Do vậy, trong giai đoạn này, chiếm vị trí chủ yếu trên diễn đàn kinh tế Trung Quốc là duy trì quan điểm lý luận kinh tế XHCN truyền thống, cho rằng sản xuất hàng hoá là “di vật” vật để l
Trang 1pgs ts nguyễn kim bảo
Viện Nghiên cứu Trung Quốc
au khi nước Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa ra đời, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
nhân dân Trung Quốc bước vào thực
hiện mục tiêu xây dựng và hiện đại hóa
đất nước Trong quá trình lãnh đạo,
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải qua
quá trình nhận thức khúc khuỷu về vấn
đề cải cách thể chế kinh tế và từng bước
phát triển nó, mở ra con đường mới xây
dựng đất nước Trung Quốc
I KHáI NIệM Về THể CHế KINH Tế
Theo quan niệm của người Trung
Quốc: “Thể chế kinh tế là hình thức tổ
chức cụ thể và chế độ quản lý kinh tế của
một chế độ kinh tế - xã hội hoặc một
quan hệ sản xuất”(1)
Chế độ kinh tế là tổng hoà các mối
quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị
trong xã hội, là tiêu chí căn bản của một
hình thái xã hội có tính ổn định Thể chế
kinh tế là hình thức thực hiện chế độ
kinh tế - xã hội có tính khả biến Thể chế kinh tế vừa phản ánh yêu cầu bản chất của chế độ kinh tế, vừa phản ánh yêu cầu khách quan của phát triển sức sản xuất xã hội Việc thay đổi thể chế kinh tế phù hợp với sức sản xuất có thể giải phóng sức sản xuất khiến cho kinh tế - xã hội phát triển Do vậy, cải cách thể chế kinh tế là
động lực phát triển sức sản xuất xã hội
II QUá TRìNH CảI CáCH THể CHế KINH Tế ở TRUNG QUốC
Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, quá trình cải cách thể chế kinh tế
ở Trung Quốc có thể chia ra làm 2 thời kỳ:
1. Thời kỳ xây dựng thể chế kinh tế
kế hoạch (1945 - 1977) Sau khi hoàn thành thắng lợi công cuộc cách mạng dân chủ mới (1-10-1949), Trung Quốc bước vào giai đoạn khôi phục nền kinh tế quốc dân Mô hình quản lý kinh tế lúc đó là làm theo kiểu quản lý
S
Trang 2thống nhất tập trung cao độ mà Liên Xô
đã áp dụng trước đó Đặc trưng của mô
hình này là nhà nước thống nhất quản lý;
chỉ huy điều tiết mọi hoạt động kinh tế
thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông,
phân phối, tiêu thụ; đưa nền kinh tế vào
quỹ đạo kế hoạch pháp lệnh của nhà
nước
Mô hình này đã khiến Trung Quốc
trong một thời gian dài tiềm tàng một sự
giáo điều cho rằng kinh tế kế hoạch
tương đồng với CNXH, kinh tế thị
trường tương đồng với CNTB CNXH và
kinh tế thị trường hoàn toàn đối lập
nhau, không thể dung hoà với nhau, có
kinh tế thị trường thì không thể có
CNXH
Với sự trói buộc của tư tưởng trên, các
cuộc thảo luận về cải cách thể chế kinh
tế trong thời kỳ này đã có những bước
thăng trầm
1.1 Giai đoạn 1949-1955: Duy trì
quan điểm lý luận kinh tế XHCN
truyền thống
ở giai đoạn đầu khôi phục đất nước
sau Chiến tranh, nền kinh tế kế hoạch
đã có tác dụng nhanh chóng tập trung
nhân lực, tài lực, vật lực để đảm bảo
thực hiện các mục tiêu trọng điểm quốc
gia Do vậy, trong giai đoạn này, chiếm
vị trí chủ yếu trên diễn đàn kinh tế
Trung Quốc là duy trì quan điểm lý luận
kinh tế XHCN truyền thống, cho rằng
sản xuất hàng hoá là “di vật” (vật để lại)
của chế độ tư hữu, quy luật giá trị là lực
lượng “dị kỷ” (khác với) XHCN, kinh tế
thị trường là đối lập với kinh tế kế
hoạch… Với quan điểm này, ở Trung Quốc, người ta đã duy trì chế độ công hữu đơn nhất, loại bỏ sản xuất hàng hoá
và vai trò của quy luật giá trị…
1.2 Giai đoạn 1956-1965: tìm tòi thể chế kinh tế mới
