g Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sảnphẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này; h Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bãbù
Trang 1Nộp thuế: những sửa đổi liệu có khả thi ?
Môi trường thuế ở nước ta kém phần minh bạch, bị doanh nghiệp phàn nàn, bị quốc tế xếp hạng khá thấp so với các nước trên thế giới chủ yếu
vì biện pháp hành thu chứ không phải vì chủ trương chính sách Trong khi những vướng mắc về biện pháp tuy đã có những tháo gỡ, thì những trường hợp phức tạp mới lại đang manh nha trong dự luật sửa đổi thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đang được Quốc hội xem xét và sẽ thông qua trong kỳ họp này.
Muốn doanh nghiệp nộp thuế ở các địa phương thì trước tiên phải tính được số thuế phải nộp của các đơn vị phụ thuộc ở từng địa phương Điều này là bất khả Nếu làm được thì các đơn vị phụ thuộc đó đã được tổ chức thành những đơn vị độc lập của doanh nghiệp rồi.
Trường hợp thứ nhất: trong dự luật sửa đổi thuế giá trị gia tăng, thủtục khấu trừ và hoàn thuế được bổ sung thêm điều kiện “thanh toánqua ngân hàng” Tất nhiên tác giả sáng kiến này có lý lẽ của mình,nhưng vấn đề quan trọng hơn lại là tính khả thi của quy định này, khikinh tế tiền mặt còn khá phổ biến
Thêm nữa, hình như các tác giả sáng kiến này vô tình hay hữu ý bỏqua hiện thực giao lưu kinh tế là việc mua bán và việc thanh toánkhông phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời, luôn “tiền trao cháo múc”,
mà luôn có gối đầu Có thể trả tiền trước, nhận hàng sau Có thể nhậnhàng trước, trả tiền sau Có thể một lần trả cho nhiều chuyến hàng,
có thể một chuyến hàng trả bằng nhiều lần Với thực tế mua bán vàthanh toán đan chéo như thế, việc kê khai, chứng từ và sự kiểm soátcủa cơ quan thuế thế nào?
Trường hợp thứ hai: trong dự luật sửa đổi thuế TNDN, nơi nộp thuếđược sửa đổi như sau: trong trường hợp doanh nghiệp có đơn vị trựcthuộc ở các tỉnh (thành) khác nơi đặt trụ sở chính, số thuế phải nộpđược phân bổ giữa nơi kinh doanh và nơi đặt trụ sở Một công ty xâydựng đóng trụ sở tại TPHCM, nhưng lại có nhiều đội thi công phụthuộc ở các tỉnh khác nữa Hiện nay công ty nộp thuế TNDN tập trung
ở TPHCM, rồi đây sẽ phải chia ra nộp ở tất cả các địa phương có côngtrình thi công
Tác giả sáng kiến này chắc chắn cũng có lý lẽ của mình khi lồng côngviệc phân chia nguồn thu của ngân sách nhà nước cho ngân sách địaphương, vốn là công việc của cơ quan tài chính, vào công việc nộpthuế của doanh nghiệp Nhưng lại thực hiện khiên cưỡng bằng quyềnlực nhà nước, tạo ra sự lộn xộn về chức năng trong guồng máy kinh tế
Trang 2- xã hội: việc của Nhà nước bắt doanh nghiệp làm, việc của cơ quantài chính bắt cơ quan thuế làm Nhưng rối hơn lại là xử lý các vấn đềnghiệp vụ - kỹ thuật.
Muốn doanh nghiệp nộp thuế ở các địa phương thì trước tiên phải tínhđược số thuế phải nộp của các đơn vị phụ thuộc ở từng địa phương.Điều này là bất khả Nếu làm được thì các đơn vị phụ thuộc đó đãđược tổ chức thành những đơn vị độc lập của doanh nghiệp rồi Vàmặc nhiên họ sẽ đăng ký, kê khai và nộp thuế ở địa phương hoạtđộng Đối với những đơn vị này quy định trên trở thành vô nghĩa
Tiếp nữa, chỉ có cơ quan tài chính mới có quyền quyết định mức độ vàphải kiểm soát tình hình phân chia thuế cho từng địa phương, nhưngdoanh nghiệp phải biết để tính và nộp thuế cho từng địa phương, cơquan thuế cũng phải biết để theo dõi, kiểm tra, trong đó có yêu cầucập nhật vì những thông số liên quan tới việc phân chia này chắcchắn sẽ luôn có những điều chỉnh Rồi còn việc tạm nộp bốn lần mỗinăm, mà nộp phân tán khắp nơi, việc quyết toán và thanh toán thuếcuối cùng theo quyết toán cả năm Biết bao rắc rối, phức tạp, tốn thờigian, công sức của doanh nghiệp, mà lại không phải là việc thuộcchức năng của họ
Một phức tạp khác: hiện nay doanh nghiệp nộp thuế TNDN tập trung,
có nghĩa là nộp theo kết quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp,trong đó tất nhiên bao hàm sự bù trừ kết quả hoạt động của tất cảcác đơn vị trực thuộc Việc nộp và thanh quyết toán thuế tập trung ởmột nơi là rất thuận tiện Thực tế bao năm nay chúng ta đã làm nhưthế Nay nếu việc nộp phân tán được thông qua, công việc thanhquyết toán sẽ rất nhiêu khê, nhất là trong trường hợp doanh nghiệpphải nộp bổ sung hay đã tạm nộp thừa
Cần thấy rằng số thuế tạm nộp không bao giờ khớp với số thuế phảinộp theo quyết toán Nhưng số chênh lệch này phải chờ cơ quan thuếkiểm tra quyết toán mới xác định được Mà thời gian chờ này thườngrất dài, phải tính bằng vài năm! Và khi đã xác định được con số phảinộp bổ sung hoặc con số đã nộp thừa, thì vấn đề phân chia với cácđịa phương có còn phải làm tiếp hay không và nếu còn phải làm thìlàm thế nào?
