Trong quá trình giảng dạy thực tế trên lớp một số năm học, tôi đã phát hiện ra rằng còn rất nhiều học sinh thực hành kỹ năng giải toán còn kém trong đó có rất nhiều học sinh45% chưa thực
Trang 1Giúp học sinh phát hiện và tránh sai lầm trong khi giải toán về căn bậc hai
Phần I : Mở đầu
A - Lý do chọn đề tài :
Muốn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì phải nhanh chóng tiếp thu
khoa học và kỹ thuật hiện đại của thế giới Do sự phát triển nh- vũ bão của khoa học
và kỹ thuật, kho tàng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng Cái mà hôm nay
còn là mới ngày mai đã trở thành lạc hậu Nhà tr-ờng không thể nào luôn luôn cung
cấp cho học sinh những hiểu biết cập nhật được Điều quan trọng là phải trang bị cho
các em năng lực tự học để có thể tự mình tìm kiếm những kiến thức khi cần thiết
trong tương lai
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện nề kinh tế tri thức trong
tương lai đòi hỏi ng-ời lao động phải thực sự năng động, sáng tạo và có những phẩm
chất thích hợp để bươn chải vươn lên trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này Việc thu
thập thông tin, dữ liệu cần thiết ngày càng trở lên dễ dàng nhờ các phương tiện truyền
thông tuyên truyền, máy tính, mạng internet v.v Do đó, vấn đề quan trọng đói với
con người hay một cộng đồng không chỉ là tiếp thu thông tin, mà còn là sử lý thông
tin để tìm ra giải pháp tốt nhất cho những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của bản thân
cũng như của xã hội
Như vậy yêu cầu của xã hội đối với việc dạy học trước đây nặng về việc truyền
thụ kiến thức thì nay đã thiên về việc hình thành những năng lực hoạt động cho HS
Để đáp ứng yêu cầu mới này cần phải thay đổi đồng bộ các thành tố của quá trình
dạy học về mục tiêu, nội dung, ph-ơng pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, cách
kiểm tra đánh giá
- Hiện nay mục tiêu giáo dục cấp THCS đã được mở rộng, các kiến thức và kỹ
năng được hình thành và củng cố để tạo ra 4 năng lực chủ yếu :
+ Năng lực hành động
+ Năng lực thích ứng
+ Năng lực cùng chung sống và làm việc
+ Năng lực tự khẳng định mình
Trong đề tài này tôi quan tâm để đi khai thác đến 2 nhóm năng lực chính là
"Năng lực cùng chung sống và làm việc" và "Năng lực tự khẳng định mình" vì kiến
thức và kỹ năng là một trong những thành tố của năng lực HS
Trong quá trình giảng dạy thực tế trên lớp một số năm học, tôi đã phát hiện ra
rằng còn rất nhiều học sinh thực hành kỹ năng giải toán còn kém trong đó có rất
nhiều học sinh(45%) chưa thực sự hiểu kỹ về căn bậc hai và trong khi thực hiện các
phép toán về căn bậc hai rất hay có sự nhầm lẫn hiểu sai đầu bài, thực hiện sai mục
đích… Việc giúp học sinh nhận ra sự nhầm lẫn và giúp các em tránh được sự nhầm
lẫn đó là một công việc vô cùng cần thiết và cấp bách nó mang tính đột phá và mang
tính thời cuộc rất cao, giúp các em có mồn sự am hiểu vững trắc về lượng kiến thức
căn bậc hai tạo nền móng để tiếp tục nghiên cứu các dạng toán cao hơn sau này
C - Mục đích nghiên cứu :
- Do thời gian có hạn nên tôi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này với mục
đích như sau :
+ Giúp giáo viên toán THCS quan tâm hơn đến một phương pháp dạy học tích
cực rất rễ thực hiện
+ Giúp giáo viên toán THCS nói chung và GV dạy toán 9 THCS nói riêng có
thêm thông tin về PPDH tích cực này nhằm giúp họ rễ ràng phân tích để đưa ra biện
Trang 2pháp tối ưu khi áp dụng phương pháp vào dạy học và trong sáng kiến này cũng tạo cơ
sở để các GV khác xây dựng sáng kiến khác có phạm vi và quy mô xuyên suốt hơn + Qua sáng kiến này tôi muốn đ-a ra một số lỗi mà học sinh hay mắc phải
trong quá trình lĩnh hội kiến thức ở chương căn bậc hai để từ đó có thể giúp học sinh khắc phục các lỗi mà các em hay mắc phải trong quá trình giải bài tập hoặc trong thi
cử, kiểm tra… Cũng qua sáng kiến này tôi muốn giúp GV toán 9 có thêm cái nhìn mới sâu sắc hơn, chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng thực hành giải toán về căn bậc hai cho học sinh để từ đó khai thác hiệu quả và đào sâu suy nghĩ tư duy lôgic của học sinh giúp học sinh phát triển khả năng tiềm tàng trong con người học sinh
