Bởi thế, khi xác nhận công lao của Tự lực văn đoàn như một hội đoàn có vị trí khai sángtrong văn học hiện đại ta không nên quên rằng chính cái văn đoàn ấy, với đích nhắm nghệthuật vô tư,
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường Đại học Sài Gòn đến nay,chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn
bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến Cô –TS Hà Minh Châu, giảng viên
bộ môn “Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỷ XX” đã cùng với tri thức và tâmhuyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian họctập tại trường
Trong quá trình nghiên cứu, chúng em không tránh khỏi những hạn hẹp về chuyênmôn - có phần chưa thấu đáo, kính mong Cô góp ý chân thành để vấn đề nghiên cứu đượchoàn thiện hơn!
Chúng em kính chúc Cô thật dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thànhcông trong cuộc sống!
Chúng em trân trọng cảm ơn Cô thật nhiều!
TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 4
1.1 TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ 4
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 4
1.1.2 Tiểu thuyết luận đề 4
1.2 NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN 5
1.2.1 Cơ sở lịch sử - văn hóa - xã hội cho sự ra đời của Tự lực văn đoàn 5
I.2.2 Giới thiệu về nhóm Tự lực văn đoàn 8
I.2.2 Cách thức hoạt động và những cống hiến cho văn đàn 23
CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CON NGƯỜI VÀ NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT 27
2.1 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn 27
2.2 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn nhìn từ phương diện con người 30
2.2.1.Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 30
2.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn .30
2.3 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn từ phương diện cách tân nghệ thuật 49
2.3.1 Hiện đại hóa trong cốt truyện và kết cấu 49
2.3.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 56
2.3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 62
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN ĐẾN TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 69
3.1 Mục đích sáng tác văn chương 69
3.2 Những ảnh hưởng cơ bản từ tiểu thuyết tự lực văn đoàn đến tiểu thuyết hiện đại Việt Nam .70
3.2.1 Nối tiếp những luận đề cho tiểu thuyết đô thị Nam Bộ 1945 -1954: 70
3.2.2 Ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật sáng tác 71
3.3.Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 3MỞ ĐẦU
“Nhìn lại văn chương tiền chiến, cho đến nay những nhà phê bình văn học đều nóiđến một chỗ đứng rất lớn lao của Tự lực văn đoàn, họ đã làm thành một biến cố, ghi dấumột thời đại, văn chương Tự lực văn đoàn thực đã là một giai đoạn có thật trong văn họcsử” Nhận định của nhà phê bình Dương Nghiễm Mậu đã khẳng định vai trò của Tự lựcvăn đoàn đối với đời sống văn học của đất nước trong một giai đoạn đầy biến động Nửacuối thế kỷ XIX, sau tiếng súng xâm lược của Pháp, xã hội Việt Nam thay đổi sâu sắc,nhiều đô thị mới mọc lên, nhiều tầng lớp mới ra đời Công chúng văn học phát triển, họ đòihỏi một thứ văn chương mới, phản ánh đúng những khát khao sâu thẳm trong cái tôi nộicảm của con người Khi tầng lớp trí thức đang chơi vơi trong tâm trạng nổi trôi vô định vìkhủng hoảng giá trị và niềm tin sâu sắc về một xã hội bình yên bị lung lay, khi tình cảmnhân văn không có tấm lưới chân lý thanh lọc, thật giả lẫn lộn, nhân tâm hoang mang… thìcông chúng văn học đòi hỏi văn chương phải đổi thay Bởi những chuẩn mực của một xãhội với những con người chuẩn mực đã không còn phù hợp nữa Chính vì vậy mà Tự lựcvăn đoàn ra đời đã tạo nên một tiếng vang sâu thẳm đánh thức những điều thầm kín củacon người Người ta nhìn thấy ở đây sự đáp ứng một cách trọn vẹn những nhu cầu cảm xúccủa xã hội Chính bởi vậy, người ta đã đòn nhận nó như một tất yếu của nhu cầu yêu đương
và khao khát
Tự lực văn đoàn đã chấm dứt hoạt động thực tế kể từ sau năm 1940, tính đến nay đãgần 80 năm, một khoảng thời gian không phải là ngắn, kèm theo biết bao sóng gió của mộtthời không chút bình yên về mọi mặt Nhưng có điều rất lạ: càng lùi xa thì độ sáng của hiệntượng văn học mà ta đang xem xét dường như lại sáng hơn lên, diện mạo của những nhânvật nòng cốt trong nhóm Tự lực lại càng hằn bóng nơi tâm trí chúng ta Đó là bằng chứngchắc chắn của những giá trị đã biết cách tự khẳng định, không để cho quy luật sinh tồn đàothải
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ khảo sát “Ảnh hưởng của tiểu thuyết luận đề
” Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi không tránh khỏi những trùng lặp với các công trìnhnghiên cứu trước đó Tuy vậy, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm những điểm mới để vấn đềđược hoàn thiện hơn Chúng tôi mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp chân thành đểviệc nghiên cứu vấn đề này ngày càng trọn vẹn
Trang 4NỘI DUNGCHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG.
1.1 TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ.
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết.
Tiểu thuyết xuất hiện sớm ở Châu Âu, vào thời kì cá nhân con người không còncảm thấy ích lợi và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại Nhưngphải tới thế kỉ XIX với sự xuất hiện của những cây bút “đại thụ” như Xtăngđan, Banzăc,
L Tônxtôi, Đôxtôiepxki… thể loại tiểu thuyết mới đạt tới sự hoàn thiện
Nhà nghiên cứu M Bakhtin cho rằng: tiểu thuyết là loại văn chương duy nhấtluôn luôn biến đổi bởi nó phản ánh được một cách sâu sắc, cơ bản và nhạy bén hơn sự
chuyển biến của bản thân hiện thực Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa tiểu thuyết là
“Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn khônggian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bứctranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiềutính cách đa dạng” Đây là một trong những thể loại quan trọng nhất của văn chương hiệnđại “Tiểu thuyết không đơn thuần chỉ là một thể loại trong nhiều thể loại Đó là thể loạiduy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế màthân thuộc sâu sắc với thời đại ấy”
Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết phát triển muộn Mãi tới đầu thế kỉ XVIII với
sự xuất hiện của Nam Triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, nước ta mới
có tác phẩm có quy mô tiểu thuyết Tuy nhiên những tác phẩm này vẫn thuộc loại hình
cổ điển phương Đông Phải sang đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết Việt Nam mới mang tinh thầncủa thời đại mới, thời đại từ xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thực dân nửa phongkiến Với sự giao lưu và tiếp nhận những tinh hoa của nền văn hóa phương Tây, tiểuthuyết Việt Nam mới thực sự trở thành tiểu thuyết hiện đại
1.1.2 Tiểu thuyết luận đề
Tiểu thuyết luận đề được hiểu là tiểu thuyết mà cốt truyện và số phận nhân vậtđược dùng để chứng minh cho một vấn đề triết học, đạo đức, xã hội (tức luận đề) cótrước
Cần phải phân biệt tiểu thuyết luận đề với luận đề của tiểu thuyết Luận đề của tiểuthuyết chính là chủ đề, là vấn đề: “Triết lý xã hội, đạo đức và các loại hình tư tưởng khácđược đặt ra trong tác phẩm” Chủ đề được hình thành từ hiện thực cuộc sống thông qua sựkhái quát hóa của nhà văn, chủ đề toát ra từ ý nghĩa khách quan của tác phẩm
Với tiểu thuyết luận đề, luận đề là cái có trước Cốt truyện và nhân vật được tácgiả sử dụng nhằm chứng minh cho luận đề Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ cho rằng:
“Tiểu thuyết luận đề là tiếng để dịch thành ngữ Pháp Roman à thèse Luận đề đây là chỉcái chủ trương, cái quan niệm có hệ thống của một tác giả về một vấn đề trọng đại của tư
Trang 5tưởng và liên quan đến xã hộ i nhân sinh Nhà văn viết ra một câu chuyện với chủ ýtrình bày những nhân vật, dẫn dắt các tình tiết để đi đến một kết cục, tất cả nhằm bênhvực cái quan niệm riêng của mình… Người ta nhận ra tiểu thuyết luận đề ở chỗ, tác giả
đã rõ rệt chủ ý bênh vực một quan niệm, để chống lại một quan niệm khác và rõ rệt uốnnắn câu chuyện, khuôn đúc nhân vật, phục vụ cho chủ ý của mình”
Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết luận đề là tính định hướng trong khai thác nhân vật
và cốt truyện ở đó, người đọc dễ dàng nhận ra sự can thiệp của tác giả Nhà văn luôn luônxây dựng hai tuyến nhân vật đối lập, có mâu thuẫn, xung đột gay gắt với nhau, trong đónhân vật chính diện luôn là “phát ngôn viên” cho tư tưởng của chính tác giả Nhân vậtcũng thường được khai thác ở những bình diện có lợi cho luận đề Kết thúc của Tiểuthuyết luận đề thường là kết thúc có hậu Vì thế tiểu thuyết luận đề thường mang màu sắcđạo đức và duy lý
1.2 NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN.
1.2.1 Cơ sở lịch sử - văn hóa - xã hội cho sự ra đời của Tự lực văn đoàn
1.2.1.1 Những cơ sở lịch sử - văn hóa- xã hội của công cuộc hiện đại hóa nền văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX.
Cùng với sự đổi thay có tính chất bước ngoặt của dân tộc, văn học Việt Namđầu thế kỉ XX cũng có một bước “chuyển mình” mang tầm vóc thế kỉ Từ một nềnvăn học trung đại mang đậm tính chất cổ điển kéo dài trong suốt hơn mười thế kỷ,đến nay văn học Việt Nam đã nhanh chóng gia nhập vào tiến trình văn học thế giới.Diện mạo nền văn học nước nhà giờ đây đang dần thay đổi và vận động theo hướnghiện đại hóa
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là một nước thắng trận nhưngvẫn phải gánh chịu nhiều tổn thất kinh tế nặng nề Để khôi phục lại nền kinh tế củamình, thực dân Pháp đã tăng cường khai thác thuộc địa Chúng ra sức vơ vét, bóc lộttài nguyên thiên nhiên của nước ta Sau hai cuộc khai thác thuộc địa và thực hiệnnhững chính sách kinh tế mới, xã hội Việt Nam đã biến đổi một cách sâu sắc và toàndiện Từ một mô hình xã hội phong kiến phương Đông, Việt Nam đã căn bản chuyểnsang xã hội thực dân nửa phong kiến
Giờ đây chính quyền bản xứ nằm trong tay thực dân Pháp, bộ máy cai trị được
tổ chức lại theo hướng hiện đại hơn và chi phối toàn diện mọi mặt đời sống xã hội Kếtquả của việc đưa ra một loạt các chính sách kinh tế mới là chế độ nửa phong kiếnthuộc địa được hình thành Xã hội lúc này xuất hiện nhiều đô thị với các nhà máy, đồnđiền mọc lên nhanh chóng Việc phát triển kinh tế hàng hóa đã tạo ra một thị trườngsôi động chưa từng có ở Việt Nam
Trang 6từ trước tới nay Cũng chính từ đây trong xã hội đã hình thành nhiều giai cấp, tầng lớpmới Nếu như trước đây xã hội Việt Nam chỉ có hai giai cấp chính là nông dân và địachủ thì nay có thêm các giai cấp khác như: tư sản, tiểu tư sản, vô sản… Với nhữngchính sách kinh tế của mình, thực dân Pháp đã phá vỡ chính sách “bế quan tỏa cảng”của triều đình nhà Nguyễn và đưa Việt Nam tiếp xúc với bên ngoài, với văn minhnhân loại và nhanh chóng hòa nhập vào “guồng quay” hiện đại của thế giới.
