1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ nôm đường luật của hồ xuân hương

45 651 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 473,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nhắc đến nền văn học trung đại thì nhớ đến nhà thơ nữ hết sức tàihoa, luôn đấu tranh để đòi quyền tự do cho những người phụ nữ trong xã hộiphong kiến, nói lên những tâm tư, khát vọng

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ……….…3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Văn học dân gian và những ảnh hưởng của nó đến nền văn học trung đại……….3

1.1.1 Khái niệm văn học dân gian.……….3

1.1.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học trung đại…….… 4

1.2 Cuộc đời Hồ Xuân Hương ……….…5

1.2.1 Cuộc đời nhà thơ Hồ Xuân Hương- những điểm lưu ý về con người tài hoa bạc mệnh……….5

1.2.2 Hồ Xuân Hương và những tồn nghi……….………….6

1.3 Thơ Nôm Đường luật của nữ sĩ tài hoa……….…….7

1.3.1 Lưu hương kí……….8

1.3.2 Xuân Hương thi tập……… 8

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT HỒ XUÂN HƯƠNG 2.1 Đề tài ……….……….……….10

2.1.1 Đề tài về cảnh vật thiên nhiên ………10

2.1.2 Đề tài về đồ vật, con vật, bánh trái ……… ……… 12

2.1.3 Đề tài về người “có học”……….15

2.1.4 Đề tài về thầy tu và chùa chiền ……….18

2.1.5 Đề tài về người phụ nữ ………20

2.2 Hình tượng nghệ thuật ……….24

2.2.1 Mô típ hình tượng từ văn học dân gian, văn hóa dân gian…….28

a Hình tượng người phụ nữ ……….……….28

b Hình tượng miếng trầu ……….35

Trang 2

2.3 Quan niệm thẩm mỹ ……….……….40

2.3.1 Phong cách nghệ thuật ……….……… 41

2.3.2 Phương pháp sáng tác ……….…… 43

KẾT LUẬN ………44

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….45

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử văn học Việt Nam có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng Mỗi tác giả đã đểlại những đóng góp riêng có giá trị để làm nên tiếng nói chung cho nền văn họcdân tộc Khi nhắc đến nền văn học trung đại thì nhớ đến nhà thơ nữ hết sức tàihoa, luôn đấu tranh để đòi quyền tự do cho những người phụ nữ trong xã hộiphong kiến, nói lên những tâm tư, khát vọng được sống hạnh phúc của ngườiphụ nữ đó là nữ sĩ: Hồ xuân Hương Những vần thơ của Hồ Xuân Hương cósức sống lâu bền, từ những người trí thức đến bình dân đều nhớ và thuộc thơ bà.Phải chăng chúng giản dị, gần gũi với đời sống hay do có nền tảng thơ ca dângian thấm vào trong từng vần thơ bà Để có thể hiểu rõ hơn chúng ta cùng đi

làm tìm hiểu “Ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ nôm đường luật của Hồ Xuân Hương”.

CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Văn học dân gian và những ảnh hưởng của nó đến nền văn học trung đại.

1.1.1 Khái niệm văn học dân gian

Trong tiến trình phát triển của văn học nói chung, văn học dân gian đượcbiết đến như là văn chương bình dân hoặc văn học bình dân…, từ đó cho thấymối liên hệ mật thiết giữa văn học dân gian với đời sống của nhân dân lao động.Hay nói cách khác, văn học dân gian đã góp phần không nhỏ trong việc xâydựng đời sống tinh thần của nhân dân lao động thông qua các sáng tác dân gian

và lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân trong cuộc sống

Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động,

ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trongchế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay

Văn học dân gian ở Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân ( hoặcvăn học bình dân, văn chương hoặc văn học đại chúng), văn chương truyềnkhẩu ( hoặc văn học truyền khẩu, văn chương hoặc văn học truyền miệng), vănnghệ dân gian, sáng tác dân gian,v.v Những khái niệm này xuất hiện sớm nhất

là đầu thế kỉ XX Trước đó, trong các thư tích về văn học dân gian hay có đềcập đến văn học dân gian, mới chỉ thấy lưu hành những thuật ngữ dùng để nói

về từng thể loại văn học dân gian Riêng khái niệm văn học dân gian thì mới chỉxuất hiện vào những năm 50 của thế kỉ này, và hiện này được dùng rộng rãitrong giới nghiên cứu văn học, song song với khái niệm văn nghệ sân gian làmột khái niệm mới được chính thức công nhận từ sau Đại hội thành lập Hội văn

Trang 4

1.1.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học trung đại

Trong tiến trình lịch sử văn học, luôn diễn ra quá trình nối tiếp, kế thừa vàphát triển những thành tựu giữa các nền văn học, các giai đoạn, các trào lưu vănhọc với nhau Thậm chí kế thừa, tiếp nối và cách tân đó còn thể hiện ở từng tácgiả trong cùng một trào lưu hay một dòng văn học Có thể khẳng định rằng quyluật của kế thừa và cách tân là quy luật sinh thành và phát triển của bất cứ nềnvăn học nào

Trong quá trình phát triển, văn học trung đại Việt Nam chịu sự chi phối rấtđậm nét của văn học dân gian Văn học dân gian là cội nguồn gần gũi trực tiếpnhất ảnh hưởng đến văn học trung đại Chính văn học dân gian đã trở thànhnguồn mạch mát lành nuôi dưỡng cho nền văn học viết Việt Nam ngày càngkhởi sắc Văn học dân gian và văn học trung đại tuy là hai bộ phận văn học cóphương thức sáng tác khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó rất mật thiết