Những nội dung mới của Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN
1 Đối với Luật thuế Giá trị Gia tăng
* Về đối tượng không chịu thuế GTGT
Thu hẹp đối tượng không chịu thuế từ 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ xuống còn
25 nhóm
Trang 3Chuyển 3 nhóm sau từ không chịu thuế sang chịu thuế GTGT:
- Chuyển nhóm hàng hoá là thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyêndùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trongnước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanhnghiệp sang đối tượng chịu thuế GTGT
- Chuyển “Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệthuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim” sang đối tượng chịuthuế GTGT với thuế suất 5%
- Chuyển hoạt động “Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loạiđiều tra cơ bản của Nhà nước” sang thuế suất 10%
- Chuyển “Vận tải quốc tế” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 0%,hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế sang đối tượng chịuthuế GTGT với thuế suất tương ứng của từng hàng hoá, dịch vụ
Bổ sung “Các dịch vụ tài chính phái sinh” vào diện không chịu thuế GTGT đểđảm bảo bao quát được các dịch vụ mới phát sinh, phù hợp với thông lệ quốctế
Bổ sung dịch vụ “Cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng, dịch vụ thuhoạch sản phẩm nông nghiệp” vào diện không chịu thuế GTGT
Viết lại cụm từ “nhà tình nghĩa” thành “ nhà ở cho các đối tượng chính sách
xã hội” để bao quát các trường hợp đối với “duy tu, sửa chữa, xây dựng bằngnguồn vốn đóng góp của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo”
Chuyển nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt sang thuế suất 5% (trướcđây nước sạch căn cứ vào địa bàn khai thác và mục đích sử dụng để xếp vàođối tượng không chịu thuế và chịu thuế với thuế suất 5%)
* Về thuế suất
(1) Mức thuế suất 0%:
- Bổ sung vận tải quốc tế vào đối tượng áp dụng thuế suất 0% để khuyếnkhích phát triển hoạt động vận tải quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và phùhợp với thông lệ quốc tế
(2) Mức thuế suất 5%:
(2.1.) Mức thuế suất 5% chủ yếu áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ là đầuvào của sản xuất nông nghiệp Tại Luật GTGT sửa đổi lần này, quy định 15nhóm hàng hoá, dịch vụ áp dụng thuế suất 5% (Luật hiện hành là 21 nhóm), cụthể như sau:
a) Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
b) Phân bón, quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và chấtkích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng;
c) Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác;
d) Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nôngnghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, sơ chế, bảoquản sản phẩm nông nghiệp;
đ) Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến, trừ sản phẩmquy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
e) Mủ cao su sơ chế; nhựa thông sơ chế; lưới, dây giềng và sợi để đan lướiđánh cá;
Trang 4g) Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sảnphẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
h) Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bãbùn;
i) Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo tây và cácsản phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp;bông sơ chế; giấy in báo;
k) Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, baogồmmáy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đậpliên hợp, máy thu hoạch sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừsâu;
l) Thiết bị và dụng cụ y tế; bông và băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh,chữa bệnh; sản phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữabệnh, thuốc phòng bệnh;
m) Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, baogồm các loại mô hình, hình vẽ,bảng, phấn, thước kẻ, compa và các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng chogiảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học;
n) Hoạt động văn hoá, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sảnxuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim;
o) Đồ chơi cho trẻ em; sách các loại, trừ sách quy định tại khoản 15 Điều 5của Luật;
p) Dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa học và côngnghệ;
(2.2) Các nhóm sau chuyển từ mức thuế suất 5% mức thuế suất 10%:
- In các loại
- Than đá, đất, đá, cát, sỏi
- Hoá chất cơ bản, sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất (trừ máy móc, thiết bịchuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp), khuôn đúc các loại, vật liệu nổ, đámài, ván ép nhân tạo, sản phẩm bê tông công nghiệp, lốp và bộ săm lốp cỡ từ900-20 trở lên, ống thủy tinh trung tính
- Sản phẩm luyện, cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, trừ vàngnhập khẩu
- Máy xử lý dữ liệu tự động và các bộ, phận phụ tùng của máy
- Duy tu, sửa chữa, phục chế di tích lịch sử-văn hoá, bảo tàng (trừ trườnghợp huy động bằng nguồn vốn góp của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo)
- Vận tải, bốc xếp, nạo vét luồng lạch, cảng sông, cảng biển; hoạt động trụcvớt, cứu hộ
(3) Mức thuế suất 10%:
Được xác định theo phương pháp loại trừ, áp dụng đối với các hàng hoá,dịch vụ không thuộc diện áp dụng các mức thuế suất 0%, 5%
* Về khấu trừ thuế GTGT đầu vào
- Nâng thời hạn tối đa được kê khai thuế GTGT đầu vào, cụ thể: “Trường hợp
cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị saisót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian kê khai tối đa là 6 tháng, kể từthời điểm phát sinh sai sót”
Trang 5- Bổ sung quy định hàng hoá, dịch vụ mua vào được khấu trừ thuế đầu vàothì phải thanh toán qua ngân hàng, trừ trường hợp giá trị của hàng hoá, dịch vụmua vào từng lần dưới 20 triệu đồng.