+ Qua sáng kiến này tôi cũng tự đúc rút cho bản thân mình những kinh nghiệm
để làm luận cứ cho phương pháp dạy học mới của tôi những năm tiếp theo
D - Phạm vi nghiên cứu :
Trong sáng kiến này tôi chỉ nêu ra một số “Nhóm sai lầm” mà học sinh thường
mắc phải trong quá trình làm bài tập về căn bậc hai trong chương I - Đại số 9
Phân tích sai lầm trong một số bài toán cụ thể để học sinh thấy được những lập
luận sai hoặc thiếu chặt chẽ dẫn tới bài giải không chính xác
Từ đó định hướng cho học sinh phương pháp giải bài toán về căn bậc hai
E - Đối tượng nghiên cứu
:
Như đã trình bày ở trên nên trong sáng kiến này tôi chỉ nghiên cứu trên hai
nhóm đối tượng cụ thể sau :
1 Giáo viên dạy toán 9 THCS
2 Học sinh lớp 9 THCS : bao gồm 4 lớp 9 với tổng số 151 học sinh
F - Phương pháp nghiên cứu
- Đọc sách, tham khảo tài liệu
- Thực tế chuyên đề, thảo luận cùng đồng nghiệp
- Dạy học thực tiễn trên lớp để rút ra kinh nghiệm
-Thông qua học tập BDTX các chu kỳ
Dựa vào kinh nghiệm giảng dạy bộ môn toán của các giáo viên có kinh nghiệm
của tr-ờng trong những năm học tr-ớc và vốn kinh nghiệm của bản thân đã rút ra
được một số vấn đề có liên quan đến nội dung của sáng kiến
Trong những năm học vừa qua chúng tôi đã quan tâm đến những vấn đề mà học sinh mắc phải Qua những giờ học sinh làm bài tập tại lớp, qua các bài kiểm tra d-ới các hình thức khác nhau, bước đầu tôi đã nắm đ-ợc các sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải bài tập Sau đó tôi tổng hợp lại, phân loại thành hai nhóm cơ bản Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã sử dụng những
phương pháp sau :
-Quan sát trực tiếp các đối t-ợng học sinh để phát hiện ra những vấn đề mà học
sinh thấy lúng túng, khó khăn khi giáo viên yêu cầu giải quyết vấn đề đó
-Điều tra toàn diện các đối t-ợng học sinh trong 4 lớp 9 của khối 9 với tổng số
151 học sinh để thống kê học lực của học sinh Tìm hiểu tâm lý của các em khi học môn toán, quan điểm của các em khi tìm hiểu những vấn đề về giải toán có liên quan
đến căn bậc hai (bằng hệ thống các phiếu câu hỏi trắc nghiệm )
-Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của GV và HS để phát hiện trình độ nhận
thức, phương pháp và chất lượng hoạt động nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
- Thực nghiệm giáo dục trong khi giải bài mới, trong các tiết luyện tập, tiết trả
bài kiểm tra tôi đã đưa vấn đề này ra h-ớng dẫn học sinh cùng trao đổi, thảo luận
Trang 3bằng nhiều hình thức khác nhau như hoạt động nhóm, giảng giải, vấn đáp gợi mở để học sinh khắc sâu kiến thức, tránh được những sai lầm trong khi giải bài tập Yêu cầu học sinh giải một số bài tập theo nội dung trong sách giáo khoa rồi đưa thêm vào đó những yếu tố mới, những điều kiện khác để xem xét mức độ nhận thức và suy luận của học sinh
- Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục khi áp dụng nội dung đang nghiên
cứu vào thực tiễn giảng dạy nhằm tìm ra nguyên nhân những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải toán Từ đó tổ chức có hiệu quả hơn trong các giờ dạy tiếp theo
G - Tài liệu tham khảo :
1 Sách " Một số vấn đề về đổi mới PPDH ở trường THCS môn toán" của Bộ
giáo dục và Đào tạo
2 Tài liệu bồi d-ỡng th-ờng xuyên cho GV THCS chu kỳ III ( 2004-2007) môn
toán của Bộ giáo dục và Đào tạo
3 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học cơ sở môn toán của Bộ
giáo dục và Đào tạo
4 Giáo trình " Phương pháp dạy học toán" tác giả Hoàng Chúng - BGD&ĐT
5 SGK và SGV toán 6,7,8,9.(BGD&ĐT)
Phần II : nội dung đề tài
A Chương I : cơ sở lý luận
I -Quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học và
phương pháp dạy học tích cực :
1 Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học :