Do quy luật của sự sáng tạo về kế thừa, lịch sử Văn học phát triển trong sựtiếp nối dài nhiều nền Văn học Văn học dân gian vừa song hành vừa phát triểnbên nhau Vì thế, các nhà thơ, nhà văn sau này đã tiếp thu văn học dân gian Đó

là quy luật tất yếu của sự sáng tạo và sự trân trọng quá trình văn học của dân tộc

Vì chính vẻ đẹp nội tại của văn học dân gian tạo nên sức hấp dẫn, có sức tácđộng lớn

Văn học viết đã chịu ảnh hưởng của cả về nội dung lẫn nghệ thuật của vănhọc dân gian Nhưng sự học tập ấy không phải sao chép mà bản chất của vănhọc là sáng tạo Mỗi tác giả không sống theo lối cũ mòn mà tiếp thu trên tinhthần sáng tạo vì mỗi nhà văn không bao giờ nhìn cuộc đời bằng con mắt cũ mòn.Các tác giả thường đem cái hồn của văn học dân gian để làm nên cái hồn củathơ mình Sự học tập này là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nhiều truyện cổ tích,áng ca dao thấm nhuần trong văn học viết, không phải sự bắt chước vô hồn.Văn học viết đã chịu ảnh hưởng của văn học dân gian trên nhiều phươngdiện, lĩnh vực Trên phương diện nội dung thì đề tài và cảm hứng thuộc văn họcdân gian: tư tưởng nhân ái, yêu thương con người thân phận người phụ nữ, sốphận con người nhỏ bé hay tình yêu đôi lứa cũng được văn học viết tiếp thu vàsáng tạo Trên phương diện nghệ thuật thì văn học dân gian ảnh hưởng đến vănhọc trung đại về ngôn ngữ, hình ảnh , thi liệu ( tục ngữ, thành ngữ) , các cáchnói từ văn học dân gian cũng được vận dụng Văn học trung đại còn ảnh hưởngmotif xây dựng nhân vật, cốt truyện, các biện pháp tu từ, và thể loại thơ lục bát,thơ 5 chữ từ văn học dân gian

Trang 5

1.2 Cuộc đời Hồ Xuân Hương

1.2.1 Cuộc đời nhà thơ Hồ Xuân Hương- những điểm lưu ý về con người tài hoa bạc mệnh

Chưa có sử sách viết về tiểu sử Hồ Xuân Hương Những điều rút ra được từ

cuộc đời của bà chủ yếu dựa vào Giai nhân dị mặc cũng như từ thơ ca của nữ sĩ.

Hồ Xuân Hương (chữ Hán:胡春香, 1772–1822) là một thi sĩ sống ở giai

đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hiện tại vẫn khiến nhiều học giảtranh cãi Trước kia các nhà nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hương sống và sángtác vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ yếu là dưới thời Tây Sơn Nhưng một số tàiliệu phát hiện gần đây thì lại cho chúng ta thấy bà sống chủ yếu dưới thời nhàNguyễn, khoảng nửa đầu thế kỷ XIX Về cuộc đời của Hồ Xuân Hương, nhữngđiều kiện hiện nay chúng ta biết được cũng không lấy gì mà chắc chắn bởi vìkhông có tài liệu gốc nào để lại Người ta vẫn lưu truyền bà là người quê làngQuỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Ông thân sinh là cụ Hồ Phi Diễn,một ông đồ nghèo bỏ quê ra dạy học ở vùng Hải Dương, Kinh Bắc ngày trước

về sau lấy lẽ cô gái họ Hà và sinh ra Hồ Xuân Hương Bố mẹ sinh ra Hồ XuânHương khi tuổi đã cao, lúc đó ông Hồ Phi Diễn 69 tuổi với nghề dạy học, còn

bà mẹ 43 tuổi làm nghề dệt lụa Gia đình có một thời sống ở phường Khán Xuân,huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội bây giờ Khi trưởng thành, bà có làmngôi nhà ở gần Hồ Tây lấy tên là Cổ Nguyệt Đường Cha mất sớm, nữ sĩ sốngvới mẹ Cuộc sống chắc chẳng đến nỗi khó khăn nên mà mới có điều kiện tiếpđãi khách, đi du lãm nhiều nơi Như vậy, về thành phần, nữ sĩ chắc thuộc loại

“ thường thường bậc trung”

Là một cô gái tỉnh thành, hơn nữa, ở đế kinh ( nội rồi ngoại thành Hà Nội)nhưng qua thơ văn cho thấy nữ sĩ khá am hiểu cảnh trí, công việc, sinh hoạt, conngười nơi thôn dã Điều này cho biết bà sống khá gần gũi với nhân dân lao động,

dù không biết sự tiếp xúc ra sao Dòng máu Nghệ sinh ra ở mảnh đất ThăngLong, phải chăng là những yếu tố ban đầu tạo nên một tư chất thiên tài

Hồ Xuân Hương có đi học, chắc không nhiều, nhưng tỏ ra thông minh, cótài ứng đối ( giai thoại cũng còn truyền) Tuy có bước chân đến cửa Khổng sânTrình nhưng ảnh hưởng của Nho học, về phương diện nhân sinh, cũng như vănchương đối với nữ sĩ hầu như không có Điều này được thể hiện nhiều nhất

trong Xuân Hương thi tập và Lưu hương kí

Về đường tình duyên, Xuân Hương gặp nhiều lận đận Cứ như giai thoại,Lưu hương kí, nữ sĩ yêu đương cũng sôi nổi.Theo truyền thuyết, bà lấy lẽ Triphủ Vĩnh Tường, làm vợ kế Tổng Cóc, nhưng dẫu qua hai lần đò đều khôngviên mãn Điều này cũng không có cứ liệu xác thực, chỉ chắc là bà có làm thiếpTrần Phúc Hiển nhưng chẳn bao lâu phải sống kiếp góa bụa Là người đa tình,

