Qua việc đọc mẫu tốt của giáo viên, học sinh cảmnhận được một phần cái hay cái đẹp của bài tập đọc, các em hào hứng, phấn khởimuốn tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn.. + Nâng cao chất lư
Trang 1MỤC LỤC Chương I:
Diễn biến tình hình thực tế của quá trình dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 tại
trường tiểu học Vĩnh Phú huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang
I/ Từ những trải nghiệm của cá nhân:
II/ Dự giờ trao đổi chuyên môn:
1/ Về giáo viên:
2/ Trao đổi đồng nghiệp:
3/ Kết luận của giáo viên và chuyên môn về dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2
4/ Ra đề:
5/ Kết quả:
Chương II: Đề xuất giải pháp dạy học phân môn Tập đọc lớp 2:
I/ Mục tiêu:
II/ Luyện đọc nhanh:
III/ Luyện đọc diễn cảm:
IV/ Đề xuất giải pháp dạy học Tập đọc:
V/ Thiết kế bài dạy:
VI/ Kiểm tra đánh giá sau bài dạy:
VII/ Đánh giá thực nghiệm:
Chương III: KẾT LUẬN:
Trang 2CHƯƠNG I: DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH THỰC TẾ CỦA QUÁ TRÌNH
DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH PHÚ
I/ TỪ NHỮNG TRẢI NGHIỆM CÁ NHÂN
+ Tôi tên: Trần Văn Quang
+ Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Vĩnh Phú huyện Giang Thành tỉnh KiênGiang
+ Năm tham gia công tác giáo dục: 2007
+ Nhiệm vụ được giao: Chủ nhiệm lớp 2
1. Thuận lợi: Trường tiểu học Vĩnh Phú nằm trên tuyến lộ N1 giáp với
Cămpuchia và An Giang nên việc giao tiếp văn hóa rất đa dạng Trường có
11 lớp với tổng số học sinh của trường 289em và có 17 cán bộ giáo viên
* Trong đó:
Đại học sư phạm: 11
Cao Đẳng sư phạm: 02
Trung học sư phạm: 04
Bản thân là một sinh viên mới ra trường công tác được 4 năm và trực
tiếp chủ nhiệm lớp 2 được 2 năm tôi nhận thấy: Muốn có quả ngọt thì phảinhọc công gieo trồng , chăm chút Muốn tạo một thế hệ học sinh năng động ,sáng tạo,…hãy bắt đầu từ hôm nay Tôi nghĩ rằng việc rèn luyện học sinhhọc phân môn Tập đọc không khó nếu chúng ta thực hiện bằng cả tâm huyếtcủa mình Để việc đọc của học sinh có kết quả không chỉ riêng sự nhiệt tìnhcủa giáo viên đang giảng dạy hiện tại mà cần có sự chuẩn bị chu đáo cho kếtquả học tập từ lớp dưới lên Ngoài ra còn có sự phối hợp chặt chẽ ba môitrường giáo dục : nhà trường – gia đình – xã hội sẽ là mảnh đất màu mỡ đểươm mầm cho những chủ nhân tương lai của đất nước
Trang 32. Khó khăn:
+ Về phía nhà trường và bản thân:
Với những thuận lợi trên, trường còn có một số mặt còn tồn tại như:Trường được thành lập vào năm 2005 và mới được chia tách từ huyện KiênLương ra thành huyện Giang Thành vào năm 2009 Do đó, cơ sở vật chất cònthiếu thốn
+ Xã hội: Chưa quan tâm nhiều đến giáo dục
+ Gia đình: Người dân đa số từ nơi khác đến sinh sống và có trình độ dân trí thấp cuộc sống chủ yếu làm ruộng, buôn bán nhỏ.v.v Còn học sinh:
* Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tự giác