Luật Giáo dục 2005 (Điều 5) quy định : "Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của ng-ời học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" Với mục tiêu giáo dục phổ thông là "giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu : "Phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS"
-Quan điểm dạy học : là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở
lý thuyết của lý luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những
định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến l-ợc, c-ơng lĩnh, là mô hình lý thuyết của PPDH Những quan điểm dạy học cơ bản : DH giải thích minh hoạ, DH gắn với kinh
nghiệm, DH kế thừa, DH định hướng HS, DH định hướng hành động, giao tiếp; DH nghiên cứu, DH khám phá, DH mở
2 Phương pháp dạy học tích cực :
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới
đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, PTDH đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở tr-ờng phổ thông là thay đổi lối dạy học
Trang 4truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực(PPDHTC) nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho "Học" là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện luện tập khai thác và sử lý thông tin… HS tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lý Chú trọng hình thành các năng lực(tự học, sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt
động, thụ động PPDHTC h-ớng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học,
tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn đ-ợc học theo PPDHTC nhưng GV ch-a đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDHTC, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy
và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDHTC hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
* Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực :
a) dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tính tích cực, chủ động, sáng tạo
thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh
b) Dạy học trú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS
c) Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác
d) Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá
e) Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện
thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV
3 Căn cứ vào mục tiêu của ngành giáo dục “Đào tạo con ng-ời phát triển toàn
diện” căn cứ vào nhiệm vụ năm học 2006 - 2007 và nhiệm vụ đầu năm học 2007 2008
là tiếp tục đổi mới chương trình SGK, nội dung phương pháp giáo dục ở tất cả
các bậc học, cấp học, ngành học Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất giáo dục chính trị, đạo đức, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ đào tạo…Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
II – Cơ sở thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm :
1 Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn toán và tham khảo ý kiến của các đồng
nghiệp nhiều năm kinh nghiệm, tôi nhận thấy : trong quá trình hướng dẫn học sinh giải toán Đại số về căn bậc hai thì học sinh rất lúng túng khi vận dụng các khái niệm,
định lý, bất đẳng thức, các công thức toán học
Sự vận dụng lí thuyết vào việc giải các bài tập cụ thể của học sinh chưa linh
hoạt Khi gặp một bài toán đòi hỏi phải vận dụng và có sự tư duy thì học sinh không xác định được phương hướng để giải bài toán dẫn đến lời giải sai hoặc không làm
được bài
Một vấn đề cần chú ý nữa là kỹ năng giải toán và tính toán cơ bản của một số
học sinh còn rất yếu
Trang 5Để giúp học sinh có thể làm tốt các bài tập về căn bậc hai trong phần chương I
đại số 9 thì người thầy phải nắm được các khuyết điểm mà học sinh thường mắc phải,
từ đó có phương án “ Giúp học sinh phát hiện và tránh sai lầm khi giải toán về căn
bậc hai”
2 Chương “Căn bậc hai, căn bậc ba” có hai nội dung chủ yếu là phép khai
phương(phép tìm căn bậc hai số học của số không âm) và một số phép biến đổi biểu
thức lấy căn bậc hai Giới thiệu một số hiểu biết về căn bậc ba, căn thức bậc hai và
bảng căn bậc hai