Từ sự thay đổi về mô hình xã hội đã kéo theo sự biến động trong kết cấu xã hộiViệt Nam Để nắm vững thuộc địa, thực dân Pháp phải tìm mọi cách để nắm chắcchính quyền các cấp và kiểm soát được nhân dân Vì vậy chúng phải xây dựng một
bộ máy cai trị trung thành và một cơ sở xã hội thích hợp với chế độ của chúng Nhằmthay thế tầng lớp Nho sĩ, thân sĩ - tầng lớp có cội nguồn và được tín nhiệm lớn ởnông thôn Việt Nam, Pháp đã mở ra các trường hậu bổ, trường Pháp – Việt, trườngCao đẳng đào tạo những thế hệ Tây học để thay thế cho những văn thân xuất thân từNho học Về cơ bản, những chính sách của thực dân Pháp đã làm cho xã hội ViệtNam “chuyển mình” bước sang xã hội tư sản, một hướng tư sản kém lành mạnh nhất.Nhưng công bằng mà nói thì chính điều đó lại tạo điều kiện cho các mặt khác pháttriể n Đó là sự thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tếmới; làm mất đi thế lực của nhiều lực lượng bảo thủ, trì trệ; tạo điều kiện cho cái mới
du nhập vào đời sống của người nông dân ở thôn quê, giúp thay đổi nhận thức lạc hậucủa họ
Xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành qua quá trình đấu tranh giữa ta vàđịch, giữa sự tranh chấp của cái cũ và cái mới Tương ứng với các hiện tượng đó làcuộc cạnh tranh Đông - Tây trong văn học Đội quân xâm lược đã tìm mọi cách để dunhập văn hóa Pháp vào Việt Nam nhằm đẩy lùi, chiếm chỗ, thay thế văn hóa cổtruyền của ta Sự đổi thay về mặt chính trị - kinh tế xã hội đã tác động tới cuộc sốngtinh thần, tâm lý và cách suy nghĩ của người dân Việt Nam Sự thâm nhập của cái mới
đã làm thay đổi nhận thức của con người về xã hội, đồng thời tạo ra những con ngườimới với quan niệm sống và cách nhìn khác trước Trong xã hội xuất hiện những vấn đềmới và đòi hỏi bổ sung những cách giải quyết mới đem lại những chuyển đổi căn bảntrong đề tài, chủ đề, đó chính là điều kiện cho nhân vật văn học hiện đại xuất hiện thaythế cho những kiểu nhân vật đã quá quen thuộc trong văn học trung đại
Mỗi một giai cấp, tầng lớp lại có nhu cầu thưởng thức văn hóa khác nhau Trong
xã hội Việt Nam, có bao nhiêu giai cấp, tầng lớp thì đòi hỏi phải có bấy nhiêu “mónăn” tinh thần cần phải đáp ứng Đây chính là nguyên nhân khiến cho đời sống văn họccủa ta ngày càng phát triển phong phú và phức tạp, kéo theo sự xuất hiện của mộtlượng công chúng đa dạng Cũng chính từ đây đã hình thành nên một đội ngũ nhữngngười sáng tác văn chương tương ứng với tính chất xã hội Thời kỳ đầu, những nhà văn
Trang 7này là một lớp người có vốn kiến thức sâu rộng về văn hóa phương Đông nhưng cũngkhông còn hoàn toàn xa lạ với văn hóa phương Tây Về sau, họ là một lớp sáng tác trẻhơn, hiện đại hơn Đó là lớp trí thức trẻ được đào tạo ở các trường hậu bổ, trường Pháp– Việt, trường cao đẳng Họ là lớp Tây học đầu tiên ít nhiều có vốn Nho học Tư tưởngcủa họ được đổi mới và đi theo hướng hiện đại Dần dần đội ngũ này hướng hẳn vềphía Tây học, tìm đến với chủ nghĩa cá nhân và con đường giải phóng cá nhân trongchủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỉ XIX Các nhà văn này, với một phong cách chuyênnghiệp đã nhanh chóng vươn lên trở thành lực lượng sáng tác chính Văn chương giờđây đã trở thành một “nghề” kiếm sống chứ không đơn thuần viết ra chỉ để thưởngthức, để “tri âm”, để “tải đạo” giáo huấn như văn chương thời trung đại Có thể nói vănchương đã thực sự trở thành một thứ “hàng hóa” trong xã hội Người viết văn hiện đại
do sự thúc bách của công việc mưu sinh nên sức sáng tạo của những cây bút trở nêndồi dào, phóng khoáng
Đó là điều kiện tạo nên một cuộc cách mạng trong văn chương Những nhà vănchuyên nghiệp – họ là những trí thức hiện đại, được trưởng thành từ nhà trường Tâyhọc Vì vậy từ tư tưởng cho đến cách thức, phương pháp sáng tác, quan niệm của họđều chịu ảnh hưởng của phương Tây và mang tính chất hiện đại Với lượng côngchúng độc giả ngày càng đông đảo và đa dạng thì nhu cầu đổi mới văn học càng trở nêncấp bách hơn bao giờ hết Sự thâm nhập của văn hóa phương Tây đã nhanh chóng tácđộng mạnh mẽ vào quá trình hình thành và hiện đại hóa nền văn học nước nhà
Một nhân tố quan trọng tạo nên bước đột phá trong quá trình hiện đại hóa văn họcthời kì này là sự xuất hiện và “lên ngôi” của chữ Quốc ngữ, nhằm thay thế cho chữHán và chữ Nôm Điều này tạo cơ hội để mở rộng lượng công chúng độc giả mới
Rõ ràng chữ Quốc ngữ, kể từ lúc mà cả dân tộc Việt Nam có ý thức sử dụng, đã đảmnhiệm được một khối lượng công việc rất lớn, nó vừa có ý nghĩa “phục hưng” các giátrị truyền thống, vừa là tiền đề để vươn tới các giá trị mới giúp văn học Việt Nam từng bước hội nhập
Trang 8Đặc biệt là báo chí thời kì này rất phát triển, chỉ trong khoảng một thời gian rất ngắn
đã xuất hiện hàng trăm tờ báo lớn nhỏ khác nhau Sự bùng nổ của báo chí là phương tiệnhữu hiệu nhất đưa văn học đến với công chúng độc giả mọi tầng lớp một cách nhanhnhất Có những tờ báo chuyên đăng tải những sáng tác văn học Nếu không có sự “trợgiúp’ đắc lực của báo chí thì độc giả không thể tiếp cận nhanh chóng với các tác phẩmvăn học Sẽ thật là thiếu sót nếu không kể đến công nghệ in ấn hiện đại đã góp phần thúcđẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam Nếu như trước đây công việc xuất bảnchỉ mang tính chất là một hoạt động mang tính tiểu thủ công, manh mún, lặt vặt thì nayxuất bản mang tính công nghệ hiện đại đã cho ra đời các tác phẩm văn học “tràn ngập”thị trường và đến với công chúng một cách dễ dàng nhất
Khác với văn học trung đại, văn học hiện đại được hình thành và phát triển trên cơ
sở xã hội thuộc địa Sự xâm nhập của văn minh phương Tây đã kéo theo những nhu cầuvăn hoá có tính thương mại Văn học giờ đây đã trở thành một nghề kiếm sống Lúc này,công chúng văn học đã đông đảo hơn về mặt số lượng, đa dạng hơn về mặt thành phần.Người sáng tác văn học là tầng lớp trí thức Tây học đang dần thay thế cho nhà Nholàm chủ văn đàn Cùng với sự bùng nổ của công nghệ in ấn và báo chí là những điềukiện để hình thành một nền văn học mới tuy ban đầu còn rất mỏng manh Sự chuyển đổi
từ văn học trung đại sang văn học hiện đại ở nước ta diễn ra với nhịp độ nhanh chóng vàgấp gáp Điều đáng nói nhất là nền văn học của ta được hiện đại hoá ngay chính tronglòng xã hội thuộc địa Những cơ sở lịch sử, văn hóa, xã hội trên đây chính là những tiền
đề quan trọng quyết định quá trình hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam
I.2.2 Giới thiệu về nhóm Tự lực văn đoàn
Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ tính chất một
hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại Hội đoàn ấy bắt đầu bằng một tờ báo, đấy là tờ Phong hóa bộ mới mà số đầu tiên phát hành vào ngày 8/9/1932 - tức số 13 - đã lập tức biến một tờ
báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong làng báo Hà Nội lúc ấy Theo
Nguyễn Vĩ, ngay số đầu tiên, tờ báo đã “bán chạy như tôm tươi” (Văn thi sĩ tiền chiến) báo
hiệu một cái gì thật mới mẻ đang xuất hiện trên đất Hà thành Hội đoàn ấy chính thức tuyên
bố thành lập vào tháng 3/1934, với một tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có thể tổng hợp lạitrong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên quan khăng khít, tự thân chúng có ýnghĩa đối trọng ngay lập tức với hiện tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời
I.2.1.1 Về văn học: Tôn chỉ nhắm tới 3 mục tiêu lớn:
a Dấy lên một phong trào sáng tác làm cho văn học Việt Nam vốn đang nghèo nàn có
cơ hưng thịnh (“Tự sức mình làm ra những cuốn sách có giá trị về văn chương mục đích là
để làm giàu thêm văn sản trong nước” /trước 1930 sự vắng vẻ của văn đàn vẫn là một tâmtrạng mặc cảm của giới cầm bút, mặc dầu văn học miền Nam đã sản xuất vô số tiểu thuyếtvăn vần và văn xuôi theo hình thức lục bát và chương hồi)
Trang 9b Xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng (“Dùng một lối văn giản dị dễ
hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam”/ vì ngôn ngữ của tạp chí và vănchương thuở ấy vẫn là ngôn ngữ đệm nhiều danh từ Hán Việt và dành cho tầng lớp học thứccao trong xã hội)
c Tiếp thu phương pháp sáng tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa văn học dân tộc
(“Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam”/ mặc dù ảnhhưởng của tiểu thuyết phương Tây đã đến miền Nam khá sớm nhưng hình thức lại bị “lạigiống” do “lai” với tiểu thuyết cổ Trung Quốc)
I.2.1.2 Về xã hội: Đề cao chủ nghĩa bình dân và bồi đắp lòng yêu nước trên cơ sở lấy
tầng lớp bình dân làm nền tảng (“Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cáchbình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cáchtrưởng giả quý phái”/ cho đến cuối những năm 20, các khái niệm “chủ nghĩa bình dân”, “nếthay vẻ đẹp bình dân” và “yêu nước một cách bình dân” hãy còn là quá mới lạ, chưa hề xuất
lộ trong tư duy của tầng lớp sĩ phu được gọi là “tiên tri tiên giác”, và cũng chưa hiện hìnhthành quan điểm ở một người vốn đã thực hiện chủ nghĩa bình dân trong thực tiễn nhưNguyễn Văn Vĩnh);
I.2.1.3 Về tư tưởng: Vạch trần tính chất lỗi thời của những tàn dư Nho giáo đang ngự trị
trong xã hội (“làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa” công khai chốnglại lễ giáo phong kiến Tự lực văn đoàn đã gây một cú “sốc” ý thức hệ, chấn động hết thảymọi thành phần còn dính dáng ít nhiều đến Nho học, thậm chí vẫn để dư chấn đến tận Hộithảo này);
I.2.1.4 Về con người: Lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng
tác (“Tôn trọng tự do cá nhân”, “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sựtiến bộ” / vì văn chương trước 1930 chưa bao giờ đưa con người cá nhân lên vị trí trung tâm,không những thế, giọng điệu chung của nó là bi ai sầu thảm Tự lực văn đoàn tuyên chiến vớithứ tâm trạng xã hội nặng nề đó; với nó “cái bi” cũng phải được đối xử, vượt qua, bằng niềmvui sống)
Với 4 điểm như đã tóm tắt, hội đoàn do Nguyễn Tường Tam thành lập rõ ràng đã hiện ratrong tư cách một trường phái văn học hoàn chỉnh, khu biệt với mọi kiểu tổ chức văn họcxuất hiện trước mình Trở về trước, các thi xã truyền thống trong lịch sử thường phải dựa vàothế lực của một tầng lớp bên trên như vua quan, hay lãnh chúa một vùng, chẳng hạn Hội Taođàn của Lê Thánh Tông, Chiêu Anh các của Mạc Thiên Tích Hoặc là tập hợp của một đámthượng lưu quý tộc, chẳng hạn Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Thẩm Các loại thi xã đó
đều lấy việc ngâm vịnh văn chương để chơi làm mục đích, nên rất ít mở rộng ảnh hưởng ra
ngoài thi xã Tính khép kín là đặc điểm hiển nhiên của chúng Tự lực văn đoàn trái lại, là sựtập hợp những con người không có quan tước, cũng không có thế lực nào bảo trợ
Họ gồm 7 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ,Xuân Diệu (không có Trần Tiêu) Đứng về mặt xã hội phải nói họ đều là “chân trắng” Nhưng
họ lại tập hợp nhau lại vì một lý tưởng muốn cống hiến cho văn học, thông qua văn học mà
Trang 10đóng góp cho xã hội, và cùng chung sức nhau xã hội hóa hoạt động sáng tác của họ, trong sựvận hành của cơ chế thị trường văn học nghệ thuật đang dấy lên từ Nam ra Bắc thuở bấy giờ.Nghĩa là họ chấp nhận sự cạnh tranh để sống còn bằng nghề văn của mình Họ không chỉ biếtđến tiểu thuyết, thơ ca mà còn ràng buộc với nhau trong việc sống nhờ vào hai tờ báo và mộtnhà xuất bản Họ không hy sinh mục đích văn chương cao quý cho việc kiếm kế sinh nhaibằng mọi giá, nhưng việc kiếm kế sinh nhai lại chính là điều kiện để họ giữ vững thiên chức
văn học như một “mục đích tự thân” , điều mà có lẽ, từ 1945 đến nay, chưa một văn đoàn nào
trên đất Việt làm nổi và có ý thức, có gan làm (còn nhớ cách đây vài năm, khi có ý kiến đềxuất chuyển các hội sáng tác văn học nghệ thuật trở về đời sống dân sự đúng nghĩa, bỏ hẳn
cơ chế “xin cho”, thì chính các vị lãnh đạo ở các hội ấy đã đồng loạt lên tiếng khẩn thiết đòibảo vệ quyền thiêng liêng của mình ) Cũng khác với các ông Nguyễn Văn Vĩnh, PhạmQuỳnh, để có thể tổ chức được một nhóm cầm bút với mục đích truyền bá cái mới của ÂuTây cũng như bước đầu xây dựng nền văn chương quốc ngữ, đều không tránh khỏi phải núpbóng Nhà nước Bảo hộ, Tự lực văn đoàn là một đoàn thể văn học hoàn toàn mang tính chất
tư nhân, không ve vãn, nhân nhượng bộ máy đương quyền và không hề phát ngôn cho quyềnlực dù lâm vào tình huống o ép khó xử nhất
Như vậy, có thể nói, Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn họcViệt Nam Những mặt ưu trội kể trên đưa lại cho nó một sức hấp dẫn đặc biệt, không tiền vànếu tính đến nay thì cũng là khoáng hậu, đẩy nó lên địa vị gần như tuyệt đối trên văn đàntrong vòng 8 năm nó tồn tại trên thực tế Sự ra đời của nó có tác dụng kích thích phong tràosáng tác văn học của cả nước như là một tất yếu, một nhu cầu nội tại, với tư cách một sự tìmkiếm và tự thực hiện của khát vọng tự do Đó là phương diện chủ chốt vạch rõ sự khác biệtbản chất giữa nó với các hội đoàn văn học từ 1945 về sau mà ta không thể mượn tiêu chí nàykia làm những cột mốc so sánh
I.2.2 Cách thức hoạt động và những cống hiến cho văn đàn.
Văn chương Tự lực văn đoàn thể hiện khát vọng dân chủ trong đời sống văn học nghệthuật Dân chủ trước tiên chính ở nề nếp sinh hoạt rất có tính nguyên tắc của một tổ chức vănhọc được xây dựng theo những chuẩn mực mới mẻ của Âu Tây Không chỉ đề xuất ra mườitôn chỉ mà thôi, để luôn luôn quán triệt mười tôn chỉ trong hoạt động thực tế, mọi công việccủa văn đoàn, nhất là công việc ra từng số báo, in từng cuốn sách, đều được bàn bạc tập thể,đều có tranh luận sôi nổi với nhau và cuối cùng có sự nhất trí của cả nhóm
Tư cách rất đáng trọng của Nhất Linh khiến ông làm tròn vai trò hạt nhân của văn đoàncho đến khi nó tan rã là ở chỗ, mặc dù quyết đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế mộtông bầu và một ông chủ báo, hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hếtcác ông chủ báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức Ông hòa hợp mậtthiết với anh em đồng đội, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác tất cả mọi việc khôngkhác gì anh em Chính vì thế, tình nghĩa giữa 7 con người trong văn đoàn, như Tú Mỡ thừa
nhận, giữ được thắm thiết sâu bền Quan trọng hơn nữa, nếu như Đông Dương tạp chí cũng
Trang 11có cả một tòa soạn song rốt cuộc mọi cá nhân khác đều dường như lu mờ đi sau cái bóng của
Nguyễn Văn Vĩnh; nếu như Bộ biên tập của Nam phong tạp chí còn hùng hậu hơn Đông Dương tạp chí mà vẫn không ai nổi đậm bằng hoặc hơn so với Phạm Quỳnh, thì Tự lực văn
đoàn toàn toàn khác Nói đến văn đoàn ấy không thể chỉ nói một mình Nhất Linh Trọng lựccủa văn đoàn phân đều cho mỗi thành viên và chỉ cần thiếu đi một, sáu “ngôi sao” còn lại đã
không thể hội tụ thành nguồn ánh sáng tiêu biểu của văn đoàn Đông Dương và Nam phong dù sao cũng chỉ mới là sự thăng hoa tài năng của một vài cá nhân, còn đến Tự lực văn
đoàn thì đã thật sự có một đột biến về chất: một sự thăng hoa tập thể, nó là kết quả của ý thứcdân chủ từ người đứng đầu chuyển hóa sang đồng đội Tất nhiên, cũng không phải vì thế mà
uy tín người thủ lĩnh của Nguyễn Tường Tam bị hạ thấp hay xem nhẹ Là một nghệ sĩ đa tài,một con người giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa, Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lạitrong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mìnhcho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người
để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại
Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận thuyết trên các báo Văn
học tạp chí, Duy tân (dưới bút danh Bán Than) sang viết tiểu thuyết; Tú Mỡ được ông gợi ý
chuyên làm thơ trào phúng; Trọng Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự; còn Thế Lữdưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”… Có ai ngờ đượcrằng bấy nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp án chínhxác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn nghiễm nhiên là một hànlâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng
xa gần thừa nhận Và mỗi thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cáihình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch Không ai còn có thể tranh ngôi
vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng Nói đến giọng thơ trào phúng kế sau TúXương ai cũng phải nhường Tú Mỡ Còn Thế Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủsoái thi đàn Cũng không thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà vềsau ít người sánh kịp Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơmới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ Riêng Nhất Linh khôngnhững không nhường Khái Hưng về tiểu thuyết, ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi khôngngừng, không mỏi Vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên
mê thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy việc phân tích các
biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn), rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết
khơi sâu vào những miền khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhấttrong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi” phân thân, tự hủy, ít
nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng) Có thể nói từ sinh hoạt dân chủ trong nội bộ,
thấm vào tình cảm của mỗi thành viên rồi tác động qua lại lẫn nhau, tinh thần dân chủ đã nhưmột chất men kỳ lạ kích thích niềm phấn hứng sáng tạo của từng cá nhân trong văn đoàn, bắtngười nào cũng gắng sức đua tranh không chịu kém thua người khác, khiến họ đều vươn tới
Trang 12vị trí đỉnh cao trên đàn văn cũng như bộc lộ hết tài hoa của họ Tác động liên hoàn giữa khátvọng dân chủ đến bùng nổ sức sáng tạo chính là như vậy.