Trang 6

chết và đi du lãm nhiều nơi Đi nhiều trong thời giao thông, lại là phụ nữ trong

xã hội phong kiến thì quả là hiếm hoi, đáng lưu ý.Có nhiều thuyết về quãng đờisau đó của Hồ Xuân Hương, như việc bà cưới thêm vài người chồng nữa, việc

bà hỏi mượn tiền thi hữu để mở hàng bán giấy bút mực, hoặc giai thoại về cácmối tình trăng hoa và văn chương, nhưng mức độ khả tín chưa được xác định rõràng

Hồ Xuân Hương được cho là mất vào năm 1822 Trong cuốn sách: “Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” của ông Hồ Sỹ Bằng (nguyên Viện trưởng

Viện Quan hệ quốc tế, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tưtưởng Hồ Chí Minh) đã dày công nghiên cứu và khẳng định các nhà nghiên cứuthiên về thuyết mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương nằm ở nghĩa địa ven hồ Tây Mộ bàtrước đây được xây vuông, đặt ở ven nghĩa địa Đồng Táo Trải qua dòng thờigian biến thiên đất bồi đắp lở, sông nước hồ Tây ngày càng rộng lớn, mỗi lầnkết cấu địa tầng thay đổi do điều kiện tự nhiên và nghĩa địa Đồng Táo bị chìmxuống lòng hồ cùng một số nghĩa trang khác

Ngày 16 tháng 3 năm 2003, Ông Vũ Hồ Luân (Nhà nghiên cứu Hà Nội cũng

là con cháu dòng họ Hồ) gặp ông Hồ Sỹ Bằng, kết hợp với nhà nghiên cứu sửdòng họ Hồ Việt Nam, Hồ Bá Hiền (Trưởng Ban Sử, Trưởng ban Liên lạcdòng họ Hồ tại Việt Nam) cùng với hậu duệ của tộc Hồ đang làm việc và sinhsống ở Hà Nội đã tập hợp ra một nhóm 8 người, trong đó có bốn người họ Hồthuộc Trung chi II ở Quỳnh Đôi, là hậu duệ đời thứ sáu của Hồ Xuân Hương để

đi tìm mộ bà ở Hồ Tây nhưng không có kết quả Cho đến nay, mộ bà đang nằm

ở đâu trong lòng hồ vẫn là dấu hỏi cho hậu thế

1.2.2 Hồ Xuân Hương và những tồn nghi.

Những năm cuối thập kỉ 50, đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, có người đã đặt racâu hỏi : có chăng một Hồ Xuân Hương nữ sĩ? Ông Trần Thanh Mại ( Nghiêncứu văn học số 3 / 1963 và số 11/ 1964) phát hiện ra nữ sĩ tên Hồ Xuân Hươngmang tên Lưu Hương Kí và sau đó tìm ra những văn bản thơ đã khẳng định sựhiện hữu của nữ sĩ họ Hồ này Nhưng một vấn đề khác nảy sinh khác là có hai

Hồ Xuân Hương hay là một, vừa là chủ nhân của Xuân Hương thi tập, vừa là tác giả của Lưu hương kí.

Khi đối chiếu hai tập thơ này thì Lưu hương kí đa dạng hơn về thể loại Ở Lưu hương kí không nhắc gì đến Tổng Cóc và Tri phủ Vĩnh Tường, lại thêm câu

nói của Xuân Hương với Tốn Phong Thị khi và đưa tập thơ và lời đề tựa : “ Đây

là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay ” khiến nhiều người nghĩ có lẽcòn một Hồ Xuân Hương nào khác chứ không phải là một Dù vậy, giả thiếtkhẳng định chỉ có một Hồ Xuân Hương,tác giả cả hai tập thơ vẫn được nhiềungười theo đuổi

Trang 7

Mảng thơ Nôm xưa này vẫn được coi của Hồ Xuân Hương khoảng 50 bàitừng được chép hoặc khắc bằng chữ Nôm, sớm nhất là bản Antony Landes thuêchép ở Hà Nôi 1893; sau đó có các bản in 1909, 1913 của NXB Xuân Lan, Nhưvậy trong quá trình truyền miệng làm sao không tránh khỏi việc “ tam sao thấtbản”, bị “ dân gian hóa”, và chưa kể hiện tượng “ Xuân Hương hóa” do có sựnhầm lẫn với thơ người khác vì “ nhái theo”.

Lại nữa, nói đến phong cách lí luận văn học cũng thừa nhận phong cách

của tác giả cũng có thể bị thay đổi Lưu hương kí là thơ trữ tình, nói về mình với

mình, bạn bè khác với Xuân Hương tập viết về trào phúng, nói về xã hội Nếucăn cứ Xuân đình đàm thoại thì bà mất năm 1833 còn theo lời tựa Nam Giácphu thì Lưu hương kí viết trước 1814 Còn việc Xuân Hương không nhắc đếnchồng ở tập này có thể lúc này chưa có, nên mới có dịp giao du với các vănnhân và có bạn tình Cũng có thể dựa vào giai thoại được ghi trong Văn đàn bảogiám, rồi kết hợp với việc được chép trong “ Quốc sử di biên, Đại Nam thục lục,

ta có nhiều khả năng đồng nhấ Hồ Xuân Hương, vợ thiếp hay thơ và giỏi việcquan của viên Tham thiệp với Hồ Xuân Hương được truyền thuyết nhắc đến

