩa, của chế độ bóc lột tư sản