trong học tập chưa cao, trình độ đọc còn yếu ( chưa rành mạch, còn ấp úng,ngân nga, chưa thật thông hiểu văn bản ) Các em còn có thói quen thiếu ý thức (đồng thanh nhiều , ý được uốn nắn nên đọc ê a như “ liến thoắng, vội vã, hấptấp, ) Đặc biệt còn do ảnh hưởng cách phát âm của phương ngữ tại tỉnh nhànhư:
- Phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đầu: tr/ ch; s/x; và đọc sai lỗi vềdấu thanh như: dấu hỏi (?); dấu ngã (~);
- Đọc và dùng từ địa phương: ăn/xơi; xuồng/ghe; chén/bát;
* Do điều kiện đến trường của các em cũng gặp nhiều khó khăn nhất là các
em nhà ở trong các tuyến kênh
- Đầu năm nhận lớp vẫn còn một số em đọc kém, đọc không đúng yêu cầu
là do các em học xong lớp 1 ,ba tháng hè các em không luyện đọc nên dễ quên, vớilại sách nhà trường cấp phát cho học sinh đã thu lại trong ba tháng hè các em khôngcòn sách nào để ôn tập nữa Còn đối với những học sinh đọc chậm các em thườngmắc cở, ngại đọc, sợ bạn cười nên không thích đọc Chính vì vậy tôi chọn học sinhlớp 2 1 của trường Tiểu học Vĩnh Phú để thử nghiệm đề tài này
II/ DỰ GIỜ - TRAO ĐỔI CHUYÊN MÔN
1. Dự giờ - kết quả:
Trang 4- Giáo viên còn giảng giải quá nhiều, lúng túng trong xử lý phần tìm hiểu bài.Đây là điểm vướng mắc khá phổ biến mà nhiều giáo viên vẫn chưa tìm ra cách gỡ.Một số giáo viên lúc nào cũng thấy giảng chưa đủ học sinh hiểu, mà quên rằng họcsinh Tiểu học "tiêu hoá" kiến thức ít hơn học sinh Trung học cơ sở.
- Phần luyện đọc nhiều giáo viên cho là dễ, nhưng thực chất đây là phần khónhất, phần trọng tâm của bài giảng Ở khâu này, giáo viên ít mắc lỗi về thao tác kỹthuật nhưng lại không biết dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo củahọc sinh, chưa chú ý đến tốc độ đọc của các em theo yêu cầu về kiến thức và kỹnăng cơ bản (nghe, nói , đọc, viết) phù hợp với từng khối lớp
- Phần hạn chế thường gặp nhất ở đồng nghiệp là phân bố thời gian chưa hợp
lý Có những phần dạy quá sâu hoặc dông dài, không cần thiết Có phần lại hời hợtchưa đủ độ "cần" của bài giảng Thường thấy nhất là hiện tượng học sinh khôngcòn thời gian luyện đọc, dẫn đến hiệu quả giờ dạy đạt không cao Không sửa đượclỗi phát âm sai chủ yêú của học sinh
- Một hạn chế rất phổ biến ở đồng nghiệp là khi dạy Tập đọc là không phânbiệt được sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học thuộc lòng Nhiềugiáo viên chỉ thấy sự khác nhau ở các lớp đầu cấp khi cho học sinh đọc đồngthanh , mà quên rằng nhiệm vụ chủ yếu của tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, cònnhiệm vụ của tiết Tập đọc- học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết hợp rèn trínhớ
- Ít chú ý đến đối tượng học sinh yếu cũng là lỗi thường gặp trong tiết Tậpđọc Trong giờ dạy, nhất là những giờ có người dự, nhiều giáo viên cố tình “bỏquên" đối tượng này, coi như không có các em trong đội quân đi tìm tri thức ở lớp
mình Nguyên nhân là do các em đọc chậm, trả lời ngắc ngứ làm giảm tốc độ thi công của tiết dạy Tuy vậy nhiều khi lỗi này do người dự "tập hư" cho người dạy.