Như vậy Hồ Xuân Hương với Lưu hương kí là tập thơ ở chặng đường đầu , còn Xuân Hương thi tập thuộc chặng đường thứ hai Việc khẳng định vẫn còn

chờ thêm cứ liệu Ở đây chỉ kết luận tạm thời

1.3 Thơ Nôm Đường luật của nữ sĩ tài hoa.

Thơ Đường được du nhập vào nước ta từ khá sớm, khi văn học viếtViệt Nam (thế kỷ XI) hình thành thì thơ Đường đã có mặt Từ trước thế kỉ X,văn học viết đã có một số tác phẩm bằng chữ Hán nhưng hãy còn lẻ tẻ và chưanghiên cứu Ở đây chỉ tính từ thế kỉ X trở đi Đầu tiên, văn học viết xuất hiệnbằng chữ Hán, về sau đến đời Trần mới bắt đầu có văn học tiếng Việt với chữNôm Cho nên văn học trung đại Việt Nam có hai thành phần: một bằng chữHán, một bằng chữ Nôm Sở dĩ có văn học chữ Hán là do nhiều lẽ, trong đó cóhai lẽ quan trọng : một là do tiếng Việt và chữ Nôm chưa sẵn sàng nên phảimượn chữ Hán, hai là khi chúng ta tiếp biến nền văn hóa Trung Hoa thì coimình nằm trong vùng văn hóa ấy và chữ Hán là văn tự chuyển tải văn hóa nêndùng luôn Sự xuất hiện chữ Nôm là sự phản ứng lại tinh thần dân tộc Đến thờiQuang Trung, nhà nước chính thức dùng chữ Nôm thay chữ Hán, nhưng triềuNguyễn lại khôi phục chữ Hán, làm tiếng Việt chậm phát triển mất một thế kỉ.Tuy nhiên, trong quãng thời gian từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, văn họcchữ Nôm đã ngang hàng với văn học chữ Hán Cũng theo dòng chảy của lịch sử

Trang 8

Hồ Xuân Hương đã có những đóng góp quan trọng trong nền văn học chữ Nômcủa nước ta.

Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng Bà đã để lại nhiều bài thơ độc

đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn

học Việt Nam, “là nhà thơ độc đáo có một không hai trong lịch sử văn học dântộc” Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu lànhững bài thơ chữ Nôm truyền miệng, được sử bảo vệ của nhân dân nên cónhiều dị bản

1.3.1 Lưu hương kí

Tập “Lưu Hương Ký” mang bút danh nữ sĩ do ông Trần Thanh Mại pháthiện vào năm 1946 gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm

Lưu hương kí là tập thơ trữ tình hay rõ hơn là tập thơ tình yêu Tình yêu

trong tập thơ này là tự bạch nhưng thốt ra từ một tấm lòng tha thiết yêu đương

và muốn được yêu Đó là những sắc màu cảm xúc khi yêu : vui, nhớ, tủi phậnhờn duyên, trách móc, thở than, dặn dò, thề hẹn, lo sợ, tin tưởng và trên hết là

sự chung thủy

Có thể thấy rằng, nữ sĩ yêu nhiều nhưng không nhận được bao nhiêu Vìtrong tất cả các bài thơ đều mang nỗi lo âu khắc khoải, luôn ghi đậm lời thềnguyện, khắc sâu lòng chung thủy thành dòng “thệ viết hữu cảm” rưng rưngcảm xúc cho đến đời sau vẫn còn cảm nhận sâu sắc

Trong tập thơ này, ta có thể thấy tình yêu cởi mở, phóng túng, tự do, bấtchấp tập tục thành kiến xã hội, khuôn thước của lễ giáo phong kiến trong cả mộttập thơ của chính nữ giới Tình cảm trong tập Lưu hương kí thứ tình yêu mãnhliệt, một khát vọng giải phóng tình cảm và mang ý nghĩa phản kháng, chống đốiNho giáo Nhưng nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biết dừng lại trên “ lễ nghĩa” – làđạo lý truyền thống của dân tộc Nói cách khác, Xuân Hương đa tình nhưngkhông buông tuồng, phóng túng nhưng không sỗ sàng, khao khát yêu đươngnhưng không rơi vào nhục cảm Nó là tiếng lòng đáng trân trọng thể hiện phongcách cá nhân vừa mang âm hưởng của thời đại đang vươn lên “ tháo cũi sổlồng”

1.3.2 Xuân Hương thi tập

Xuân Hương thi tập là tập thơ Nôm Đường luật Tập thơ gồm 40 bài,

số lượng tuy không nhiều nhưng nội dung của tập thơ khá phong phú.Mỗi vầnthơ có thể nói là một phần tâm hồn, con người của tác giả Nội dung thơ Xuân

Trang 9

Hương tuy không phải là tiếng nói đại diện của cả một giai đoạn nhưng cũngchứa đựng được những giá trị tư tưởng sâu sắc.