Sau một thời gian thực hiện, thể chế kinh tế kế hoạch bắt đầu bộc lộ những yếu kém Do nhà nước tập trung quá nhiều quyền lực, quản lý xí nghiệp quá chặt, không phân biệt rõ chức năng chính quyền và xí nghiệp… nên làm mất
đi sức sống của kinh tế XHCN, hiệu quả kinh tế rất thấp
Các nhà kinh tế Trung Quốc đã đi sâu tìm hiểu và phát hiện ra sự ràng buộc của chủ nghĩa giáo điều trên đã cản trở nghiêm trọng tới sự phát triển của sức sản xuất Những vấn đề lý luận theo quan điểm truyền thống mâu thuẫn với thực tiễn Họ bắt đầu đi sâu tìm tòi thể chế mới Họ tìm thấy trong kinh tế, sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá mang tính tất yếu, quy luật giá trị có vai trò điều tiết thị trường Xuất phát từ đặc trưng của hàng hoá, họ đã chứng minh nguyên nhân căn bản của sự tồn tại hàng hoá trong XHCN Về quy luật giá trị, các nhà kinh tế Trung Quốc đưa ra 3 quan điểm quan trọng nhằm thúc đẩy cải cách thể chế quản lý kinh tế bằng kế hoạch Đó là: quan điểm quy luật giá trị
là cơ sở phát triển kinh tế của Tôn Dã Phương, nhấn mạnh phải đặt kế hoạch trên cơ sở quy luật giá trị (nhiều nhà kinh tế Trung Quốc đánh giá đây là sự
mở đầu của lịch sử cải cách thể chế kinh
Trang 3tế ở Trung Quốc)(2); quan điểm quy luật
giá trị tự điều tiết của ứng Thành Vượng
chủ trương để cho quy luật giá trị tự
điều tiết sản xuất; quan điểm thị trường
tự điều tiết của Cố Chuẩn chỉ ra sự lên
xuống của giá cả trên thị trường chính là
quá trình tự điều tiết sản xuất
Ba quan điểm trên đưa ra trong
những năm 1956 - 1965, bị coi là đi
ngược với trào lưu tư tưởng lúc đó Họ bị
bài xích là lý lẽ của phái hữu, bị coi là
phần tử của chủ nghĩa xét lại phản cách
mạng và bị phê phán Song, tư tưởng của
họ đã mở đường cho các nhà nghiên cứu
lý luận kinh tế Giới lý luận kinh tế
Trung Quốc từ đó đã nhiều lần đề cập tới
vấn đề lợi dụng thị trường để làm kinh
tế XHCN, nhưng các cuộc thảo luận
chưa đột phá được sự trói buộc của nội
hàm kinh tế XHCN Phải tới những năm
90 của thế kỷ XX, ba quan điểm trên mới
được lịch sử chứng minh là chính xác và
“những hạt giống được gieo trồng từ
những năm 50 cuối cùng đã trở thành
những cây mạ khoẻ mạnh trong những
năm 90”(3)
1.3 Giai đoạn 1965 - 1977: lý luận
bị tụt hậu
Giai đoạn này, Trung Quốc nổ ra cuộc
“đại Cách mạng văn hóa” Trong cuộc
cách mạng này, những quan điểm về
quan hệ giữa kế hoạch và thị trường bị
gọi là “cỏ độc”, chống lại Đảng, chống
CNXH, chống Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và
bị lên án không dứt Đồng thời, một bộ
phận lý luận kinh tế “tả” cũng phát triển
Lâm Bưu và “bè lũ bốn tên” đã đưa ra
một số quan điểm sai trái về vấn đề giá trị hàng hoá Quan điểm chủ yếu mà họ
đưa ra là sản xuất hàng hoá, trao đổi tiền
tệ là dấu vết của xã hội cũ, là tàn dư của chế độ bóc lột; trao đổi hàng hoá là mảnh
đất, là điều kiện ấp trứng của CNTB và giai cấp tư sản; quy luật giá trị là một sức mạnh dị kỷ… Theo họ, sản xuất hàng hoá
và quy luật giá trị sẽ tạo ra CNTB, chỉ có thể hạn chế bằng chuyên chính của giai cấp vô sản
Do vậy, ngoài những bài viết, bài phát biểu nhằm tuyên truyền rộng và làm xấu thêm tình hình, họ còn lôi hết những người làm công tác nghiên cứu lý luận kinh tế ra hỏi tội và đóng lại toàn
bộ những vấn đề lý luận kinh tế Sự phá hoại của Lâm Bưu và “bè lũ bốn tên” đã gây ra hậu quả xấu nghiêm trọng, lý luận kinh tế của Trung Quốc vì thế bị tụt hậu
Có thể nói, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, các nhà lý luận kinh tế Trung Quốc đã nhận ra thể chế kinh tế kế hoạch đã ngăn cản sự phát triển của sức sản xuất và bắt đầu đề cập tới vấn đề lợi dụng thị trường để xây dựng một thể chế kinh tế mới Do vậy, thể chế kinh tế thị trường XHCN mà Trung Quốc đang xây dựng hiện nay đã manh nha xuất hiện
từ thời kỳ này
2 Thời kỳ xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN (từ 1978 - đến nay) Hội nghị Trung ương 3 khoá XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) quyết
định chuyển trọng tâm công tác của toàn
Đảng từ “lấy đấu tranh giai cấp là
Trang 4chính” sang “lấy xây dựng kinh tế làm
trung tâm” và tiến hành cải cách mở cửa
Điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên
cứu lý luận Trung Quốc nỗ lực tìm tòi
xây dựng thể chế kinh tế mới nhằm thúc
đẩy sức sản xuất phát triển
2.1.Giai đoạn 1978-1991:khởi động
đi theo hướng thị trường
ở thời kỳ đầu của cải cách, đứng
trước nền kinh tế suy sụp sau Cách
mạng Văn hóa, nhiều nhà kinh tế học đề
xuất những luận điểm mới
2.1.1 Quan điểm kết hợp kinh tế kế
hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ
Để chống lại quan điểm “hữu khuynh”
đòi xoá bỏ quan hệ “hàng - tiền”, các nhà
kinh tế nêu ý kiến cần phát huy hơn nữa
vai trò của quy luật giá trị Nhưng, do
nhận thức của mọi người lúc đó về kinh
tế hàng hoá còn mơ hồ nên mãi tới Hội
nghị công tác Trung ương tháng 4-1997,
Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc
lúc đó Lý Tiên Niệm mới đưa ra quan
điểm “kết hợp giữa điều tiết kế hoạch và
điều tiết thị trường, lấy kinh tế kế hoạch
làm chính, đồng thời hết sức coi trọng
vai trò bổ trợ của điều tiết thị trường”
Với quan điểm này, các nhà kinh tế đã
nhận thức được quy luật phát triển theo
kế hoạch và quy luật giá trị cùng đóng
vai trò điều tiết, cho nên cần thực hiện
phương châm kết hợp giữa điều tiết kế
hoạch và điều tiết thị trường
Đồng thời với việc đưa ra vấn đề kết
hợp điều tiết kế hoạch và điều tiết thị
trường, vào khoảng tháng 1-2/1979, một
số nhà kinh tế cũng nêu lên vấn đề kết hợp kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường Nhà kinh tế Trần Vân đưa ra quan điểm “kết hợp kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường, lấy kinh tế kế hoạch làm chủ thể, kinh tế thị trường là sự bổ sung quan trọng chứ không phải là sự bổ sung thứ yếu” Trong đề cương “Vấn đề
kế hoạch và thị trường”, ông đưa ra quan
điểm “kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ” Khi đó ở Trung Quốc người ta thường lẫn lộn giữa hai khái niệm kinh tế thị trường và điều tiết thị trường, nên sau đó người ta ít nhắc tới Nhưng dù thế nào chăng nữa, khái niệm kinh tế thị trường cũng được nêu ra từ cuối những năm 70 Theo đánh giá của các chuyên gia Trung Quốc, đây là điểm chuyển tiếp thảo luận từ vấn đề vai trò của quy luật giá trị sang vấn đề kinh tế thị trường, là điểm chuyển tiếp từ thể chế kinh tế kế hoạch sang thể chế kinh tế thị trường(4)
Cùng thời gian này, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cũng bắt
đầu có tư tưởng kinh tế thị trường Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị công tác Trung ương (12-1978), ông nói:
“Phải giải quyết mâu thuẫn giữa quyền
tự chủ và kế hoạch nhà nước bằng quy luật giá trị, bằng quan hệ cung - cầu” Một năm sau, trong buổi tiếp chuyện với Phó Ban biên tập Công ty xuất bản Bách khoa toàn thư của Mỹ, ông Đặng nói rõ hơn: “Nói rằng kinh tế thị trường chỉ tồn tại ở xã hội TBCN là không đúng Tại sao CNXH lại không? Không thể nói xây