Nhưng là một tổ chức văn học và báo chí có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, tinh thầndân chủ nhen nhóm trong văn đoàn Tự lực cũng đã lan tỏa dần ra ngoài, đúng hơn, nó được
cả văn đoàn sử dụng như một nguyên tắc thẩm mỹ và một nguyên tắc hành nghiệp linh hoạt
mà bất biến, trong bất kỳ mọi sáng tạo văn học nghệ thuật cũng như mọi hoạt động xã hộinào của họ
Dân chủ ở ngay cách đối xử với cộng tác viên nhiệt tình, trân trọng và hết mực chu đáo,
kể cả với người lần đầu cầm bút, nâng hẳn tầm thước của họ lên trong chính mắt họ, đặt họngang hàng sòng phẳng với mình, gieo vào lòng họ niềm tin ở thiên hướng nghệ thuật mà họthực sự có tài năng và đang tận tâm đeo đuổi Tự lực văn đoàn là nơi phát hiện ra Anh Thơ,
Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thanh Tịnh Cũng Tự lựcvăn đoàn lần đầu tiên trình diện các bậc danh họa Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, xướng lêncuộc cải cách y phục với kiểu áo “Lơ muya” của họa sĩ Cát Tường, và công bố trên tờ báocủa văn đoàn những bài tân nhạc của Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương Dân chủ còn ở cách
họ tổ chức các giải thưởng văn học đầy uy tín, như những trọng tài tận tụy, công tâm, mà mộtđiều khoản hệ trọng được đặt lên đầu là Hội đồng Giám khảo không bao giờ lại đồng thời làứng viên dự giải - chuyện tưởng chừng “sơ đẳng”, đến phong kiến cũng có luật “hồi tị”, màhóa ra trong nền văn học nghệ thuật của chúng ta suốt bằng ấy năm đã bị đảo ngược và cáiđảo ngược đã trở thành “thông lệ”, đến nỗi ở thời điểm 1956 học giả Phan Khôi không saohiểu được phải lên tiếng phê bình, oái oăm thay là sự thẳng thắn đó đã giáng tai họa lên đầuông Bởi thế, khi xác nhận công lao của Tự lực văn đoàn như một hội đoàn có vị trí khai sángtrong văn học hiện đại ta không nên quên rằng chính cái văn đoàn ấy, với đích nhắm nghệthuật vô tư, trong sáng, với văn hóa ứng xử đàng hoàng, mẫu mực, phương pháp điều hànhminh bạch, quy tụ được rộng rãi tinh hoa văn nghệ trong cả nước, đã khai sáng ra cùng với
nó những hình thức thể loại mũi nhọn trong văn học hiện đại Việt Nam và cả trong nghệ thuậthiện đại Việt Nam như hội họa, ca nhạc mà nó là nơi thể nghiệm, nơi ghi dấu ấn của nhữngđại biểu tiên phong
Vài chục năm qua kể từ sau đổi mới, chúng ta đã dành nhiều giấy mực để luận bàn nhằmtừng bước giải tỏa nhiều thành kiến khắt khe, cố chấp, cố gắng trả về cho lịch sử văn họcnhững giá trị đích thực của khối lượng tác phẩm do Tự lực văn đoàn để lại Ta đề cập tớitrong sách vở của họ các khuynh hướng đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, khuynh hướnglãng mạn, ca ngợi tình yêu và hạnh phúc cá nhân, khuynh hướng nghiêng mình xuống sốphận những con người cơ cực, bần cùng, cho đến khuynh hướng không bằng lòng với cuộcsống trưởng giả, tẻ nhạt cũ kỹ, quyết dấn thân vào con đường gió bụi, “mê man trong hànhđộng”, tuy chưa biết hành động sẽ đi đến đâu nhưng ít nhất cũng là sự giải thoát cho mìnhkhỏi nỗi mặc cảm đau xót của thân phận người dân mất nước v.v Ta cũng không quên cuộccách tân văn xuôi to lớn của họ, cấp cho họ một giọng văn trong trẻo, chuẩn mực, giàu sứcbiểu cảm tuy có lúc còn đơn điệu, và một cấu trúc thể loại mới mẻ, trong đó quy luật tâm lý
Trang 13thay cho trục diễn tiến đường thẳng theo trình tự thời gian và cái nhìn đa chiều trong soichiếu nhân vật thay cho lối trần thuật một giọng của người kể chuyện; là sự có mặt của thiênnhiên như một đối tượng thẩm mỹ V.v
Nhưng điều có dễ chưa mấy ai lưu ý là từ tất cả những bình diện khác nhau kia, tác phẩmcủa Tự lực văn đoàn hình như đã đúc nên được một phong vị khó lẫn, nó là cái yếu tố ẩn sâudưới tầng ngôn bản, kết nối các giá trị ấy lại với nhau Theo tôi, đó chính là vẻ đẹp của tinhthần dân chủ mà mỗi thành viên đã thấm nhuần sâu sắc và chuyển tải vào tác phẩm theo cáchriêng Chính nó đã gây ra cho người đọc đương thời biết bao nhiêu bâng khuâng thắc thỏm vềmột điều gì mới lạ mà mình không lý giải nổi khi đọc văn chương của nhóm Tự lực; cũngchính nó bắt người đọc nhập thân vào thế giới nghệ thuật của Tự lực văn đoàn không giốngnhư đi vào thế giới của các nhà văn hiện thực phê phán, một bên là cái thế giới bắt mình có
sự nghiệm sinh trong đấy, bên kia là cái thế giới để mình phẫn nộ, lên án, nhưng không nhấtthiết có mối liên lạc với mình Phải chăng khi đến với những trang viết của Nhất Linh, KháiHưng, Thạch Lam bao giờ người ta cũng phải bắt mình đối diện với chính cái “tôi” mộtcách bình đẳng, nghiền ngẫm tra vấn nó, tức là nhìn vào thế giới sâu thẳm bên trong mình.Dân chủ trong tiếp nhận văn học trước hết là ở đấy Dù ngày nay ngôn ngữ văn chươngkhông ít tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã bộc lộ sự mòn sáo thì âm hưởng “tự nghiệm” củachúng vẫn không cũ
Tuy nhiên, điều rất cần nhấn mạnh ở đây còn là một phương diện khác, một cách biểu
hiện dân chủ bằng sự vận dụng hữu hiệu ngôn ngữ trào phúng Với tờ báo Phong hóa, ngay
từ buổi đầu thành lập, Tự lực văn đoàn đã biết nắm lấy một vũ khí lợi hại là tiếng cười Aicũng biết tiếng cười là một liều thuốc hóa giải được mọi khổ đau Về mặt mỹ học, xin mượnmột câu nói của Hegel: nó “trình bày cái thế giới hư hỏng như là đang giãy giụa chống lạitình trạng hư hỏng của mình, tình trạng này biến mất do tính chất vô nghĩa lý ở bản thân nó”.Tiếng cười còn thần kỳ ở chỗ, chỉ trong phút chốc, mọi địa vị xã hội bị nó đảo lộn, thằng hóa
ra ông, ông hóa ra thằng Tận dụng được các phương cách này, đúng như Vu Gia nói, tờ
báo Phong hóa có sức công phá như một “trái bom nổ giữa làng báo” Dưới ngòi bút của họ,
cả một xã hội gồm những ông tai to mặt lớn trong giới quan trường, học thuật, báo chí, vănchương, uy thế đến như Toàn quyền Brévié, Thống sứ Châtel, Khâm sứ Graffeuil, Hoàng đếBảo Đại, Thượng thư Phạm Quỳnh, Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Đốc lý Virgitti, cho đến cảnhững nhân vật hủ lậu ở nông thôn mà biểu tượng là Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh đều bịđem ra chế giễu, bị ngòi bút châm chọc của họ làm cho điêu đứng Bằng tiếng cười của mình,
Tự lực văn đoàn đã khéo léo hạ bệ các thần tượng phong kiến và thực dân, đưa các vị xuốngđứng cùng hàng với đám chúng sinh khổ ải Mặt khác, lại cũng phải nói như Vũ Bằng, sự chếgiễu tuy thế vẫn biết giữ ở chừng mực của học vấn và trí tuệ, ngoại trừ một số trường hợpnào đó, nó không đi quá đà đến đả kích cay cú, “cười cợt người ta mà không thóa mạ ai” Tuycùng thời với Nhóm Tự lực cũng có khá nhiều tờ báo tìm nhiều cách gây cười cho độc giả,
nhưng phải đến báo Phong hóathì cái cách cười hóm hỉnh thông minh của nó mới đủ hiệu lực
biến một xã hội già nua lụ khụ thành một thế giới vui nhộn trẻ trung Lần đầu tiên, báo chí
Trang 14giành được cho mình cái quyền trao đổi công khai mọi chuyện nghiêm trang nhất, biến nóthành những chuyện để cười, thành một sinh hoạt bình thường, hợp pháp, lành mạnh, được
xã hội thừa nhận Thử hỏi, báo chí chúng ta cho đến đầu thế kỷ XXI này đã dám đem nhữngchuyện nghiêm trang ra trao đổi một cách dung dị từ góc nhìn bình đẳng - đùa vui với nó -
mà không có gì phải e ngại, hay là mỗi khi muốn cười cợt đôi chút vẫn phải nhìn trước ngósau xem đã đi đúng “lề đường bên phải” mà quyền lực dành cho mình? Vậy nên, phải nóitrào phúng là đóng góp lớn lao của Tự lực văn đoàn vào việc dân chủ hóa đời sống xã hội,một đóng góp từ trước chưa hề có và từ sau 1945 đến nay, báo chí cách mạng cũng dễ đâu đãtheo kịp
CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN CON NGƯỜI VÀ NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chuyển mình với nhiều thay đổi lớn lao trên mọi phươngdiện Hòa chung vào dòng chảy của xã hội, văn học Việt Nam có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc vớinền văn học phương Tây hiện đại nên đã có những biến chuyển mạnh mẽ Trước những yêu cầutrên, nhiều nhóm phái văn học đã ra đời đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của tầng lớp độc giả mới.Trong đó Tự lực văn đoàn đã nhanh chóng vươn lên chiếm giữ vị trí “chủ soái” trên văn đàn
Trang 15trong suốt những năm 30 của thế kỉ XX: “Tự lực văn đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng lànhóm quan trọng nhất và nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại”.
Những thành công trong tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo đã
góp phần quan trọng dần từng bước tạo ra diện mạo mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Đoạn tuyệt của Nhất Linh; Nửa chừng xuân của Khái Hưng và Con đường sáng của Hoàng Đạo
là ba cuốn tiểu thuyết luận đề vừa là mở đầu, vừa là có giá trị nhất, góp tiếng nói tố cáo, phêphán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và bênh vực quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân của conngười Đến với tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn, chúng tôi muốn góp một tiếng nói khẳngđịnh vai trò của văn đoàn này trong lĩnh vực đổi mới trên cả phương diện: nội dung và nghệ thuậttiểu thuyết dưới góc nhìn tiểu thuyết luận đề
2.1 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn
Đầu thế kỉ XX, tầng lớp trí thức Tây học ở nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ Họ tiếp nhận
và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây hiện đại Vì thế ý thức cá nhân trong họ trỗidậy mạnh mẽ, trong khi đó chế độ gia đình phong kiến vẫn đầy rẫy những tập tục phong kiến lạchậu Cuộc đối đầu giữa hai phe Cũ - Mới ngày càng căng thẳng và quyết liệt, khó có thể dunghòa Trước thực trạng trên của xã hội, Tự lực văn đoàn đã nhanh chóng nắm bắt tình hình và cho
ra mắt độc giả nhiều tác phẩm có nội dung chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con người cánhân Những tác phẩm ấy ngay từ khi mới ra đời đã nhận được sự ủng hộ và lòng yêu mếncủa đại đa số những người trẻ tuổi đang khát khao được sống cuộc đời tự do, được hưởng hạnhphúc cá nhân
Mở đầu cho cuộc chiến chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người cá nhân là cuốn tiểu
thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng Mặc dù luận đề chống lễ giáo phong kiến chưa
được đặt ra trực tiếp ở tiểu thuyết này, nhưng thông qua những hành động, suy nghĩ của cácnhân vật, nhà văn đã gián tiếp phê phán lễ giáo phong kiến với những tập tục lạc hậu đã kìmhãm quyền được yêu, được tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ Sự đón nhận nồngnhiệt của độc giả là minh chứng cho luận đề chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người cánhân Tự lực văn đoàn đã nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía bạn đọc nói chung và của tầnglớp thanh niên nói riêng Đây chính là nguồn động lực thúc đẩy, cổ vũ nhóm tiếp tục sángtác các tiểu thuyết có luận đề chống lễ giáo phong kiến
Tiếp sau Hồn bướm mơ tiên, các tiểu thuyết: Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Lạnh lùng, Gia
đình, Thoát ly, Thừa tự đã trực tiếp tấn công vào thànhtrì bảo thủ của lễ giáo phong kiến Các
tiểu thuyết này đã phơi bày mặt trái của nền luân lý bảo thủ - cái mà phái cũ gọi đó là truyềnthống, là gia phong nền nếp Đó là chế độ đa thê với quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính
chuyên một chồng” trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt; là mâu thuẫn muôn đời
giữa mẹ chồng với nàng dâu với quan niệm nghiệt ngã “mất tiền mua mâm bà đâm cho thủng”
trong Đoạn tuyệt; là chế độ hôn nhân gả bán và quan niệm môn đăng hộ đối trong Đoạn tuyệt
Trang 16và Nửa chừng xuân; là nghĩa vụ tam tòng và bổn phận thủ tiết của người đàn bà theo quan niệm
“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã kìm hãm hạnh phúc của biết bao người
phụ nữ trẻ bất hạnh trong Lạnh lùng.
Trong các tiểu thuyết luận đề, Tự lực văn đoàn đã dụng công xây dựng nên những nhân vật lýtưởng nhằm chứng minh cho luận đề của mình, cho tôn chỉ, mục đích hoạt động văn chươngcủa nhóm Giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhận xét Tự lực văn đoàn là tập hợp những cây bút
“thấm nhuần văn hóa Pháp” Các sáng tác của văn đoàn này chịu ảnh hưởng của văn hóaphương Tây mới mẻ, họ là lớp nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới tư duy nghệ thuậtthời bấy giờ, họ ca ngợi và cổ vũ cho cái mới Nhanh chóng nắm bắt và phản ánh được nhữngxung đột giữa mới - cũ trong xã hội, họ đã dùng văn chương như một thứ vũ khí đấu tranh chốnglại các nền nếp, ý thức, tư tưởng đã lỗi thời Vì vậy tiểu thuyết luận đề đã nhanh chóng trởthành mộ t hình thức văn chương có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đấu tranh của Tự lực vănđoàn Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn thường đi theo hai hướng:
Thứ nhất là đấu tranh chống lễ giáo phong kiến và giải phóng con người cá nhân.Thể hiện những khát vọng về cuộc sống tự do, được hưởng hạnh phúc cá nhân, được quyền tự
do yêu đương Trong các tác phẩm của Tự lực văn đoàn, chúng ta nhận ra cái tôi cá nhân mạnh
mẽ, luôn khát khao được sống, được yêu, luôn muốn bứt phá khỏi sự ràng buộc của lễ giáo phong
kiến với những hủ tục, luật lệ quá khắt khe kìm hãm hạnh phúc cá nhân Cuộc đấu tranh quyết liệt
giữa hai phe cũ – mới đã diễn ra Một bên là những thanh niên trí thức đại diện cho những tưtưởng tiến bộ của thời đại Một bên là những nhân vật đại diện cho nền luân lý truyền thống vớinhững quan niệm đã quá cũ kĩ, lạc hậu luôn khăng khăng giữ lấy quan điểm của mình Thông quacác tác phẩm, tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến
đã chà đạp lên quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân chính đáng của con người.Thứ hai là cải cách xã hội: các tiểu thuyết luận đề mang nội dung cải cách xã hội của Tự lựcvăn đoàn mang đậm màu sắc cải lương tư sản Những tiểu thuyết luận đề theo hướng này gồm:Gia đình của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo Trong Gia đình, Khái Hưng đã ca ngợinhững địa chủ tân học có tấm lòng nhân ái, quan tâm tới cuộc sống khổ cực của người nông dân
Họ làm nhà Ánh sáng, đào giếng, mở trường học nhằm khai sáng cuộc sống của người nông dân
ở tiểu thuyết Con đường sáng, Hoàng Đạo lại vẽ lên bức tranh đẹp đẽ về một cuộc sống mới củangười nông dân: có sân vận động, có thư viện… Địa chủ và nông dân cùng nhau liên hoan vui vẻmỗi khi được mùa Tất cả chỉ là một hiện thực giả tạo, những viễn cảnh không bao giờ có thật.Hiện thực được vẽ lên trong tác phẩm qua lăng kính của các nhà văn là một hiện thựckhông có thật, mà nó được vẽ lên bởi trí tưởng tượng quá ngây thơ của các nhà văn Vì thế màtiểu thuyết luận đề đi theo hướng này không thu được thành công Bởi cốt truyện và nhân vậtđược xây dựng một cách quá khiên cưỡng và gượng ép nhằm chứng minh cho luận đề mà nhàvăn đã đưa ra
Trang 17Tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh thể hiện được những tư tưởng tiến bộ của lớp thanhniên trẻ có học thức, được tiếp xúc với văn minh phương Tây hiện đại Nhà văn đã xây dựngnên những nhân vật lý tưởng đại diện cho những tư tưởng mới Tiểu thuyết luận đề của NhấtLinh luôn có hai tuyến nhân vật đối nghịch nhau gay gắt Một bên đại diện cho những tư tưởngtiến bộ Đó thường là những trí thức Tây học được học hành, được tiếp xúc với nền văn minhphương Tây hiện đại Họ có ý thức sâu sắc về sự biến chuyển của thời đại, họ cảm nhận cuộcsống thật ngột ngạt, tù túng trong các ràng buộc của chế độ đại gia đình và hệ ý thức phongkiến cổ hủ Vì thế họ khao khát có được cuộc sống tự do Những người phụ nữ trong tiểu thuyếtluận đề của Nhất Linh luôn là những người phụ nữ được học hành, có sự hiểu biết Họ khát khaomột cuộc sống bình đẳng.