Bước đầu đó chỉ là tiếng nói phản kháng cá nhân, là nỗi lòng chua xót, đauđớn của nữ sĩ trước cuộc đời, trước số phận Bên cạnh niềm tâm sự u uẩn, đauđớn của người phụ nữ đa cảm, trong tập thơ còn có những vần thơ đầy màu sắc,thanh âm, đường nét sinh động của bức tranh cuộc sống Những bức tranh táihiện lại rõ nét con người và cảnh vật, đời sống sinh hoạt lao động của miền quêViệt Nam Nếu con người của tâm sự mang vẻ mờ nhạt, u hoài thì con ngườicủa cuộc sống lại xinh đẹp, năng động, đầy sức sống của tuổi trẻ

Bên cạnh vẻ đẹp của cuộc sống nhà thơ của chúng ta còn thấy được mặt tráicủa cuộc đời Nữ sĩ đã nhận ra được sự bất công của xã hội dành cho người phụ

nữ Xã hội phong kiến không thiếu sự xấu xa của bọn mày râu: sự trơ trẽn củabọn hám danh, hám lợi, Xuân Hương ghi nhận và gởi tất cả trang thơ đả kích,châm biếm Tác giả lên án và phê phán một cách quyết liệt và kèm theo đó làthái độ mỉa mai, chế giễu sâu cay Đôi lúc đó là sự chế giễu đầy ý vị nhưngcũng có lúc lại là những câu nói thẳng thừng

Xuân Hương là một nữ sĩ có thiên tài và giàu tình cảm, nhưng “vì số phậnhẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ củabà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc cógiọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự” Thơ Xuân Hương cũngrắc rối, phức tạp như chính cuộc đời bà Số bài thơ còn lại cho đến nay chủ yếunhờ vào sự lưu truyền, bảo vệ của nhân dân nên có nhiều dị bản

Nhìn chung, tác giả đã hướng nhãn quan để bao quát toàn bộ cuộc sống Và

có thể do chịu ảnh hưởng nhiều bởi niềm khát vọng sống, quyền được hưởnghạnh phúc chính đáng cùng với ước muốn vượt ra khỏi khuôn khổ bao đời bóbuộc người phụ nữ nên bài thơ nào người đọc cũng thấy phảng phất ý tình sâu

xa của tác giả Xuân Hương thi tập là tập thơ Nôm Đường luật xuất sắc của nền

văn học dân tộc

Trang 10

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN

THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT HỒ XUÂN HƯƠNG

Nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét “Nhìn chung trong thơ cổ điển của ta, baogồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn

cả, có lẽ thơ Xuân Hương “thì treo giải nhất chi nhường cho ai!” Thơ XuânHương Việt Nam hơn cả vì đã thống nhất tới cao độ hai tính cách dân tộc và đạichúng” Trong sáng tác của bà, ngay cả những cái người ta có vẻ kiêng dè, engại nhất thì đều có thể tìm thấy bóng dáng của nó trong ca dao, tục ngữ, trongcác câu đố tục giảng thanh, trong trò chơi chữ nói lái của truyện tiếu lâm Có thểnói, với cách nghĩ của dân gian, cách cảm của dân gian Bà chính là “dấu nối tàihoa” giữa văn học dân gian và văn học viết

Văn học dân gian và văn học viết đều là sản phẩm sáng tạo của con người

về cuộc sống Đó là tấm gương phản ánh muôn hình vạn trạng của cuộc sốngthông qua lăng kính của người sáng tạo Người đọc có thể tìm được thế giới của

tự nhiên lẫn thế giới của con người thông qua các đề tài mà tác phẩm thể hiện

2.1 Đề tài

Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương rất gần gũi, quen thuộc với cuộc sốnghàng ngày của người dân lao động Từ những đồ vật, bánh trái, cỏ cây, hangđộng, núi non cho đến hình ảnh những hiền nhân quân tử, nhà sư, người phụ nữ,học trò, vua quan đều hiện diện trong thơ bà Theo tài liệu nghiên cứu Sức hấpdẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thu Yến, 2008,Nxb Văn học thì thơ Nôm Hồ Xuân Hương có năm đề tài chính

2.1.1 Đề tài về cảnh vật thiên nhiên

Tình yêu thiên nhiên là một nét nổi bật trong tính cách người Việt Nhữngcảm xúc về cái đẹp bắt nguồn trước hết từ thiên nhiên, cảnh vật sông núi, nướcnon hài hòa, gắn bó và có mối tương thông chặt chẽ với cuộc sống con người

“Mặn nồng một vẻ thiên nhiênĐất ta cảnh đẹp càng nhìn càng say.”

(ca dao)

Hồ Xuân Hương là một “nhà thơ dòng Việt”, bà chúa thơ Nôm, cảm bằngcái cảm dân gian, nghĩ bằng cách nghĩ dân gian, chính vì vậy “Hồ Xuân Hươngđối với cảnh vật đất nước ta là rất đậm đà, thắm thiết Cái thắm thiết ấy có khivượt quá xa cái mức thường tình Hồ Xuân Hương là một nghệ sĩ lớn biết phun

Trang 11

tâm hồn mình vào cảnh vật, làm cho chúng sống lên ngồn ngộn!” (Xuân Diệu,

Hồ Xuân Hương - Thiên tài kì nữ)

Thiên nhiên trong thơ bà, được “vẽ theo những quy thước ước lệ, chuẩnmực truyền thống và được nhận diện ở thế cận cảnh, được đặc tả ở các chi tiết

cụ thể Trước hết, nữ sĩ quan tâm tới những địa danh xác định như là những đèo,kẽm, hang, động ” (Nguyễn Hữu Sơn - Tâm lý sáng tạo trong thơ Hồ XuânHương) Đó là những cảnh núi đá chập chồng, đèo Ba Dội khúc khuỷu cheo leo,hay động Hương Tích sâu thẳm tất cả thật độc đáo và đầy ấn tượng với ngườiđọc

Ở Động Hương Tích và Hang Cắc Cớ đều là những hang động có cái lỗ

(Hang Cắc Cớ)Để

“Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,Con đường vô trạo tối om om.”

(Hang Cắc Cớ)

Ở Kẽm Trống

“Hai bên thì núi, giữa thì sông

Có phải đây là Kẽm Trống không?”

Trang 12

“Gió giật sườn non khua lắc cắcSóng dồn mặt nước vỗ long bong.