3 Cách trình bày và đưa ra định nghĩa, ký hiệu căn bậc hai ở chương trình SGK
cũ năm học 2004-2005 :
a) Nhắc lại một số tính chất của luỹ thừa bậc hai :
-Bình phương hay luỹ thừa bậc hai của mọi số đều không âm
-Hai số bằng nhau hoặc đối nhau có bình phương bằng nhau và ngược lại nếu
hai số có bình phương bằng nhau thì chúng bằng nhau hoặc đối nhau
- Với hai số a,b : Nếu a>b thì a2 > b2 và ngược lại nếu a2 > b2 thì a >b
-Bình phương của một tích(hoặc một thương) bằng tích(hoặc thương) các bình
phương các thừa số(hoặc số bị chia với bình phương số chia)
b) Căn bậc hai của một số :
* Xét bài toán : Cho số thực a Hãy tìm số thực x sao cho x2 = a Ta thấy :
- Nếu a< 0 thì không tồn tại số thực x nào thoả mãn x2 =a
- Nếu a > 0 có hai số thực x mà x2=a, một số thực dương x1>0 mà x1=a và một
số thực âm x2<0 mà x2=a, hơn nữa đó là hai số đối nhau
* Công nhận : Người ta chứng minh được rằng với mọi số thực a = 0 luôn luôn
tồn tại số thực duy nhất x= 0 mà x2 =a Ta ký hiệu x = a và gọi là căn bậc hai số học của a
* Từ đó đưa ra định nghĩa : căn bậc hai số học (CBHSH) của một số a không âm
4 Cách trình bày căn bậc hai ở lớp 9 (SGK mới)
a) Đưa ra kiến thức đã biết ở lớp 7
-Căn bậc hai của một số a không âm là số x sao cho x2=a
-Số dương a có đúng hai căn bậc hai là hai số đối nhau : sốdương kí hiệu là a
và số âm kí hiệu là - a
-Số 0 có đúng một căn bậc hai là chính số 0, ta viết 0 = 0
b) Đưa ra định nghĩa : Với số dương a, số a được gọi là căn bậc hai số học của
a Số 0 cũng được gọi là căn bậc hai số học của 0
c) Đưa ra chú ý : Với a= 0, ta có :
Đưa ra nội dung về phép khai phương : Phép toán tìm căn bậc hai số học của
số không âm gọi là phép khai phương
e) Khi biết căn bậc hai số học của một số, ta dễ dàng xác định được các căn bậc
hai bậc hai của nó
III -Tổng hợp những nội dung cơ bản về căn bậc hai :
1 Kiến thức :
Nội dung chủ yếu về căn bậc hai đó là phép khai phương (phép tìm căn bậc hai
số học của số không âm) và một số phép biến đổi biểu thức lấy căn bậc hai
* Nội dung của phép khai phương gồm :
- Giới thiệu phép khai phương(thông qua định nghĩa, thuật ngữ về căn bậc hai
số học của số không âm)
- Liên hệ của phép khai phương với phép bình phương
- Liên hệ phép khai phương với quan hệ thứ tự(SGK thể hiện bởi Định lý về so
sánh các căn bậc hai số học : “Với a = 0, b = 0, ta có : a < b ba<.”)
Trang 6- Liên hệ phép khai phương với phép nhân và phép chia
* Tuy nhiên mức độ yêu cầu đối với các phép biến đổi này là khác nhau và chủ yếu việc giới thiệu các phép này là nhằm hình thành kỹ năng biến đổi biểu thức( một
số phép chỉ giới thiệu qua ví dụ có kèm thuật ngữ Một số phép gắn với trình bày tính chất phép tính khai phương)
2 Kỹ năng :
Hai kỹ năng chủ yếu là kỹ năng tính toán và kỹ năng biến đổi biểu thức
* Có thể kể các kỹ năng về tính toán như :
- Tìm khai phương của một số ( số đó có thể là số chính phương trong khoảng
từ 1 đến 400 hoặc là tích hay thương của chúng, đặc biệt là tích hoặc thương của số
đó với số 100)
- Phối hợp kỹ năng khai phương với kỹ năng cộng trừ nhân chia các số ( tính
theo thứ tự thực hiện phép tính và tính hợp lý có sử dụng tính chất của phép khai phương)
* Có thể kể các kỹ năng về biến đổi biểu thức như :
-Các kỹ năng biến đổi riêng lẻ tương ứng với các công thức nêu ở phần trên(
với công thức dạng A = B , có thể có phép biến đổi A thành B và phép biến đổi B thành A) Chẳng hạn kỹ năng nhân hai căn(thức) bậc hai có thể coi là vận dụng công thức
AB =BA
theo chiều từ phải qua trái
- Phối hợp các kỹ năng đó( và cả những kỹ năng có trong những lớp trước) để
có kỹ năng mới về biến đổi biểu thức chứa căn thức bậc hai Chẳng hạn kỹ năng trục căn thức ở mẫu
Điều quan trọng nhất khi rèn luyện các kỹ năng biến đổi biểu thức là tính mục
đích của các phép biến đổi Điều này, SGK chú ý thông qua các ứng dụng sau khi hình thành ban đầu kỹ năng về biến đổi biểu thức Các ứng dụng này còn nhằm phong phú thêm cách thức rèn kỹ năng( để so sánh số, giải toán tìm x thoả mãn điều kiện nào đó.)