- Bổ sung quy định thuế đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời chosản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuếGTGT thì được khấu trừ toàn bộ (Thực tế quy định này đang được hướng dẫntại Thông tư số 32/2007/TT-BTC)
* Hiệu lực thi hành:
Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009
2 Đối với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp
* Về đối tượng nộp thuế
Theo Luật thuế TNDN hiện hành, đối tượng nộp thuế bao gồm cả tổ chức và
cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Nay theo quy địnhcủa Luật thuế thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007thì các đối tượng là cá nhân và hộ gia đình sẽ chuyển sang nộp thuế thu nhập
cá nhân từ ngày 1/1/2009 Vì vậy, đối tượng nộp thuế TNDN theo Luật mới chỉcòn bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế cóhoạt động sản xuất, kinh doanh, có thu nhập
* Về thu nhập chịu thuế
- Bỏ quy định thu bổ sung theo biểu lũy tiến đối với thu nhập từ hoạt độngchuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất mà áp dụng chính sáchthuế TNDN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cảchuyển nhượng đất và tài sản trên đất) theo hướng: kê khai riêng thu nhập từchuyển nhượng bất động sản để nộp thuế theo thuế suất chung (25%); nếudoanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế thì thu nhập từ chuyển nhượng bấtđộng sản không được ưu đãi thuế và nếu có lỗ thì chỉ được bù trừ với lãi từhoạt động này trong 5 năm tiếp theo mà không được bù trừ với lãi từ các hoạtđộng kinh doanh khác
- Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượngbất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từchuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vayvốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đãxoá nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thunhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhậpkhác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoàiViệt Nam Các khoản thu nhập này sẽ không được hưởng ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp
* Về thu nhập được miễn thuế
Trang 6Bổ sung thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ củadoanh nghiệp dành riêng cho lao động là người sau cai nghiện, người nhiễmHIV được miễn thuế.
* Về các khoản chi được trừ và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Tại Luật thuế TNDN mới không quy định cụ thể cả các khoản chi được trừ
và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế mà chỉ quyđịnh điều kiện để xác định khoản chi được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chikhông được trừ Theo cách này, những khoản chi không được liệt kê thì đươngnhiên doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịuthuế (cơ bản theo hướng như Thông tư số 134/2007/TT-BTC)
- Nguyên tắc xác định các khoản chi được trừ: Các khoản chi đáp ứng đủ cácđiều kiện sau đây:
+ Các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp;
+ Các khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy của pháp luật
- Một số khoản chi được trừ mở rộng hơn so với Luật thuế thu nhập doanhnghiệp hiện hành:
+ Giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và các trường hợp bất khả khángkhác không được bồi thường
+ Chi lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổchức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế tối đa không quá 150% mức lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay
+ Các khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếptân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán;chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan đến hoạt động sản xuấtkinh doanh được trừ tối đa là 10% trên tổng số chi phí không bao gồm cáckhoản chi này Đối với doanh nghiệp thành lập mới tối đa là 15% trong 3 nămđầu, kể từ khi được thành lập
+ Chi tài trợ cho y tế, khắc phục hậu quả thiên tai và làm nhà tình nghĩa chongười nghèo theo quy định của pháp luật được trừ khi xác định thu nhập chịuthuế
+ Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển khoa học, công nghệ: Luật
quy định hàng năm doanh nghiệp được trích tối đa 10% trên thu nhập tính thuế
để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, như quy định tại Điều 45 củaLuật chuyển giao công nghệ nhằm tạo thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp
chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị, Trong
thời hạn 5 năm kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệkhông được sử dụng, hoặc sử dụng không hết 70%, hoặc sử dụng không đúngmục đích thì doanh nghiệp phải nộp lại vào ngân sách nhà nước phần thuế thunhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập Quỹ và phần lãi phátsinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó
* Xác định thu nhập tính thuế
- Thu nhập tính thuế trong kỳ được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thunhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước
Trang 7- Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản chi được trừ của hoạtđộng sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ởngoài Việt Nam.
* Về thuế suất
- Hạ mức thuế suất chung từ 28% xuống 25%
- Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai tác dầu khí và tài nguyên quýhiếm khác từ 32% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh
* Về nơi nộp thuế
Quy định doanh nghiệp nộp thuế tại nơi có trụ sở chính Trường hợp doanhnghiệp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi doanh nghiệp có trụ sở chínhthì số thuế được tính nộp theo tỷ lệ chi phí giữa nơi có cơ sở sản xuất và nơi
có trụ sở chính Việc phân cấp, quản lý, sử dụng nguồn thu được thực hiệntheo quy định của Luật ngân sách Nhà nước
* Về ưu đãi thuế
a) Về thuế suất : Hiện hành áp dụng 3 mức thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và
20%, nay bỏ mức 15%, thu hẹp diện ưu đãi để được hưởng các mức 10% và20% Cụ thể:
(1) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao; doanh nghiệpthành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quantrọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm được áp dụng thuế suất10% trong thời gian 15 năm
(2) Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế,văn hoá, thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất 10%
(3) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian 10 năm (4) Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân được áp dụngthuế suất 20%
(5) Đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệcao thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời giankéo dài thêm không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này
(6) Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính kể từ năm đầu tiên doanhnghiệp có doanh thu
Theo quy định tại Luật thuế TNDN mới thì:
- Doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệtkhó khăn, một số ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn được áp dụng thuế suấtthuế TNDN 10% trong 15 năm và doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn cóđiều kiện kinh tế xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất TNDN 20% trong 10năm
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế,văn hoá, thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất 10% trong suốt thờigian hoạt động và Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dânđược áp dụng thuế suất 20% trong suốt thời gian hoạt động
Trang 8- Bỏ ưu đãi thuế suất đối với doanh nghiệp mới thành lập trong Khu côngnghiệp và một số ngành thuộc danh mục lĩnh vực ngành nghề ưu đãi đầu tưquy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP.