Trong tiểu thuyết luận đề, Khái Hưng không chỉ tấn công vào lễ giáo phong kiến, đòi giảiphóng con người cá nhân, nhà văn còn gửi gắm vào đó ước mơ cải cách xã hội, mong muốn đemđến cuộc sống mới tốt đẹp hơn cho người dân quê nghèo khổ Những nhân vật tân địa chủ trongtiểu thuyết luận đề của Khái Hưng không chỉ có ý thức về quyền sống cá nhân, có lối sốngmới, mà họ đặc biệt quan tâm đến đời sống của người nông dân Họ gần gũi, giúp đỡ nhữngngười nghèo khổ, đói rách, ước muốn của họ là cải cách xã hội và cuộc sống của người dân quê
Ở tiểu thuyết Gia đình, Khái Hưng đã ca ngợi những địa chủ tân học có tấm lòng nhân ái đã
làm nhà Ánh sáng, đào giếng, mở trường học mang đến một cuộc sống văn minh cho người nôngdân Tuy nhiên, tiểu thuyết luận đề theo hướng cải cách xã hội của Khái Hưng mang đậmmàu sắc cải lương tư sản, thiên về dung hòa mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ Đây chính làđiểm hạn chế trong tiểu thuyết luận đề của ông
Có thể nói rằng, văn chương của Tự lực văn đoàn nói chung và của Nhất Linh, Khái Hưngnói riêng đã tạo nên những giá trị mới cho văn học Bởi nó đã tìm được hướng đi, có mụctiêu tranh đấu, lại mở ra những khát vọng và quyền sống cá nhân cho con người Đây chính làđiểm cách tân và cũng là đóng góp tích cực của Tự lực văn đoàn cho sự đổi mới của vănchương Việt Nam những năm 30 đầu thế kỉ XX
Trang 182.2 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn nhìn từ phương diện con người
2.2.1.Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Cũng giống như các ngành khoa học khác, mục đích cuối cùng của văn học là góp phần làmcho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn Văn học lấy con người làm “đối tượng nhậnthức trung tâm” và đây cũng chính là cái đích quan trọng mà các nhà văn trong quá trình sángtạo nghệ thuật luôn hướng tới
Con người đối với giới nghiên cứu và phê bình văn học phương Tây chính là “Phương tiệntất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm” và là “đối tượng của cái nhìn và sựmiêu tả của tác giả, trong trường nhìn của tác giả”
Còn ở Việt Nam, theo Từ điển thuật ngữ văn học thì quan niệm nghệ thuật là “Nguyên tắc cắt
nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiệnđời sống với một chiều sâu nào đó” Và quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người được
“Thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm
lý của chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách xử lý các biến cố vàquan hệ nhân vật” Để tạo được tính chỉnh thể và sắc diện đa dạng của mình “quan niệm nghệthuật của văn học có liên hệ mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về mặt triết học,khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình”
Mỗi một nhà văn trong quá trình sáng tác luôn chịu sự tác động của thời đại nhưng điều quantrọng là người nghệ sĩ ấy phải tìm được hướng đi riêng cho mình Bởi thế nên không phải ngẫunhiên mà các nhà nghiên cứu lại khẳng định: quan niệm nghệ thuật về con người là cơ sở quantrọng để xem xét nét độc đáo trong sáng tạo của nhà văn
2.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn
2.2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã có nhiều sự cách tân, đổi mới.Các tác phẩm của văn đoàn đã thể hiện một cách nhìn, cách hiểu mới về con người Sự cách tân
ấy trước hết được thể hiện trong tư tưởng của nhà văn, ở việc đấu tranh cho sự giải phóng cái tôi
cá nhân khỏi sự kìm kẹp của lễ giáo phong kiến và hướng tới quyền tự do quyết định hạnh phúc.Con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thường được gắn với vấn đề tư tưởng,chính trị: “Con người cá nhân trên bình diện xã hội được gắn với vấn đề tư tưởng, chính trị (đấutranh giải phóng cá nhân, chống đối lễ giáo phong kiến) hay vấn đề đạo đức (vô luân, trụy lạc, suyđồi)’’
Con người trong sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng luôn có ý thức hướng tới một cuộcđời mới với những quan niệm về cuộc sống hết sức tiến bộ Các nhân vật đại diện cho quan niệmsống hiện đại, họ thường là những thanh niên trẻ tuổi đang khát khao quyền sống tự do, khát khao
hạnh phúc cá nhân: nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt luôn “Ao ước được sống cái đời tự do rộng
Trang 19rãi, không gì bó buộc” Con người trong sáng tác của Hoàng Đạo mang một dấu ấn của trí thứcTây học mong muốn đem hết học thức của mình để giáo dục dân quê, dạy họ cách sinh hoạtlàm việc văn minh, giúp họ thực hiện khát vọng đổi đời Con người ấy mang trong mình kháokhát được giải phóng mình cũng là giải phóng cho người Nhìn chung trong các tác phẩm vănxuôi của Tự lực văn đoàn ta luôn nhìn thấy những con người mới mẻ, tân tiến, luôn tìm thấytrong họ một niềm khao khát vượt lên trên những lề lối phong kiến cũ, tìm cho mình một chântời mới, một con đường sáng mới.
Xung đột được miêu tả trong các tác phẩm thường là xung đột giữa hai thế hệ với hai quan niệmsống hoàn toàn trái ngược nhau Mâu thuẫn của họ chủ yếu là mâu thuẫn giữa cá nhân với truyềnthống, giữa cũ và mới Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thường xây dựng hai tuyến nhân vậtđối lập nhau Một bên là các bậc cha mẹ, họ là đại diện và bảo vệ cho những tư tưởng cũ kĩ, lạchậu đã tồn tại, ăn sâu vào trong tiềm thức, trong suy nghĩ của đại bộ phận người dân Việt Namhàng ngàn năm qua Một bên là những thanh niên trí thức trẻ tuổi có học, được tiếp cận với nềnvăn minh hiện đại, họ mang trong mình những tư tưởng mới mẻ và tiến bộ Những suy nghĩ vàhành động của lớp người này đã thể hiện những nhận thức tiến bộ của con người trong vấn đềtình yêu và hôn nhân, khẳng định quyền tự do cá nhân của con người trong xã hội
Con người trong Tự lực văn đoàn luôn hướng tới cuộc sống mới, quan niệm sống mới Để đạtđược điều đó, họ đã đấu tranh quyết liệt để giành được thế chủ động Con người luôn được đặt
trong những hoàn cảnh thử thách quyết liệt như: Mai (Nửa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt), Duy (Con đường sáng)… Con người trong tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn luôn tự tin vào
mình, tin tưởng vào những quyền mà con người xứng đáng được hưởng Nhưng tiếc rằng, niềmlạc quan tin tưởng ấy lại mang tính chất ảo tưởng đậm màu sắc lãng mạn Tuy nhiên cái lãng
mạn của họ là một bước tiến so với cái lãng mạn ảo não sướt mướt của Tố Tâm Bởi cái lãng mạn
của Tự lực văn đoàn luôn hướng tới những giá trị tinh thần mới mẻ với mong muốn đem đến cuộcsống tự do, hạnh phúc cho con người
2.2.2.2 Biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người
2.2.2.2.1.Con người theo mô hình đạo đức lễ giáo phong kiến
2.2.2.2.1.1 Mâu thuẫn giữa con người cá nhân với đại gia đình phong kiến
Nền luân lý cũ đã không còn hợp thời, chế độ đại gia đình với vô số mối quan hệ vànhững bổn phận đã ràng buộc, kìm hãm hạnh phúc của con người Trước thực trạng đó, thế hệ trẻvới tư tưởng tiến bộ đòi đoạn tuyệt với tư tưởng Nho giáo, giải phóng con người khỏi xiềng xíchcủa chế độ đại gia đình phong kiến, hướng tới quyền sống tự do và hạnh phúc cho cá nhân
Trước mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa hai phe cũ – mới, các nhà văn thuộc thế hệ trẻnhiễm tư tưởng tiến bộ đã cùng nhau hướng tới mục đích chung là: thay đổi xã hội cũ, phá bỏchế độ đại gia đình phong kiến với những hủ tục lạc hậu như bài trừ mê tín dị đoan trong cuộcsống… Qua các tác phẩm, các nhà tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn mong muốn thiết lậpnhững quan niệm sống mới, theo mới một cách triệt để và dứt khoát Để bảo vệ quyền tự do cá
Trang 20nhân, các nhà văn đã chọn việc công phá vào đại gia đình phong kiến Họ đóng vai trò vừa lànhóm khởi xướng trong chặng đầu của cuộc đấu tranh cho cái mới tồn tại và phát triển, vừa làđộng lực mới thúc đẩy những cây bút khác tiếp tục phát huy và hoàn thiện.
Trước thực trạng xã hội đang có nhiều biến đổi, cái tôi cá nhân trong mỗi con người cũngtrỗi dậy một cách mạnh mẽ, những khát vọng mong ước về cuộc sống tự do đã thúc đẩy conngười tìm mọi cách bứt phá vượt qua “hàng rào” của lễ giáo phong kiến, kiếm tìm tự do và hạnh
phúc cho bản thân Mở màn cho những mong ước ấy là sự ra đời của tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên Tuy nhiên, Hồn bướm mơ tiên mới chỉ là khúc dạo đầu cho tư tưởng chống lễ giáo phong kiến Phải đến Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân thì xung đột giữa cái tôi cá nhân với chế
độ đại đình phong kiến mới diễn ra căng thẳng và quyết liệt Mỗi tiểu thuyết luận đề của Tự lựcvăn đoàn lại là một câu chuyện xoáy vào những nguyên tắc cơ bản của lễ giáo phong kiến:
là chuyện mẹ chồng nàng dâu với quan niệm “mất tiền mua mâm bà đâm cho thủng” trong
Đoạn tuyệt; là quan niệm “môn đăng hộ đối” trong Nửa chừng xuân…
Nhất Linh, Khái Hưng trong hai cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân đã rất dụng
công trong việc xây dựng các nhân vật chống lễ giáo phong kiến và đưa họ trở thành những nhânvật kiểu mẫu nhằm thể hiện luận đề của tác phẩm Các nhân vật ấy thường là những trí thức
có học, là con cưng của đại gia đình phong kiến chính thống, được thừa hưởng những điều kiệnvật chất đầy đủ, có cuộc sống an nhàn phú quý Nhưng bản thân họ lại không hề cảm thấy thoảimái với cuộc sống mà rất nhiều người mơ ước Ngược lại, những con người này luôn cảm thấy tùtúng và bức bối khi phải sống trong một bối cảnh toàn những luật lệ hà khắc cổ hủ và bất công Vìthế, họ tìm mọi cách mong thoát khỏi gia đình, thoát khỏi những cổ tục lạc hậu trái ngược vớiquan niệm sống phóng khoáng của họ Dù vấp phải nhiều cản trở nhưng họ không đầu hàng sốphận, không chấp nhận hoàn cảnh, không chấp nhận kiếp làm “con rối” cho người khác sai bảo
Để đạt được mục đích và lẽ sống của mình, lớp thanh niên trẻ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống giàusang phú quý, thậm chí đối đầu với gia đình, với cha mẹ và bị xã hội coi là những “nghịch tử”trong gia đình phong kiến Những suy nghĩ và quan niệm sống của họ so với thời bấy giờ là hếtsức tiến bộ Quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” của bà Án đã bị Mai
coi là ích kỉ vô nhân đạo; Nhung trong Lạnh lùng coi cái bảng “Tiết hạnh khả phong” vua ban cho
từ thời bà tổ mẫu chỉ là một sự mỉa mai, đầy đọa tuổi xuân của mình một cách vô lý, tàn nhẫn;Loan nhìn người vợ bé sụp xuống lạy mình thì băn khoăn tự hỏi không biết đó là người hay vật.Còn Dũng coi việc cha mẹ từ con đơn giản chỉ là việc không chia của cải cho nữa: “Thầy mẹtôi dẫu đăng báo hay nói khắp nước Nam rằng không nhận tôi là con, tôi cũng vẫn là con, vì đã
đẻ tức là con rồi, không nhận cũng vô lý như khi mới đẻ lại bảo rằng không đẻ Vậy từ con chỉ làkhông chia của cho nữa”
Trong cuộc xung đột giữa cũ và mới, mâu thuẫn giữa con người cá nhân với đại giađình phong kiến là vấn đề mà các nhà văn tập trung khắc họa Đó là mâu thuẫn giữa quyền cánhân với những nguyên tắc lễ giáo của xã hội phong kiến Mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến cuộcđấu tranh nhằm giải phóng cá nhân, thực hiện quyền con người Trong khi phái cũ cố gắng bảo
vệ và duy trì chế độ đại gia đình thì phái mới chiếm lực lượng đông đảo hơn, gồm những trí
Trang 21thức Tây học hấp thụ tư tưởng văn hóa phương Tây hiện đại, ý thức cá nhân được thức tỉnh sâusắc Họ dứt khoát chống đối và đòi phá bỏ những nề nếp phong kiến hủ bại Những người mới,
họ đấu tranh một cách bền bỉ và kiên trì khiến cho phe cũ không khỏi có phần lo lắng và naonúng: “Ông Hai, bà Hai tuy thấy con nói có lý, nhưng không khỏi ngạc nhiên, lo sợ Ông bà mangmáng thấy con mình xa cách hẳn mình, thành người ở xã hội khác hẳn cái xã hội Việt Nam bìnhthường… Đến nay, trước một việc quan trọng ông bà càng cảm thấy rõ mà lo sợ nhận ra rằng conmình không cùng một quan niệm về cuộc đời như mình nữa, cách biệt xa lắm” Các bậc cha mẹ đãnhận ra sự đối nghịch trong quan niệm sống giữa mình và con cái Vì vậy họ tìm cách ép buộccon phải làm theo sự sắp đặt của mình với mong muốn con cái họ sẽ tiếp tục nếp sống mà baonăm qua các thế hệ cha anh họ đã sống Nhưng càng tìm cách ép buộc thì mâu thuẫn càng thêmcăng thẳng Xung đột giữa con người cá nhân với đại gia đình phong kiến giờ đây không thể dung
hòa Vì thế sự ra đời của Đoạn tuyệt đã được đánh giá là một bước tiến hóa của xã hội An Nam:
“Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ ràng thời kỳ thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An
Nam Nó công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao hivọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đương ao ướcsống một đời đầy đủ, một đời mãnh kiệt, cường tráng”
2.2.2.2.1.2 Nhân vật đại diện cho nền luân lý phong kiến cũ
Đối lập với tầng lớp thanh niên trẻ tuổi luôn mang trong mình khát khao về một cuộcsống mới tự do, bình đẳng, được làm chủ số phận của mình là lớp người nệ cổ, lạc hậu Đóthường là những bậc cha mẹ chuyên quyền áp chế con cái, buộc con cái phải nghe theo sự sắpđặt của mình Nổi bật nhất trong hệ thống nhân vật này là những bà mẹ chồng gia trưởng như
bà Phán Lợi (Đoạn tuyệt), bà Án (Nửa chừng xuân), các bà cô chồng, những cô em gái
chồng mà dân gian vẫn có câu đùa: “giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”
Ngôn ngữ và hành vi của các bậc cha mẹ luôn bộc lộ tính cách chuyên quyền, độc đoán Đối vớicon cái, họ là những người cha người mẹ độc đoán gia trưởng, đối với kẻ ăn người ở thì họ lànhững ông bà chủ cay nghiệt độc ác Họ chính là sản phẩm của chế độ phong kiến Sự cổ hủ, lạchậu đã biến họ thành những con người tàn nhẫn Quan niệm sống của họ hoàn toàn trái ngược vớiquan niệm sống tự do cá nhân, tự do yêu đương làm chủ cuộc sống của lớp thanh niên có học.Chìm sâu trong khuân mẫu đại gia đình phong kiến, họ trở thành đại diện cho cái ta chung khắcnghiệt, luôn luôn đối lập với tư tưởng mới, lối sống mới Đặt bên cạnh những nhân vật tiến bộnhư: Mai, Loan, Nhung… thì những bà Án, bà Phán Lợi, bà huyện Tịch… càng bộc lộ rõ tínhchất cổ hủ, sự quy phạm tới mức nghiệt ngã của mình
Trong gia đình phong kiến, con người không có quyền sống theo ý thích cá nhân Từ tronggia đình ra ngoài xã hội, con người luôn phải tuân theo những quy tắc đã định sẵn từ ngàn đờixưa Con người phải sống trong vòng bế tắc, luẩn quẩn và tự làm khổ lẫn nhau Người phụ nữ luôn
là nạn nhân đáng thương nhất trong xã hội phong kiến và phận làm dâu lại là quãng đời cực nhụcnhất của họ Người đọc khó có thể quên được hình ảnh bà Phán Lợi - đại diện tiêu biểu cho những
bà mẹ chồng độc ác, chuyên quyền với tư tưởng “mất tiền mua mâm bà đâm cho thủng” Nhất
Trang 22Linh đã xây dựng rất thành công chân dung người đàn bà chuyên quyền độc ác này Bà Phán Lợicai quản mọi việc lớn nhỏ trong gia đình rất chu toàn theo ý bà, từ việc thờ cúng, giỗ tết, cưới vợcho con rồi cả việc lấy vợ lẽ cho con trai và rèn rũa nàng dâu theo ý mình Không bao giờ bỏ quabất cứ cơ hội nào để tìm cớ hành hạ con dâu, lúc thì bà ngọt nhạt mỉa mai: “Mợ đi chơi mátvề?”, lúc thì nghi ngờ Loan khuân của về nhà mẹ đẻ, bà mát mẻ nhắc nhở: “Tôi chỉ nói để côbiết, từ rày cô có đi đâu thì cô cho tôi hay, kẻo nhà này có kẻ ra người vào lỡ mất cái gì thì mộtmất mười ngờ, người ta nói ra, nói vào thêm khó khăn” Ngẫm nghĩ một lát sau bà lại nói tiếp:
“Chốc nữa mợ soát lại hòm xiểng, vòng hột xem có thiếu thốn cái gì không, kẻo mợ đi vắng lỡmất mát lại thêm phiền cho người nhà” Bà ta luôn than phiền rằng: “Nhà tôi vô phúc nên mớilấy phải một nàng dâu như thế” Hành hạ nàng dâu chưa đủ, bà còn kích bác con trai: “Này anh,anh xem vợ anh đấy Tôi cưới nó về cho anh để làm vương làm tướng ở cái nhà này à?”