Ngoài hai kỹ năng nêu ở trên ta còn thấy có những kỹ năng được hình thành và củng cố trong phần này như :
-Giải toán so sánh số
- Giải toán tìm x
- Lập luận để chứng tỏ số nào đó là căn bậc hai số học của một số đã cho
- Một số lập luận trong giải toán so sánh số(củng cố tính chất bất đẳng thức nêu
ở toán 8)
-Một số kỹ năng giải toán tìm x ( kể cả việc giải phương trình tích)
-Kỹ năng tra bảng số và sử dụng máy tính
Có thể nói rằng, hình thành và rèn luyện kỹ năng chiếm thời gian chủ yếu của
phần kiến thức này( ngay cả việc hình thành kiến thức cũng chú ý đến các kỹ năng tương ứng và nhiều khi, chẳng hạn như giới thiệu phép biến đổi, chỉ thông qua hình thành kỹ năng)
B Chương II : Nội dung thực hiện
I -Các bước tiến hành
1 Lập kế hoạch nghiên cứu nội dung viết sáng kiến kinh nghiệm
2 Trao đổi thảo luận cùng đồng nghiệp
3 Đăng ký sáng kiến, làm đề cương
4 Thu thập, tập hợp số liệu và nội dung phục vụ cho việc viết sáng kiến Qua
khảo sát, các bài kiểm tra, các giờ luyện tập, ôn tập
5 Phân loại các sai lầm của học sinh trong khi giải các bài toán về căn bậc hai thành từng nhóm
6 Đưa ra định hướng, các phương pháp tránh các sai lầm đó Vận dụng vào các
ví dụ cụ thể
7 Tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm
II -Khảo sát đánh giá :
Trang 7Những giờ giảng dạy trên lớp, qua bài kiểm tra đầu giờ, qua luyện tập, ôn tập
GV cần lưu ý đến các bài toán về căn bậc hai, xem xét kĩ phần bài giải của học sinh,
gợi ý để học sinh tự tìm ra những sai sót(nếu có) trong bài giải, từ đó giáo viên đặt ra
các câu hỏi để học sinh trả lời và tự sửa chữa phần bài giải cho chính xác
Qua bài kiểm tra 15 phút thì tỉ lệ học sinh mắc sai lầm trong khi giải toán tìm
căn bậc hai của 139 học sinh lớp 9 năm học 2007-2008 là : 38/139 em chiếm
27,33%
Trong bài kiểm tra chương I - Đại số 9 năm học 2007-2008 của 139 học sinh thì
số học sinh mắc sai lầm về giải toán có chứa căn bậc hai là 56/139 em chiếm
40,3%(nghiên cứu tổng hợp qua giáo viên dạy toán 9 năm học 200-2008)
Như vậy số lượng học sinh mắc sai lầm trong khi giải bài toán về căn bậc hai là
tương đối cao, việc chỉ ra các sai lầm của học sinh để các em tránh được khi làm bài
tập trong năm học 2007-2008 này là một công việc vô cùng quan trọng và cấp thiết
trong quá trình giảng dạy ở trường III -Phân tích những điểm khó và mới trong kiến thức về căn bậc hai
So với ch-ơng trình cũ thì chương I - Đại số 9 trong chương trình mới này có
những điểm mới và khó chủ yếu sau :
1 Điểm mới :
-Khái niệm số thực và căn bậc hai đã đ-ợc giới thiệu ở lớp 7 và tiếp tục sử
dụng qua một số bài tập ở lớp 8 Do đó, SGK này chỉ tập trung vào giới thiệu căn bậc
hai số học và phép khai phương
-Phép tính khai phưng và căn bậc hai số học được giới thiệu gọn, liên hệ giữa
thứ tự và phép khai phương được mô tả rõ hơn sách cũ ( nhưng vẫn chỉ là bổ sung
phần đã nêu ở lớp 7)
- Các phép biến đổi biểu thức chứa căn thức bậc hai trình bày nhẹ hơn ( nhẹ căn
cứ lý thuyết, nhẹ mức độ phức tạp của các bài tập)
-Cách trình bày phép tính khai phương và phép biến đổi biểu thức chứa căn
thức bậc hai được phân biệt rạch ròi hơn ( Tên gọi các mục Đ3 và Đ4 và các chuyển ý
khi giới thiệu các phép biến đổi sau khi nêu tính chất phép khai phương thể hiện điều
đó)
- Cách thức trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng được SGK chú ý để HS có
thể tham gia chủ động nhiều hơn thông qua hệ thống câu hỏi ? có ngay trong phần