(Kẽm Trống)Luồng gió thông reo vỗ phập phòm,Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm”,

(Hang Cắc Cớ)Nhìn thấy màu sắc:

“Cửa son đỏ loét tùm lum nóc,Hòn đá xanh rì lún phún rêu.”

ra, hỏi tác giả nào sờ mó rậm rạp, đã mó lam nham, đã có được mười đầu ngóntay tinh tế tiếp xúc với các mặt phẳng hay mặt gồ ghề của các vật?” XuânHương đón nhận thiên nhiên bằng mọi giác quan, đồng thời bà cũng truyền vàothiên nhiên cái sức sống mạnh mẽ cùng cái đa tình của mình

2.1.2 Đề tài về đồ vật, con vật, bánh trái

Đi sâu vào thế giới con người, bà đã làm nổi bật những cái đẹp mộc mạc màthanh cao, những cái rất đỗi bình thường, quen thuộc với cuộc sống hàng ngàycủa mỗi người dân quê

Trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, tục lệ mời trầu, ăntrầu là một nét văn hóa không chỉ trong các lễ nghi văn hóa truyền thống nhưhội hè, cưới hỏi mà còn được phổ biến trong cuộc sống thường ngày Trầu cau

Trang 13

luôn tượng trưng cho tình yêu chung thủy, nồng thắm và hạnh phúc bền chặtcủa lứa đôi Và thơ Xuân Hương cũng vậy:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại,Đừng xanh như lá, bạc như vôi.”

(Mời trầu)Quả cau, miếng trầu nhỏ bé đó là tiếng lòng thâm trầm sâu lắng, khát khaohạnh phúc, khát khao giao cảm với đời, khát khao mong chờ tiếng đồng vọngcủa nữ sĩ Không chỉ có trầu cau, thế giới thơ Xuân Hương còn rất quen thuộcgần gũi với những cái giếng, quả mít, con ốc, bánh trôi, cái quạt, khung cửi, cáiđu

Trong tổng thể văn hóa làng, nếu cây đa có thần, mái chùa có Phật, thì giếngnước tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống.Chính vì vậy, trong kho tàng ca dao Việt Nam, hình ảnh chiếc giếng làng luônđược nhắc đến với vị trí là trái tim của làng, cái hồn của xóm và đầy ân tình củagiao duyên hò hẹn Xuân Hương đã chọn hình ảnh quen thuộc này như cột mốcquan trọng trong đời sống tinh thần người Việt để dẫn giải một nét đẹp mà bìnhthường không dễ gì nhận ra

“Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,Nước trong leo lẻo một doành thông

Trang 14

Cái quạt của Hồ Xuân Hương cũng vừa lạ vừa quen.

“Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,Duyên em dính dáng tự bao giờ

Chành ra ba góc da còn thiếu,khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.”

(Vịnh cái quạt I)

“Mười bảy hay là mười tám đây,Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

Mỏng dày chừng ấy chành ba góc,Rộng hẹp chừng nào cắm một cay.”

(Vịnh cái quạt II)

Đó vừa là cái quạt trong ca dao:

“Cái quạt mười tám cái nan,

Ở giữa phết giấy, hai nan hai đầu

Quạt này anh để che đầu,Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này”

(Ca dao)Nhưng cũng là cái quạt rất Xuân Hương Một cái quạt rất năng động: chành

ra, khép lại, phì phạch cùng với vẻ đẹp của nó: hồng hồng, má phấn, mỏng,dày, rộng, hẹp để cho người dùng nó phải quyến luyến chẳng rời tay, nâng niu,yêu đêm, yêu ngày Chẳng những thế nó còn có những công dụng khác, khôngchỉ có “mát mặt anh hùng”, nó còn có thể “che đầu quân tử” Người đọc chóngmặt vì độ quay của chiếc quạt, nó hoạt động không ngừng nghỉ trên tay hết vuađến chúa, hết anh hùng tới người quân tử

Cái đu cũng là một trò chơi dân gian phổ biến ở những hội làng

“Bốn cột khen ai khéo khéo trồngNgười thì lên đánh kẻ ngồi trôngTrai đu gối hạc khom khom cậtGái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

Trang 15

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phớiĐôi hàng chân ngọc duỗi song songChơi xuân có biết xuân chăng táCọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không?

(Đánh đu)Quả là một bức tranh sống động tuyệt mĩ Nó gợi ra trước mắt người đọckhông khí hội hè với những trò chơi dân gian hết sức hấp dẫn của người dânvùng đồng bằng Bắc Bộ Trên một bãi đất rộng người ta nô nức chơi đu và xem

đu Sắc màu vui nhộn, trẻ trung từ những bộ trang phục rực rỡ của những namthanh nữ tú làm cho ngày xuân thêm tươi tắn Không gian thật khoáng đạt Đấttrời dào dạt sức xuân, lòng người phơi phới tình xuân Trai thì du gối hạc, gáithì uốn lưng ong cùng hoà nhịp vào nhau đẩy cho cây đu lên cao mãi XuânHương đã khắc hoạ một trò chơi dân gian sống động, với những con người độtuổi thanh xuân dạt dào sức trẻ Ta như được trở về những lễ hội dân gian từnhững vần thơ của nữ sĩ Bà nhìn thấy trong cảnh lao động hay vui chơi một sứcsống căng tràn, một niềm vui phơi phới

2.1.3 Đề tài về người “có học”

Việt Nam là dân tộc có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo Nhữngngười có học không phải là đối tượng để đả kích vì “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,nhân dân ta chỉ ghét những kẻ “xấu nói tốt, dốt nói chữ”, những kẻ giả dối làm

ra vẻ của những kẻ trí thức Trong dân gian không thiếu những truyện cười như

“Tam đại con gà”, “Làm theo sách” phê phán những bọn dốt nát mà thíchkhoe khoang Với đối tượng này, Xuân Hương xem chúng là những đứa trẻ

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?

