1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế trung quốc asean từ năm 1991 đến năm 2010

101 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng được phát triển rõ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh và tác động của nó đến Việt Nam.. Page 7 of 101 thách thức của Khu vực

Trang 1

Nhân khóa luận được hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn đến nhà trường, tới khoa, các cán bộ trong Thư viện Quốc gia và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Nga

Do tính mới mẻ của đề tài cũng như những hạn chế về thời gian, kiến thức

và tài liệu nghiên cứu, khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của của các thầy cô và các bạn để làm cho khoa luận hoàn thiện hơn

Trang 2

Page 2 of 101

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận được hoàn thành là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Khóa luận với đề tài “Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm

1991 đến năm 2010”, chưa từng công bố ở bất kì công trình nghiên cứu khoa

học nào

Trang 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5 Đóng góp của khóa luận

6 Bố cục khóa luận

NỘI DUNG

Chương 1: Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991

1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Trang 4

2.1.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 1991 - 2000

2.1.2.1 Trên lĩnh vực thương mại 2.1.2.2 Trên lĩnh vực đầu tư - viện trợ

2.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 2000-2010

2.2.1 Bối cảnh lịch sử

2.2.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 2000-2010

2.2.2.1 Trên lĩnh vực thương mại 2.2.2.2 Trên lĩnh vực đầu tư

Chương 3: Đánh giá chung về mối quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

3.1 Kết quả và hạn chế trong quan hệ kinh tế Trung Quốc -ASEAN

Trang 5

tự thế giới mới đang hình thành Quan hệ quốc tế lúc này chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hòa bình hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo trên phạm vi toàn thế giới Nhân tố kinh tế đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan

hệ giữa các nước trong khu vực Cùng với đó, xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế chung của các quốc gia, dân tộc và các tổ chức kinh tế Trước hoàn cảnh đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố vị trí trên thị trường quốc tế, hội nhập và hợp tác đã trở thành xu thế chủ yếu của toàn thế giới

Là một nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với những thành tựu đạt được trong quá trình cải cách mở của kinh tế Sau chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình cho phù hợp với

xu thế chung của thời đại Với chính sách “láng giềng hữu nghị”, ASEAN trở

thành một đối tác quan trọng của Trung Quốc trong bối cảnh thế giới mới Quan

hệ ASEAN - Trung Quốc từng bước đạt được nhiều kết quả khả quan và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thế giới

Việt Nam là một thành viên của ASEAN, đồng thời cũng là láng giềng của Trung Quốc Vì vậy, sự phát triển tốt đẹp mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN sẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách kinh tế và xây dựng đất nước Việc nghiên cứu mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa về cả lí luận lẫn thực tiễn giúp

Trang 6

Page 6 of 101

cho Đảng và Nhà nước ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để có chính sách phù hợp hơn trong việc hoạt định chính sách đối ngoại với Trung Quốc và ASEAN

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sự phát triển quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm

2010 là một đề tài mang tính thời sự thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu lịch sử, kinh tế, ngoại giao Trên thực tế, đã có rất nhiều sách vở, báo chí, hội thảo…nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc - ASEAN

Trước tiên phải kể đến cuốn sách: “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật

Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó đến Việt Nam” của Vũ Văn Hà do

Nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn xuất bản năm 2007 Trong tác phẩm của mình tác giả đã đi phân tích rõ đặc điểm, xu hướng phát triển của ba thực thể Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản Trong đó, quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng được phát triển rõ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh và tác động của nó đến Việt Nam

Hay trong cuốn sách: “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN

Quá trình hình thành và triển vọng” của Hồ Châu, Hoàng Giáp, Hoàng Thị Quế

được nhà xuất bản Lí luận chính trị xuất bản năm 2006 Các tác giả đã phân tích nhu cầu cần thiết của việc hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN cũng như phân tích của các bên khi tham gia khu vực này Quá trình hình thành và những thành tựu đạt được cũng như triển vọng của nó

Hay trong bài viết: “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Cơ

hội, thách thức và tác động đối với các nước thành viên mới của ASEAN” Tham

luận của Thitapha Wattanapruttipaisan, Chuyên viên cao cấp, Bộ phận dịch vụ

công nghiệp, Ban thư ký ASEAN tại Hội thảo khu vực về “Những thuận lợi và

Trang 7

Page 7 of 101

thách thức của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc” do Vụ hợp tác

kinh tế đa phương, Bộ ngoại giao Việt Nam và Quỹ Hanns Siedel, Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/6/2002, đã phân tích những thành quả của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, từ đó đánh giá những cơ hội, thách thức đối với từng nước ASEAN tham gia khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN

Bên cạnh những tài liệu trên, là số lượng lớn các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Kinh tế và phát triển, tạp chí Lí luận…cũng đề cập rất nhiều đến quan hệ Trung Quốc - ASEAN, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Có thể kể đến một

số tác phẩm tiêu biểu như: “Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN, Cơ hội

và thách thức đến thương mại Việt Nam” của GS,TS.Đặng Đình Hào, Ths.Đặng

Thị Hồng đăng trên tạp chí Kinh tế và phát triển, số 100 tháng 10 năm 2005 Tác giả đã khái quát lại quan hệ thương mại của Trung Quốc - ASEAN, quan hệ của Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - ASEAN Từ đó đưa ra những dự báo về cơ hội và thách thức đối với nền thương mại của Việt Nam

Trong bài viết: “Trung Quốc với sự phát triển kinh tế của các nước

ASEAN, tác động tích cực và những nhân tố không ổn định” của tác giả Nguyễn

Minh Hằng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1(23) năm 1999 Tác giả phân tích vai trò của Trung Quốc đối với sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN được thể hiện trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á (1997-1998) Trên cơ sở đó phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ

Trung Quốc - ASEAN Hay trong bài viết: “Quá trình phát triển mối quan hệ

Trung Quốc - ASEAN” của Nguyễn Thu Mỹ nghiên cứu quá trình phát triển của

Trang 8

Page 8 of 101

quan hệ này trên những mốc đạt được, thành tựu mà hai bên đạt được trong quá trình hợp tác

Nhìn chung, hầu hết các bài viết, nghiên cứu của các tác giả chưa trình bày

cụ thể mối quan hệ của Trung Quốc và ASEAN cũng như những nhân tố tác động và ảnh hưởng đến mối quan hệ này Vì vậy, việc tổng hợp một cách đầy đủ, chi tiết cụ thể về quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010 là điều có ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở tài liệu của người đi trước để lại, tác giả xin tập hợp, phân tích, lí giải, xây dựng lại bức tranh toàn cảnh và hoàn chỉnh về quan hệ Trung Quốc - ASEAN

3 Mục đích và nhiệm vụ phương pháp nghiên cứu vấn đề

Mục đích:

Luận văn tái hiện lại bức tranh toàn diện phản ánh mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 1991-2010 trên lĩnh vực kinh tế Từ đó, đưa ra một số nhận xét và dự báo về mối quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp biện chứng kết hợp với các phương pháp liên ngành khác như đối chiếu, phương pháp tập hợp; phương pháp chứng minh,

Trang 9

Page 9 of 101

phân tích, liệt kê để hệ thống hóa, dựng lại hoàn chính bức tranh quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010 với những đặc trưng và triển vọng của nó

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991-2010 trên lĩnh

vực kinh tế

-Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ Trung Quốc -

ASEAN trên lĩnh vực kinh tế

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm

Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN có ý nghĩa về mặt lí luận quan trọng Nó làm rõ, bổ sung và làm phong phú hơn về các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu, cái nhìn

Trang 10

Page 10 of 101

cụ thể hơn về nền kinh tế toàn cầu Trên cơ sở phân tích thực trạng và những vấn

đề đặt ra là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển, đường lối ngoại giao trong thời kì mới của các nước trên thế giới, đặc biệt là Vệt Nam

Việc nghiên cứu quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc còn mang ý nhĩa thực tiễn quan trọng làm sáng tỏ nội dung cơ bản của quan hệ kinh tế Trung Quốc và ASEAN, làm tài tiệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đưa ra những mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế phù hợp, chuẩn

bị đầy đủ để tham gia có hiệu quả hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới

Mặt khác, đề tài còn góp phần làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy cho học sinh, sinh viên, giáo viên…

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầuvà kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Quan hệ Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991

Chương 2: quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm

2010

Chương 3: Đánh giá chung về mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN

Trang 11

Page 11 of 101

NỘI DUNG

Chương 1 QUAN HỆ KINH TẾ TRUNG QUỐC - ASEAN TRƯỚC NĂM 1991

1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ kinh tế TQ - ASEAN

1.1.1 Cơ sở chủ quan

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội

Trung Quốc và các nước ASEAN là những nước láng giềng có hoàn cảnh địa lí gần gũi, có truyền thống văn hóa lâu đời gắn bó với nhau Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các nước ASEAN và Trung Quốc đã chia sẻ những giá trị chung của nền văn minh phương Đông

Nhân dân ASEAN và Trung Quốc có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp truyền thống và lâu dài đã trải qua thử thách của thời gian Do Trung Quốc và ASEAN

có những điểm tương đồng, bổ sung lẫn nhau, tạo cơ sở cho mối quan hệ lâu dài Trung Quốc - ASEAN

Thứ nhất, sự gần gũi về mặt địa lí là cơ sở để hình thành nên mối quan hệ

khu vực Xét về mặt địa lí, một khu vực thường được xác định như một nhóm quốc gia nằm trong một vùng đặc thù về địa lí Có thể coi ASEAN và Trung Quốc nằm trong khu vực Đông Á, nên có ý thức về địa bàn chung và môi trường chung Sự gần gũi là cơ sở quan trọng để hình thành lên mối quan hệ địa lí - nhân văn giữa các quốc gia trong vùng

Các nước ASEAN và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông Có đường biên giới dài hàng nghìn km, có điều kiện địa lí rất thuận lợi Trung Quốc giáp với nhiều nước như Việt Nam, Lào, Mianma, và gần những nước ASEAN còn lại như Brunây, Singapo, Philippin Ví dụ: Tỉnh Quảng Tây là tỉnh nối liền Trung

Trang 12

Page 12 of 101

Quốc với các nước ASEAN chiếm 4061km đường biên giới trong tổng số 20.000

km đường biên giới Tỉnh Quảng Tây là cửa ngõ của Trung Quốc với nhiều nước ASEAN như: Philipin, Singapo, Malaixia Vị trí địa lí gần kề là ưu thế thuận lợi cho việc giao thông, liên lạc, xúc tiến các hoạt động mậu dịch, xuất nhập khẩu hàng hóa cho hai bên

Thứ hai, về mặt lịch sử, hầu hết các cộng đồng ở đây đều có mối quan hệ

lịch sử khá lâu dài Có những quan hệ được hình thành cách đây hàng nghìn năm Mối quan hệ này tồn tại trên cả hai kênh nhân dân và nhân dân, nhà nước

và nhà nước Sự liên hệ giữa các nước này đều diễn ra trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, từ kinh tế, chính trị đến xã hội văn hóa [10; tr.108-109] Có vô số chứng minh lịch sử cũng như dấu vết thực tiễn chứng minh điều này Ví dụ như trường hợp Việt nam có quan hệ hàng nghìn năm lịch sử với Trung Quốc Quá trình này vẫn được tiếp tục trong quá trình chống lại sự xâm lấn của chủ nghĩa thực dân Hàng thế kỉ nô dịch của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã làm tăng ý thức đoàn kết khu vực trước sự can thiệp của bên ngoài Việc cùng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và can thiệp cường quyền khiến các nước trong khu vực

có ý thức hơn về số phận lịch sử chung

Hoàn cảnh lịch sử đó đã góp phần dẫn đến nhu cầu liên kết với nhau để hạn chế bớt tác động tiêu cực từ bên ngoài, là cơ sở để tạo tính đồng nhất của khu vực

Xét về góc độ xã hội, thì sự di dân lâu đời giữa các cộng đồng trong khu vực đã tạo lên hình thế phân bố đan xen và những liên hệ cộng đồng trải khắp khu vực Trong thời kì chủ nghĩa thực dân sự di dân vẫn tiếp tục Quá trình này tạo điều kiện cho sự thúc đẩy trao đổi văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất càng trở nên sâu sắc Ví như: Do sự di dân trong thời gian dài mà có một số

Trang 13

Page 13 of 101

lượng lớn Hoa kiều sống trong khu vực Đông Nam Á Như ở Inđônixia là 7.2 triệu người chiếm 3.5% dân số; Thái Lan là 5.8 triệu người chiến 10% dân số; Malaixia là 5.4 triệu người [40; tr.66] tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động hợp tác giao lưu về văn hóa, xã hội, kinh tế giữa những nước này

Thứ ba, về văn hóa, sự giao thoa giữa hai nền văn minh lớn Trung Quốc

và Ấn Độ diễn ra trong nhiều quốc gia trong khu vực Quá trình giao thoa này diễn ra lâu đời và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia đó Sự giao thoa này tạo điều kiện hình thành những giá trị chung của các quốc gia trong khu vực, giúp thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và tăng cường giao lưu của các cộng đồng dân tộc Mặt khác, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á là tương đối lớn Ảnh hưởng đó không chỉ diễn ra trong quá khứ mà còn tiếp tục trong hiện tại thông qua lực lượng Hoa kiều đang có mặt ở hầu hết các nước trong khu vực cũng như do vị thế của Trung Quốc hiện đại Ảnh hưởng này tuy đậm nhạt ở nhiều quốc gia khác nhau, song cũng có tác dụng nhất định trong việc hình thành những nét riêng của khu vực Đông Nam Á Có thể nói sự tương đồng về văn hóa và sự gần gũi về phong tục tập quán được nảy sinh trên nền văn minh lúa nước là nhân tố hết sức quan trọng tạo nên truyền thống láng giềng hòa hảo, gần gũi và dễ thông cảm lẫn nhau Sự gần gũi về mặt văn hóa là yếu tố vô cùng thuận lợi trong việc truyền bá các giá trị văn hóa Trung Quốc

Về tôn giáo, khu vực Đông Á có những tôn giáo xuyên biên giới trên nhiều vùng rộng lớn như đạo Phật hay Hồi giáo…đem lại sự tương đồng nhất định giữa các cộng đồng cùng tôn giáo Nhiều giá trị tôn giáo đã trở thành giá trị dân tộc và từ đó là điểm chung liên quốc gia Tôn giáo không chỉ đem lại sự tương đồng trong giá trị và niềm tin mà còn làm nảy sinh những tình cảm xuyên biên giới giữa các cộng đồng cùng tôn giáo

Trang 14

Page 14 of 101

Như vậy, trên cơ sở những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa,

xã hội của Trung Quốc và ASEAN Quan hệ chính trị hai bên dần dần được hình thành Hai bên thiết lập quan hệ bình đẳng hợp tác tin tưởng lẫn nhau tương đối tốt Đó là điều kiện thuận lợi hơn nữa cơ sở chính trị về hợp tác kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho hợp tác kinh tế hai bên