bài học mỗi bài
2 Điểm khó về kiến thức so với khả năng tiếp thu của học sinh :
-Nội dung kiến thức phong phú, xuất hiện dày đặc trong một chương với số tiết
không nhiều nên một số kiến thức chỉ giới thiệu để làm cơ sở để hình thành kỹ năng
tính toán, biến đổi Thậm chí một số kiến thức chỉ nêu ở dạng tên gọi mà không giải
thích (như biểu thức chứa căn bậc hai, điều kiện xác định căn thức bậc hai, phương
pháp rút gọn và yêu cầu rút gọn )
- Tên gọi ( thuật ngữ toán học ) nhiều và rễ nhầm lẫn, tạo nguy cơ khó hiểu khái
niệm (chẳng hạn như căn bậc hai, căn bậc hai số học, khai phương, biểu thức lấy căn,
nhân các căn bậc hai, khử mẫu, trục căn thức)
IV -Những sai lầm thường gặp khi giải toán về căn bậc hai :
Như đã trình bày ở trên thì học sinh sẽ mắc vào hai hướng sai lầm chủ yếu sau :
1 Sai lầm về tên gọi hay thuật ngữ toán học :
a) Định nghĩa về căn bậc hai :
* ở lớp 7 : - Đưa ra nhận xét 32=9; (-3)2 =9 Ta nói 3 và -3 là các căn bậc hai
của 9
- Định nghĩa : Căn bậc hai của một số a không âm là số x sao cho x2=a
-Số dương a có đúng hai căn bậc hai, một số dương ký hiệu là a
và một số âm ký hiệu là - a
* ở lớp 9 chỉ nhắc lại ở lớp 7 rồi đưa ra định nghĩa căn bậc hai số học
b) Định nghĩa căn bậc hai số học :
Trang 8Với số dương a, số a được gọi là căn bậc hai số học của a.
Sau đó đưa ra chú ý : với a = 0
Nguy cơ dẫn đến học sinh có thể mắc sai lầm chính là thuật ngữ “ căn bậc
hai” và"căn bậc hai số học”
Ví dụ 1 : Tìm các căn bậc hai của 16
Rõ ràng học sinh rất dễ dàng tìm ra được số 16 có hai căn bậc hai là hai số đối
nhau là 4 và - 4
Ví dụ 2 : Tính 16 Học sinh đến đây sẽ giải sai như sau : Do 42=(-4)2=16
Như vậy học sinh đã tính ra được số 16 có hai căn bậc hai là hai số đối nhau là 4 ;-4
Do đó việc tìm căn bậc hai và căn bậc hai số học đã nhầm lẫn với nhau
Lời giải đúng : 16 = 42 ( có thể giải thích thêm vì 4 > 0 và 42 = 16)
Trong các bài toán về sau không cần yêu cầu học sinh phải giải thích
c) So sánh các căn bậc hai số học :
Với hai số a và b không âm, ta có a < b suy ra a < b
Ví dụ 3 : so sánh 4 và 15 Học sinh sẽ loay hoay không biết nên so sánh chúng theo hình thức nào vì theo định nghĩa số 15 chính là căn bậc hai số học của 15 do đó nếu đem so sánh với số 4
thì số 4 có hai căn bậc hai số học là 2 và -2 cho nên với suy nghĩ đó học sinh sẽ đưa
ra lời giải sai như sau : 4 < 15 (vì trong cả hai căn bậc hai của đều nhỏ hơn 15 )
Tất nhiên trong cái sai này của học sinh không phải các em hiểu nhầm ngay sau
khi học xong bài này mà sau khi học thêm một loạt khái niệm và hệ thức mới thì học
sinh sẽ không chú ý đến vấn đề quan trọng này nữa
Lời giải đúng : 16 > 15 nên 16 > 15 Vậy 4 = 16 > 15 ,ở đây giáo viên cần nhấn mạnh luôn là ta
đi so sánh hai căn bậc hai số học!
d) Sai trong thuật ngữ chú ý của định nghĩa căn bậc hai số học
Ví dụ 4 : Tìm số x, không âm biết : x2 =15
e) Sai trong thuật ngữ khai phương
Ví dụ 5 : Tính - 25
-Học sinh hiểu ngay đ-ợc rằng phép toán khai phương chính là phép toán tìm
căn bậc hai số học của số không âm nên học sinh sẽ nghĩ - 25 là một căn bậc hai
âm của số dương 25, cho nên sẽ dẫn tới lời giải sai như sau :
- 25 = 5 và - 5
Lời giải đúng là : - 25 =-5
g) Sai trong khi sử dụng căn thức bậc hai và hằng đẳng thức
A2 = | A|
a/ Căn thức bậc hai
Với A là một biểu thức đại số, người ta gọi
A là căn thức bậc hai của A, còn A được gọi là biểu thức lấy căn hay biểu thức dưới dấu căn.