Lại đây cho chị dạy làm thơ

Ông non ngứa nọc châm hoa rữa,

Cê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.”

(Mắng học trò dốt)Bởi chúng chỉ là những kẻ “Cũng đòi học nói, nói không nên.”

Giễu đám văn nhân thích phô trương mà cái tài thì một nhúm cỏn con, bà châmchọc thẳng thừng, làm họ sượng cả mặt lẳng lặng tránh xa:

Trang 16

“Năm ba thằng ngọng đứng xem chuông

Nó bảo nhau rằng ấy ái uông”

“Chớ nghe quân tử nói giòn

“Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm

Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.”

Thì những điều học được trong sách vở thánh hiền chạy đi đâu cả để “hiền nhânquân tử” cũng như kẻ tiểu nhân, những người bình thường “dùng dằng đi chẳngdứt” bởi “Đi thì cũng dở, ở không xong.”

Nhà thơ vạch ra tính chất khôi hài của nội dung rất phàm tục lại được cheđậy bằng một lớp vỏ đạo đức giả hoặc qua bài Đèo Ba Dội cũng vậy:

“Một đèo, một đèo, lại một đèo,Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

Trang 17

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.”

Trong những bài thơ Quả mít, Ốc nhồi, bà cũng đã vạch ra những việc xấu

xa ấy của bọn quân tử

Bọn vua chúa quan lại cũng không hơn gì Thế kỉ XVIII - XIX chế độPhong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Vua là contrời, quan lại là những kẻ từ cửa Khổng sân Trình bước ra nhưng tất cả chỉ lotranh giành quyền lực, vơ vét tài sản, ăn chơi hưởng lạc; đời sống nhân dân lâmvào cảnh lầm than cực khổ Hồ Xuân Hương đã bóc trần lớp vỏ ngoài đạo mạo,

để còn trơ lại vẻ khệnh khạng, méo mó của những kẻ “ăn trên ngồi trốc” Bảnchất của tầng lớp trên hiện ra qua cái cười nhẹ nhàng mà sâu cay của bà

“Mười bảy hay là mười tám đây?

Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc,Rộng hẹp dường nào, cắm một cay

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,Chúa dấu vua yêu một cái này.”

(Vịnh cái quạt (II))Cái quạt là cái quạt thật được miêu tả đầy đủ từ hình thức (số nan quạt, độmỏng dày, rộng hẹp) đến công dụng (càng nóng bao nhiêu thời càng mát).Nhưng trong cái quạt đó lại thấp thoáng bóng dáng người con gái “hồng hồng

má phấn” Vua chúa thì lại “yêu dấu chẳng rời tay”, “yêu đêm chưa phỉ lại yêungày”, “Chúa dấu, vua yêu một cái này.”

Không chỉ vua chúa mà cái quạt được Xuân Hương miêu tả lại còn

“Mát mặt anh hùng khi tắt gió,Che đầu quân tử lúc sa mưa.”

(Vịnh cái quạt (I))Mượn cớ tả cái quạt mà thật ra là để chỉ cái khác, nói đến thói mê hoa, hámsắc của bọn quan lại, vua chúa

Trang 18

Còn đối với tầng lớp quan lại, Xuân Hương chọn quan thị, một loại quan màdân gian đã khái quát :

“Thị vào chầu, thị đứng thị xemThị thấy thèm, thị không có ấy.”

Trong thơ Xuân Hương, loại quan này hiện lên thật nổi bật

“Mười hai bà mụ ghét chi nhauĐem cái xuân tình vứt bỏ đâu ?Rúc rích thây cha con chuột nhắt,

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu

Đố ai biết được vông hay chóc,

Có kẻ nào hay cuống với đầu.”

2.1.4 Đề tài về thầy tu và chùa chiền

Đạo Phật được truyền bá vào nước ta ngay từ trong những buổi đầu dựngnước và dần ăn sâu vào đời sống sinh hoạt, tình cảm, văn hóa của dân tộc Dângian đã từng nói: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”, hình ảnh những ngôichùa trở nên rất quen thuộc và gần gũi với tâm thức người Việt Văn hóa nhàchùa với sự hiện diện của chùa làng đã góp phần mình trong đời sống văn hóatâm linh của con người Việt Nam Và trong văn học dân gian, hình ảnh chùachiền xuất hiện khá nhiều, như một biểu tượng không thể thiếu, không thể táchrời khỏi đời sống chung của cộng đồng

“Chùa làng dựng ở xóm côi,Sớm khuya hai buổi nghe hồi chuông ngân”

Nhưng ở thời đại Hồ Xuân Hương, nội chiến kéo dài mấy thế kỉ, xã hội rốiren, nhiễu nhương, một số chùa chiền không còn là nơi tu hành tôn nghiêm nữa.Nhiều kẻ lợi dụng chùa chiền để làm điều bậy bạ

Trang 19

“Nam mô bồ tát bồ hònÔng sư bà vãi cuộn tròn lấy nhau.”

“Hôm nay mười bốn trăng tròn

Ai muốn ăn oản thì năm với sư.”

Hồ Xuân Hương chỉ trích thậm tệ sự sa đọa của các nhà sư, bà mỉa mai hạng

tu hành không giữ vững được đạo vì bị vật dụng ám ảnh nên phải hoàn tục Nhàthơ phác họa vài nét nhưng qua đó người đọc phần nào nhận ra giọng điệu châmbiếm, thâm thúy, sâu cay của tác giả về những cảnh “chướng tai gai mắt” ở nơitôn nghiêm

“Chẳng phải Ngô, chẳng phải taĐầu thì trọc lóc áo không tà

Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,Vãi nấp sau lưng, sáu bảy bà

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe,Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.”