Trang 5dựng kinh tế thị trường là CNTB được
Chúng tôi xây dựng kinh tế kế hoạch là
chính, nhưng cũng kết hợp với kinh tế thị
trường” Tư tưởng này của ông Đặng
được nhiều người trong Đảng chấp nhận
áp dụng nó
Như vậy, ngay từ khi Trung Quốc
tiến hành cải cách mở cửa, các nhà lãnh
đạo Trung Quốc đã thấy được lực lượng
thị trường, có thể kết hợp bổ sung nó
trong khuôn khổ kế hoạch của nhà nước
đối với việc bố trí nguồn lực kinh tế Đây
là sự tiến bộ rất lớn so với những quan
niệm về thể chế kinh tế trước đó Tuy
mới chỉ là bước đầu, nhưng nó đã phá vỡ
thể chế kinh tế kế hoạch
2.1.2 Quan điểm kinh tế XHCN là
kinh tế hàng hoá có kế hoạch
Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, ông
Tiết Mộ Kiều chủ trương cải cách lưu
thông toàn diện nhằm triệt để phát huy
tác dụng của thị trường Theo ông, quan
điểm “kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết
thị trường là phụ” là không đúng, cần
phải thay bằng “xây dựng kinh tế hàng
hoá XHCN” Thuyết kinh tế hàng hoá
được nêu ra, nhận thức của các nhà lãnh
đạo Trung Quốc có sự tiến triển Trong
văn kiện “ý kiến bước đầu về cải cách
thể chế kinh tế” do Văn phòng cải cách
thể chế Quốc vụ viện đưa ra tháng
9-1980 chỉ rõ: “Nền kinh tế XHCN của
nước ta giai đoạn hiện nay là nền kinh tế
hàng hoá, trong đó chế độ công hữu tư
liệu sản xuất chiếm ưu thế, nhiều thành
phần kinh tế cùng tồn tại” Văn kiện
quan trọng này đã đánh dấu sự phát
triển trong nhận thức của các nhà lãnh
đạo Trung Quốc Tuy nhiên, lúc đó nó chưa thể quán triệt trở thành nhận thức chung cho tất cả mọi người, nhất là đối với những người chịu ảnh hưởng sâu sắc của kinh tế kế hoạch trong suốt 30 năm trước đó Do đó, thuyết kinh tế hàng hoá XHCN nêu ra chưa được bao lâu đã bị phê phán Việc phê phán đối với thuyết này kéo dài tới Hội nghị Trung ương 3 khoá XII Đảng Cộng sản Trung Quốc (10-1984)
Hội nghị Trung ương 3 khoá XII đã thông qua Nghị quyết của Trung ương
Đảng Cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế Nghị quyết chỉ rõ: “Nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hoá có
kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thể bỏ qua của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu
để thực hiện hiện đại hoá Trung Quốc”(5)
Đây là một đột phá quan trọng về lý luận Lần đầu tiên Trung Quốc khẳng
định rõ ràng kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá Nó đánh dấu sự nhảy vọt về nhận thức đối với kinh tế XHCN Ông
Đặng Tiểu Bình đã đánh giá rất cao văn kiện này Ông gọi nó “là kinh tế chính trị học kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với thực tiễn XHCN của Trung Quốc” (6)
Sau Hội nghị Trung ương 3 khoá XII, Báo cáo Chính trị của Đại hội lần thứ XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-1987) đã không còn nhắc tới kinh tế kế hoạch nữa, mà nhấn mạnh “vai trò của
Trang 6kế hoạch và thị trường đều là cơ chế vận
hành kinh tế mới bao phủ lên toàn xã
hội” Cơ chế vận hành kinh tế mới cần
phải là “nhà nước điều tiết thị trường, thị
trường dẫn dắt xí nghiệp”(7) Sau Đại hội
XIII, nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc
kiến nghị áp dụng quan điểm kinh tế thị
trường XHCN, nhưng bên cạnh đó vẫn
còn một số người giữ ý kiến ngược lại
Đặc biệt sau sự kiện Thiên An Môn năm
1989, những người này nêu ra vấn đề kế
hoạch và thị trường là XHCN hay
TBCN? Họ đánh đồng kinh tế kế hoạch
với CNXH, đánh đồng kinh tế thị trường
với CNTB
Như vậy, cho tới cuối thập kỷ 80 của