A xác định (hay có nghĩa ) khi A lấy giá trị không âm
b/ Hằng đẳng thức :
2
A = | A|
Cho biết mối liên hệ giữa phép khai phương và phép bình phương
Ví dụ 6 : Hãy bình phương số -8 rồi khai phương kết quả vừa tìm được
Học sinh với vốn hiểu biết của mình sẽ có lời giải sau (lời giải sai)
(-8)2 = 64 , nên khai phương số 64 lại bằng -8
Lời giải đúng : (-8)2 = 64 và 64 =8
2
a = | a| cho thấy “ Bình phương một số, rồi khai phương kết quả
Mối liên hệ đú chưa chắc sẽ được số ban đầu
Trang 9Ví dụ 7 : Với a2 = A
Cụ thể ta có (-5)2 = 25 nhưng 25 =5
2 Sai lầm trong các kỹ năng tính toán
a) Sai lầm trong việc xác định điều kiện tồn tại của căn bậc hai
Ví dụ 8 : Tìm giá trị nhỏ nhất của (bổ sung)
* Phân tích sai lầm : Học sinh có thể chưa nắm vững được chú ý sau : Một cách
tổng quát, với A là một biểu thức ta có A = | A| sẽ cú kết quả tựy thuộc vào giỏ trị của A như thế 2
nào, nghĩa là õm hay dương
Ví dụ 10 : Tìm x sao cho B có giá trị là 16
B= 16x+16+ 4x+4− 9x+9+ x+1
* Phân tích sai lầm : Với cách giải trên ta được hai giá trị của x là x1= 15 và
X2=-17 nhưng chỉ có giá trị x1 = 15 là thoả mãn, còn giá trị x2= -17 không đúng Đâu
là nguyên nhân của sự sai lầm đó ? Chính là sự áp dụng quá rập khuôn vào công thức
mà không để ý đến điều kiện đã cho của bài toán, với x = -1 thì các biểu thức trong
căn luôn tồn tại nên không cần đưa ra biểu thức chứa dấu giá trị tuyệt đối nữa.!
b) Sai lầm trong kỹ năng biến đổi
Trong khi học sinh thực hiện phép tính các em có đôi khi bỏ qua các dấu của số
hoặc chiều của bất đẳng thức dẫn đến giải bài toán bị sai
Ví dụ 11 : Tìm x, biết :
Ví dụ 13 : Rút gọn M, rồi tìm giá trị nhỏ nhất của M
V -Những phương pháp giải toán về căn bậc hai :
1 Xét thuật ngữ toán học : Vấn đề này không khó dễ dàng ta có thể khắc phục
được nhược điểm này của học sinh
2 Xét biểu thức phụ có liên quan :
Ví dụ 1
Ví dụ 2 : Tìm giá trị nhỏ nhất, lớn nhất của biểu thức A :
3 Vận dụng các hệ thức biến đổi đã học :
Giáo viên chú ý cho học sinh biến đổi và thực hiện các bài toán về căn bậc hai
bằng cách sử dụng các hệ thức và công thức đã học : Hằng đẳng thức, Quy tắc khai
phương một tích, quy tắc nhân các căn bậc hai, quy tắc khai phương một thương, quy
tắc chia hai căn bậc hai, đưa thừa số ra ngoài dấu căn, đưa thừa số vào trong dấu căn,
Khử mẫu của biểu thức lấy căn, trục căn thức ở mẫu…
Ngoài các hệ thức đã nêu ở trên, trong khi tính toán học sinh gặp những bài
toán có liên quan đến căn bậc hai ở biểu thức, nhưng bài toán lại yêu cầu đi tìm giá
trị lớn nhất hoặc nhỏ nhất của biểu thức đã cho Hay yêu cầu đi tìm giá trị của một
tham số nào đó để biểu thức đó luôn âm hoặc luôn dương hoặc bằng 0 hoặc bằng một
giá trị nào đó… thì giáo viên cần phải nắm vững nội dung kiến thức sao cho khi
hướng dẫn học sinh thực hiện nhẹ nhàng mà học sinh vẫn hiểu được bài toán đó
Ví dụ 3 : Cho biểu thức :
Trên đây là một số phương pháp giải toán về căn bậc hai và những sai lầm mà
học sinh hay mắc phải, xong trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập, giáo
viên cần phân tích kỹ đề bài để học sinh tìm được phương pháp giải phù hợp, tránh
lập luận sai hoặc hiểu sai đầu bài sẽ dẫn đến kết quả không chính xác
VI-Kết quả thực hiện :
Qua thực tế giảng dạy chương I- môn đại số 9 năm học 2007-2008 này Sau khi
xây dựng đề cương chi tiết của sáng kiến kinh nghiệm được rút ra từ năm học 2006-2007
tôi đã vận dụng vào các giờ dạy ở các lớp 9A, 9B chủ yếu vào các tiết luyện tập,
ôn tập Qua việc khảo sát chấm chữa các bài kiểm tra tôi nhận thấy rằng tỉ lệ bài tập