Chính sự lạc hậu mê tín của bà đã giết chết đứa cháu nhỏ tội nghiệp mà bà ta không hề biết.Không những thế bà Phán Lợi còn đổ tội giết con, giết cháu bà cho Loan Khi Loan sinh con trai,
bà mững rỡ vỗ ngực tự phụ cho rằng: “Cái lão thầy bói nói thế mà đúng, nếu mình không biếtđền ấy thiêng mà lại cầu khẩn thì thánh đâu có ban phúc như thế này” Bà ta luôn tin vào thánhthần bùa ngải, sự mê muội mù quáng của bà là nguyên nhân dẫn đến cái chết của đứa trẻ vô tộikhi bà ta đem đứa bé tới giao cho lão thầy bùa chuyên chữa bệnh bằng tàn nhang và nước thải.Đứa bé ngày càng yếu đi là do lỗi của bà nhưng bà riết róng xỉa xói và đổ tội cho Loan: “Ai hành
hạ nó, ai giết nó hả con kia?” Không chỉ dừng lại ở đó, bà còn lôi cả thông gia vào để xúcphạm con dâu: “Ra mợ lại đổ cho tôi giết nó Con mợ nhưng nó là cháu tôi, mợ có giỏi, mợ cứ
đi kiện à, ra bà Hai dạy con gái như thế, dạy con ăn nói hỗn xược với mẹ chồng Mẹ nào connấy… tôi bảo cái con mẹ ấy không biết dạy con Đứa nào làm gì tôi thì làm đi, tôi xem nào.’’.Độc ác hơn, bà còn bắt con trai phải đánh vợ: “Nó nói hỗn với mẹ anh mà anh không tát cho nóđược một cái hay sao Anh tát nó cho tôi một cái xem nó còn nỏ mồm nữa hay không”
Những cổ tục lạc hậu đã ăn quá sâu vào nếp nghĩ của bà Phán Lợi Bà cho rằng trai năm thê bảythiếp là sự thường tình và bà mới là người có quyền quyết định việc lấy vợ lẽ cho Thân: “Tôi chophép anh lấy Quyền đâu ở vợ anh mà anh sợ Vả lại anh vừa bảo mợ ấy không sinh đẻ gì đượcnữa Nếu việc này không xảy ra thì tôi cũng phải nghĩ đến việc lấy vợ bé cho anh kia mà” BàPhán Lợi là đại tiêu biểu nhất cho những bà mẹ chồng độc ác trong đại gia đình phong kiến Đốivới con dâu, bà là người mẹ chồng cay nghiệt ghê gớm Đối với kẻ ăn người ở thì bà là bà chủ vôlương tâm tàn nhẫn, bà thẳng tay đánh con sen chỉ vì Loan cho nó đi ngủ: “Con sen lúc đó đươngđứng nép vào góc bếp, trên má còn in lằn mấy ngón tay”, bà ta lạnh lùng không tình người: “ngủgật thì đập vào xác nó ấy” Bà Phán Lợi luôn nhằm vào nỗi đau của Loan để đay nghiến, chỉ
vì một món ăn bị hỏng mà bà mỉa mai riết róng: “Bà trưởng ơi là bà trưởng ơi! khéo sao màkhéo thế” Bà cho rằng Loan định tâm hại người: “Lỡ tay! Mợ bỏ đấy đi đến nửa giờ đồng hồ, mợđịnh tâm làm khê của nó, mợ lại còn cãi Điêu ngoa vừa vừa chứ” Dường như nói vậy chưa đủ, bàcòn dí ngón tay vào trán Loan, quệt mạnh một cái rồi nhiếc móc nàng: “Ác như thế… không tráchtuyệt đường sinh đẻ” Mỉa mai, khích bác, đay nghiến và xúc phạm chưa đủ, bà còn xông vàođánh con dâu trong một cuộc xô xát: “Bà thử đánh mày một cái tát, xem mày bảo là hèn nhát nữa
Trang 23không?” Mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu đã lên tới đỉnh điểm trong đêm xảy ra cái chết củaThân Nhất Linh đã miêu tả hình ảnh bà Phán Lợi thật dữ tợn, ghê gớm: “Bà nhảy chồm lên, haimắt tròn xoe rồi sấn tới nắm lấy Loan tát túi bụi” Bà ta đánh Loan nhưng lại nằm vật xuốnggiường kêu khóc ăn vạ: “Trời ơi! Nó đánh chết tôi rồi!… Đánh chết nó đi cho tôi Chết đã có tôichịu tội”.
Là tín đồ trung thành của đạo Khổng, bà Án trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của nhà văn
Khái Hưng luôn miệng nhắc tới ngũ luân ngũ thường, bà đề cao lễ nghi cổ với quan niệm cứngnhắc: “Sự quý nhất của ta là lễ nghi, là ngũ luân ngũ thường, là cái đức tam tòng của đàn bà”.Sống trong xã hội phong kiến, bà chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Nho nên trí suy nghĩ của bàcho rằng tự do yêu đương, tự do kết hôn là bất hiếu, vượt quyền cha mẹ là không biết ngũ luân ngũthường Bà không bao giờ chấp nhận quyền tự do yêu đương của thanh niên nam nữ bởi theo bàdựng vợ gả chồng là phải tìm chốn môn đăng hộ đối, phải có cheo có hỏi đàng hoàng: “à, mày giởvăn minh ra nói với tao à? Tự do kết hôn à? Mày không bằng lòng nhưng tao bằng lòng Mày phảibiết lấy vợ gả chồng thì phải tìm chỗ môn đăng hộ đối, chứ mày định bắt tao thông gia với bọnnhà quê à? Mày làm mất thể diện tao, mất danh giá tổ tiên, mày là một thằng con bất hiếu, nghechưa”
Khái Hưng đã rất thành công khi miêu tả nhân vật bà Án, hình ảnh người phụ nữ này hiệnlên trong tác phẩm hết sức sinh động với tính cách đa dạng phức tạp Bà ta có ý thức sâu sắc vềquyền hành của một kẻ giàu có, quyền quý Bà tìm chỗ môn đăng hộ đối cho con không chỉnhằm mục đích tôn thêm phần danh giá cho gia đình bà mà còn cần nó như một chốn nương tựavững chắc cho con đường tiến thân của con trai Bà đã tính toán rất kĩ lưỡng và chu tất khihỏi con gái quan tuần cho con trai mình là Lộc: “Con đường tương lai của thằng Lộc còn dài.Thế nào nó cũng xuất chính nay mai Tôi hỏi con quan tuần tỉnh kia là người có thế lực cho
nó, là tôi đã xét kĩ lưỡng lắm Quan tuần còn trẻ, bước hoạn đồ còn dài, sau này con tôi tất phảinương tựa vào bố vợ mới mong chóng thăng quan tiến chức được Nếu trái lại tôi để nó tự do kếthôn với cô, thì không những nó mất chỗ nương tựa mà nó lại mang tiếng chơi bời bậy bạ, lấyngười không xứng đáng, tránh sao được nốt xấu trong lý lịch” Cũng độc đoán, gia trưởng như bàPhán Lợi, song bà Án khôn ngoan hơn rất nhiều bởi bà biết tùy cơ ứng biến nhằm đạt được mụcđích của mình Khái Hưng đã miêu tả nhân vật bà Án không hề đơn giản sơ lược: “Con người với
ý thức đầy đủ về quyền hành của một kẻ giàu có, quyền chức, với thế lực tuyệt đối của mộtngười mẹ nghiêm khắc đã tỏ ra xảo quyệt khi thì phũ phàng đuổi Mai ra khỏi nhà, bầy mưu xấu đểlừa gạt, khi thì dụ dỗ ngon ngọt, tìm cách cướp đứa cháu nhỏ về Nhân vật này có đôi lúc đángthương, nhưng bản chất ích kỉ, tàn nhẫn” Nếu như bà Phán Lợi chỉ biết hành hạ, chửi bới thậmchí là đánh đập Loan thì bà Án dùng nhiều phương cách tỉnh táo hơn, khôn ngoan hơn Thấy việcdọa nạt không đem lại kết quả, bà chuyển chiến lược sang dụ dỗ ngon ngọt cho Mai làm vợ lẽnhưng với điều kiện là cô phải tạm lánh mặt trong một thời gian để Lộc cưới con quan tuầnđã: “Bây giờ thế này Làm trai lấy năm lấy bẩy Tôi cũng chẳng bắt nó phải bỏ cô, nhất là như lời
nó thú thực với tôi, cô lại đương thai nghén Nhưng đến tháng tám này, tôi cưới vợ cho nó, mànếu bên nhà gái họ biết nó có nhân tình nhân ngãi thì ai người ta chịu để yên Vậy cô nghe tôi,
Trang 24tôi cấp vốn cho cô đi tìm một nơi khác mà tạm ở ít lâu rồi khi nào nó cưới vợ cả về đã, tôi sẽcho phép nó lấy cô về làm lẽ” Người đàn bà này rất thông minh, sắc sảo, bà ta đã nhận ra điểmyếu của Mai là lòng thương người, sẵn sàng hi sinh vì người khác: “Bà Án mỉm cười vì ngheMai nhắc đi nhắc lại mãi chữ hi sinh thì bà đã lưu ý đến chỗ nhược điểm bên địch rồi Bà định
sẽ xoay hết chiến lược về phía đó” Hết ngon ngọt dụ dỗ, bà ta lại đánh vào lòng tự trọng của Mai:
“Thôi tôi hiểu rồi, cô chẳng yêu con tôi đâu Chẳng qua cô chỉ muốn làm bà lớn đấy thôi Phải, bàtham ít nữa lại bà huyện… To lắm!” Tiến công từ cả hai phía, bà Án tìm cách gieo vào lòng contrai sự nghi ngờ vì bà biết rằng Lộc là người rất đa nghi Tất cả hành động của bà Án đều nhằmchia rẽ hạnh phúc của đôi uyên ương nhưng được bao biện bởi lí do vì con, vì lễ giáo gia phong.Thực chất những việc làm của bà ta đều xuất phát từ bản chất ích kỉ, tàn nhẫn biểu thị cho nhữngquan niệm luân lý cũ đã không còn hợp thời Nhân vật này cũng có đôi lúc đáng thương, có đôilúc bà ta cũng cảm thấy ăn năn về những việc mình đã làm Nhưng vì quá mang nặng quan niệmlạc hậu về tình yêu và hôn nhân nên những việc bà ta làm đã mất đi tính “nhân” của đạo làmngười Chính vì lẽ đó mà Lộc – một người con rất mực tôn kính mẹ đã vô cùng đau đớn với nỗidằn vặt về sự cay nghiệt của mẹ mình: “Chàng tưởng tượng mẹ chàng là một người đàn bàcay nghiệt, cứng cỏi trong khuôn phép lễ nghi, không bao giờ cảm động trong khi đứng trướcnhững sự thương tâm như ở ngoài vòng luân lý cổ” Mặc dù đáng trách, nhưng bà Án cũng làmột người đàn bà đáng thương, bởi bà đã quá mang nặng tư tưởng bảo thủ của chế độ đại gia đìnhphong kiến, tất cả những việc bà làm cũng chỉ vì quá suy tôn cổ tục, quá thiên trọng tập quán.Xuất hiện không nhiều trong tác phẩm, nhưng nhân vật Hàn Thanh cũng để lại những ấntượng khó phai trong lòng người đọc Là đại diện cho lớp trọc phú ở nông thôn Việt Nam xưa,lão ta chuyên cậy tiền của để ức hiếp, bóc lột người dân quê ngây thơ, thật thà Chỉ qua một đoạnmiêu tả rất ngắn, Khái Hưng đã lột tả một cách đầy đủ và sinh động chân dung một tên trọc phúnông thôn giàu có, hợm của: “Vả ông thành thực hoàn toàn là một cụ Hàn, vì rằng các cụ Hànthường đẫy đà mà ông thì phì nộn phương phi lắm, mặc dầu ông ta có nghiện thuốc phiện Ông
ta cũng nghiện chơi nghiện bời cho vui ngày tháng đó mà thôi… một lẽ nữa khiến ông ta hamchơi thú á phiện, là ông ta giàu, giàu lắm, giàu nhất trong hàng huyện và thứ nhì thứ ba hàng tỉnh;nên ông ta phải hút để tiện thức mà coi lấy của” Hàn Thanh có tới ba bà vợ, dẫu vậy ông vẫnmuốn kén thêm một cô vợ xinh đẹp nữa để hưởng thú vui nhàn: “Ông Hàn lại cũng không phải làngười không biết thưởng thức cái đẹp, nên tuy đã có ba vợ rồi mà còn muốn kén một bực tiểutinh diễm lệ để vui thú cảnh nhàn, vì ông Hàn vẫn tự phụ là người hào hoa phong nhã” Tronggia đình, ông Hàn như một vị quan toàn quyền quyết định cuộc sống của các bà vợ Mang nặng tưtưởng trọng nam khinh nữ, nên khi bà ba sinh hạ được cậu quý tử nối dõi cho ông thì được ôngyêu chiều cung phụng như một cô tiểu thiếp nhà quan Trong gia đình phong kiến, người phụ nữhầu như không có quyền hành gì, thân phận bé nhỏ của họ phụ thuộc hoàn toàn vào nhữngngười đàn ông, vì thế hai bà vợ cả và bà hai của ông Hàn: “tuy cũng có ghen, nhưng khôngdám hé môi vì ông Hàn oai nghiêm lắm, khắp trong hàng tổng còn sợ ép một bề nữa là các
bà vợ” Lão tìm mọi cách để có thể chiếm đoạt được những thứ mà mình muốn Bộ mặt trơtrẽn cùng những hành động đểu giả vô liêm xỉ của hắn đã phần nào nói lên tính chất bảo thủ,xấu xa của chế độ đại gia đình phong kiến Chỉ vì lấy tranh nhau một cô vợ bé mà Hàn Thanh đã
Trang 25sai đầy tớ đốt nhà ông ấm cả Đến khi gặp Mai, thấy cô xinh đẹp thì tìm mọi cách chiếm đoạt Dụ
dỗ ngon ngọt không được thì quay sang dọa nạt, ép buộc: “Thế cô ngẫm nghĩ đi nhé Chớ đổi ýkiến mà rầy rà đấy Nhà cô mà tôi đã không mua thì tôi đố đứa nào ở vùng này dám mua nổi.Không những thế còn khốn khổ cực nhục với tôi nữa kia”
Chế độ đại gia đình với nền luân lý cũ đã sản sinh ra những con người bỉ ổi như Hàn Thanh vànhững kẻ vô học chỉ thích cạnh khóe, bới móc tật xấu của người khác: “Hễ có dịp gặp nhau là
họ nói cạnh nói khóe nhau, đem những chuyện riêng tư nói cho hả dạ Ngoài những công việc
ấy ra, họ cũng không còn việc gì khác nữa” Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã khắc họarất chân thực và sinh động chân dung những nhân vật đại diện cho sự lạc hậu, cổ hủ của xã hộiphong kiến Qua đó lên tiếng tố cáo và phủ nhận nền luân lý với những tư tưởng bảo thủ của chế
độ đại gia đình đã không còn hợp thời và cần phải phá bỏ để tiến tới những quan niệm sống mớitốt đẹp hơn
2.2.2.2.2 Con người theo mô hình phương Tây hiện đại
2.2.2.2.2.1 Nhân vật trí thức Tây học
Đầu thế kỉ XX, nền văn hóa phương Tây hiện đại đã tràn vào nước ta, tác động mạnh mẽ và làmchuyển biến một cách sâu sắc trong tinh thần của người dân Việt Nam Từ đây trong xã hội đãxuất hiện những lối sống mới và những mẫu người mới Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong đờisống của lớp thanh niên trí thức thành thị Xã hội ngày càng trở nên phức tạp, cuộc sống trở nêngấp rút hơn, nhộn nhịp hơn, đòi hỏi con người phải có những “chuyển động” để bắt kịp vớicuộc sống mới
Trong xã hội lúc bấy giờ xuất hiện những quan niệm sống khác nhau, những mẫu người khácnhau, thậm chí đối lập nhau một cách gay gắt Hệ thống đạo lý cứng nhắc của xã hội phongkiến giờ đây không còn phù hợp với lớp thanh niên trí thức tiến bộ Họ nhận thấy nhiều quanniệm cũ không còn phù hợp với thời đại mình Vì thế họ mong muốn thoát ly khỏi đại gia đìnhphong kiến, đòi quyền tự do cá nhân, tự do kết hôn, giải phóng phụ nữ, đòi quyền làm chủ cuộcsống của mình
Đối lập với những quan niệm thủ cựu, lạc hậu của nền giáo lý phong kiến là những quan niệmsống mới mẻ, hiện đại của lớp thanh niên trẻ tuổi được các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nhiệttình ủng hộ Được học hành, được tiếp xúc với đời sống văn minh đô thị, được “tắm” mìnhtrong bầu không khí dân chủ phương Tây hiện đại, họ thường là những sinh viên đại học, caođẳng, những ông đốc tờ, ông tham, ông huyện… sinh ra trong những gia đình giàu có, quyềnchức, có học vấn cao, có tiền tài danh vọng và được thừa hưởng những điều kiện vật chất đầy đủ.Nhưng chính những con người này lại không bao giờ cảm thấy thoải mái với cuộc sống hiện cócủa mình Sống trong gia đình phong kiến với những đạo lý cứng nhắc khiến người trí thức cảmthấy tù túng, ngột ngạt Không bao giờ nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ một cách dễ dàng, họ tìmmọi cách thoát ly khỏi sự kìm kẹp của gia đình Văn hóa phương Tây đã thấm nhuần trong suynghĩ và hành động của lớp trí thức Tây học Sống trong chế độ đại gia đình, những con người này
Trang 26luôn khao khát được sống cuộc đời tự do Vì vậy họ đã đấu tranh quyết liệt đòi quyền tự do cánhân cho bản thân và cho sự tiến bộ của xã hội.