thế kỷ XX, mọi người đều nhận thức
được vai trò của việc phát triển kinh tế
hàng hoá, mở rộng cơ chế thị trường,
nhưng vẫn hoài nghi về kinh tế thị
trường, mặc dù Trung Quốc đã có sự đột
phá tương đối lớn đối với quan niệm
truyền thống
2.1.3 Quan điểm kinh tế thị trường
Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ở
Trung Quốc đã xuất hiện một trận Đại
luận chiến về vấn đề cải cách thất bại
hay thành công? Việc phê phán trên quy
mô lớn đối với lý luận kinh tế thị trường
đã gây ra sự lo lắng, nghi ngờ, rối loạn
trong cán bộ và quần chúng nhân dân
Thêm vào đó lại xảy ra sự biến động
chính trị ngày 19-8-1991, rồi cuộc cải
cách của Liên Xô và các nước Đông Âu
không triệt để khiến cho cải cách ở
Trung Quốc trong thời gian này bị chậm
lại Trong những văn kiện chính thức,
vấn đề kinh tế thị trường vẫn chưa được
đề cập tới Người ta có thể tiếp thu kinh
tế hàng hoá nhưng lại tránh không nói tới kinh tế thị trường Họ vẫn luôn băn khoăn bởi vấn đề kinh tế thị trường mang tính chất XHCN hay TBCN? Trước sự băn khoăn đó, ông Đặng Tiểu Bình đã có những cuộc nói chuyện với các nhà lãnh đạo tỏ rõ quan điểm của mình Nhưng phải tới chuyến đi miền Nam Trung Quốc đầu năm 1992, ông
Đặng trực tiếp gặp gỡ quần chúng, trình bày quan điểm của mình về kế hoạch và thị trường, nó mới thực sự có tác dụng
Ông nói dứt khoát rằng: “Kế hoạch nhiều hơn một chút hay thị trường nhiều hơn một chút không phải là sự khác biệt bản chất giữa CNXH và CNTB Kinh tế kế hoạch không đồng nghĩa với CNXH, CNTB cũng có kế hoạch Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với CNTB, CNXH cũng có thị trường Kế hoạch và thị trường đều là các biện pháp kinh tế”(8) Với quan điểm trên, ông Đặng đã trả lời câu hỏi mọi người tranh luận không ngừng trước đó nhưng không giải quyết nổi “Cải cách đi theo con đường nào, XHCN hay TBCN?” Đồng thời, ông cũng cung cấp những luận cứ khoa học để nhận thức đúng đắn hai biện pháp kinh tế là kế hoạch và thị trường Tư tưởng của ông vì vậy có tác dụng chỉ đạo và thúc đẩy mạnh
mẽ đối với việc đổi mới quan niệm Các chuyên gia Trung Quốc đánh giá rằng,
đây là cuộc “giải phóng tư tưởng lần thứ hai” Lần giải phóng tư tưởng này tập trung chủ yếu vào việc hiểu đúng đắn thế
Trang 7nào là “họ xã” (XHCN), “họ tư” (TBCN), nó
có ý nghiã rất sâu sắc
2.2 Giai đoạn 1992-2001: hình
thành khung cơ bản của thể chế
kinh tế thị trường XHCN
Dựa vào luận điểm trên của ông Đặng
Tiểu Bình, Đại hội đại biểu toàn quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIV
(10-1992) chính thức tuyên bố: “Mục tiêu
cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc
là xây dựng thể chế kinh tế thị trường
XHCN” và chỉ rõ: “Thể chế kinh tế thị
trường XHCN chính là làm cho thị
trường phát huy được vai trò mang tính
cơ sở trong việc bố trí các nguồn lực dưới
sự điều tiết vĩ mô của nhà nước…”(9) Hội
nghị Trung ương 3 khoá XIV Đảng Cộng
sản Trung Quốc (11-1993) đã nêu ra nội
dung của việc xây dựng thể chế kinh tế
thị trường: “Lấy chế độ công hữu làm
chủ thể, nhiều thành phần kinh tế cùng
phát triển; chuyển đổi thêm một bước cơ
chế kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nước, xây dựng chế độ doanh nghiệp
hiện đại; xây dựng hệ thống thị trường
mở cửa thống nhất trong cả nước; chuyển
đổi chức năng quản lý kinh tế của Chính
phủ, xây dựng hệ thống điều tiết vĩ mô
hoàn thiện; xây dựng chế độ phân phối
thu nhập lấy phân phối theo lao động là
chính,ưu tiên hiệu suất, chú trọng công
bằng; xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội
nhiều tầng Những khâu chủ yếu này là
một thể hữu cơ gắn với nhau, tạo nên
khung cơ bản của thể chế kinh tế thị
trường XHCN”(10)
Với nội dung trên, Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc (9-1997) đã đặt ra mục tiêu tới năm 2010 xây dựng thể chế kinh tế thị trường tương đối hoàn thiện
Để thực hiện mục tiêu này, Đại hội đã
đặt trọng tâm vào việc cởi bỏ sự trói buộc của lý luận kinh tế truyền thống đối với sức sản xuất do kết cấu chế độ sở hữu
đơn nhất đem lại, xác định nền kinh tế trong đó: “chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển là chế độ kinh tế cơ bản của nước ta trong giai đoạn đầu của CNXH”(11) Luận điểm trên của Đại hội XV về chế
độ sở hữu đã giải toả những khúc mắc về nhiều quan điểm lý luận trong một thời gian dài gây trở ngại cho quá trình cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc Trước đây, người ta quan niệm quá trình xây dựng CNXH là quá trình hạn chế đi tới thủ tiêu các thành phần kinh tế phi công hữu Nghị quyết Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) còn cho rằng “kinh tế phi công hữu” chỉ đóng vai trò “bổ sung” Đại hội XV lần đầu tiên khẳng định “chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển là chế độ kinh tế cơ bản”
ở Trung Quốc Đại hội còn đưa ra: “Kinh
tế phi công hữu là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế thị trường XHCN” Đây là một quan điểm mới trong lý luận về đặc trưng cơ bản của CNXH Nó được coi là bước đột phá mới
về lý luận, lần giải phóng mới về tư tưởng trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN
Trang 8Có thể nói, nội dung xây dựng thể chế
kinh tế thị trường mà Hội nghị Trung
ương 3 khoá XIV đề cập tới đã áp dụng
phương thức kết hợp giữa tiệm tiến và
đột phá trọng điểm khiến cho công cuộc
cải cách kinh tế ở Trung Quốc đạt được
những tiến triển quan trọng Nó xoá bỏ
những trở ngại ở khâu quan trọng để
phát triển sức sản xuất như thực hiện đa
dạng hoá hình thức thực hiện kinh tế
công hữu; xây dựng chế độ doanh nghiệp
hiện đại; cho phép các yếu tố sản xuất
tham gia vào phân phối, hình thành nên
những trụ cột quan trọng của thể chế
kinh tế thị trường XHCN
2.3 Giai đoạn từ 2002-đến nay:
hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường XHCN
Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung
Quốc(11-2002), dựa trên khung cơ bản
của thể chế kinh tế thị trường đã được
hình thành từ 1992 và mục tiêu phát
triển đến năm 2020 đề ra: “Trong 20
năm đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc
tập trung toàn lực xây dựng xã hội khá
giả toàn diện với trình độ cao hơn, đem
lại lợi ích cho số dân tỷ mấy người, làm
cho kinh tế phát triển hơn, dân chủ kiện
toàn hơn, khoa học giáo dục tiến bộ hơn,
văn hoá phồn vinh hơn, xã hội hoà hợp
hơn, cuộc sống nhân dân sung túc hơn
Đó là một giai đoạn phát triển tiếp nối
tất phải trải qua để tiến tới mục tiêu
chiến lược bước ba của công cuộc xây
dựng hiện đại hóa, cũng là giai đoạn
then chốt để hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường XHCN và tăng cường mở cửa
đối ngoại”(12)
Để đạt mục tiêu trên, Hội nghị Trung
ương 3 khoá XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (10-2003) đã chỉ ra nhiệm vụ chủ yếu nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN là: “Hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu khác cùng phát triển; xây dựng thể chế có lợi cho việc từng bước thay đổi kết cấu nhị nguyên thành thị và nông thôn; hình thành cơ chế thúc đẩy phát triển hài hoà kinh tế vùng; xây dựng hệ thống thị trường hiện đại thống nhất, mở cửa, cạnh tranh có trật tự; hoàn thiện hệ thống điều tiết vĩ mô, thể chế quản lý hành chính và chế độ pháp luật kinh tế; kiện toàn chế độ việc làm, phân phối thu nhập và bảo đảm xã hội; xây dựng cơ chế thúc đẩy xã hội phát triển bền vững”(13)
Có thể thấy, nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế được đề ra trong Hội nghị Trung ương 3 khoá XVI ngoài việc tiếp tục kế thừa những nhiệm vụ đã được nêu ra từ 10 năm trước đó (Hội nghị Trung ương 3 khoá XIV), còn phải đi sâu hơn, bổ sung thêm những nội dung mới
mà trước đây do điều kiện chưa đủ nên Trung Quốc không thể triển khai Ví như, xây dựng thể chế có lợi cho việc từng bước thay đổi kết cấu kinh tế nhị nguyên thành thị và nông thôn; hình thành cơ chế thúc đẩy phát triển hài hoà kinh tế khu vực; xây dựng cơ chế thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững… Điều đáng chú ý là, những yêu
Trang 9cầu cụ thể mà Hội nghị đưa ra đối với
những nhiệm vụ đó có sự khác biệt so với
trước Ví dụ: nhiệm vụ “hoàn thiện chế
độ kinh tế cơ bản…”, điều nhấn mạnh là
“hoàn thiện”, vì chế độ kinh tế cơ bản
trong đó lấy chế độ công hữu là chủ thể,
nhiều chế độ sở hữu khác cùng phát
triển đã được xác lập ở Trung Quốc; đối
với nhiệm vụ xây dựng thể chế hài hoà
giữa thành thị và nông thôn, điều nhấn
mạnh là “từng bước thay đổi kết cấu
kinh tế nhị nguyên thành thị và nông
thôn”, vì kết cấu kinh tế nhị nguyên
thành thị và nông thôn rất khó xóa bỏ
trong một thời gian ngắn; đối với nhiệm
vụ phát triển hài hoà kinh tế khu vực,
điều nhấn mạnh là “hình thành cơ chế”
mà không phải là xây dựng thể chế
Việc thực hiện tốt những nhiệm vụ
này có tác dụng to lớn đối với việc xoá bỏ
những trở ngại mang tính thể chế đối với
sự phát triển của sức sản xuất, thúc đẩy
kinh tế phát triển lành mạnh Kinh tế
-xã hội Trung Quốc sẽ có những biến
chuyển sâu sắc để thích ứng với yêu cầu
phát triển mới của sức sản xuất hiện
nay, nhất là sau khi Trung Quốc gia
nhập WTO và đạt mục tiêu xây dựng xã
hội khá giả toàn diện sớm hơn dự kiến
Bước sang thế kỷ XXI, điều kiện kinh
tế của Trung Quốc thuận lợi hơn rất
nhiều so với trước, nhưng để thực hiện
được mục tiêu trên cũng còn là vấn đề
tương đối gian nan Do quy mô kinh tế ở
thời kỳ này đã lớn, mà ngày càng lớn
hơn nữa, nên Trung Quốc phải thực hiện
tốc độ tăng trưởng bình quân năm là
7,2%, có nghĩa là phải lớn hơn mức tăng trưởng bình quân 9,7%/ năm giai đoạn 1981- 2000(14) Nhất là Trung Quốc phải
đạt đến tốc độ này trên cơ sở ưu hoá kết cấu và nâng cao hiệu quả, nên càng khó khăn Bởi lẽ, trước đây tăng trưởng kinh
tế của Trung Quốc chủ yếu dựa vào tăng vốn vật chất và đầu tư lao động, thêm vào đó, kỹ thuật sản xuất cùng với trình
độ quản lý, tầng thứ kết cấu ngành nghề
đều tương đối thấp, xây dựng trùng lặp…, từ đó tạo ra đầu tư cho tăng trưởng kinh tế lớn, mức tiêu hao cao, áp lực rất lớn đối với tài nguyên, môi trường Vì thế, nếu thời gian duy trì tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh càng dài,
sẽ đồng nghĩa với việc việc làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và huỷ hoại môi trường sinh thái càng lớn Cho nên, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020, tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) tăng gấp bốn lần so với năm 2000, Trung Quốc phải có sự đột phá mới trong cải cách kinh tế Đó chính là phải chuyển biến phương thức tăng trưởng kinh tế từ chủ yếu dựa vào tăng cường đầu tư trước