(Sư hổ mang)Với bài Chùa Quán Sứ - nơi tu hành lớn nhất giữa thành Thăng Long màchẳng còn chút tôn nghiêm nào:

“Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ?Chày Kình tiểu để suông không đấm,Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

Sáng banh không kẻ khua tang mít,Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.”

Chùa vốn là nơi để chúng sinh gửi gắm niềm tin, thanh lọc tâm hồn:

“Lắng nghe chuông gọi trên chùa,Hỡi ai mê ngủ hãy chừa dục tham.”

Cảnh chùa ở đây: chỗ thì ồn ào, nhăng nhít với âm thanh các nhạc cụ lẫn

Trang 20

“Tu lâu có lẽ nên Sư cụ,Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.”

(Sư hổ mang)Còn gì là chỗ dựa về mặt tinh thần của chúng sinh? Nhà chùa và thầy tu đãphô bày những cái xấu xa đồi bại của mình Nơi tôn nghiêm của tín ngưỡng tôngiáo đã bị những kẻ giả dối làm mất đi sự linh thiêng

2.1.5 Đề tài về người phụ nữ

Vào thời kì phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ, số phận của phụ

nữ bị rẻ rúng, coi thường, họ là những người “thấp cổ bé họng”, không đượcquyền định đoạt số phận của mình Người phụ nữ luôn phải chịu nhiều thiệt thòi

và cả những đớn đau trong một cuộc sống vô vọng, không lối thoát của nhữngđịnh kiến giới do xã hội phong kiến tạo dựng nên Vì vậy, dân gian đã thôngcảm và xót thương với thân phận người phụ nữ và thốt lên những câu hát bi ai,thể hiện đời sống khổ cực cũng những khát vọng thầm kín của người phụ nữtrong xã hội xưa

“Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

“Thân em như chổi đầu hèPhòng khi mưa gió đi về chùi chân

Chùi rồi lại vứt ra sânGọi người hàng xóm có chân thì chùi”

“Thân em đi lấy chồng chung,Khác nào như cái bung xung chui đầu.”

Thơ ca dân gian đã dành một vị trí quan trọng để viết về người phụ nữ.Xuân Hương cũng vậy Hồ xuân hương là nhà thơ nữ viết về phụ nữ, bà đã lêntiếng đấu tranh đòi quyền sống cho phụ nữ

Trong thơ Xuân Hương mỗi người phụ nữ có một hoàn cảnh, một số phậnriêng không ai giống ai :

“Cả nể cho nên sự dở dang,Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng !Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,

Trang 21

Phận liễu nay đà nẩy nét ngang.”

(Dở dang)

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.”

(Lấy chồng chung)

“Văng vẳng bên tai tiếng khóc chồng.”

(Dỗ người đàn bà chồng chết)

Từ cái “bánh trôi nước” bảy nổi ba chìm long đong lận đận, đến những con

ốc nhồi lăn lóc bãi cỏ hôi nhưng họ đều có chung vẻ đẹp khỏe khoắn, đầy sứcsống

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,Bảy nổi ba chìm với nước non.”

Họ là những con người có trách nhiệm với chồng con,

“Một bên con khóc một bên chồng,Tất cả những là thu với vén.”

(Cái nợ chồng con)Mong ước giản đơn của họ là một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc “Sáng trăngtrải chiếu hai hàng/ Bên chàng đọc sách, bên nàng quay tơ.” Nhưng chế độphong kiến trọng nam khinh nữ, “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một

Trang 22

chồng” đã không đáp ứng nguyện vọng chính đáng ấy Tiếng khóc thầm củangười phụ nữ trong ca dao :

“Lấy chồng làm lẽ khổ thay,

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

Tối tối chị giữ lấy chồng,Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài

Sáng sáng chị gọi bớ hai,Mau mau trở dậy thái khoai băm bèo.”

Lại một lần nữa vang lên đầy ám ảnh trong thơ Hồ Xuân Hương :

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Năm thì mười họa hay chăng chớ,Một tháng đôi lần có cũng không

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,Cầm bằng làm mướn, mướn không công.”

(Làm lẽ)

Từ những éo le trong cuộc sống tình duyên, bà thấu hiểu nỗi khổ không chỉcủa người vợ lẽ mà còn của cả người vợ cả Tình yêu vốn là một thứ tình cảmích kỉ, nên nếu đem chia sẻ thì dù có được ở vị thế cao hơn thì cũng không thểtránh khỏi những thiệt thòi

Nhưng dù xã hội có đen tối họ vẫn tìm thấy con đường sáng để vững bướctiến lên, dù bản thân vướng đầy nghịch cảnh nhưng họ vẫn gắng gượng chống

đỡ để tìm lấy một hướng đấu tranh cho mình

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

(Bánh trôi nước)

“Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa,?

Mảnh tình một khối thiếp xin mang

Quản bao miệng thế lời chênh lệch,

Ngày đăng: 21/05/2020, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Gia Khánh (chủ biên) ( 2001), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" ( 2001), "Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáodục
2. Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên) (2009), Văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" (2009), "Văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên)
Nhà XB: NXBGiáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Lê Thu Yến (2008), Sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Tác giả: Lê Thu Yến
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2008
4. Lê Trí Viễn (1999), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương
Tác giả: Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
5. Nguyễn Xuân Kính (2001), Kho tàng ca dao người Việt (tập 2), NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Vănhóa thông tin
Năm: 2001
6. Mạnh Linh (2014), Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hương
Tác giả: Mạnh Linh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w