học sinh giải đúng tăng lên
Cụ thể :
Bài kiểm tra 15 phút : Tổng số 73 em
Trang 10Số bài kiểm tra học sinh giải đúng là 66 em chiếm 90,4% (ở năm học 20062007
là 73%) Tuy mới dừng lại ở các bài tập chủ yếu mang tính áp dụng nhưng hiệu
quả đem lại cũng đã phản ánh phần nào hướng đi đúng
Bài kiểm tra chương I : Tổng số 73 em
Số bài kiểm tra học sinh giải đúng là 56 em chiếm 76,7% (ở năm học 20062007
là 60%) các bài tập đã có độ khó, cần suy luận và tư duy cao
Như vậy sau khi tôi phân tích kỹ các sai lầm mà học sinh thường mắc phải
trong khi giải bài toán về căn bậc hai thì số học sinh giải đúng bài tập tăng lên, số học sinh mắc sai lầm khi lập luận tìm lời giải giảm đi nhiều Từ đó chất lượng dạy và học môn Đại số nói riêng và môn Toán nói chung được nâng lên
VII-Bài học kinh nghiệm và giải pháp thực hiện :
Qua quá trình giảng dạy bộ môn Toán, qua việc nghiên cứu những phương án
giúp học sinh tránh sai lầm khi giải toán về căn bậc hai trong chương I-Đại số 9, tôi
đã rút ra một số kinh nghiệm như sau :
* Về phía giáo viên :
-Người thầy phải không ngừng học hỏi, nhiệt tình trong giảng dạy, quan tâm
đến chất lượng của từng học sinh, nắm vững được đặc điểm tâm sinh lý của từng đối tượng học sinh và phải hiểu đ-ợc gia cảnh cũng như khả năng tiếp thu của học sinh,
từ đó tìm ra phương pháp dạy học hợp lý theo sát từng đối tượng học sinh Đồng thời trong khi dạy các tiết học luyện tập, ôn tập giáo viên cần chỉ rõ những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, phân tích kĩ các lập luận sai để học sinh ghi nhớ và rút kinh nghiệm trong khi làm các bài tập tiếp theo Sau đó giáo viên cần tổng hợp đưa ra phương pháp giải cho từng loại bài để học sinh giải bài tập dễ dàng hơn
-Thông qua các phương án và phương pháp trên thì giáo viên cần phải nghiêm
khắc, uốn nắn những sai sót mà học sinh mắc phải, đồng thời động viên kịp thời khi các em làm bài tập tốt nhằm gây hứng thú học tập cho các em, đặc biệt lôi cuốn được
đại đa số các em khác hăng hái vào công việc
-Giáo viên cần thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để học hỏi và rút ra kinh
nghiệm cho bản thân, vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với nhận thức của học sinh, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy và học
- Giáo viên phải chịu hy sinh một số lợi ích riêng đặc biệt về thời gian để bố trí
các buổi phụ đạo cho học sinh
* Về phía học sinh :
- Bản thân học sinh phải thực sự cố gắng, có ý thức tự học tự rèn, kiên trì và
chịu khó trong quá trình học tập
-Trong giờ học trên lớp cần nắm vững phần lý thuyết hiểu được bản chất của
vấn đề, có kỹ năng vận dụng tốt lí thuyết vào giải bài tập Từ đó học sinh mới có thể tránh được những sai lầm khi giải toán
-Phải có đầy đủ các phương tiện học tập, đồ dùng học tập đặc biệt là máy tính
điện tử bỏ túi Casio fx từ 220 trở lên; giành nhiều thời gian cho việc làm bài tập ở
nhà thường xuyên trao đổi, thảo luận cùng bạn bè để nâng cao kiến thức cho bản thân VIII-Kết luận :
Phần kiến thức về căn bậc hai trong chương I- Đại số 9 rất rộng và sâu, tương
đối khó với học sinh, có thể nói nó có sự liên quan và mang tính thực tiễn rất cao, bài tập và kiến thực rộng, nhiều Qua việc giảng dạy thực tế tôi nhận thấy để dạy học
được tốt phần chương I- Đại số 9 thì cần phải nắm vững những sai lầm của học sinh thường mắc phải và bên cạnh đó học sinh cũng phải có đầy đủ kiến thức cũ, phải có
đầu óc tổng quát, lôgic do vậy sẽ có nhiều học sinh cảm thấy khó học phần kiến thức này