Dự một giờ thấy học sinh trả lời trôi chảy, bài giảng tiến hành thuận lợi, người dựthường khen là được Ngược lại, trong tiết dạy giáo viên chú ý tập đọc, trả lời cho
Trang 5học sinh yếu, người dự thường phê "dạy buồn" - Mặc dù lựa chọn phương pháp phùhợp đối tượng là những nguyên tắc dạy học ai cũng biết.
- Có một số giáo viên tuổi cao, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong giảng
dạy, nhưng do phương pháp dạy học truyền thống đã tiềm tàng, khả năng nắm bắt phương pháp mới còn hạn chế Các bước lên lớp còn công thức, chưa linh hoạt, mềm dẻo Về phía học sinh kỹ năng đọc chưa được cao, các em chưa hiểu được công cụ hiệu quả để lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc Vì vậy tiết Tập đọc còn buồn tẻ, đơn
điệu Các em nặng về học vẹt, nặng về nội khoá, chưa coi trọng ngoại khoá,chưa khuyến khích các em đọc thêm sách báo ở nhà Khâu thực hành còn yếu,nhất là khâu luyện đọc, đặc biệt là rèn đọc diễn cảm cho học sinh
2. Họp hội đồng - kết quả
Qua dự giờ trao đổi về chuyên môn Ban giám hiệu nhận xét và đưa ra ý kiến: Đểrèn luyện cho học sinh học tốt phân môn tập đọc giáo viên cần lưu ý:
Khảo sát, nắm từng đối tượng học sinh từ đầu năm
Giáo viên chịu khó viết bài tập đọc lên bảng lớp ( khoảng thời gian đầu năm)
Luôn động viên, khích lệ tinh thần học tập của các em
Nhắc nhở luyện đọc thêm ngoài giờ học
Sửa sai kịp thời khi học sinh đọc
Dành thời gian kiểm tra đọc cho học sinh yếu nhiều hơn
III/ KHẢO SÁT HỌC SINH
Trang 6A Mai là học sinh viết chữ đẹp.
B Mai luôn chuẩn bị bút mực đầy đủ khi đi học.
C Mai là người tốt bụng, biết giúp bạn khi bạn cần.
+ Câu 2: Điền vào chỗ trống cho đủ khổ thơ đầu bài Cái trống trường em:
*Cách 2: Hỏi thầy cô giáo.
*Cách 3: Mở trang mục lục ở cuối cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, tìm bài Chiếc bút mực, bài này ở trang 40, mở trang 40.
* Học sinh đọc- đọc hiểu chưa đạt yêu cầu do các nguyên nhân sau:
+ Khó khăn do hạn chế về tư duy
+ Khó khăn do hoàn cảnh gia đình
+ Khó khăn do ý thức tự học còn kém
+ Khó khăn do sức khỏe
+ Khó khăn do môi trường học tập
CHƯƠNG II: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC LỚP 2
Trang 7- Phát huy điểm mạnh của bản thân:
* Phân chia đối tượng
Giáo viên tiến hành ngay từ khi mới nhận lớp Giáo viên cho học sinh đọc mộtđoạn văn, đoạn thơ hay tìm hiểu trước một số của nội dung bài học Hoặc trong quátrình dạy giáo viên xác định đối tượng
+ Đọc tốt : Tốc độ đọc từ 50 tiếng /1 phút
+ Đọc trung bình: Tốt độ đọc từ 25 – 30/1 phút
+ Đọc yếu – kém: Từ 20 tiếng/1 phút trở xuống
* Sắp chỗ ngồi :
Sau khi phân chia đối tượng giáo viên sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh theo cách:
em đọc yếu kém ngồi gần em đọc khá giỏi
* Chuẩn bị giờ dạy :
+ Giáo viên phải đọc bài nhiều lần và thấu đáo mục tiêu ,yêu cầu ,nội dung,
phương pháp dạy luyện đọc Trong bài đọc giáo viên dự kiến học sinh dễ mắc lỗiphát âm ? Giọng điệu chung của bài đọc như thế nào ? Đoạn nào cần nhấn mạnh,cần bộc lộ cảm xúc gì? Bài cần đọc trong thời gian bao lâu?
+ Viết sẵn bảng lớp bài tập đọc ( nếu bài dài giáo viên viết một đoạn )
- Phát huy các diểm mạnh ở đồng nghiệp:
+ Công tác chủ nhiệm
+ Cách tổ chức các hoạt đông: Kiểm tra bài cũ; xây dựng các hệ thống câu hỏi cho các hoạt động,…
I/ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP DẠY HỌC
1. Giới thiệu từng giải pháp:
Đứng trước tầm quan trọng, vị trí nhiệm vụ của phân môn Tập đọc và dạy tập đọclớp 2, đứng trước tình hình thực tế giảng dạy phân môn tập đọc lớp 2 hiện nay, tôi
mạnh dạn xin trình bày về các hình thức để “Nâng cao chất lượng dạy phân môn Tập đọc lớp 2 như sau”:
1.1/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc đọc mẫu của giáo viên :
Trang 8+ Việc đọc mẫu của giáo viên đòi hỏi phải chuẩn mực, chính xác có tác dụng làm cơ sở định hướng cho học sinh Mặt khác không hạn chế việc đọc mẫu 1 lần Trong quá trình giảng dạy, có thể đọc diễn cảm khi luyện đọc lại, đọc diễn cảm, đọc nâng cao.
+ Việc đọc mẫu của giáo viên trong bài Tập đọc phải tốt và diễn cảm vì đây làmột hình thức mang tính nghệ thuật lồng với cảm xúc Đọc diễn cảm làm cho mọingười ( cụ thể là học sinh ) rung cảm với người đọc ( giáo viên hoặc học sinh ), làngười nối liền tác phẩm với người nghe Khi đọc mẫu cần dùng ngữ điệu,chỗngừng giọng và các thủ pháp khác để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả đãgửi gắm trong nội dung bài đọc Qua việc đọc mẫu tốt của giáo viên, học sinh cảmnhận được một phần cái hay cái đẹp của bài tập đọc, các em hào hứng, phấn khởimuốn tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn
+ Nâng cao chất lượng dạy Tập đọc qua việc luyện đọc của học sinh : Đây làhình thức mới trong chương trình, hình thức luyện đọc của học sinh được chia nhỏnhư sau:
1.2/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc đọc từng câu :
+ Học sinh tiếp nối nhau đọc từng câu (hoặc 2 câu) trong mỗi đoạn, cả bài tậpđọc (một, hai lượt ) Giáo viên chỉ định một học sinh đầu bàn ( hoặc đầu dãy) đọc,sau đó lần lượt từng em đứng lên đọc nối tiếp nhau đến hết bài ( có thể đọc liền 2câu lời của một nhân vật ) Khi học sinh nối tiếp nhau đọc từng câu giáo viên theodõi, hướng dẫn các em đọc đúng các từ ngữ học sinh địa phương dễ phát âm sai vàviết sai Việc hướng dẫn phát âm đúng các từ ngữ nói trên nhằm làm cho học sinh
có ý thức phân biệt các âm, vần, thanh dễ lẫn và viết đúng chính tả Do đó, giáoviên rèn cho học sinh đọc, phát âm đúng : l/n, s/x, tr/ch hoặc cả lớp cùng phát âmcác từ ngữ, tên riêng nước ngoài Việc luyện đọc từng câu này giúp cho các em sựtập trung cao để theo dõi bạn đọc đồng thời rèn cho tất cả học sinh trong lớp đềuđược luyện đọc Phần đọc từng câu này muốn học sinh đọc tốt trước hết phải rèncho học sinh phát âm đúng, rõ ràng, chuẩn xác các âm đầu l/n, s/x, ch/tr Phần lớn
Trang 9+ Những học sinh đọc yếu thường chưa phân biệt được cách phát âm ngoài racòn phát âm sai theo thói quen địa phương.
Để khắc phục lỗi này tôi đã điều tra, phân loại lỗi ngay từ đầu năm cho từng
em, từng nhóm để có kế hoạch bồi dưỡng uốn nắn Trong bảng theo dõi phát âmcủa học sinh, tôi ghi rõ mức độ tiến bộ, những khuyết điểm còn mắc phải trongtừng tháng để từng bước dứt điểm
Khi hướng dẫn phát âm, tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt của phát âmđúng với phát âm sai mà các em mắc phải Giáo viên có thể làm mẫu hay dùng hình
vẽ để minh hoạ để các em thấy được hệ thống môi, răng, lưỡi khi phát âm
1.3/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc đọc từng đoạn trước lớp.
+ Học sinh tiếp nối nhau đọc từng đoạn trong bài (một hoặc hai lượt ) trongkhi theo dõi học sinh đọc, giáo viên kết hợp rèn cho học sinh biết ngừng, nghỉ hơiđúng chỗ, biết phân biệt câu thơ và dòng thơ có những bài thơ phải đọc vắt haidòng thơ vào thành một câu thơ Ngoài việc rèn cho học sinh biết ngắt hơi sau dấuphẩy, nghỉ hơi sau dấu chấm, việc nghỉ hơi sau dấu chấm cảm, chấm lửng, chấmphẩy cũng hết sức cần thiết Đối với câu văn dài, giáo viên hướng dẫn học sinh đọcthành cụm từ, biết giữ hơi để khỏi phải ngắt quãng giữa các âm tiết Ngoài việc rènđọc cho học sinh giáo viên kết hợp sửa cho học sinh những câu học sinh đọc bị vấp,
bị ngắt quãng nửa chừng, đọc rời các âm tiết, giáo viên cho học sinh đọc lại và sửacho các em
+ Giáo viên kết hợp giúp học sinh hiểu nghĩa các từ ngữ mới xuất hiện trongtừng câu, đoạn (gồm các từ được chú giải ở cuối bài và những từ ngữ khác mà họcsinh chưa hiểu ) giáo viên có thể yêu cầu học sinh dựa vào phần chú giải trong sáchgiáo khoa để giải nghĩa từ hoặc áp dụng một vài biện pháp giúp học sinh nắm đượcnghĩa của những từ mới như giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa, bằng từ trái nghĩa, bằngtranh minh hoạ, bằng cách mô tả hoặc bằng cách đặt câu với từ cần giải nghĩa.Không nên áp dụng các biện pháp giải nghĩa quá cồng kềnh, làm mất thời gian vàchệch trọng tâm bài
Trang 101.4/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc đọc từng đoạn trong nhóm.
Đây là hình thức mới, khá được coi trọng Việc làm này được hình thànhcho học sinh kĩ năng, kĩ xảo đọc Đọc trong nhóm là học sinh từng cặp hay từngnhóm nhỏ tập đọc ( em này đọc ,em khác nghe nhận xét, giải thích, góp ý để cùngnhau tìm ra cách đọc Trong khi học sinh đọc trong nhóm, giáo viên theo dõi,hướng dẫn các nhóm đọc đúng.Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc thi đua giữa cácnhóm Hình thức đọc trong nhóm tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện đọcnhiều nhằm kích thích nhu cầu tìm hiểu bài văn, bài thơ như: Bài văn bài thơ nói về
ai ? Có những nhân vật nào trong bài ? Trong bài có ai đang trò chuyện ?
1.5/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc đọc đồng thanh :
Học sinh đọc đồng thanh một đoạn hoặc cả bài Học sinh đọc đồng thanhvới cường độ vừa phải, không đọc quá to Việc đọc đồng thanh không áp dụng đốivới một số văn bản có nội dung buồn, cần đọc với giọng nội tâm sâu lắng và một sốvăn bản thông thường Việc đọc đồng thanh giúp học sinh đọc lưu loát, rõ ràng trôichảy, đặc biệt đối với học sinh đọc yếu thì đọc đồng thanh giúp các em đọc đượcvăn bản và tạo sự hào hứng trong giờ học
1.6/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc luyện đọc thành tiếng :
Giáo viên có thể chọn đọc mẫu một đoạn giáo viên hướng dẫn học sinh đọcthể hiện đúng nội dung bài Với một số câu văn, câu thơ đặc biệt, giáo viên đánhdấu nhấn giọng hoặc ngắt giọng để giúp học sinh nắm chắc cách đọc Giáo viên cầnhướng dẫn học sinh đọc ngắt giọng, nhấn giọng một cách tự nhiên, không đọc nhátgừng vì hiểu một cách máy móc hoặc đọc quá to những tiếng cần nhấn giọng.Luyện đọc thành tiếng bao gồm các hình thức: đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc đòngthanh ( nhóm, tổ, lớp ); đọc phân vai Trong việc luyện đọc cho học sinh, giáo viêncần biết nghe học sinh đọc để có cách rèn luyện thích hợp với từng em và cầnkhuyến khích học sinh trong lớp trao đổi, nhận xét về chỗ được chỗ chưa được củabạn, nhằm giúp học sinh rút kinh nghiệm để đọc tốt hơn
1.7/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc luyện đọc thầm:
Trang 11- Hìmh thành và phát triển cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo đọc thầm, những kĩnăng này con người sẽ sử dụng suốt đời Đọc thầm có tác dụng làm cho học sinh dễcảm nhận nội dung bài đọc Việc đọc thầm của cả lớp là khâu chuẩn bị cho các emđọc thành tiếng tốt và phần nào nắm được nội dung bài Giáo viên có thể giaonhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm định hướng việc đọc - hiểu ( đọc câu, đoạn haykhổ thơ nào? Đọc để biết, hiểu nhớ điều gì? ) Có đoạn văn, thơ cần cho học sinhđọc thầm 2; 3 lượt với tốc độ nhanh dần và từng bước thực hiện các yêu cầu từ dễđến khó, nhằm rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu Cần khắc phục tình trạng học sinh đọcthầm một cách hình thức, giáo viên không nắm được kết quả đọc - hiểu của họcsinh để xử lí trong quá trình dạy học.
- Giáo viên nên đưa ra những định hướng sau:
+ Tự phát hiện tiếng, từ phát âm dễ lẫn ?
+ Tìm những từ cần nhấn giọng , hạ giọng, chỗ ngắt, nghỉ hơi ?
+ Bài văn, bài thơ nói về ai ?
+ Trong bài có những nhân vật nào ? Ai đang trò chuyện ?
+ Phát hiện giọng đọc của đoạn, bài, từng nhân vật ?
1.8/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc luyện học thuộc lòng:
Ở bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng, giáo viên cần chú ý cho học sinh luyệnđọc kĩ hơn Giáo viên hướng dẫn học sinh thuộc lòng tại lớp từng khổ rồi cả bài thơbằng cách hướng dẫn học sinh vừa ghi nhớ nội dung vừa dựa vào một số từ ngữtrên bảng học sinh đọc đồng thanh, xoá dần các từ, cụm từ, sau đó là những chữđầu của mỗi khổ thơ Học sinh thi học thuộc lòng với các hình thức nâng cao dầnthông qua việc tổ chức các trò chơi luyện đọc như:
Trang 12* Ví dụ: Bài “Bé Hoa”– Tiếng Việt 2- Tập 1.
Hình thức này nên tổ chức trò chơi vào cuối tiết học để tạo không khí vui tươi, nhẹnhàng, gây hứng thú cho học sinh
1.9/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh:
Là một yêu cầu cần thiết trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung
và ở lớp 2 nói riêng Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ cảm nhận được cáihay, cái đẹp của văn thơ, được phong phú thêm về tâm hồn và nói - viết Tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động Để các em cảm thụ văn học được tốt thì người giáo viên phải biết dẫn dắt các em như sau :
+ Giáo viên căn cứ vào câu hỏi, bài tập trong Sách giáo khoa để hướng dẫn họcsinh tìm hiểu nội dung bài ( có thể nêu nguyên văn hoặc gợi ý bằng 1; 2 câu hỏiphụ để học sinh dễ trả lời, tuỳ thuộc trình độ học sinh trong lớp ); tránh đặt thêmcâu hỏi khai thác nội dung vượt quá yêu cầu bài đọc và không phù hợp với trình độhọc sinh lớp 2
+ Giáo viên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm và trả lời đúngnội dung ( đôi khi có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinhkhác đọc thầm, sau đó trao đổi ,thảo luận về vấn đề do giáo viên nêu ra)
+ Phạm vi và nội dung tìm hiểu như sau:
- Nhân vật ( số lượng, tên, đặc điểm ) tình tiết của câu chuyện, nghĩa đen và nghĩabóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ
- Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ
* Ví dụ : Bài « Cây dừa » - Tiếng Việt 2- Tập 2
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.
Trong câu thơ trên, từ nào được lập lại nhiều lần ? Tác giả sử dụng biện pháp tu từ
đó để làm gì ?
Trang 13Học sinh sẽ tìm được từ «Ai » lập lại 2 lần, « Nước » được lập 2 lần Biện tu từnày cho thấy : Quả dừa có sẳn ở trên cây, do quy luật của cây ra hoa, kết quả vàcảm nhận được phần nào về hương vị của nước dừa cũng như tác dụng của nướcdừa.
Em có nhận xét gì về cách gieo vần trong các dòng thơ ? Tiếng cuối của dòn thơ 6 tiếng cùng vần với thứ 6 của dòng thơ 8 tiếng Đây là cách gieo vần của thể thơ lục bát
Lá dừa, thân, ngọn, quả dừa được so sánh với những gì ? Biện pháp tu từ này có tácdụng gì ?
Học sinh tìm được những hình ảnh được so sánh : Lá như bàn tay, chiếc lược ; Ngọn như đầu của người ; Thân : mặt áo bạc phếch, đứng canh trời đất ; Quả : như đàn lợn co, như những hữu rượu Với cách nhìn và so sánh, mô tả tài tình mà thú vịcủa nhà thơ nhỏ tuổi Trần Đăng Khoa đã cho chúng ta thấy cây dừa giống như một con người
1.10/ Nâng cao chất lượng dạy tập đọc qua việc cải tiến hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài :
Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện những câu hỏi
và bài tập sau mỗi bài Đối với học sinh lớp 2, trước hết sách giáo khoa nêu các câuhỏi và bài tập giúp học sinh tái hiện nội dung bài đọc ( câu hỏi tái hiện ) sau đó mớiđặt ra những câu hỏi giúp các em nắm được những vấn đề thuộc tầng sâu hơn như ýnghĩa của bài, tính cách nhân vật, thái độ của tác giả ( câu hỏi suy luận ) Dựa vào
hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên tổ chức cho học sinhsao cho mỗi em đều được làm việc để tự mình nắm được bài Bằng nhiều hình thức
tổ chức khác nhau Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh luyện tập một cách tíchcực : trả lời câu hỏi, trao đổi ý kiến, thực hiện nhiệm vụ ( hoặc bài tập ) do giáoviên giao, sau đó báo cáo kết quả để nhận xét Trong quá trình tìm hiểu bài Giáoviên cần rèn cho học sinh cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn gọn rõ Saukhi học sinh nêu ý kiến Giáo viên sơ kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng ( nếu