1.1.1.2 Nhu cầu hợp tác hai bên

Đối với ASEAN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa số các nước ASEAN và Trung Quốc đều

là những nước đã và đang xây dựng nền kinh tế thị trường Không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế

Với mục tiêu của ASEAN hiện nay là duy trì ổn định, tập trung phát triển kinh tế, tăng cường liên kết trong ASEAN Đa dạng hóa và đa phương hóa hoạt động đối ngoại, cân bằng quan hệ với các nước lớn, nâng cao vai trò vị thế của ASEAN trong khu vực và trên thế giới

Trong khi đó, Trung Quốc là một nước lớn trong khu vực và trên thế giới Nước láng giềng gần gũi có nhiều nét tương đồng về văn hóa, có chung biên giới với các quốc gia ASEAN Có vai trò quan trọng trong an ninh và phát triển của ASEAN Vì vậy từ những năm 1990, các nước ASEAN đã thay đổi cách nhìn

nhận đối với Trung Quốc theo hướng linh hoạt và mềm dẻo hơn “Mặc dù vẫn e

ngại về hệ quả lớn mạnh của Trung Quốc đối với khu vực Song các nước ASEAN thừa nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc, thấy được mặt tích cực của Trung Quốc đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực” [16; tr.4] Do

vậy, ASEAN đã điều chỉnh chính sách đẩy mạnh tiếp xúc, hợp tác với Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực nhằm tranh thủ những yếu tố thuận lợi, hạn chế bất

Trang 15

Page 15 of 101

lợi và thông qua phát triển quan hệ với Trung Quốc thúc đẩy quan hệ với các nước khác trên thế giới

Về khía cạnh an ninh, là những nước bên cạnh nước lớn đang hiện đại hóa

về quân sự, lại có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với một số nước thành viên của ASEAN Các nước ASEAN ít nhiều lo ngại về sự lớn mạnh của Trung Quốc Cho nên, qua tiếp xúc hợp tác kinh tế hai bên, kéo Trung Quốc vào cơ chế đa phương khu vực để ràng buộc và hạn chế hoạt động của Trung Quốc

Mặt khác, tiến hành quan hệ kinh tế với Trung Quốc, ASEAN sẽ có những

cơ hội to lớn Trung Quốc với dân số 1.3 tỉ dân, đây thật sự là một thị trường vô cùng lớn đầy tiềm năng và sức hấp dẫn đối với ASEAN Hơn nữa thị trường Trung Quốc không quá khó tính như thị trường EU, Nhật Bản, Mĩ, Nga… Sự gần gũi về mặt địa lý làm cho chi phí vận chuyển thấp và sự tương đồng về văn hóa là ưu thế của thị trường Trung Quốc với các thị trường khác Ngoài ra về mặt văn hóa, tăng cường quan hệ với Trung Quốc, các nước ASEAN còn có điều kiện tiếp thu những tinh hóa văn hóa của một nền văn minh lớn trên thế giới - văn minh Trung Hoa, làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc mình

Đối với Trung Quốc

Việc quan hệ với các nước ASEAN thỏa mãn những nhu cầu cho công cuộc xây dựng nền kinh tế mở cửa của Trung Quốc cũng như phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của thời đại

Với vị trí nằm trên ngã tư nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, từ châu Á sang châu Đại Dương Nhiều con đường vận tải biển quan trọng đi qua khu vực này Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng với nguồn dầu mỏ rất lớn tạo điều kiện cho Đông Nam Á có vị trị địa kinh tế, địa chiến lược rất

Trang 16

thế giới Như nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đã nhấn mạnh: “Ổn định biên giới

xung quanh, đứng chân ở châu Á - Thái Bình Dương, tiến ra thế giới Đó là điệu nhảy ba bước mà Trung Quốc tìm kiếm để giữ gìn hòa bình thế giới, phát triển đất nước” [28; tr.584]

Về góc độ an ninh, Đông Nam Á là khu đệm bên ngoài liên quan đến an ninh phía Đông Nam của Trung Quốc Đông Nam Á là nơi Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền biển đảo với nhiều quốc gia ASEAN, dễ xảy ra xung đột Đây cũng là các khu liên quan tới đặc khu Hồng Kông, Ma Cao các tỉnh phía Nam ven biển Đông Nam - động lực kinh tế Trung Quốc, đến sự ổn định đoàn kết của các dân tộc phía Tây Nam, đến sự nghiệp thống nhất Đài Loan

Về kinh tế, ASEAN với số dân 500 triệu người, GDP là 737 tỉ USD tổng

số giá trị thương mại 720 tỉ USD [54], đặc biệt đang phấn đấu trở thành thị trường vô cùng lớn cho tiêu thụ hàng hóa loại rẻ và loại trung của Trung Quốc Đồng thời, ASEAN cũng là nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nhiên liệu phong phú đặc biệt là dầu mỏ cho nền kinh tế phát triển nhanh với tốc độ cao của Trung Quốc Trong các hoạt động kinh tế với Trung Quốc, sự có mặt của một lực lượng

Trang 17

Page 17 of 101

lớn thương nhân Hoa kiều có mặt trên khu vực Đông Nam Á là một thuận lợi vô cùng quan trọng đối với Trung Quốc Theo tờ Nguyệt san Sapio của Nhật Bản, ngày 27/9/2000 số Hoa kiều ở Inđônixia là 7.2 triệu người chiếm 3.5% dân số và 73% GDP của cả nước, Thái Lan là 5.8 triệu người chiếm 10% dân số và 81%GDP, Malaixia là 5.4 triệu người chiếm 69%GDP Đến năm 1990, Hoa kiều

ở Đông Nam Á nắm 1/3 tổng số vốn trong nền kinh tế của các nước ASEAN Hoa kiều có 10 ngân hàng lớn ở trong khu vực [40; tr.66] Chính vì vậy, hợp tác với ASEAN là chiến lược vươn ra bên ngoài của Trung Quốc Hợp tác với ASEAN còn thể hiện sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực như Mĩ, Nhật Bản, EU, Nga… Trung Quốc mong muốn lấp đi khoảng trống quyền lực của Mĩ và Nga để lại sau chiến tranh Lạnh

Một điều đáng chú ý nữa là Trung Quốc tuy là một quốc gia rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Song, do số dân đông nên bình quân tài nguyên trên đầu người của Trung Quốc không đáp ứng đủ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước Trong khi đó, ASEAN là là một khu vực có nguồn tài nguồn phong phú chưa khai thác nhiều, khai thác lại xuất khẩu tài nguyên ở dạng

sơ chế giá rẻ, nguồn nhân nhân lực to lớn Vì vậy, hợp tác kinh tế với ASEAN sẽ đảm bảo nguồn cung ứng nguyên vật liệu dồi dào cho Trung Quốc

Như vậy, hợp tác và phát triển là nhu cầu thết yếu của Trung Quốc và ASEAN Nó phù hợp với chiến lược hội nhập kinh tế của cả ASEAN và Trung Quốc, để khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và phù hợp với nguyện vọng của Trung Quốc và ASEAN

Trang 18

Page 18 of 101

1.1.2 Cơ sở khách quan

1.1.2.1 Xu thế hòa bình sau chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Lạnh kết thúc vào những năm đầu thập kỉ 90 đã chấm dứt sự đối đầu quân sự Đông và Tây, giữa hai siêu cường quốc Xô - Mĩ, thế giới chuyển

từ đối đấu sang đối thoại, từ biệt lập sang hợp tác Sau khi kết thúc chiến tranh Lạnh, hòa bình và hợp tác trở thành chủ đề chính của thế giới ngày nay, phát triển kinh tế trở thành trọng điểm, tăng cường hợp tác kinh tế thương mại trở thành một xu thế mới Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho phát triển kinh tế, sự dung hòa lợi ích, vận dụng các biện pháp kinh tế để giải quyết tranh chấp, hợp tác với nhau để có lợi hơn là phương châm phổ biến trong giải quyết các vấn đề quốc tế

Điều kiện hòa bình là một trong những điều kiện tiền đề thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn Môi trường quốc tế chuyển sang một giai đoạn ổn định, hòa bình tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế quốc tế nói chung và kinh tế của mọi nước trên thế giới nói riêng phát triển nhanh chóng, thúc đẩy quan hệ kinh tế các nước diễn ra mạnh mẽ hơn

Mặt khác, trật tự thế giới mới cũng đang được thay đổi sau chiến tranh Lạnh Thế giới không còn là thế giới hai cực như trước nữa mà đã hình thành một thế giới đa cực với các siêu cường quốc như Mĩ và nhiều cường quốc khác như các nước Tây Âu; các nước Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc

và rất nhiều các nước mới nổi lên nhờ sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở châu

Á hoặc khu vực Mĩ La Tinh Các nước đang phát triển như Trung Quốc và các nước ASEAN đang tạo thế và lực mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Về phía Trung Quốc, sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, vai trò kinh tế chính trị của nước này càng được tăng cường Trung Quốc đã trở thành một

Trang 19

Page 19 of 101

cường quốc có vị trí quan trọng trong việc chi phối, quyết định các vấn đề quốc

tế và không một quốc gia nào có thể coi nhẹ sự hợp tác với quốc gia này Về phía các nước ASEAN, một mặt sự kết thúc chiến tranh Lạnh tạo môi trường thuận lợi cho sự mở rộng hợp tác kinh tế của khối này ra ngoài khu vực Hơn thế, các thách thức nảy sinh thời kì hậu chiến tranh Lạnh như khả năng cạnh tranh kinh tế giảm sút; nguy cơ vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi các nước ASEAN phải có biện pháp linh hoạt và mở rộng thích ứng không chỉ tăng cường hợp tác khu vực mà còn mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài, đặc biệt là các đối tác đối thoại ở Đông Á trong đó có Trung Quốc

Do vậy, có thể nói chiến tranh Lạnh kết thúc, vừa mang lại những điều kiện thuận lợi vừa mang những thách thức kể cả kinh tế và chính trị Điều đó đòi hỏi các quốc gia trên thế giới trong đó có Trung Quốc và các nước ASEAN tăng cường quan hệ hợp tác lâu dài

1.1.2.2 Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa

Mặc dù làn sóng toàn cầu hóa thứ ba diễn ra bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ XXI, song ảnh hưởng và tác động của nó cũng như nói đến nó là từ sau chiến tranh Lạnh đến nay Định nghĩa toàn cầu hóa đã được đưa ra rất nhiều từ phía các tổ chức quốc tế cho đến các tổ chức trong khu vực cũng như những quan điểm cá nhân của các học giả Song, nhìn chung khái niệm toàn cầu hóa

được hiểu theo nghĩa khá thống nhất, đó là: “Sự mở rộng tự do hóa thương mại,

đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu…thúc đẩy quan hệ giao dịch song phương, đa phương tăng cường liên kết giữa các quốc gia” [9; tr.22]

Toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan

hệ quốc tế hiện đại Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công

Trang 20

Page 20 of 101

nghệ thông tin đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau Xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày nay không còn là vấn đề mới mẻ nhưng tính cơ động toàn cầu hiện nay là chưa từng có về mặt tốc độ, phạm vi, mật độ…Toàn cầu hóa kinh tế là những mối quan hệ vượt qua biên giới quốc gia, khu vực để vươn tới quy mô toàn thế giới Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa bị chi phối bởi các nhân tố: sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; các tập đoàn tư bản độc quyền đang ráo riết thực hiện ý đồ chiến lược biến quá trình toàn cầu hóa thành quá trình tư do hóa dựa vào ưu thế về chính trị; sự hình thành các tổ chức liên minh kinh tế, chính trị trên toàn thế giới… Trong đó khoa học công nghệ là nhân

tố chi phối mang ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới hiện nay và mạng lưới hoạt động của chúng đóng vai trò chủ chốt thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế

Toàn cầu hóa kinh tế và khu vực hóa diễn ra song hành với nhau Có ý

kiến cho rằng: “Trong các quan hệ toàn cầu hóa thì xu thế khu vực hóa được

xem là bước chuẩn bị để tiến tới toàn cầu hóa Mặt khác, xu thế khu vực hóa lại phản ánh thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng giữa một số nước trước nguy cơ, những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đặt ra” [13;

tr.127] Do đó, xét về ngắn hạn khu vực hóa đối ngịch với toàn cầu hóa nhưng về dài hạn thì khu vực hóa là bước chuẩn bị để thực hiện toàn cầu hóa Nội dung chủ yếu của khu vực hóa là thành lập các khu vực kinh tế mới, mở rộng hơn nữa các khu vực đang tồn tại, tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, quyền tự trị cho các khu vực

Động lực gia tăng xu thế khu vực hóa hiện nay xuất phát từ mục đích phát huy những lợi thế so sánh, những nét tương đồng của các quốc gia trong nhóm khu vực Chẳng hạn như Châu Phi là nơi có làn sóng toàn cầu hóa diễn ra muộn

Trang 21

Page 21 of 101

hơn các nước khác, song cũng phải đến năm 2002 thì các nước trong khu vực này mới thành lập được Liên minh châu Phi (AU) Mục tiêu của AU là đưa châu Phi vượt qua đói nghèo, xung đột và bệnh tật, tiến tới ổn định và phát triển Rõ ràng là các vấn đề phổ biến của hầu hết các nước châu Phi hiện nay là đói nghèo, xung đột, bệnh tật đã làm cho họ xích gần nhau hơn trong một khối thống nhất, cùng hành động, cùng chia sẻ, hỗ trợ nhau để đạt được mục tiêu chung của mình

Ở Đông Nam Á, các nước ASEAN thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), nhằm hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế Như vậy, tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, xu thế hợp tác, liên kết kinh tế phát triển mạnh mẽ trên nhiều cấp độ, tạo điều kiện cho các nước nhất là các quốc gia đang phát triển

có cơ hội để tiếp cận các dòng vốn, công nghệ, kĩ năng và kinh nghiệm quản lí,

mở rộng thị trường

Dưới tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế quan hệ Trung Quốc - ASEAN ngày càng được tăng cường trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là kinh tế Hiện nay, cả Trung Quốc và ASEAN đều là những quốc gia đang phát triển và xây dựng nền kinh tế thị trường Đều có mục tiêu cao nhất

là tận dụng cao nhất nguồn ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tăng cường hợp tác Trung Quốc - ASEAN đáp ứng những lợi ích thiết thực của cả hai bên Xuất phát từ mục tiêu này cả Trung Quốc cả ASEAN đều điều chỉnh chính sách của mình với các nước lánh giềng, với khu vực theo hướng “cầu đồng, tồn dị”, tằng những điểm tương đồng và nỗ lực từng bước tháo gỡ những điểm khác biệt trong quan hệ hai bên

Như vậy, cùng với với kết thúc của chiến tranh Lạnh, là sự mở rộng mạnh

mẽ liên kết khu vực, rất nhiều các liên minh, tổ chức kinh tế thế giới ra đời Sự

đa dạng về cấp độ phát triển, sự khác biệt về mặt đặc điểm kinh tế, địa - chính trị

Trang 22

Page 22 of 101

cùng với những ảnh hưởng về đặc điểm lịch sử, đã và đang làm cho các hình thức liên kết kinh tế trở lên phong phú đa dạng Tuy nhiên, về bản chất chúng là hiện thân của tự do hóa về mặt thương mại và đầu tư quốc tế

1.2 Quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991

Các nước ASEAN và Trung Quốc có nhiều tiềm năng lớn trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, mậu dịch và đầu từ vì lợi ích chung và lợi ích riêng của các bên Trung Quốc là một thị trường lớn đầy tiềm năng với 1.3 tỉ người đang trên đà phát triển với tốc độ cao Về các nước ASEAN, với số dân 500 triệu người, đây

là một thị trường vô cùng rộng lớn để tiêu thụ hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc Mặt khác, với vị trí vô cùng thuận nằm trên ngã tư nối Thái Bình Dương sang

Ấn Độ Dương, từ châu Á sang châu Đại Dương có nhiều con đường vận tải biển quan trọng đi qua khu vực này cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn lao động dồi dào Là cơ sở để Trung Quốc hoạch định chiến lược và sách lược đầu tư khai thác, tiến hành những hoạt động xuất nhập khẩu để phục vụ cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao của nước mình

Mặc dù là quốc gia làng giềng gần gũi về mặt địa lí, lịch sử văn hóa song quan hệ Trung Quốc - ASEAN vẫn chưa được chú trọng đúng mức do vẫn nghi ngại về một số vấn đề mang tính chất thời đại Trong những năm 50, do đứng về phe Liên Xô và chủ nghĩa xã hội, mức buôn bán của Trung Quốc với các nước

xã hội chủ nghĩa chiếm đến 69%, trong khi đó các nước Đông Nam Á chỉ chiếm đến 6% Trong những năm đầu thập niên 60, mức buôn bán Trung Quốc và Đông Nam Á là 206.9 triệu USD (1961), trong đó Mianma và Inđônêxia chiếm 62.5% tổng số mức buôn bán của hai bên [10; tr.153] Năm 1967, quan hệ ngoại giao của Trung Quốc và Inđônêxia bị cắt đứt trong khi đó Inđônixia lại đang là

Trang 23

Từ năm 1978, Trung Quốc đã quyết định tập trung vào các nhiệm vụ kinh

tế mở đầu cho công cuộc cải cách mở cửa Để phục vụ cho công cuộc cải cách của mình, trong lĩnh vực đối ngoại Trung Quốc đã tiến hành những điều chỉnh trong quan hệ với các nước lớn trên thế giới như Mĩ, Nhật Bản, Nga, EU… Trung Quốc đã tiến hành bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng và chủ trương tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á Quy mô thương mại của Trung Quốc đạt 859 tỉ USD với các nước Đông Nam Á, trong đó chiếm 7.6% xuất khẩu và 2.0% nhập khẩu của buôn bán Trung Quốc với tất cả các nước trên thế giới [31; tr.38] Đến năm 1980 quy mô thương mại Trung Quốc - ASEAN lên tới 2.2 tỉ USD

Nhìn chung, từ những năm 70 đến những năm 80 của thế kỉ XX, các nước ASEAN coi Trung Quốc là bạn hàng không thể thiếu của mình Hợp tác kinh tế hai bên đã mở rộng sang lĩnh vực hợp tác đầu tư nhưng buôn bán thương mại vẫn là lĩnh vực chủ yếu trong hợp tác kinh tế hai bên Đến năm 1991, quan hệ

Trang 24

Page 24 of 101

thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt tới 7.96 tỉ USD tăng 8 lần so với năm 1978 [31; tr.38] Tỉ trọng buôn bán năm sau cao hơn năm trước

Đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc đã triển khai toàn diện chính sách láng giềng

với Đông Nam Á theo tinh thần: “Thân thiện với láng giếng, ổn định với láng

giềng, làm giàu với láng giềng” [16; tr.5] được Thủ tướng Ôn Gia Bảo công bố

ngày 7/6/2003 tại Hội nghị hiệp Định thương mại Đầu tư Trung Quốc tại Bali, Inđônixia

Như vậy, trong thời kì chiến tranh Lạnh, quan hệ buôn bán đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN, song phương giữa Trung Quốc và các nước thành viên trong khối ASEAN đã đạt được những kết quả đáng chú ý Nó là tiền đề cho

sự phát triển hợp tác kinh tế, thương mại của Trung Quốc - ASEAN trong giai đoạn sau

Trang 25

Page 25 of 101

Chương 2 QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ TRUNG QUỐC - ASEAN

Cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển Khoa học công nghệ dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Những thành tựu khoa học mới phát minh và ứng dụng làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ Làm xuất hiện thêm những công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu…, nhiều ngành kinh tế mới ra đời

Kinh tế thị trường phát triển với nhiều hình thức dẫn tới sự tăng cường tự

do hóa kinh tế và xu thế và hợp tác vừa cạnh tranh, đấu tranh cho một nền kinh

tế thế giới đang chuyển dần sang một nền kinh tế tri thức

Quan hệ kinh tế không chỉ giới hạn lĩnh vực thương mại, xuất khẩu mà còn mở rộng trên tất cả các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, anh ninh

Trang 26

Page 26 of 101

Như vậy, cùng với sự kết thúc chiến tranh Lạnh và những biến chuyển của tình hình thế giới đã đòi hỏi sự cần thiết hợp tác giữa các quốc gia với nhau Trong đó, hợp tác kinh tế đã trở thành nhân tố chủ yếu chi phối các cặp quan hệ quốc tế Các quốc gia khẳng định sức mạnh quốc gia mình không chỉ bằng sức mạnh quân sự mà còn bằng sức mạnh kinh tế

Trong bối cảnh chung ấy, quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng được nâng lên một tầng cao mới

8/

-

-

Trang 27

-Page 27 of 101

-

ASEAN, hỗ

- ASEAN b

Trang 28

Page 28 of 101

Như vậy, từ khi thiết lập quan hệ chính thức, trong bối cảnh toàn cầu hóa

và khu vực hóa, quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu khả quan Hai bên cùng nhau giải quyết các vấn đề như khủng hoảng kinh tế, hay những vấn đề an ninh - chính trị, kinh tế để tiến tới thiết lập một mối quan hệ lâu dài trong tương lai

2.1.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trên lĩnh vực thương mại

Trên lĩnh vực thương mại, việc buôn bán giữa Trung Quốc và ASEAN ngày càng được chính phủ hai bên quan tâm và mở rộng thông qua các hiệp định thương mại

Từ năm 1991 đến năm 1996, Trung Quốc đã phát triển quan hệ thương mại và kinh tế với 6 nước thành viên và 4 quốc gia chưa gia nhập ASEAN vào thời điểm đó là Việt Nam, Campuchia, Mianma, Lào Nhưng đây là giai đoạn đặt nền móng cho sự thiết lập vững chắc về phát triển quan hệ Trung Quốc và ASEAN trong tương lai

Từ năm 1997 đến nay, Trung Quốc và ASEAN đã mở rộng quan hệ hợp tác để cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Trong năm 1997, Trung Quốc và ASEAN đã đưa ra Tuyên bố chung về hợp tác Trung Quốc - ASEAN hướng tới thế kỉ XXI Trong hai năm 1999 - 2000, Trung Quốc đã lần lượt kí Hiệp định khung về tuyên bố chung với 10 thành viên của ASEAN về quan hệ hợp tác song phương trong tương lai Xác định sự phát triển vững chắc

và lâu dài của hai bên trên cơ sở hợp tác láng giềng, tin tưởng lẫn nhau và cùng

có lợi Mười một nước trong Tuyên bố chung nói trên đã giành sự quan tâm đặc biệt về hợp tác kinh tế và thương mại Đến năm 2000, Trung Quốc và mười nước

Trang 29

Page 29 of 101

thành viên ASEAN đã kí Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương,

nâng sự hợp tác thương mại của Trung Quốc và ASEAN lên một tầng cao mới

Trên thực tế, từ năm 1991 trở đi quan hệ thương mại hai bên đã đạt được

những thành tựu vô cùng to lớn Kim ngạch song phương giữa Trung Quốc và

ASEAN không ngừng tăng nhanh qua các năm

Biểu đồ 1:

Kim ngạch ngoại thương Trung Quốc và ASEAN 1991 - 2000 [54]

Đơn vị : Tỉ USD

Có thế thấy kim ngạch buôn bán hai bên tăng trưởng nhanh chóng Năm

1991, là 7.96 tỉ USD nhưng đến năm 2000 con số này là 39.5 tỷ USD, tăng gần 5

lần Từ năm 1991 trở đi (ngoại trừ năm 1998 kim ngạch có giảm chút ít so với

năm 1997), do cuộc khủng khoảng tài chính trong khu vực, còn lại hai bên

thương mại đều tăng Đặc biệt là đến năm 2000, tình hình kinh tế thế giới bắt đầu

giảm sút nhưng thương mại hai bên vẫn duy trì mức tă

Trang 30

Page 30 of 101

Chính vì vậy quam hệ Trung Quốc và ASEAN ngày càng được tăng cường Cùng với sự giúp đỡ của Trung Quốc và sự nỗ lực của bản thân, các nước ASEAN đã vượt qua được giai đoạn khó khăn và tiếp tục phát triển

Bảng: Kim ngạch ngoại thương Trung Quốc với từng nước ASEAN

Trang 31

Page 31 of 101

Có thể nói Singapo luôn là bạn hàng lớn nhất trong khối của Trung Quốc Năm 2000, trong tổng số 5 tỉ USD kim ngạch buôn bán giữa Trung Quốc và ASEAN thì riêng kim ngạch buôn bán của Trung Quốc và Singapo đã đạt tới 10.8 tỉ USD Bạn hàng lớn thứ hai của Trung Quốc là Malaixia với kim ngạch song phương đạt 8 tỉ USD Tiếp đó là Inđônêxia là 7.4 tỉ USD và Thái Lan là 6.6

tỉ USD Đối với các nước ASEAN còn lại, kim ngạch thương mại là rất nhỏ, chỉ đạt dưới 4 tỉ USD

Trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc và ASEAN có nhưng bước tiến đáng kể Trước đây (trừ Singapo), các nước ASEAN vốn là nhưng nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên và hàng hóa sơ cấp Đầu nhưng năm 90, mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của ASEAN-6 là chất đốt

và gỗ Hai mặt hàng này chiếm hơn 50% tổng số hàng xuất khẩu của các nước ASEAN-6 vào Trung Quốc Đến nay, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có những bước tiến đáng kể Trong các sản phẩm chủ yếu của các nước ASEAN sang Trung Quốc là máy móc, thiết bị điện tử, khoáng sản, nhựa, giấy, bột giấy chiếm tới 48% tổng số hàng xuất khẩu trong tổng giá trị của ASEAN-6 sang Trung Quốc

Đối với 4 nước ASEAN còn lại thì hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu và những mặt hàng sơ chế đặc biệt là mặt hàng nông sản

và tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của các nước này với Trung Quốc còn thấp không làm ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu xuất nhập khẩu chung của hai khối

Các mặt hàng Trung Quốc xuất khẩu sang các nước ASEAN chủ yếu là máy móc, thiết bị điện tử, hàng dệt may, kim loại, dày dép, máy móc Trong đó, thiết bị điện tử là lớn nhất và ngày càng gia tăng

Trang 32

Page 32 of 101

Như vậy, từ năm 1991 đến năm 2000, quan hệ thương mại Trung Quốc và ASEAN phát triển với tốc độ nhanh, quan hệ buôn bán diễn ra ở hai phương thức chính ngạch và tiểu ngạch Trong đó Singapo nổi lên là một đối tác đáng tin cậy của Trung Quốc trong khối ASEAN Sự phát triển của quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN trong giai đoạn này là cơ sở thuận lợi cho sự phát triển của mối quan hệ thương mại hai bên khi bước vào thế kỉ XXI

2.1.3 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trên lĩnh vực đầu tƣ - viện trợ

Mặc dù là những quốc gia láng giềng của nhau, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhất là một số nước Đông Nam Á vẫn còn chịu ảnh hưởng của thuyết mối đe dọa của Trung Quốc nên trong một thời gian dài quan hệ hai bên vẫn chưa có tiến triển đúng mức tương xứng với mỗi tiềm năng của mỗi nước Sau chiến tranh Lạnh cùng với những biến đổi của bối cảnh quốc tế, khu vực cũng như bản thân mỗi quốc gia mà quan hệ Trung Quốc và ASEAN đã cải thiện

và đạt được nhiều thành quả

Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc

Trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN, nhìn chung trong thập niên cuối thế

kỉ XIX, mặc dù hai bên đã bắt đầu chú trọng đầu tư - viện trợ qua lại nhưng kết quả đạt được vẫn khiêm tốn

Đối với Trung Quốc, ASEAN là một trong những nhà đầu tư quan trọng đồng thời cũng là địa bàn đầu tiên của các nhà đầu tư Trung Quốc tiến hành lựa chọn khi đầu tư ra bên ngoài ASEAN là một trong những khu vực cung cấp nguồn vốn quan trọng của Trung Quốc Trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 1998, vốn FDI thực hiện của ASEAN vào Trung Quốc vẫn luôn tăng từ 90 triệu USD (1991) đến 4.22 tỉ USD (1998) Vốn FDI thực hiện năm 1999, 2000

có giảm chút ít do cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ năm 1997-1999 nổ ra Năm

Trang 33

Bảng: Đầu tư của các nước ASEAN vào Trung Quốc hết năm 2001 Nước Số hạng mục Số vốn cam kết

Trang 34

Như vậy, trong các nước ASEAN thì Singapo là nước có số vốn đầu tư

nhiều nhất vào Trung Quốc chiếm 65% tổng số vốn FDI của cả ASEAN vào

Trung Quốc, với số vốn FDI đạt 16.9 tỉ USD hết năm 2000 Tiếp đó là Malaixia

và Thái Lan, những số vốn của hai nước này vào Trung Quốc vẫn kém Singapo

Các nước ASEAN còn lại có kim ngạch đầu tư nhỏ, đặc biệt là đầu tư của

Campuchia, Mianma, Lào, Việt Nam, Brunây là hầu như không đáng kể

Các lĩnh vực đầu tư của các nước ASEAN vào Trung Quốc là khai thác

bất động sản, tài chính dịch vụ, địa chất, khoáng sản Đầu tư của các nước

ASEAN vào Trung Quốc hầu như chỉ tập trung vào các đặc khu kinh tế như

Giang Tô, Phúc Kiến, Thượng Hải, Quảng Đông Các doanh nghiệp đầu tư vào

Trung Quốc phần lớn là những người Hoa kiều, với số lượng đầu tư lớn, nắm giữ

một phần lớn tài chính của các nước Hầu hết đầu tư của ASEAN vào Trung

Quốc giai đoạn này là năm nước thành viên ban đầu

Đầu tư của Trung Quốc vào các nước ASEAN

Trong những năm 90, Trung Quốc tăng cường đầu tư vào các nước

ASEAN Mặc dù đầu tư của Trung Quốc vẫn chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt 135.7 tỉ

USD năm 1999, chiếm 1% tổng FDI của ASEAN Nhưng đầu tư của Trung

Quốc vào ASEAN trong những năm gần đây đạt 60%/ năm [47; tr.8]

Trang 36

Page 36 of 101

Bảng: Đầu tư của Trung Quốc vào các nước ASEAN

(đến hết năm 2000 và 2001) Nước Số dự án Tổng đầu tư Đầu tư từ Trung Quốc

và gia công để xuất khẩu Mặt khác, theo đà phát triển của nền kinh tế cùng với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và sự hỗ trợ về tài chính

Trang 37

và cho vay thêm 12 triệu USD [17; tr.46]

Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á (1997-1998), Trung Quốc là một quốc gia ít nhiều cũng chịu tác động của cuộc khủng hoảng, song Trung Quốc vẫn cố gắng giúp đỡ những nước Đông Nam Á giảm bớt những thiệt hại về kinh tế Đặc biệt Trung Quốc đã viện trợ 1 tỉ USD cho Thái Lan để giúp nước này khắc phục những khó khăn

Như vậy, trong 10 năm từ 1991 đến 2000, quan hệ kinh tế Trung Quốc và ASEAN trên lĩnh vực đầu tư bắt đầu được khởi động Tuy số lượng quy mô còn chưa tương xứng với tiềm năng và chưa mang lại hiệu quả cao cho cả hai bên song nó đã có nhưng bước đi đầu tiên làm nền tảng vững chắc cho sự hợp tác

đầu tư và viện trợ hai bên

2.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn từ năm 2000-2010 2.2.1 Bối cảnh lịch sử

Mặc dù nền hòa bình và hợp tác là xu hướng chủ đạo của thế giới, song bước sang thế kỷ XXI tình hình thế giới có những biến đổi phức tạp, căng thẳng

và nguy hiểm bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế, những tranh chấp và xung đột trong khu vực và trên thế giới

Trang 38

Page 38 of 101

Thứ nhất: Hiện nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho nền

kinh tế thế giới phát triển Tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong số các công nghệ mới thì công nghệ thông tin với tốc độ cao đã nhanh chóng lan toả đi khắp thế giới Tổng lượng tin tức toàn cầu năm 1995 gấp

2400 lần so với năm 1985 Hiện nay tổng lượng tin tức trong một ngày tương đương với 6.5 lần tổng lượng tin tức của cả năm 1985 [10; tr.29]

Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ thì nền kinh tế thế giới đang diễn ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt dưới nhiều hình thức và trong các lĩnh vực khác nhau Các nước cạnh tranh nhau để giành quyền bá chủ thế giới, còn các công ty cạnh tranh nhau để giành quyền đua về lợi nhuận Cạnh tranh về giá

cả chưa đủ, hiện nay cạnh tranh chủ yếu nhờ vào chất lượng sản phẩm Trên cơ

sở đó các liên minh kinh tế đã được thành lập nhằm đạt kết quả cao trong lĩnh vực kinh tế và thương mại Các khu vực mậu dịch tự do được thành lập ở khắp nơi như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mĩ (NAFTA), Hội đồng thương mại tự do châu Âu (EFTA)… Đặc biệt là Mĩ đã tiến hành thành lập khu vực mậu dịch tự

do với hàng loạt các nước Năm 1987, Mike Mansfield - đại sứ Mỹ tại Nhật Bản

đã đưa ra đề nghị nghiên cứu khả năng thành lập Khu vực mậu dịch tự do Mỹ - Nhật Bản Năm 1989, báo cáo cuối cùng về “Sáng kiến ASEAN - Mỹ” đã được cùng nghiên cứu và đưa ra kêu gọi thành lập khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN và Mỹ Gần đây hơn, năm 1997, Mỹ đã đưa ra đề nghị thành lập khu vực mậu dịch tự do P5 (Pacific 5 - nhóm 5 nước ở Thái Bình Dương, bao gồm Australia, Chile, New Zealand, Singapor và Mĩ) Sang đến năm 2002, quá trình thành lập các khu vực mậu dịch tự do đã được Mĩ đẩy mạnh Ngoài những Hiệp định tự do hóa thương mại (FTA) với Mehico, Canada, Jordan và Israc, trong năm 2003, Mĩ đã ký FTA với Singapo, Chile và các Hiệp định khung về thương

Trang 39

Page 39 of 101

mại và đầu tư với Thái Lan, Philippin và Inđônêxia Đầu tháng 6/2003, Mĩ cũng bắt đầu thương thảo để ký FTA với Liên hiệp quan thuế miền nam châu Phi (gồm các nước Nam Phi, Boswana, Lesotho, Namibia và Swaziland)

Theo Sách trắng về thương mại quốc tế của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho đến tháng 5/2003 đã có khoảng 250 hiệp định mậu dịch

tự do (FTA) song phương và khu vực đã được thông báo cho WTO, trong đó có

130 hiệp định được thông báo sau tháng 1/1995 Khoảng trên 170 FTA đang có hiệu lực và 70 FTA khác đã có hiệu lực mặc dù chưa được thông báo cho WTO

Dự kiến đến cuối năm 2005, sẽ có 300 hiệp định mậu dịch tự do song phương và khu vực có hiệu lực Hàng loạt các FTA được thành lập đã bổ sung nhưng thiếu hụt của WTO do phạm vi hoạt động của FTA không chỉ trong lĩnh vực kinh tế thương mại, dịch vụ mà còn cả trong các ngành du lịch, đầu tư thương mại, nhân lực, giao thông, nông lâm nghiệp, tạo ra thị trường xuất khẩu rộng lớn Thêm vào

đó, mức độ điều chỉnh của FTA sâu rộng hơn nhiều so với WTO với nhưng ưu đãi cao, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới tự do hóa tối đa, loại bỏ các hình thức thuế quan xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường đầu tư…Chính vì vậy đại sứ Singapo tại Nhật Bản tại Hội nghị thách thức và cơ hội đối với việc hợp tác khu

vực APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái bình Dương) ngày 16/5/2003 tại Tokyo (Nhật Bản), cũng nêu rõ: “Tự do hoá thương mại theo WTO không có

được nhiều bước tiến trong những năm gần đây do WTO có quá nhiều thành viên Trong bối cảnh như vậy, các hiệp định tự do khu vực và song phương sẽ là

cơ chế bổ sung tốt cho tiến trình đa phương” [37; tr.33]

Thứ hai: Trong hai thập kỉ qua, kể từ khi chiến tranh Lạnh kết thúc đúng là

cả thế giới đang tập trung phát triển kinh tế, cố gắng duy trì nền hòa bình và an ninh chung của cả nhân loại Tuy nhiên, hòa bình không có được ở mọi nơi, mọi

Trang 40

Page 40 of 101

lúc Những mâu thuẫn, cọ sát thậm chí là những xung đột, chiến tranh vẫn đang xảy ra ở nhiều nơi Bên cạnh những cuộc chiến tranh đơn phương do Mĩ phát động, còn rất nhiều cuộc xung đột khác ở châu Phi, Trung Đông, Nam Á…, đặc biệt là cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và gần đây nhất là vấn đề hạt nhân của Iran

Ở châu Á, bên cạnh vấn đề hạt nhân của bán đảo Triều Tiên thì ở khu vực Đông Á vẫn tiềm tàng nhiều yếu tố khác có thể dẫn tới nguy cơ bất ổn định, thậm chí là xung đột Đặc biệt là trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, lãnh hải và lãnh thổ giữa các nước trong khu vực Chẳng hạn như sự tranh chấp các đảo và thềm lục địa ngoài khơi của Trung Quốc và Việt Nam trong khu vực Biển Đông

Có thể thấy rằng: “Trong khi kinh tế thế giới đã và đang trở thành một nền

kinh tế toàn cầu hóa thì bức tranh chính trị thế giới vẫn đang trong tình trạng mất cân bằng Có nhiều nền chính trị vẫn đang trong quá trình khẳng định ưu thế quốc gia dân tộc, điển hình là nền chính trị của Palextin Trong khi đó là có những nền chính trị muốn trở thành một xã hội công dân hậu dân tộc như EU…Trong tương lai gần có lẽ thế giới phải chứng kiến sự sống chung giữa các quốc gia với cái quốc tế Đó chính là một khía cạnh mới của quan hệ quốc tế trong thế kỉ mới [4; tr.128]

Thứ ba: Kinh tế thế giới đang phải đối mặt với những cuộc cuộc khoảng

kinh tế mà đầu tiên là khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã tác động mạnh

mẽ đến nền kinh tế thế giới Năm 1998, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng mà tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 2.8% so với năm 1997 là 4.2% [49; tr.56]

Cuộc khủng hoảng này khởi phát từ Thái Lan vào tháng 7 năm 1997 và nhanh chóng lan sang các nước khác trong khu vực các nước ASEAN Kim ngạch đầu tư của ASEAN giảm đáng kể Trong năm 1997, kim ngạch buôn bán

Ngày đăng: 13/07/2015, 22:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ôn Gia Bảo, “Cùng nhau viết lên chương mới trong hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN”, Bài phát biểu tại diễn đàn thương mại và đầu tư Trung Quốc - ASEAN lần thứ 3 tổ chức tại Nam Ninh, Trung Quốc ngày 31/4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cùng nhau viết lên chương mới trong hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN
2. Bản tin hội nhập và phát triển, số tháng 2/ 2003, Uỷ ban quốc gia về hội nhập kinh tế quốc tế (DEI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hội nhập và phát triển
3. Hồ Châu - Hoàng Giáp - Nguyễn Thị Quế (2006), “Khu vực mậu dịch Trung Quốc - ASEAN, quá trình hình thành và triển vọng”, Nxb Lí luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khu vực mậu dịch Trung Quốc - ASEAN, quá trình hình thành và triển vọng”
Tác giả: Hồ Châu - Hoàng Giáp - Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nxb Lí luận chính trị
Năm: 2006
4. Nguyễn Văn Dân (2003), “Khủng bố và chống khủng bố với vấn đề an ninh trong cuốn “Khủng bố và chống khủng bố, cuộc chiến không giới hạn”, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng bố và chống khủng bố với vấn đề an ninh trong cuốn “Khủng bố và chống khủng bố, cuộc chiến không giới hạn
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003
5. Trần Độ (2001), “Quan hệ kinh tế Trung Quốc - Sigapo từ sau khi hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao với nhau (1990-2000)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ kinh tế Trung Quốc - Sigapo từ sau khi hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao với nhau (1990-2000)”
Tác giả: Trần Độ
Năm: 2001
7. Forging closer ASEAN – “China Economics Relations in the 21 st century"- Báo cáo của nhóm chuyên gia về hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc, 10/2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: China Economics Relations in the 21stcentury
8. Nguyễn Hoàng Giáp, (2005), “Tác động của sự phát triển quan hệ Trung Quốc-ASEAN đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của sự phát triển quan hệ Trung Quốc-ASEAN đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Năm: 2005
9. Nguyễn An Hà (2003), “Toàn cầu hóa kinh tế, một số tác động đến quá trình liên kết kinh tế EU - Asean”, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn cầu hóa kinh tế, một số tác động đến quá trình liên kết kinh tế EU - Asean”
Tác giả: Nguyễn An Hà
Năm: 2003
10. Vũ Văn Hà (2007), “Quan hệ Trung Quốc - Asean - Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó đến Việt nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ Trung Quốc - Asean - Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó đến Việt nam
Tác giả: Vũ Văn Hà
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
11. Đặng Đình Hào - Đặng Thị Hồng Thúy (2005), “Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển thương mại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển thương mại Việt Nam”
Tác giả: Đặng Đình Hào - Đặng Thị Hồng Thúy
Năm: 2005
12. Nguyễn Minh Hằng (1999), “Trung Quốc với sự phát triển kinh tế các nước ASEAN tác dụng tích cực và những nhân tố ảnh hưởng”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc với sự phát triển kinh tế các nước ASEAN tác dụng tích cực và những nhân tố ảnh hưởng
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Năm: 1999
13. Dương Phú Hiệp - Vũ Văn Hà (chủ biên) (2001), “Toàn cầu hóa kinh tế”, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn cầu hóa kinh tế”
Tác giả: Dương Phú Hiệp - Vũ Văn Hà (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
14. Lý Hồng (2003), “Mậu dịch Trung Quốc - ASEAN tăng trưởng mạnh mẽ”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mậu dịch Trung Quốc - ASEAN tăng trưởng mạnh mẽ
Tác giả: Lý Hồng
Năm: 2003
15. Đạm Đình Hoàng (2004), “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ đầu những năm 90 đến trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ đầu những năm 90 đến trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á”
Tác giả: Đạm Đình Hoàng
Năm: 2004
16. Vũ Dương Huân (2007), “Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN - Trung Quốc”, Tạp chí Đông Nam Á, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN - Trung Quốc”
Tác giả: Vũ Dương Huân
Năm: 2007
17. Nguyễn Phương Hoa (2001), “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN năm 2000”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN năm 2000”
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2001
18. Lý Hồng (2003), “Mậu dịch Trung Quốc - Asean tăng trưởng mạnh mẽ”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mậu dịch Trung Quốc - Asean tăng trưởng mạnh mẽ”
Tác giả: Lý Hồng
Năm: 2003
19. IMF- Direction of Trade Statistics Yearbook 2001 ( Số liệu năm 2000)) 20. Võ Đại Lược (2006), “Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (CACEC) hướng phát triển và các vấn đề”,Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc,số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Direction of Trade Statistics Yearbook 2001" ( Số liệu năm 2000)) 20. Võ Đại Lược (2006), "“Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (CACEC) hướng phát triển và các vấn đề”
Tác giả: IMF- Direction of Trade Statistics Yearbook 2001 ( Số liệu năm 2000)) 20. Võ Đại Lược
Năm: 2006
21. Lee Hsien Loong “The future of East Asian Cooperation” at the 11 th internioal conference on “The future of Asian”, 25 May, Tokyo, Japan. Http:www. Asean sec. org Sách, tạp chí
Tiêu đề: The future of East Asian Cooperation
Tác giả: Lee Hsien Loong
22. Lê Văn Mỹ (2005), “Bước đầu tìm hiểu về “ngoại giao láng giềng” của Trung Quốc từ sau chiến tranh Lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bước đầu tìm hiểu về “ngoại giao láng giềng” của Trung Quốc từ sau chiến tranh Lạnh
Tác giả: Lê Văn Mỹ
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w