b) Về thời gian miễn, giảm thuế:
- Vẫn áp dụng mức tối đa miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theonhưng thu hẹp danh mục địa bàn và ngành nghề, chỉ ưu tiên ngành nghề đặcbiệt khuyến khích đầu tư và địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khókhăn Cụ thế:
(1) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao; doanhnghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiêncứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệtquan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm; doanh nghiệp mớithành lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá,thể thao và môi trường được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo
(2) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn được miễn thuế tối đa không quá hai năm và giảm 50% sốthuế phải nộp tối đa không quá 4 năm tiếp theo
(3) Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục kể từ năm đầu tiêndoanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; Trường hợp doanh nghiệp không có thunhập chịu thuế trong 3 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu thì thời gianmiễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư
Theo cách tính về thời gian miễn giảm thuế quy định tại Luật thuế mới thì sẽ
có các trường hợp sau:
+ Doanh nghiệp thành lập từ ngày 1/1/2009 thì thời gian miễn thuế, giảmthuế được tính liên tục kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế;Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm đầu, kể từnăm đầu tiên có doanh thu thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từnăm thứ tư
+ Doanh nghiệp thành lập trước ngày 1/1/2009 nhưng đến ngày 1/1/2009phát sinh lỗ trên 3 năm thì thời gian miễn giảm thuế tính từ năm 2009
+ Tính đến ngày 1/1/2009 doanh nghiệp phát sinh lỗ dưới 3 năm thì thời gianmiễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư có doanh thu
- Bỏ ưu đãi về thời gian miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với:doanh nghiệp mới thành lập trong Khu công nghiệp và một số ngành thuộcdanh mục lĩnh vực ngành nghề ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định số108/2006/NĐ-CP; doanh nghiệp sản xuất mới thành lập; doanh nghiệp dichuyển địa điểm ra khỏi đô thị theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyềnphê duyệt; dự án đầu tư mở rộng
Bổ sung không áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với:
- Thu nhập khác
- Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyênquý hiếm khác
Trang 9- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng, cá cược theo quyđịnh của pháp luật.
- Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ
* Hiệu lực thi hành
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009
Kiến thức cơ bản về thuế (Phần 1)
Nguồn sưu tầm, 11-06-2008 Số lần xem: 12840
I KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA THUẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm, phân biệt thuế với lệ phí, phí
1.1 Khái niệm:
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi chohoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nướctồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình.Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạtđộng của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức
tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợpnữa Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực củamình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phảiđóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành qũy tiền
tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những của cải vật chất này được thu nộpdưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức tiền tệ.Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với dân cư,Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng chếcủa Nhà nước
Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế tồntại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếukhách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà
Trang 10nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước.
Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũyngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xãhội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quanlập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước.Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi
sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hộichấp thuận ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếukhông được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng Hiến pháp củanước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết
và định đoạt các Luật thuế
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội cónhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy,
do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao choUớy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuếthông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế
Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp
Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấuhiệu và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đốivới Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước với cácthể nhân và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệ phân phối này làcủa cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị
Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểmcủa phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnhhưởng đến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của
cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổsung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ củatừng giai đoạn Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thựchiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từngthời kỳ
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiếndiện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là độngviên tài chính vào ngân sách Nhà nước mà phải được phân tích một cách toàndiện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lậpvới quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân
Ở nước ta trước cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, Luật thuế chỉ
áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tậpthể và cá thể Ðể thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với cơchế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu ngân sách Nhà nước,cuộc cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước được thực hiện trên cơ sở Nghị
Trang 11quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989 Kết qủa của cuộc cải cáchnày đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối với tất cả các thànhphần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh Từ đâythuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thuếchiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
1.2 Phân biệt thuế với lệ phí, phí
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cánhân và pháp nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trựctiếp
Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí vềviệc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sựđóng góp cho ngân sách Nhà nước
Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bấtthường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với nhữnghoạt động phục vụ người nộp phí
Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mangtính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt như sau:
Xét về mặt giá trị pháp lý:
Thuế có giá trị pháp lý cao hơn lệ phí, phí Thuế được ban hành dưới dạngvăn bản pháp luật như: Luật, Pháp lệnh do Quốc hội và ủy ban Thường vụQuốc hội thông qua Trình tự ban hành một Luật thuế phải tuân theo một trình
tự chặt chẽ
Trong khi đó lệ phí, phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định củachính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Xét về mục đích và mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế - xã hội thì thuế
có 3 tác dụng lớn:
Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước
Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng pháttriển kinh tế
Ðảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội.Qua đó chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triểnkinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọngcấu thành chính sách tài chính quốc gia
Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tácdụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn nàykhông phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trướchết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hộimột số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan
Ngoài dấu hiệu là thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế củaNhà nước, thuế còn được phân biệt với lệ phí, phí ở chổ các cá nhân và phápnhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở đượchưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá Trong khi đó
Trang 12hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chấtđối giá Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phíthừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp.
Bên cạnh đó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộpthuế Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chổ Nhà nước thuthuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởitrách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp Người nộp thuế suy cho cùng sẽnhận được các lợi ích vật chất từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhànước sử dụng các khoản chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chínhsách kinh tế xã hội chung cho cả cộng đồng Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ đókhông nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước.Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với lệ phí, phí và cáckhoản thu mà Nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước nhưng ràng buộctrách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạmứng cho ngân sách Nhà nước
Xét về tên gọi và mục đích
Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, thường phù hợp với tên gọi của
nó Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá đầy
đủ mục đích sử dụng loại lệ phí đó
Mỗi một Luật thuế đều có mục đích riêng Tuy nhiên, đa số các sắc thuế cótên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà thường phản ánh đốitượng tính thuế
Nói chung mục đích của việc sử dụng của các loại thuế thường là tạo nguồnqũy ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước,thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước
2 Chức năng, vai trò của thuế
2.1 Chức năng của thuế
Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện công dụng vốn
có của nó Ðối với một phạm trù kinh tế - xã hội thì chức năng phản ánh sự tácđộng của nó - là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn cócủa phạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đốicủa nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn cócủa các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thứcvận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tàichính
Căn cứ vào nội dung cùng với qúa trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế,chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:
Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế.
Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chínhvào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chứcnăng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhânnảy sinh ra thuế.Thông qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà
Trang 13nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thườngxuyên và tồn tại của Nhà nước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiếnhành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhậpquốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế
là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngânsách Nhà nước Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thunhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Sốtiền này sau đó laiỷ được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xãhội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội.Trong một chừng mực nhấtđịnh, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời vàphát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiềunày được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước vàviệc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhànước vào các qúa trình kinh tế
Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế.
Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối vớinền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc
độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhànước phải mở rộng qũy tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thuthuế Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cườngcác chức năng của thuế để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tếquốc dân Chính trong qúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại vàchức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực
Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dựliệu trước vào trong qúa trình huy động tập trung nguồn tài chính Bằng cách sửdụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làmyếu đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanhtoán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế,Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm viquốc gia
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hìnhthức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượngnộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khảnăng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt độngkinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích củatoàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thíchkinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế đểtác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân.Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh,bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra
sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến
Trang 14sự vận động và phát triển của chức năng điểu tiết Nhưng chức năng điều tiếtcủa thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lạithu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền
đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúatrình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắpxếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởngkinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đâychính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phânphối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâuthuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chứcnăng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên.Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện cácchương trình kinh tế xã hội Mặc khác, việc tăng cường chức năng phân phối
và phân phối lại một cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làmgiảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai tròcủa chức năng điều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnhhưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng mộtcách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêmtúc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sáchpháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hộinhất định
2.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhànước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhànước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên qũyngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thôngqua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luậtkhông chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụcủa các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế Pháp luậtthuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nước Chính vìvậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và cóvai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong nhữngđiều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với
sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuếđóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Vaitrò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối vớicác pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính
Trang 15quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh cácquan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh quan
hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước Hầu hết
ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngânsách Nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội
bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát
từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiệnpháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mớiđáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Hiệnnay nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành cóvay có trả Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để góp phần ổn định trật
tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được ápdụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnh được hầu hếtcác hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội.Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước
Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuếcòn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Ðiều 26Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dânbằng pháp luật, kế hoạch, chính sách Là một bộ phận của hệ thống pháp luậtViệt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá
và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêudùng xã hội
Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhànước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của phápluật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễngiảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế Vaitrò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là công cụ tácđộng đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vitiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước cóthể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệpđến cung - cầu của nền kinh tế Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung
- cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định vàtăng trưởng kinh tế Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác độngtích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất,lưu thông đến tiêu dùng
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế
Trang 16thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tác độngđến các quan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một
số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuấtnhập khẩu đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước vàkhuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quyđịnh khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa
Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng cótính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trườngtất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Ðối vớinhững ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài cácquy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuếnhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của cácdoanh nghiệp
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước
có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng
và sử dụng hợp lý và có hiệu qủa các nguồn lực cuả đất nước trong việc điềuchỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế
Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngànhnghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng
và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và phápnhân
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viêngiống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có nhữngđiều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của phápluật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội
Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải
sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối
về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụng phápluật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự điều tiết nàythể hiện ở chổ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiệnviệc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xãhội Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế,
vế thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạmpháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thốngthuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làmtriệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nướctrong điều kiện nền kinh tế thị trường
II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ÐỊNH THUẾ TRONG LỊCH SỬ NHÀ
Trang 17NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM.
Lịch sử nước ta mặc dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thể kỷ
XI, đời vua Trần Thái Tông (1225 - 1237) thì việc đánh thuế mới được hìnhthành một cách có tổ chức và có hệ thống Ngược dòng lịch sử, chúng ta tìmhiểu khái quát về chế định thuế hình thành và phát triển trong lịch sử Nhànước và pháp luật Việt Nam
1 Chế định thuế dười thời phong kiến
Ngay từ thời phong kiến, các cấp lãnh đạo dưới chế độ quân chủ đã biết tổchức hệ thống thu thuế để làm nguồn thu cho công qũy của nhà Vua Tuy vậy
từ các triều đại nhà trần trở về sau này, sự tổ chức, cách đánh thuế và thu thuếmới được ghi chép và có hệ thống
1.1 Chế định thuế dưới triều đại nhà Trần:
Thuế ở nước ta được hình thành từ đời nhà Trần, rõ rệt nhất là vào thời vuaTrần Thái Tông Theo sử sách ghi nhận vào thời nhà Trần có 2 loại thuế chínhđược áp dụng đó là thuế thân và thuế điền:
Kiến thức cơ bản về thuế (Phần 2)
Tuổi Trẻ Online, 11-06-2008 Số lần xem: 17187
2 Chế định thuế dưới thời Pháp thuộc
Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Ðông Dương đầu thế kỷ XX không nằmngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc địa Dưới thời Pháp thuộc,thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc,nhưng chúng lại không được chuyển thành nguồn tài trợ cho sự phát triển của
xã hội mà lại được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩathực dân Chính phủ thuộc địa Pháp đặt ra các thuế ngoại ngạch tức là loạithuế gián thu như thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế rượu, thuế muối, thuế đoan (thuếquan); thuế trực thu thì có thuế môn bài, thuế thổ trạch Hệ thống ngân sáchcủa nhà nước thuộc địa bao gồm:
Ngân sách Ðông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sáchđặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hoả xa
Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên,
Ai lao và Quảng Châu văn
3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ ta chủ trương bãi bỏ hẳn
Trang 18sắc thuế mang tính chất phi nhân đạo như: thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê
và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam
Sau năm 1946, Nhà nước một mặt bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuếsuất nhiều loại thuế; mặc khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như:Qũy "tham gia kháng chiến" năm 1949, Qũy "Công lương" và thuế điền thổ.Mặc khác, Chính phủ cũng vận động nhân dân vay dưới hình thức công trái,đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ
Ðến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính Nhà nước, Chínhphủ còn ban hành chính sách pháp luật thuế mới được xây dựng trên nguyêntắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và điều kiện chiếntranh Chính sách pháp luật thuế thống nhất bao gồm 7 loại thuế là:
Thuế nông nghiệp
Thuế công thương nghiệp
3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Ðây là giai đoạn mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử tháchmới Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cáchvĩnh viễn, nhưng mặc khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Geneve,Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại Luật thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổsung các chế độ thuế đã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụngthống nhất, bao gồm 12 loại thuế sau:
Thuế doanh nghiệp
Thuế hàng hóa
Thuế sát sinh
Thuế buôn chuyến
Thuế thổ trạch
Thuế kinh doanh nghệ thuật
Thuế môn bài
Thuế trước bạ
Thuế muối
Thuế rượu
Thuế xuất nhập khẩu và chế độ thu quốc doanh
Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, thuế công thương nghiệp được sửađổi đáng kể: từ một hệ thống thuế tương đối ít chuyển sang một hệ thống vớinhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của qúa trình sảnxuất , lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau có sự phân
Trang 19biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tưnhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau.
Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã áp dụngthí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xácđịnh riêng cho từng mặt hàng tùy theo giá cả Nhà nước quy định và chỉ thu ởkhâu sản xuất Năm 1962, Nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sửdụng lợi nhuận của các xí nghiệp Theo chế độ này, lợi nhuận của các doanhnghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào ngân sách Nhà nước; phần lợinhuận còn lại, doanh nghiệp được dùng để lập qũy doanh nghiệp, bổ sung kinhphí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc mở rộng quy mô sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và bổ sung vốn lư động Các doanh nghiệp công tưhợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối vớiNhà nước như các doanh nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốcdoanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước Chế độ thuế này đượcduy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
3.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990
Thời kỳ 1975 - 1980:
Trong thời kỳ này, miền bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ thống pháp luật thuế
đã ban hành từ trước, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miềnNam thì có áp dụng một số loại thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sởxóa bỏ một số loại thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điềukiện đất nước thống nhất
Thời kỳ 1980 -1990:
Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống pháp luật thuế thống nhất,nhưng hệ thống pháp luật thuế hiện hành này ngày càng tỏ ra có nhiều nhượcđiểm, cản trở sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thị trường đang nảy sinhvới các đặc điểm:
Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Doanh nghiệp quốc doanhthì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng với các hìnhthức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lạichịu sự tác động của thuế
Thu quốc doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản Về thực chất, đây làmột loại thuế đa thuế suất với hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khókhăn cho việc quản lý và hành thu
Giai đoạn từ 1990 đến nay:
Từ giữa những năm 1980, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh
tế, hệ thống pháp luật thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990một hệ thống pháp luật thuế mới được hình thành, bao gồm hệ thống chínhsách pháp luật thuế và hệ thống quản lý Nhà nước về thuế Giai đoạn nàyđược đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống pháp luật thuế hoàn chỉnh nhất
từ trước đến nay, bao gồm 9 loại thuế:
Thuế nông nghiệp
Thuế doanh thu
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 20Thuế lợi tức.
Thuế xuất nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch)
Thuế tài nguyên
Thuế thu nhập
Thuế nhà đất
Thuế vốn (khoản thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước)
Ngoài ra còn có một số phí và lệ phí có tính chất như thuế như: lệ phí môn bài,
lệ phí trước bạ, lệ phí giao thông, thuế sát sinh
III PHÂN LOẠI THUẾ
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống phápluật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản
lý hệ thống thuế, chúng ta tiến hành sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chấtthành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
1 Căn cứ để phân loại thuế
Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xãhội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ
sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thứcsau:
1.1 Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu
thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thuthể hiện ở chổ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủthể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùnglại là người phải chịu thuế
Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực
tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế
ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thunhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sửdụng đất nông nghiệp
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
1.2 Căn cứ vào đối tượng đánh thuế
Theo cách phân loại này thuế được chia thành:
Trang 21Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị giatăng.
Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụđặc biệt
Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao
Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất
Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia nhưthuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước Thuế khác và lệ phí, phí
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừaphát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hổ trợ, bổ sung cho nhaunhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thốngpháp luật thuế
2 Các loại thuế cơ bản áp dụng ở các nước trên thế giới và ở
Việt Nam
Do thể chế chính trị, kinh tế của các nước không giống nhau nên hệ thốngpháp luật thuế của mỗi quốc gia đều có tính chất đặc thù riêng Chúng tanghiên cứu sơ lược về hệ thống chính sách pháp luật thuế ở một số nước xãhội chủ nghĩa và các nước có nền kinh tế thị trường
2.1 Hệ thống pháp luật thuế của một số nước xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, một số nước xã hội chủ nghĩa đã có những thay đổi về chính sáchkinh tế và tài chính, áp dụng cơ chế kinh tế thị trường, tăng cường giao lưuthương mại với nhiều nước trên thế giới, trong khu vực cũng như ngoài khuvực, không phân biệt thể chế chính trị Một số nước đã áp dụng chính sáchpháp luật thuế với nhiều ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài để thu hút vốn đầu
tư Do đó các Luật thuế về cơ bản cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên mục đíchcủa Luật thuế vẫn là điều tiết thu nhập nhằm đảm bảo công bằng và chính sáchthuế vẫn có xu hướng thiên về loại gián thu
Nói chung, hiện nay tại một số nước xã hội chủ nghĩa, các Luật thuế vớithuế suất cũng như cách tính thuế đang được áp dụng có nhiều điểm tươngđồng, phù hợp với chuẩn mực chung với Luật thuế của các nước tiên tiến trênthế giới
Chẳng hạn, hiện nay nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đang áp dụngcác loại thuế sau đây:
Thuế giá trị gia tăng
Thuế doanh thương
Thuế tiêu thụ
Thuế tài nguyên
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập cá nhân
Thuế địa ốc tại thành phố
Thuế trị giá đất
Thuế môn bài
Trang 22Thuế con niêm.