đây để lôi kéo tăng trưởng kinh tế sang chủ yếu dựa vào tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao tố chất người lao
động, dựa vào thúc đẩy cải cách mở cửa, xoá bỏ cản trở mang tính thể chế đối với
sự phát triển, dựa vào điều chỉnh và nâng cấp kết cấu kinh tế thúc đẩy kinh
tế tăng trưởng
Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (10-2007) đã đưa ra những yêu cầu mới cao hơn để thực hiện mục tiêu xây
Trang 10dựng xã hội khá giả toàn diện, trong đó
nhấn mạnh: “Tăng cường tính nhịp
nhàng trong phát triển, nỗ lực thực hiện
kinh tế phát triển vừa tốt vừa nhanh
Trên cơ sở đã có những tiến triển quan
trọng trong chuyển đổi phương thức phát
triển, ưu hoá kết cấu, nâng cao hiệu quả,
giảm tiêu hao năng lượng, bảo vệ môi
trường, thực hiện GDP bình quân đầu
người đến năm 2020 tăng gấp 4 lần so
với năm 2000 Thể chế kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa hoàn thiện hơn Năng
lực tự chủ sáng tạo được nâng cao rõ rệt,
những đóng góp của tiến bộ khoa học kỹ
thuật đối với tăng trưởng kinh tế tăng
lên đáng kể, bước vào hàng ngũ các nước
sáng tạo…”(15)
Điều đáng chú ý là trong những yêu
cầu trên, có hai yêu cầu mà Trung Quốc
sẽ phải nỗ lực nhiều hơn Một là, từ mặt
điều chỉnh chiến lược phát triển phải
tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế Hai
là, bước vào hàng ngũ nhà nước sáng
tạo, đòi hỏi Trung Quốc cần tăng cường
mức độ cải cách ở các mặt giáo dục và
nghiên cứu phát triển; tiếp tục kiện toàn
bảo đảm cơ chế thể chế kết hợp sản xuất,
học tập, nghiên cứu với nhau; nâng cao ý
thức và tính tự giác sáng tạo cho toàn
dân, phát huy hết vai trò của doanh
nghiệp và nhân tài đi đầu trong phát
triển khoa học kỹ thuật…, từ đó tạo ra
môi trường tốt hơn có lợi cho cải cách
Do vậy, Trung Quốc tất yếu phải lấy
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa làm mục tiêu, từng bước
giải phóng và phát triển sức sản xuất,
tăng cường động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội để có thể hoàn thành công cuộc xây dựng xã hội khá giả toàn diện vào năm 2020
III THàNH TựU Và VấN Đề TRONG CảI CáCH THể CHế KINH Tế CủA TRUNG QUốC
1 Thành tựu Trải qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi và phát triển lý luận kinh tế đầy cam
go trong 60 năm qua, tới nay Trung Quốc đã thực hiện được bước chuyển đổi cơ bản từ thể chế kinh tế kế hoạch sang thể chế kinh tế thị trường XHCN
Một là, kết cấu sở hữu không ngừng hoàn thiện, chế độ kinh tế cơ bản trong giai đoạn đầu CNXH “lấy công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển” đã được thiết lập Việc
điều chỉnh mang tính chiến lược kinh tế nhà nước có những tiến triển rõ rệt Cải cách doanh nghiệp nhà nước đạt được những đột phá quan trọng, bước đầu xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại đã nâng cao chất lượng và hiệu quả của kinh tế nhà nước Hơn một nửa trong số những doanh nghiệp nhà nước trọng
điểm tiến hành cải cách chế độ cổ phần, hơn 90% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành cải cách chế độ Kinh tế phi công hữu đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế thị trường XHCN, là lực lượng quan trọng thúc đẩy sức sản xuất xã hội Trung Quốc phát triển Hiện nay, tỷ trọng của kinh
tế phi công hữu chiếm trong GDP đã vượt qua 1/3 Trong giá trị gia tăng công