Lễ giáo phong kiến với những quy tắc khắt khe đã giam hãm biết bao ước mơ, khát vọng củatuổi trẻ Đặc biệt là đối với tầng lớp thanh niên trí thức có hiểu biết, có những khát vọng, hoài bãolớn Gia đình phong kiến như một nhà tù giam hãm chí khí, ước vọng của người trí thức “Ao ướcsống cái đời tự do rộng rãi không gì bó buộc” đã trở thành mục đích sống của họ Các nhân vậtnày đã nêu lên một quan niệm sống tự do hết sức mới mẻ và táo bạo: “Mình sống, mìnhmuốn sống thì không thể một mình mình sống được sao, nếu cái gia đình kia không cho mìnhđược sung sướng” Để thực hiện được mục đích của mình, con đường duy nhất là phải đấu tranh
Là một cô gái được học hành, được tiếp xúc với văn hóa phương Tây nên Loan có những quanniệm sống hết sức mới mẻ và có ý thức sâu sắc về quyền cá nhân của mình: “Em có quyền lậpthân em” Trong cuộc xô xát với mẹ chồng, bị xúc phạm, đánh đập, Loan đã vuốt tóc ngẩng lênnhìn thẳng vào mặt mẹ chồng và tuyên bố: “Bà cũng là người, tôi cũng là người, không ai hơnkém ai”
Quyết liệt hơn cả phải kể tới nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt Để thoát khỏi những
ràng buộc của lễ giáo phong kiến Dũng đã rời bỏ cuộc sống giàu sang với sự sắp đặt của cha mẹ
để ra đi, sống trong một căn phòng trọ tồi tàn ở một xóm lao động nghèo khổ Nhưng với Dũngđược sống tự do, thoải mái, được thực hiện lẽ sống của đời mình là niềm hạnh phúc của chàng.Không chỉ dừng lại ở việc đấu tranh cho quyền tự do cá nhân mà việc tiếp nhận và truyền bánhững tư tưởng của văn minh phương Tây đã trở thành niềm tự hào của những thanh niên tríthức Tây học trong các sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng Lộc đã từng nói với Mai : “Từnhỏ anh đã theo một nền giáo dục Âu tây, anh hiểu, anh yêu, anh trọng cái quyền tự do cá nhân…
Từ ngày anh biết em, từ ngày anh yêu em, lúc nào anh cũng muốn chôn sâu vào tâm trí em những
tư tưởng cao thượng ấy” Vấn đề quyền cá nhân được đặc biệt quan tâm và đề cập một cách trựctiếp trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng Tuy nhiên, sự đòi hỏi giải phóng bản ngãtrong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đôi khi lại bộc lộ một cách quá cực đoan Một số nhân vật đãbất chấp mọi quan niệm đạo đức truyền thống tốt đẹp để có được một cuộc sống tự do, thoải máitheo sở thích cá nhân ích kỷ
Một trong những phương diện thể hiện quyền cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn làquyền được tự do yêu đương, tự do kết hôn Có lẽ phải đến tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn thì vấn
đề tự do yêu đương, tự do kết hôn mới được đề cập một cách mạnh mẽ và quyết liệt đến như vậy
Đến Nửa chừng xuân thì tình yêu giữa Mai và Lộc đã thực sự thoải mái và tự do hơn rất nhiều.
Sự gắn kết của họ xuất phát từ một tình yêu chân thành và mãnh liệt Cuộc hôn nhân của họ dựatrên sự tự nguyện gắn bó giữa hai tâm hồn Tình yêu trong sáng giữa một cô thôn nữ nghèo là Mai
với chàng tham tá Lộc trong Nửa chừng xuân đã vượt lên trên mọi sự ràng buộc về luân lý, bất
chấp quan niệm “môn đăng hộ đối”, sự phân biệt giai cấp, địa vị xã hội Tuy là đứa con hết lòngkính yêu mẹ, nhưng Lộc đã bất chấp sự ngăn cản quyết liệt của bà Án, tìm mọi cách vượt quanhững rào cản của quan niệm môn đăng hộ đối để được yêu và chung sống với người mình yêu
Trang 27Bị ép buộc phải lấy con quan tuần, Lộc đã thưa rằng: “Bẩm mẹ, con đã xin mẹ đừng hỏi đám ấycho con, con không bằng lòng” Tình yêu trong quan niệm của lớp thanh niên trí thức trong tiểuthuyết Tự lực văn đoàn đã vượt lên trên những thông lệ xã hội, những ràng buộc của luân lý cổ.Tình yêu, với họ là niềm hạnh phúc chính đáng mà tuổi trẻ xứng đáng được hưởng Hôn nhânchỉ có hạnh phúc khi dựa trên nền tảng của tình yêu Đây là một suy nghĩ tiến bộ và hoàn toànđúng đắn của lớp thanh niên trí thức thấm nhuần văn hóa phương Tây Chính vì thế, khi bị éplấy Thân, Loan một thiếu nữ sống trong chế độ đại gia đình đã dũng cảm tuyên bố: “Vâng, xin
me để tùy con, và nhân thể me để con định có nên lấy chồng hay không nên lấy chồng Con đãnhiều lần thưa với me rằng con không thể
Sự đấu tranh của các nhân vật trí thức Tây học trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng
là sự đấu tranh cho tự do, đúng nghĩa với sự đấu tranh cho quyền được hưởng hạnh phúc chínhđáng của con người và gắn với ý thức về đạo đức của người trí thức có văn hóa: “Thưa thầy me,thầy me cho con đi học, thầy me không thể cư xử với con như con vô học được nữa… nếu conkhông cắp sách đi học, con sẽ cho lời me là cái lệnh không trái được, con sẽ như mọi người khác
bị ép uổng, rồi liều mình tự tử Đó mới là bất hiếu… Vâng con nhận rằng con mới quá, nhưngcon đã đi học, con không thể không cư xử theo sự học của con được”
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn khi mới ra đời đã trở thành đề tài nóng bỏng được nhiều ngườiquan tâm tranh luận Người khen thì khen hết lời, người chê thì chê thậm tệ, điều ấy đã phảnánh tình trạng xung đột mới – cũ đang diễn ra gay gắt trong xã hội Nhưng có thể nói rằng, vấn
đề tự do hôn nhân, tự do yêu đương vì hạnh phúc cá nhân trong các sáng tác của Nhất Linh, KháiHưng đã tấn công vào lễ giáo phong kiến với những hủ tục lạc hậu trên tư cách của chính nghĩanhân văn, của văn minh tiến bộ đã mang tới những giá trị tinh thần mới mẻ và tích cực
Không chỉ dừng lại ở việc đấu tranh cho quyền tự do cá nhân, cho hạnh phúc của riêng bản thânmình, các nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn còn mong muốn đem lại hạnhphúc cho tất cả mọi người Họ ấp ủ trong mình những hoài bão, lý tưởng lớn Mong muốn đemđến sự thay đổi trong cuộc sống của người dân quê, mang đến những “gam” màu tươi sáng chobức tranh ảm đạm trong cuộc sống của những người nghèo khổ Dũng nhận thấy cuộc sống củangười dân quê chỉ là: “Cái đời lạnh lẽo, vô vị kéo dài đã mấy nghìn năm Đã mấy nghìn năm, họsống như bám lấy mảnh đất già cỗi, xưa thế nào giờ vẫn thế, vui ít, khổ nhiều, bao giờ cũngthảm đạm như buổi chiều đông này Không hề khao khát một cảnh đời sáng sủa hơn, mong ướcmột ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay” Mong muốn thức tỉnh họ và Dũng cũng tin vào sự tiến
bộ của họ: “Tôi không nghĩ như anh, vì tôi tin ở sự tiến bộ Ta có thể làm cho họ hơn lênđược” Dũng có niềm tin như vậy bởi chàng hiểu sâu sắc nguyên nhân vì sao mà người dânquê cứ phải chịu khổ mãi: “Có lẽ họ đã quen với cái khổ lắm rồi nên họ không biết khổ nữa, hay
họ có biết cũng không tỏ ra được” Vì vậy, việc những trí thức như chàng phải làm là: “Ta phảidiễn tả cho họ thấy, và những sự ta mong ước cho họ, ta phải làm cho họ mong ước như ta Tôihằng mong ước dân quê đỡ phải chịu hà hiếp, ức bách Ta phải tin rằng sự ao ước ấy có thểthành sự thực và làm cho dân quê ước mong một cách tha thiết như ta” Người đọc nhận ratrong tâm hồn Dũng chất chứa tinh thần yêu nước, yêu dân: “Dũng như cảm thấy tâm hồn của
Trang 28đất nước, mà biểu hiện cho đất nước ấy không phải những bậc vua chúa danh nhân, chính là đámdân hèn không tên tuổi Dân là nước Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sựđau khổ của đám thường dân” Nhất Linh đã xây dựng hình ảnh nhân vật Dũng rất đẹp đẽ, giàusức hấp dẫn Dù ở Dũng có những biểu hiện của tinh thần yêu nước, yêu dân, nhưng hành tungcủa nhân vật này hết sức bí ẩn, người ta không biết Dũng đang làm công việc gì và chàng có phải
là một chiến sĩ cách mạng hay không:
“ Tôi về đây bằng thuyền ở bãi Yên Phụ lên thì vào ngay đây Vợ chồng ông giáo Lâm ngạcnhiên đưa mắt nhìn nhau
- Anh ngạc nhiên cũng phải
Rồi Dũng bảo hai người ghé lại gần rồi nói nhỏ
và tưởng nhớ đến người yêu cũ Hình ảnh của Dũng giống với hình ảnh một khách chinh phuthích sống một cuộc đời phiêu bạt khắp bốn phương trời hơn là hình ảnh của một chiến sĩ cáchmạng: “Dũng hình như đi chơi một chuyến thực xa và rất nguy hiểm, thế thôi Hình ảnh Dũng
ở đây chỉ gợi lên cái mộng phiêu lưu giang hồ! Tính chất hiệp sĩ ở đây là tính chất suy tàn: động
cơ yếu ớt, cái nhìn bi quan, tấm lòng phiền não” Mặc dù ấp ủ trong mình những ý tưởng cao đẹpnhưng hoạt động của Dũng còn hết sức mơ hồ: “Quanh năm xuôi ngược, dừng chân lại ít ngày
ở đồn điền một người bạn thân, ngồi nhàn nhã uống cốc rượu tiễn năm trong một tòa nhà gạchsang trọng, Dũng vẫn thấy mình là một người dân và càng cảm thấy cái thú man mác được hòavới đám dân không tên tuổi, sống cái đời của họ sống, mong ước như họ mong ước, khác nào mộtcây cỏ lẫn vào trong muôn nghìn cây cỏ ngoài nội” Trong tác phẩm cũng có một số đoạn nói lênđược chí hướng cách mạng của Dũng nhưng còn rất trừu tượng: “Dũng có đi hoạt động đấy, songnhân vật ấy mờ ảo quá không thể trở thành một người chân chính cách mạng được”
Mong ước được cống hiến cho xã hội, đem lại hạnh phúc cho người dân cũng là suy nghĩ của
Lộc trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng: “Nhưng em ạ, sao anh không nghĩ tới xã
hội, đem hết nghị lực tài trí ra làm việc cho đời” Nhưng chí hướng đem hết tài lực ra giúp ích
Trang 29cho đời của Lộc cũng hết sức chung chung, mờ nhạt, chỉ là những câu hô hào yếu ớt: “Trời ơi!Anh sung sướng quá Anh trông thấy rõ rệt con đường tương lai sáng sủa của anh rồi Đời anh từnay thế nào cũng đổi khác hẳn Đời anh từ nay sẽ không riêng của anh nữa Anh sẽ vì người khác,anh sẽ bỏ cái đời an nhàn phú quý mà dấn thân vào cuộc đời gió bụi Anh đã trông thấy hiện ratrước mắt những sự cay cực lầm than đang đợi anh”.
Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn thường có những vấn đề riêng,những băn khoăn đau khổ riêng Tâm sự của nhân vật cũng chính là tâm sự của tác giả: “NhấtLinh thường ký thác tâm sự của mình vào nhân vật nên trong tiểu thuyết luận đề của ông thường
có một cái tôi chân thành và cảm động” Điều đáng nói là các nhân vật trí thức ấy đã nắm bắt được
tư tưởng tiến bộ của thời đại, họ căm ghét những hủ tục lạc hậu của chế độ đại gia đình Vì thế,
họ đấu tranh đòi phá bỏ nền giáo lý phong kiến khắt khe nghiệt ngã, mong cải cách xã hội đểhướng con người tới lý tưởng sống cao đẹp, nhưng tiếc rằng chí hướng của họ lại mang tính chất
ảo tưởng và đậm màu sắc cải lương tư sản
Tính chất luận đề là đặc điểm quan trọng nhất trong lối viết của Hoàng Đạo, cả trong truyện ngắn,
kịch, xã luận và tiểu thuyết “Con đường sáng” là tiểu thuyết duy nhất của ông Trong “Con đường sáng”, Hoàng Đạo xây dựng hình tượng người thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỉ XX, sau khi trải qua tất cả những lạc thú của cuộc sống thành thị bèn trở về nông thôn,đem hết tâm sức và khả năng của mình giáo dục dân quê, dạy họ cách sinh hoạt, làm việc văn minh
và hiệu quả nhằm giúp họ thực hiện khát vọng đổi đời
Chàng tên Duy có học thức, gia đình giàu có Ngày nhỏ Duy có những năm tháng trưởng thànhnơi thôn quê, nên tâm hồn mang bản chất trong sạch và mộc mạc, nhưng lớn lên ở giữa thị thành, cótiền bạc trong tay, có trí thức trong đầu, Duy cũng như đa số thanh niên cùng thế hệ sống trong hoàncảnh đất nước dưới ách đô hộ của thực dân, chán nản nên buông trôi vào trụy lạc Nhưng Duy có
điểm khác với phần lớn những người chung quanh là chàng có nhiều lúc “khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa” và tuyệt vọng muốn tự tử Cứ thế Duy mãi vùng vẫy muốn ra khỏi cái lưới vô hình bao vây quanh mình: “Duy nghĩ đến bao nhiêu bạn của chàng quằn quại ở trong vòng trụy lạc không ra thoát, khác nào như những thiêu thân sa vào màng nhện, càng giãy giụa cánh càng xơ xác và vướng chặt thêm”.
Rồi Duy dần dần tìm ra con đường cứu mình Con đường này trước tiên là tìm môi trường sốngmới, không thể quẩn quanh trong lòng đô thị sa hoa đầy cám dỗ, tiếp đến là tìm sinh hoạt mới, mộtcuộc sống dấn thân với những người lao động trong bùn lầy nước đọng đang cần cù xây dựng cuộcđời mà xưa nay chàng cho là thấp hèn hơn chàng và cuối cùng là tạo một cuộc đời có ích, đóng gópxây dựng cuộc sống mới cho quảng đại quần chúng đang luẩn quẩn trong vòng nghèo túng và tốităm Hạnh phúc của bản thân sẽ ở đấy và “con đường sáng” cũng khởi ở đấy
Quan điểm “tạo hạnh phúc cho ta bằng cách vun đắp hạnh phúc cho người” hay so sánh như Vũ
Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” khi ông xếp Hoàng Đạo vào khuynh hướng viết tiểu thuyết luận đề bên cạnh Nhất Linh: “Cái lý tưởng mà tác giả dùng làm luận đề là lý tưởng của nhà Phật:
‘Tự giác, giác tha’, làm sáng cho mình, rồi làm sáng cho người”.
Trang 30Diễn tiến tiểu thuyết, ngoài quá trình Duy - nhân vật chính - tìm cách thay đổi người dân quê, còn
là quá trình tự thức tỉnh của nhân vật này Con đường đi của chàng không hề đơn độc, bởi chàng đã
có Thơ - người vợ quê với tâm hồn trong sáng, cao đẹp mà chàng coi trọng hơn hết thảy - hỗ trợ
mọi việc Lí tưởng Duy theo đuổi trong suốt cuốn tiểu thuyết là “phải tu luyện hằng ngày để hiểu biết thêm và làm cho người khác cũng hiểu biết như mình” Cũng chính lí tưởng này đã đem chàng
đến gần hơn với “người bình dân”, giúp chàng vượt qua cám dỗ của những thú vui trụy lạc trướcđây Đã có lúc Duy bế tắc và muốn buông xuôi tất cả, nhưng lí tưởng ấy đã vực chàng dậy, đưachàng quay trở lại con đường mà chàng đang theo đuổi
Trong “Con đường sáng”, sau khi trở về thôn quê, phong cảnh nên thơ của thôn quê đưa bước
chân Duy vào ngôi nhà tranh của những người dân lao động Thấy cảnh nhà nghèo đói khốn khổcủa gia đình bác Tẹo, của bà cụ trẻ, thấy Thơ hết lòng vì những người tá điền xung quanh, Duyquyết tâm phải đổi mới
Quả nhiên, Duy cảm thấy tìm ra hạnh phúc trong việc lập ấp, dựng đồn điền nghĩa là tìm ra conđường sáng cho mình Việc chuyển biến tâm lý diễn ra từ từ, từ ý hướng vượt khỏi vòng vây trụylạc, chống lại cám dỗ, ý muốn tự tử, vì chán ngấy cảnh phồn hoa, và rồi ánh sáng đổi mới lóe lêntrong tâm tư vào một đêm nhìn nông dân lao động dưới ánh trăng:
“Duy nhìn cái cảnh tượng náo nhiệt trước mắt, trong lòng vui sướng Chàng chợt nảy ra một ý muốn náo nức, cái ý muốn cởi bỏ ngay bộ quần áo tây chật chội và xa hoa, ăn mặc như lực điền để nhập vào bọn thợ, đập lúa ném thi và cười nói với họ, để được hưởng hết cả sự vui vẻ, sung sướng của họ lúc làm việc mệt mỏi Chàng cảm thấy cái vui trong công việc nặng nhọc ngày mùa, cái vui trong sạch nó đợi chàng từ lâu, như cánh hoa lan ép trong sách chàng đã quên đi, nay ngẫu nhiên giở ra, vẫn thấy y nguyên, còn thoang thoảng hương thơm của một quãng đời chàng tưởng không bao giờ trở lại”.
Sau một thời gian “thay da đổi thịt” cho làng quê, Duy trở lại thăm chính những gia đình mình đãgiúp đỡ để được thấy thành quả Nhưng chàng nhanh chóng thất vọng Duy đã cất công làm ranhững căn nhà tranh kiểu mới để những người nông dân được ở sạch sẽ và ngăn nắp, chàng cũngbày cách cho họ ăn ở văn minh hơn Thế nhưng, bước vào trong căn nhà kiểu mới làm cho họ,
chàng vẫn thấy những cảnh “giường ghế để bừa bãi, trên tường những vết nhơ bẩn đã làm hoen ố
cả màu vôi xanh dịu chàng đã cho quét hai ba nước”, “trong một đống rác bẩn, mấy đứa trẻ đóng khố, đương ngồi quanh một cái rổ, hoa tay xua đuổi đàn ruồi bay tới tấp chung quanh”… Những
người nông dân không những không cám ơn mà còn than phiền về nỗi túng thiếu khiến Duy “chán
nản, thất vọng” “Có phải sự mong mỏi quá nhiều đã đem lại cho ta sự chán nản?” - chàng tự vấn.
Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX 95% là nông dân mù chữ, những hủ tục vẫn còn tồn tại rất sâu trongđời sống
Trong tiểu thuyết, Duy không thể chịu được với cái lối bọn hào lí làng Hạ Nậu đem tiền đào giếngchàng đưa cho để ăn uống và chi tiêu vào việc làng Bởi thế cho nên, một mình Duy “đơn thươngđộc mã” trong cuộc chiến chống lại cái đói, cái nghèo, cái khổ, vấn nạn mù chữ và hủ tục Mongước cải cách của Duy chưa thành, chàng đã có lúc quay trở lại con đường trụy lạc, nhưng cuối cùng
Trang 31lí tưởng cao đẹp đã chiến thắng, chàng vẫn tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở thôn quê, chàng trở về nơi
có người vợ hiền đang đợi, sống cuộc sống của một điền chủ tâm huyết Như vậy, con đường củaDuy đã được Hoàng Đạo lựa chọn Duy hội tụ những đặc điểm của giới trí thức tiểu tư sản ViệtNam đầu thế kỉ XX: có lí tưởng, khát khao đổi mới và lặn ngụp để tìm ra con đường đi đúng đắngiúp cho mình, cho người
2.2.2.2.2.2 Nhân vật phụ nữ đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân
Các tác giả Tự lực văn đoàn dành tình cảm đặc biệt cho người phụ nữ trong chế độ đại gia đìnhphong kiến Nhìn vào hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, chúng ta dễ dàngnhận thấy hầu hết các nhân vật chính trong các tác phẩm đều là những người phụ nữ và phần lớn
họ là những nhân vật chính diện
Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn là nạn nhân, là đối tượng bị chèn ép, áp chế Xãhội phong kiến chỉ có cái ta chung chứ không chấp nhận sự tồn tại của cái tôi cá nhân Conngười không có quyền sống riêng mà phải tuân thủ những nguyên tắc nghiệt ngã của nền giáo lýlạc hậu mà trong đó người phụ nữ là nạn nhân trực tiếp, chịu nhiều đau khổ nhất vì những ràngbuộc khắt khe của lễ giáo phong kiến
Nếu như các nhà văn thuộc trường phái hiện thực chỉ chú ý tới cuộc sống của con người trênphương diện vật chất với những thiếu thốn đói khổ thì các nhà văn Tự lực văn đoàn lại quantâm đến cuộc sống của con người trên phương diện tinh thần với những tình cảm sâu kín, nhữngước mơ khát vọng về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi Giải phóng người phụ nữ là vấn đề được cácnhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn rất quan tâm Những nhân vật phụ nữ của Tự lực văn đoàn sốngtrong thời kỳ xã hội đang có nhiều biến động lớn và bản thân họ cũng đang có những thay đổiđáng kể về mặt nhận thức Bởi lúc này họ đã được cắp sách tới trường, được tiếp xúc với nền vănhóa phương Tây, được tiếp thu những tư tưởng hết sức văn minh, tiến bộ Vì vậy họ đã mơ ước vềmột cuộc sống dân chủ, một cuộc sống mà họ được sống tự lập, được quyết định hạnh phúc củachính mình Nàng Tố Tâm đã nhận thức được mình có quyền tự do yêu đương, có quyền tự dolựa chọn hôn nhân Nhưng rồi Tố Tâm đã không có khả năng vượt qua những ràng buộc và quytắc khắt khe của xã hội phong kiến nên kết cục là chết dần chết mòn trong đau đớn, xót xa Đếntiểu thuyết Tự lực văn đoàn thì vấn đề quyền cá nhân, quyền tự do yêu đương đặc biệt là vấn đềgiải phóng người phụ nữ đã được đề cập một cách mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn Các tác giả Tự lựcvăn đoàn đã công khai bênh vực quyền cá nhân của người phụ nữ nói riêng và con người nóichung trong xã hội
Ra đời vào năm 1934, Nửa chừng xuân đã ca ngợi tình yêu tự do, lên tiếng bảo vệ nhân phẩm
của người phụ nữ và tấn công mạnh mẽ vào lễ giáo phong kiến với những tập tục lạc hậu đã đầyđọa, kìm hãm hạnh phúc cá nhân của con người Nhân vật chính của tác phẩm là Mai, một ngườicon gái xinh đẹp, nết na, nhân hậu, giàu lòng vị tha và đức hi sinh Là một người phụ nữ đoantrang, dám nghĩ, dám làm, trọng tự do yêu đương nhưng không hề phóng túng Vượt lên hoàncảnh, Mai luôn giữ được tấm lòng trong sạch của một cô gái giàu lòng tự trọng Để có tiền nuôi
em ăn học, Mai đã quyết định bán nhà ra Hà Nội buôn bán làm ăn, chấp nhận vất vả chứ kiên
Trang 32quyết không chịu làm lẽ Hàn Thanh – tên trọc phú giàu có nhất vùng Đây có thể xem nhưhành động phản kháng đầu tiên của cô đối với xã hội phong kiến ô trọc, đồi bại Mặc dù lâm vàocảnh túng bấn, thiếu thốn nhưng Mai không vì thế mà buông xuôi, chấp nhận số phận, mặc chohoàn cảnh đưa đẩy Biết bao người đàn ông giàu có, lịch lãm đã cầu hôn, mong được chăm sóc
mẹ con Mai đầy đủ đến trọn đời nhưng cô vẫn một mực từ chối, bởi với cô tình yêu thì không thểsan sẻ, như cô đã yêu Lộc rồi thì không thể yêu ai được nữa Mai cho rằng không có tình yêu thìkhông thể chung sống hạnh phúc Điều này cho thấy Mai không chỉ là một người phụ nữ thủychung trong tình yêu mà còn là người phụ nữ có quan niệm hết sức tiến bộ về vấn đề tình yêu vàhôn nhân
Sẵn sàng hi sinh vì người khác nhưng không vì thế mà dễ bị khuất phục Lúc cần đấu tranh
để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của bản thân và gia đình, Mai cũngthể hiện là một người phụ nữ sắc sảo và không kém phần đáo để trong những cuộc đối đầu với
bà Án Khi bị bà ta chất vấn, mỉa mai xúc phạm: “Cô không biết thế nào là người hoàn toàn?Điều thứ nhất là phải trai không trộm cắp, gái không đĩ thõa” Mai chẳng vừa đã rất lễ phép đáplại: “Bẩm bà lớn nếu chỉ cần có thế thì ông Tham nhà hẳn là một người hoàn toàn” Vì yêu Lộc,Mai đã tìm mọi lời lẽ thuyết phục bà Án mong nhận được sự cảm thông, thương xót của bà.Nhưng bà ta là người quá lạnh lùng sắt đá, không chút mảy may động lòng trước tình cảnh đángthương của chị em Mai Lòng tự trọng bị tổn thương, Mai đã quyết định ra đi và thẳng thắn chỉ ra
bà ta chỉ là một kẻ ích kỉ: “Tôi không ngờ bà lớn lại là người sắt đá Bẩm bà lớn, xin mạnphép bà lớn…bà lớn chỉ một người ích kỉ Bà lớn theo Nho giáo mà bà lớn không nhớ câu “kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân” Không bao giờ chấp nhận phận lẽ mọn, Mai đã tuyên bố với bà
Án rằng: “Bẩm bà lớn, nhà con không có mả đi lấy lẽ” Trong cuộc gặp gỡ lần đầu, Mai đã nóilên tất cả những suy nghĩ của mình về đạo đức, quan niệm sống cũng như những tư tưởng hoàntoàn mới mẻ, đối lập với quan niệm đã cũ kỹ, lạc hậu của bà Án và lớp người như bà ta Cô đã
từ chối làm lẽ Lộc, từ chối số tiền giúp đỡ mà bà Án đề nghị: “Cám ơn bà lớn, nhưng tôi khôngphải hạng ăn xin” Tất cả những điều kiện bà Án đưa ra nhằm thỏa hiệp, dụ dỗ đều bị Mai chối
từ Lòng tự trọng của một người có nhân cách và nghị lực phi thường đã giúp chị em Mai vượtqua bao gian khổ, thử thách Ra đi với hai bàn tay trắng, không người thân thích, không chốnnương thân, em trai lại đang đau yếu, bệnh tật… Tất cả gánh nặng đều trút cả lên đôi vai bénhỏ của Mai Nhưng điều đáng quý ở nhân vật này là sự tự tin, niềm lạc quan tin tưởng vào cuộcsống, tin tưởng vào chính mình và động viên em cùng vượt qua khó khăn: “Nếu em còn thươngchị thời em không được buồn, phải nhớ lời sau cùng của thầy: giữ lòng vui, linh hồn trong sạch vàđem hết nghị lực ra làm việc Ngày nay chị em ta càng cần có nghị lực” Đặc biệt phẩm chất tốtđẹp của Mai còn thể hiện ở lòng biết ơn những người đã giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn,khó khăn: “Bẩm nếu không có nơi thô lậu tục tằn này thì chắc đâu chị em tôi còn sống sót đếnngày nay Bẩm vì thế, không bao giờ chúng tôi lại quên được cái nhà này cùng là những ngườinhân đức ở cái nhà này”
Vượt qua khuôn khổ hạn hẹp của lễ giáo phong kiến, Mai đã dũng cảm đến với tình yêu củaLộc bất chấp những hố sâu ngăn cách giữa hai người Việc đấu tranh chống lại những quan
Trang 33niệm cũ kỹ, lạc hậu của xã hội phong kiến đã khẳng định được bản sắc của cái tôi cá nhân, Mai đãthay mặt cho lớp người theo quan niệm sống mới lên tiếng đòi quyền tự do mưu cầu hạnh phúccho người phụ nữ Trong suy nghĩ của cô, việc đi làm lẽ tức là đã lấy tranh chồng người khác làmột hành động vô nhân đạo, trái với chữ “nhân” mà cô vẫn coi trọng: “Vì con xin thú thực với bàlớn, con không thể nào yêu chồng người khác được Thà con chết còn hơn đi lấy lẽ Lương tâmcon không cho con làm những điều vô nhân đạo như thế”.
Sau nhiều năm gặp lại, Mai vẫn giữ vững thái độ và lập trường của mình khi bà Án đến tìm
và dụ cô về làm lẽ huyện Lộc Khác với lần trước, bà Án giờ không còn thể hiện thái độ khinh bỉ
và dọa nạt Mai Ngược lại, bà ân cần quan tâm, ngon ngọt phỉnh nịnh cô, ca ngợi tiết giá sạchtrong và tấm lòng độ lượng của cô, đồng thời bày tỏ thái độ ân hận và xin Mai tha thứ Nhưngtất cả những chiêu thức dụ dỗ đó cũng không làm Mai lay chuyển: “Thưa cụ, 6 năm về trước,hình như tôi đã trình cụ biết rằng nhà tôi không có mả lấy lẽ” Phản đối chế độ đa thê là quan điểmnhân đạo của lớp thanh niên có tư tưởng tiến bộ như Mai Bởi phản đối chế độ đa thê đồngnghĩa với việc phản đối sự chà đạp lên quyền sống, quyền tự do cá nhân của con người Mai đãphát biểu một quan niệm hết sức mới mẻ, đúng đắn về hôn nhân: “… đối với kẻ kia thì được lênlàm cô huyện, rồi cô phủ, cô thượng không bằng, không sướng bằng làm chị xã, chị bếp, chịbồi mà được vợ một chồng một, yêu mến nhau” Ở thời điểm tác phẩm ra đời, nhân vật Mai đã trởthành một hình tượng rất mới mẻ về tính cách, tâm hồn và tư tưởng Trong cô luôn chất chứa khátvọng, ước muốn được sống hết mình cho tình yêu và có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân của ngườiphụ nữ ở nhân vật này, bộc lộ một cá tính mạnh mẽ, một nghị lực phi thường với những quanniệm và lối sống hiện đại Nhưng cũng không vì thế mà đánh mất đi vẻ đẹp truyền thống của ngườiphụ nữ Việt Nam
Tuy nhiên, sự đấu tranh giành quyền tự do cá nhân của Mai chưa triệt để Lòng nhân ái và tấmlòng vị tha đã cản trở cô trên con đường đấu tranh giành hạnh phúc Đã có biết bao cơ hội để côthay đổi cuộc đời, thay đổi số phận nhưng Mai đều từ chối Bởi cô luôn lo sợ hạnh phúc của mình
sẽ là bất hạnh của người khác Đây là một đức tính đáng quý, đáng trân trọng ở Mai mà vì thế biếtbao thế hệ độc giả đã yêu mến và trân trọng nhân vật này
So với Mai, tấn bi kịch của cuộc đời Loan trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt còn đau đớn hơn rất
nhiều Đời Loan là một chuỗi dài những ngày tăm tối đầy nước mắt Nếu những ngày đau khổ củaMai còn có em, có con, có một người lão bộc trung thành tận tụy, có những người láng giềng tốtbụng giúp đỡ, động viên thì Loan phải sống trong bơ vơ, đơn độc giữa gia đình nhà chồng toànnhững người cay nghiệt luôn ghen ghét và tìm cách hãm hại cô Một mình Loan phải đươngđầu với một bà mẹ chồng gia trưởng độc đoán, một anh chồng ngu độn chỉ biết núp dưới cáibóng của mẹ và hết sức bênh vực đại gia đình, mấy bà cô chồng và các em chồng đanh đá nanhnọc Tất cả bọn họ như những tên cai ngục độc ác đang giam hãm, hành hạ và đầy đọa cuộc sốngcủa Loan Sống trong gia đình ấy, Loan như một con cừu non bị xâu xé giữa một bầy sói già.Nhưng có lẽ điều khiến Loan khổ tâm hơn cả là lòng cô luôn hướng về Dũng - người yêu lýtưởng của cô đang ở một nơi rất xa, sống một cuộc đời gió bụi thênh thang mà cô hằng ao ước
Trang 34Loan có ý thức mạnh mẽ về quyền cá nhân mà bản thân cô xứng đáng được hưởng Vì thế,Loan không bao giờ dễ dàng buông xuôi để mặc cho số phận đưa đẩy cuộc đời mình Cô bănkhoăn tự hỏi: “Sao nhà trai đến hỏi mà thầy me không bảo mình lấy một câu Thế thì mình cóhay không ở nhà này Mình lấy chồng hay ai lấy chồng” Bị cha mẹ ép gả cho người mình khôngyêu, cô đã kiên quyết từ chối: “Vâng, thì xin me để tùy con, và nhân thể me để tùy con định cónên lấy chồng hay không nên lấy chồng Con đã nhiều lần thưa với me rằng con không thể…Chính vì con lớn, con biết nghĩ nên con mới thưa cùng me rằng con không thể làm dâu nhà ấy”.Kiên quyết là thế nhưng mọi sự phản kháng, quẫy đạp của Loan đều không thoát khỏi vòng cươngtỏa của lễ giáo phong kiến Ngược lại, cuộc đời cô theo năm tháng cứ chìm sâu vào trong bế tắc,tuyệt vọng.
Càng khát khao tự do hạnh phúc, càng đấu tranh quyết liệt bao nhiêu thì vòng kiềm tỏa của lễgiáo phong kiến càng xiết chặt lấy cô bấy nhiêu Là người có học thức, có cá tính mạnh mẽ,Loan phản kháng một cách quyết liệt, đấu tranh đến cùng trước sự áp chế của gia đình nhàchồng Xét về phương diện nào đó, sự đấu tranh của Loan còn có phần quyết liệt, triệt để hơn sovới Mai Sự phản kháng của Loan thể hiện từ trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày đến nhữnghành động chống đối công khai Vì trong ý nghĩ của cô đã mang một màu sắc hoàn toàn mới
mẻ, khác hẳn với tư tưởng truyền thống của lễ giáo phong kiến Trong suy nghĩ của Loan luônthường trực sự phân vân giữa hai lối sống Cô muốn theo khuôn phép, lễ nghi để cha mẹ đượcvừa lòng nhưng phần nhận thức sâu thẳm trong cô luôn tìm cách chống đối lại chế độ đại gia đìnhphong kiến: “Học thức của mình không kém gì Dũng sao lại không thể sống cuộc đời tự lập,cường tráng, can chi cứ phải quanh quẩn trong vòng gia đình, yếu ớt sống một cuộc đời nương tựavào người khác để quanh năm phải kình địch với những tư tưởng cổ hủ mà học thức của mình bắtmình phải ghét bỏ Mình phải tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình” Những
ý nghĩ mới mẻ của Loan khi được bộc lộ ra đều khiến mọi người phải ngạc nhiên, thảng thốt Mộtngười phụ nữ tân học như cô giáo Thảo còn phải mở to mắt, kinh ngạc nhìn Loan: “Chị táo bạo
lạ Nhiễm tư tưởng quá ư mới” Cô đã chỉ ra những tập tục lễ nghi đã ăn sâu vào nếp nghĩ củacha mẹ và cho rằng việc con cái phân bày phải trái với cha mẹ không phải là hành động bất hiếu:
“Thưa thầy me, thầy me đã cho con đi học, thầy me không thể cư xử với con như con vô họcđược nữa Không phải con kiêu ngạo gì, đó chỉ là một sự dĩ nhiên Lỗi ấy không ở con Phân bàyphải trái với cha mẹ không phải là bất hiếu như ý con tưởng” Dù chấp nhận cuộc hôn nhân docha mẹ sắp đặt, nhưng sự phản kháng vẫn luôn âm ỉ trong tiềm thức của Loan và chỉ chờ có cơhội là sẽ bùng nổ Những bước chân đầu tiên về nhà chồng đã chất chứa sự phản kháng mãnh liệt.Khi bước chân qua cửa nhà chồng, Loan không chịu bước qua cái hỏa lò như tục lệ vốn có xưanay, mà nàng cố ý dừng lại cúi nhìn cẩn thận rồi vờ như vô ý lấy chân hất đổ làm mấy viên thanhồng rơi lăn lóc trên mặt đất khiến cho bà mẹ chồng phải bối rối Khi làm lễ tơ hồng, Loan thảnnhiên lên ngồi ngang hàng với chồng: “Lại còn khi làm lễ tơ hồng, người ta đặt nàng ngồi saulưng Thân, nàng sắp lễ, thản nhiên, đứng lên ngồi ngang hàng với Thân” Hành động ấy củaLoan đã ngang nhiên công nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ - điều mà xã hội phong kiếnkhông bao giờ chấp nhận
Trang 35Loan nhận thức sâu sắc về nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và những bấtcông mà họ phải chịu đựng Chế độ đại gia đình đã đọa đầy cuộc sống của con người đến cùngcực, mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội phong kiến vốn không có những sợidây thân ái tự nhiên Họ phải sống quẩn quanh trong sự bế tắc, u mê chỉ biết soi mói, hãm hạinhau: “Lúc đó nàng cảm thấy hết cả những cái đê tiện của xã hội đàn bà vụn vặt, nhỏ nhen,nhiễu sự, tìm hết cách làm khổ người khác, rồi lấy cái khổ của người khác làm sự sung sướngcủa mình Loan thương cho Loan lạc loài vào đây, chưa biết ngày nào ra được để sống một cuộcđời rộng rãi, thảnh thơi”.
Ngay từ những ngày đầu làm dâu nhà bà Phán Lợi, Loan đã nhận ra sự đối nghịch trong quanniệm sống giữa mình với gia đình chồng Đối nghịch cả trong cách nghĩ, cách sống, cả trong tưtưởng và tình cảm Ý thức về quyền cá nhân của Loan rất lớn: “Họ không thể hiểu được rằng em
có quyền tự lập thân em, vì họ vẫn đinh ninh rằng họ bỏ tiền ra mua em về để giúp đỡ côngviệc nhà họ và hầu hạ mẹ chồng Bổn phận em là thế Cái quyền làm người của em người ta không
kể đến” Là một người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, Loan không cam chịu cúi đầu trước sự áp chế,xúc phạm của mẹ chồng và các cô em chồng Một mình Loan đã chống lại cả gia đình để đưa con
đi bệnh viện chữa thuốc Tây dù đã quá muộn Cái chết của đứa con nàng là cái cớ cho Bích xỉaxói, dày vò cô: “Loan biết rằng Bích khóc thương đứa bé thì ít mà khóc để rủa nàng thì nhiều” Cảđại gia đình nhao nhao xúm vào tấn công khiến Loan “thấy mặt mũi tối tăm” Bà Phán và congái bà ta định đổ cho Loan cái tội giết con nhưng Loan đã thẳng thắn chỉ ra chính sự mê tín, cổ
hủ của bà đã giết chết đứa bé: “Cô Bích! Cô phải biết vì sao nó chết? Chính cái anh thày bùa ấy
nó đã đánh chết con tôi, cô rõ chưa? Xin cô đừng đổ cho tôi cái tội giết con mà tội nghiệp Côthử nghĩ xem, ai giết con tôi? Ai giết?” Phản ứng quyết liệt và mạnh mẽ là cách mà Loan chốngtrả lại sự áp chế của mẹ chồng Ban đầu còn nhẫn nhịn mong dung hòa với gia đình, nhưngmọi sự cố gắng của cô đều vô nghĩa, bởi bà Phán luôn có thành kiến với Loan và cho rằng cô cậymình có học chỉ nhiễu sự hay cãi lý Sức chịu đựng của con người chỉ có giới hạn và đã đến lúcLoan nhận ra mình không thể chịu đựng hơn được nữa, nàng đã có cái ý tưởng rằng: “Hễ người tacòn dễ bắt nạt, thì người ta còn bắt nạt mãi, và muốn cho người ta vị nể mình, thì không gì hơn
là chống cự lại” Mâu thuẫn với gia đình chồng ngày càng căng thẳng không cách nào dung hòađược, sự chịu đựng bấy lâu của Loan giờ đã bùng lên thành ngọn lửa phản kháng mãnh liệt Cuộcđụng độ nảy lửa đã diễn ra quyết liệt và hậu quả của nó là cái chết của Thân Bị xúc phạm, đánhđập thậm tệ, Loan như con thú bị thương tìm mọi cách quẫy đạp mong thoát khỏi bàn tay cưỡngchế, đàn áp của gia đình:
“- Ai dạy ai? Động một tý là dạy Tôi không cần ai dạy tôi Thân cầm cái gối lăm le ném vàoLoan:
- Phải có thế mới là đồ mất dạy Loan đáp:
- Mất dạy là đánh người đàn bà yếu ớt, hèn nhát một lũ…mẹ chồng
Loan hung hãn lao vào, vội tới mức đi chân đất vào buồng
Trang 36- Mợ nói gì thế? Mày nói gì thế con kia? Bà đánh mày một cái tát xem mày bảo hèn nhát nữahay không”.
Nhân phẩm, danh dự bị chà đạp, Loan đã thẳng thắn tuyên bố: “Không ai có quyềnchửi tôi, không ai có quyền đánh tôi”, nàng vuốt tóc ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt mẹchồng mà nói : “Bà cũng là người, tôi cũng là người, không ai hơn kém ai” Qua những lờinói và hành động đã chứng tỏ được bản lĩnh của Loan, cô không chỉ đơn thuần là một nhânvật lãng mạn, yếu đuối, không phải chỉ có tính cách mộng mơ, ủy mị chỉ luôn đắm chìmtrong nỗi buồn vô cớ Người đọc còn nhận thấy ở Loan một bản lĩnh vững vàng, nhận thứcđược những nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho mình, biết vượt qua hoàn cảnh, vượt quachính mình và tự tạo dựng cho mình một cuộc sống tự lập Ở bất cứ thời đại nào, con ngườicũng luôn mơ ước có một cuộc sống tự do, đầy đủ, hạnh phúc Những người phụ nữ tiến bộtrong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng mang trong mình niềm mơ ước, khát khao cháy bỏng ấy
Vì thế họ đã dũng cảm đấu tranh với lễ giáo phong kiến khắc nghiệt , tàn bạo Họ là lớpngười đầu tiên dám nghĩ, dám nói, dám làm, có hành động đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởnglỗi thời và bảo thủ của giai cấp phong kiến Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã thực sựthành công khi miêu tả, phản ánh đời sống tâm tư, tình cảm và ước vọng của người phụ nữtrong chế độ đại gia đình Đây chính là một yếu tố tích cực góp phần giải quyết những vấn đề
xã hội có tính thời sự lúc bấy giờ Và những vấn đề tiến bộ mà các tác giả Tự lực văn đoàn
đã đặt ra thông qua hệ thống nhân vật nữ của họ sẽ còn có giá trị mãi với thời gian
Với ý thức dùng văn chương nghệ thuật như một thứ vũ khí đấu tranh chống lại cái cũ và cổđộng cho cái mới, Nhất Linh và Khái Hưng đặc biệt chú trọng tới việc sáng tác tiểu thuyết luận đề
để tuyên truyền, cổ vũ cho những tư tưởng tiến bộ Tuy nhiên, cùng thể hiện một luận đề xã hội,nhưng Nhất Linh, Khái Hưng lại đi theo hai hướng khác nhau: “Muốn cho người ta ghét cũ, cămhờn chế độ đại gia đình, rấy loạn trước những lề luật cổ hủ, Khái Hưng không dùng chiến dịchđánh thẳng vào địch như Nhất Linh sau này Ông làm cho người ta yêu mới” Còn Nhất Linh lạicho rằng: “Cái khí giới ôn hòa của Khái Hưng chưa đủ hiệu lực để đánh đổ kẻ thù còn đang mạnhlắm Ông chủ trương phải tuyên chiến và đánh thẳng vào địch, hạ cho nó nằm xuống thì mới hòngcứu vãn được”
Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã nhân danh chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng dân chủ, vănminh tiến bộ để chống lại những hủ tục lạc hậu, những kiềm tỏa của lễ giáo phong kiến, đấutranh và bênh vực cho tình yêu, hôn nhân tự do, đặc biệt là yêu cầu giải phóng người phụ nữthoát khỏi sự áp bức của chế độ đại gia đình Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong tiểu thuyết Tự lựcvăn đoàn được thể hiện rõ nhất ở thái độ đả phá chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, ủng hộkhát vọng tự do yêu đương của thanh niên nam nữ đương thời Các nhà văn, sau khi phơi bàynhững mặt trái, sự lạc hậu, vô nhân đạo của chế độ đại gia đình, đạo lý phong kiến, đã lên tiếngbênh vực và bảo vệ quyền tự do cá nhân, ủng hộ lý tưởng và sự đấu tranh của lớp thanh niên thờiđại mới Tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh, Khái Hưng đã thể hiện xung đột gay gắt giữa hailuồng tư tưởng mới – cũ trong xã hội Đó là một cuộc xung đột không khoan nhượng, khác hẳn
với thái độ lừng chừng, nước đôi trong Tố tâm.