Thuế quan
Ngoài ra, có nước còn áp dụng các loại thuế khác như:
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế môn bài
Hệ thống pháp luật thuế của các nước tư bản áp dụng nhiều Luật thuế khácnhau, được phân loại và xếp thành hệ thống như sau:
Thuế trực thu: gồm có:
Thu nhập công ty
Thuế thu nhập cá nhân
Thuế môn bài hay thuế nghề nghiệp
Thuế tài sản
Thuế gián thu: gồm có:
Thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế tiêu dùng)
Thuế giá trị gia tăng
Thuế hí cuộc
Thuế quan
Thuế trước bạ và con niêm
Về cơ bản các nước có nền kinh tế thị trường đều áp dụng các Luật thuếtrên đây và coi đây là nguồn thu cơ bản cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiêncũng tùy theo cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội của mỗi nước mà có sự thayđổi trong cách tính thuế và thuế suất
IV CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH MỘT LUẬT THUẾ
Luật thuế do Quốc hội ban hành, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ Xem xét cấu tạo một Luật thuế là xem xét sự sắp xếp, bố trí các quy phạm pháp luật theo các nội dung điều chỉnh Ơớ nước ta, các Pháp lệnh, Nghị
quyết do Uớy ban Thường vụ Quốc hội ban hành chứa đựng các quy phạmpháp luật thuế, thực hiện chức năng điều chỉnh của Luật thuế nên cũng có cấutạo tương tự Luật thuế
Thông thường, Luật thuế có cấu tạo gồm các bộ phận chủ yếu sau: têngọi; những quy định chung; căn cứ tính thuế; đối tượng nộp thuế; chế độ kêkhai, nộp thuế, thu thuế; chế độ miễn, giảm thuế; nghĩa vụ và trách nhiệmcủa đối tượng nộp thuế; chế độ xử lý vi phạm; khen thưởng và giải quyếtkhiế nại về thuế
1 Tên gọi của luật thuế
Tên Luật thuế thường được xác định trên cơ sở tên gọi loại thuế được quyđịnh Tên gọi của một Luật thuế được xác định theo đối tượng tính thuế hoặcnội dung và tính chất của các hoạt động làm phát sinh điều kiện pháp lý để áp
Trang 232 Những quy định chung
Phần quy định chung trong Luật thuế bao gồm các quy định về nguyên tắc
áp dụng và phạm vi áp dụng của Luật thuế như quy định đối tượng nộp thuế,đối tượng không thuộc diện chịu thuế, nguyên tắc về việc thực hiện nghĩa vụnộp thuế của đối tượng nộp thuế, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuthuế
Ðối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước khi có các điều kiện được dự liệu trong Luật thuế Ðối tượng không thuộc diện chịu thuế là trường hợp các thể nhân và pháp nhân có các hoạt động tương tự các điều kiện được dự liệu nhưng Luật
thuế quy định không thuộc phạm vi điều chỉnh thì các hoạt động đó không thuộcdiện chịu thuế theo quy định trong Luật thuế
Nguyên tắc thu, nộp thuế được quy định trong Luật thuế thể hiện một cách tổng quát quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế; trách nhiệm, quyền
hạn của cơ quan thu thuế
3 Căn cứ tính thuế
Trong các Luật thuế đều có các quy phạm quy định thuế được tính dưạ trêncăn cứ nào Tùy thuộc nội dung, tính chất của từng loại thuế mà các căn cứtính thuế được quy định cụ thể Các căn cứ tính thuế bao gồm các yếu tố cơbản là đối tượng tính thuế và thuế suất Ngoài ra trong một số loại thuế, căn cứtính thuế còn được quy định bao gồm một số yếu tố khác như số lượng hànghoá, giá tính thuế
Ðối tượng tính thuế:
Là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản ánh nội dung kinh tế - xã hội,nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào qũy ngân sách Nhà nước,thể hiện tính chất độc lập của một loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế Do
đó, các Luật thuế quy định đối tượng tính thuế của mỗi loại thuế có tính độc lập.Chẳng hạn, đối tượng của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế
Biểu thuế thông thường bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng ổn định và thống nhất cho toàn bộ đối tượng tính thuế.
Biểu thuế lũy tiến bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng càng cao theo quy mô của đối tượng tính thuế Biểu thuế lũy tiến có hai hình
thức: biễu thuế lũy tiến toàn phần và biểu thuế lũy tiến từng phần
+ Biểu thuế lũy tiến toàn phần bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất
áp dụng thay đổi theo mức cao hơn đối với toàn bộ đối tượng tính thuế nếu đối
tượng tính thuế thuộc bậc quy định Hay nói cách khác thuế được tính chungtrên toàn bộ đối tượng tính thuế theo thuế suất tương ứng
Trang 24+ Biểu thuế lũy tiến từng phần bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suấtđược áp dụng thay đổi theo mức cao hơn đối với từng phần của đối tượng tínhthuế nếu đối tượng tính thuế thuộc bậc quy định
Biểu thuế lũy thoái bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng giảm dần tương ứng với sự tăng lên của đối tượng tính thuế ở các bậc Hiện
nay pháp luật thuế Việt Nam cũng như phổ biến ở nhiều nước trên thế giớikhông quy định loại thuế lũy thoái Việc áp dụng biểu thuế lũy thoái trong thuthuế mang tính cá biệt ở một số nước
Trong công tác hoạt động xây dựng pháp luật, việc quy định các mứcthuế suất cũng như hình thức biểu thuế thể hiện thái độ của Nhà nước trongviệc động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước và thực hiện cácchính sách kinh tế - xã hội
4 Chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế
Chế độ kê khai thuế quy định trong Luật thuế thể hiện các quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành sổ sách kế toán, hóa
đơn chứng từ và cung cấp tài liệu, sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn liênquan đến việc tính và thu thuế Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế đối vớitừng loại thuế mà Luật thuế và các văn bản ph&aac
Kiến thức cơ bản về thuế (Phần 3)
Nguồn sưu tầm, 11-06-2008 Số lần xem: 14120
V TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ
1 Qúa trình hình thành và phát triển bộ máy quản lý Nhà nước
về thuế ở Việt Nam
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập cho đến nay, cùng với
sự phát triển của ngành tài chính, tổ chức bộ máy tài chính nói chung và tổchức bộ máy thu thuế nói riêng được phát triển và hoàn thiện dần, từng bướcphù hợp với cơ chế quản lý kinh tế tài chính phù hợp với tổ chức hành chínhNhà nước và tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh
Trước khi tiến hành cải cách hệ thống pháp luật thuế áp dụng chung cho tất
cả các thành phần kinh tế, bộ máy thu thuế Việt Nam được tổ chức như sau:
Bộ máy thu thuế được tổ chức theo từng thành phần kinh tế, phù hợp vớichế độ thu thuế áp dụng cho mỗi thành phần kinh tế, đó là:
Bộ máy thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp quốc doanh: chịu trách nhiệm quản lý các khoản thu từ xí nghiệp quốc doanh
Bộ máy thu thuế nông nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế hợp tác xã nông nghiệp và cá thể
Bộ máy thu thuế công thương nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế công thương nghiệp đối với kinh tế tập thể, cá thể kinh doanh công
thương nghiệp
Ðối với khu vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, Nhà nước thực hiện quản lý
Trang 25và thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thông qua bộ máy thu thuế là Tổng cụchải quan
Về hình thức tổ chức cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ: có lúc bộmáy thu thuế được tổ chức thành hệ thống dọc, trực tuyến từ trung ươngxuống đến quận, huyện; có lúc bộ máy thu thuế được tổ chức thành một bộphận nằm trong cơ cấu bộ máy của cơ quan tài chính các cấp
2 Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thuế hiện nay
Ðể phù hợp với tình hình mới của đất nước, yêu cầu cấp bách phải tổ chức
bộ máy thu thuế thống nhất trong cả nước Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởngban hành Nghị định số 281/HÐBT về việc thành lập bộ máy thu thuế Nhà nướctrực thuộc Bộ Tài chính Ngày 21/8/1991 Bộ Tài chính ra Quyết định số 316 TC-QÐ/TCCB thành lập Tổng cục Thuế Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính làmnhiệm vụ quản lý thuế nội địa Việc quản lý thuế xuất nhập khẩu do Tổng cụcHải quan tiếp tục thực hiện
2.1 Nguyên tắc tổ chức hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về thuế
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Nhà nước được tổ chức thống nhất từtrung ương đến cơ sở, cùng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện các Luậtthuế trong cả nước
Tính thống nhất và hệ thống trong tổ chức bộ máy thu thuế được thể hiện ở cácđiểm sau:
Hệ thống thu thuế Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thống nhất trong
cả nước về công tác thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nướcđối với tất cả các thành phần kinh tế; không một tổ chức hay cá nhân nào đượcđứng ra tổ chức thu thuế nếu không được sự ủy quyền của cơ quan thuế Các nghiệp vụ thu thuế và các khoản thu khác đối với các đối tượng nộpthuế được chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế nhằmđảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật thuế và các chế độ thu khác
Cơ quan thuế các cấp được tổ chức theo một mô hình thống nhất Việc quản
lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu, thực hiện các chính sách đối với cán bộcũng như tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ thuế được thực hiện thống nhấttrong toàn ngành thuế
Cơ quan thuế địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của Bộ trưởng Bộ tàichính và Chủ tịch Uớy ban nhân dân tỉnh
Các cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nằm trong hệ thống các cơquan Nhà nước, có tư cách pháp nhân
2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thuế
a Ðối với cơ quan quản lý thuế nội địa:
Trang 26Xây dựng và điều hành kế hoạch thu trong cả nước và từng địa phương; tổchức phổ biến, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ thực hiện các Luật thuế trong cảnước; nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về thuế và sửdụng cán bộ; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra qúa trình chấp hành các Luậtthuế để việc thực hiện các Luật thuế đạt được kết qủa cao; giải quyết các khiếunại, tố cáo về thuế
Các cục thuế địa phương
Cục thuế là tổ chức trực thuộc Tổng cục thuế được tổ chức tại tất cả cáctỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Cơ cấu bộ máy Của cục thuếbao gồm một số phòng chức năng và một số phòng nghiệp vụ, phòng thu thuếđược tổ chức theo đối tượng thu thuế
Cục thuế có nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau:
Phổ biến, hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thi hành các Luật thuế; xây dựng
và chỉ đạo thực hiện kế hoạch thu trong toàn địa bàn và từng Chi cục thuế trựcthuộc; hướng dẫn kiểm tra các Chi cục thực hiện các nghiệp vụ quản lý, giảiquyết các khiếu nại về thuế; trực tiếp thực hiện việc thu thuế và thu khác đối vớicác đối tượng thuộc trách nhiệm quản lý trên địa bàn
Các Chi cục thuế
Chi cục thuế là tổ chức trực thuộc Cục thuế, được tổ chức tại tất cả cácquận, huyện Cơ cấu bộ máy Chi cục thuế gồm các tổ chuyên môn, nghiệp vụ
và các đội, tổ, trạm trực tiếp quản lý việc thu thuế
Chi cục thuế có nhiệm vu, quyền hạn sau:
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thu chi tiết đối với từng Luật thuếphát sinh trên địa bàn Huyện; tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý các đốitượng nộp thuế; đôn đốc, kiểm tra các đối tượng nộp thuế trong việc chấp hànhLuật thuế
Từng cơ quan thuế thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình sẽ tạo nên sự phốihợp đồng bộ trong việc thực hiện mục tiêu hoàn thành kế hoạch thu của Nhànước Nhưng để thực hiện nhiệm vụ được giao, pháp luật thuế có quy định chocán bộ lãnh đạo và cán bộ thu thuế có một số quyền hạn nhất định
b Ðối với cơ quan quản lý Nhà nước về thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu:
Cơ quan Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hảiquan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, qúa cảnh,mượn đường Việt Nam; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phéphàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới Các hàng hóa, hành lý, ngoạihối, tiền Việt Nam, bưu kiện, bưu phẩm, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu,nhập khẩu qua biên giới Việt Nam đều chịu sự quản lý Nhà nước về hải quantheo quy định của pháp luật
Cơ quan Hải quan Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất,dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ Tổ chức hải quan Việt Nam baogồm: