Luật giáo dục điều 24 đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học bồi dưỡ
Trang 1MỤC LỤC
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp 3
1.5 Phương pháp thực hiện, đối tượng và phạm vi áp dụng 5
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢI PHÁP 6
2.2 Những cải tiến cho phù hợp với thực tiễn 6
3.3 Khả năng triển khai, áp dụng giải pháp 12 3.4 Kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng giải pháp 12
Trang 21 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học, đã được xác định trong nghị quyết TW4 Khóa VII (01/1993) nghị quyết TW 2 khóa VIII (12/1996) được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998)
Luật giáo dục điều 24 đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Tiếp tục thực hiện theo chương trình dạy học theo tinh thần linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, giáo dục từng địa phương, từng lớp học từng nhóm đối tượng học sinh trong lớp (CV 896 BGD-ĐT – GDTH) được ban hành nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hứng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Nhưng thực tế cho đến nay nhiều người vẫn chưa xem việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cần quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức
Mặt khác trong quá trình giảng dạy đối với học sinh tiểu học nói chung, đối với phân môn tập đọc nói riêng, người dạy chưa đặc biệt chú ý rèn cho học sinh một kỹ năng quan trọng Đó là “Kỹ năng đọc” Từ đó kỹ năng đọc của học sinh trở nên hạn chế, đôi khi đọc các em phải dừng lại để đánh vần, dẫn đến tình trạng thụ động, nhàm chán, lười học do mất kiến thức cơ bản
Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học, phân môn Tập đọc là môn học rất cần phải tạo điều kiện cho học sinh tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong mọi hoạt động học tập và rút kinh nghiệm và thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Với tầm quan trọng và thực tế trên, việc rèn kỹ năng đọc theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập trong quá trình giảng dạy phân môn Tập đọc là một nhân tố góp phần vào việc giáo dục học sinh (HS) là một việc làm thực tiễn, có ý nghĩa sâu sắc Trong kinh nghiệm này tôi xin đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho
Trang 3học sinh thông qua việc “Các giải pháp xây dựng bài tập rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo hứơng tích cực hóa hoạt động học tập”.
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
Xây dựng những cơ sở lý luận của việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
Nghiên cứu khảo sát thực trạng trẻ lớp 2 hiện nay nói chung, học sinh lớp 2A Trường Tiểu học ………….nói riêng Về kỹ năng đọc cũng như tính tích cực , tự giác, sáng tạo… của học sinh trong quá trình học tập
Xây dựng, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học phân môn tập đọc theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
1.3 Mục tiêu của giải pháp
Phân môn Tập đọc có vị trí rất quan trọng trong chương trình học Tiểu học nói chung Tập đọc là bài học khởi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, chiếm lĩnh công cụ (năng lực đọc, nghe, nói, viết) từ đó mở rộng cánh cửa cho học sinh nắm lấy kho tàng tri thức của loài người
Quá trình dạy học gồm 2 mặt có quan hệ mật thiết với nhau: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năng truyền đạt và chỉ đạo tổ chức Người học sinh là đối tượng (khách thể) của hoạt động dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức
Hoạt động học tập của học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến hành các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thức sâu sắc Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình mà không ai có thể làm thay được
Dạy học là con đường thuận lợi nhất, giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn nhất, có thể nắm được một khối lượng kiến thức cần thiết Nó được tiến hành một cách có tổ chức có kế hoạch Giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống, năng lực hoạt động trí tuệ và tư duy sáng tạo Từ đó giúp học sinh có hành động đúng đắn trong học tập
1.4 Các căn cứ đề xuất giải pháp
Trang 4Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Do đó, môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học
Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác
1.5 Phương pháp thực hiện, đối tượng và phạm vi áp dụng
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu các phương pháp sau
1.5.2 Phương pháp điều tra.
Thông qua việc trao đổi bàn bạc giáo viên với học sinh, phụ huynh nhằm mục đích nắm bắt thu thập những tài liệu, thông tin và tình hình thực tế có liên quan đến nội dung đề tài cần nghiên cứu
Trao đổi với giáo viên sau một giờ tập đọc phải đạt được những yêu cầu gỡ ? Trao đổi với phụ huynh về vấn đề học ở nhà của các em học sinh những tồn tại của con em họ, ý kiến của phụ huynh về môn học này
1.5.3 Phương pháp quan sát
Thông qua các tiết dự giờ, các giờ giảng trên lớp của giáo viên mà tôi quan sát được, kháo sát thí điểm một số lớp trong tiết học, biết được khả năng tiếp thu bài của các em học sinh, biết được cách đọc của các em, bên cạch đó tiếp thu học hỏi được kinh nghiệm hay của giáo viên, và phát hiện ra những hạn chế trong quá trình giảng dạy của giáo viên
1.5.4 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Đọc sách nghiên cứu tài liệu tìm ra những kiến thức có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó giúp cho kết quả của đề tài được năng cao, được mở rộng và
có tính khả thi trong các năn học tiếp theo
Trang 51.5.5 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Thông qua các tiết dạy thể nghiệm để chứng minh cho các biện pháp đề xuất
là đúng đắn và các biện phát đó có tính giáo dục cao khi áp dụng chất lượng được nâng lên rõ rệt
1.5.6 Phạm vi áp dụng
Trên cơ sở học sinh lớp 2 nói chung, học sinh lớp 2A Trường Tiểu học Nguyễn Thanh Đằng nói riêng – hướng tác động vào việc, rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2, theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập Làm cơ sở cho việc thực hiện và nghiên cứu
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢI PHÁP
2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp.
Trong Trường Tiểu học Tiếng Việt là môn học quan trọng , có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh, được thể hiện qua bốn dạng hoạt động: nghe – nói – đọc – viết Trong đó tập đọc là phân môn đảm nhiệm việc hình thành
và phát triển cho học sinh kỹ năng quan trọng Kỹ năng đọc Vì vậy việc tìm hiểu một liệu pháp, để nâng cao hiệu quả giờ dạy phân môn tập đọc, là một việc làm hết sức cần thiết của người giáo viên tiểu học
2.1.1 Quan điểm về hoạt động đọc và kỹ năng đọc
Đọc là một hoạt động tiếp nhận thông tin thông qua kênh chữ Hoạt động đọc chỉ xảy ra khi người đọc tiếp nhận được nội dung, kiến thức trong bài đọc Mà người đọc dùng mắt, nhìn, miệng đọc , tâm để cảm thụ, phân tích nội dung thông tin vừa đọc Có khi hình thức đọc sau
2.1.2 Đọc thành tiếng
Là hình thức đọc phát ra âm thanh
+ Phát âm đúng
+ Ngắt nghỉ hơi hợp lý
+ Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hay đọc lí nhí)
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê , a, ngắt ngứ hay liến thoắng)
2.1.3 Đọc thầm và hiểu nội dung
+ Đọc không thành tiếng, không mấp máy môi
Trang 6+ Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc
2.1.4 Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng đối với phân môn tập đọc lớp 2
Đọc có ý thức hơn lưu loát hơn, thể hiện rõ hơn, những phản ứng cảm xúc, tình cảm, thông qua bài đọc (CV896 BGDĐT – GDTH), học sinh cần đạt yêu cầu tối thiểu sau:
+ Đọc đúng, không ngắc ngứ
+ Tốc độ đọc
Giữa học Kỳ I : 35 tiếng / phút
Cuối học kỳ I : 40 tiếng / phút
Giữa học Kỳ II : 45 tiếng / phút
Cuối học kỳ II : 50 tiếng / phút
2.1.5 Suy nghĩ về việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học một yếu tố vô cùng quan trọng được các cấp quản lý giáo dục quan tâm và đưa lên vị trí hàng đầu, trong sự nghiệp giáo dục Nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả dạy – học giáo dục tiểu học Để phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học chúng ta cần lưu ý tiến hành đổi mới một cách đồng bộ và hiệu quả một số vấn đề sau:
2.1.5.1 Công tác quản lý
Quán triệt chủ trương của ngành về đổi mới phương pháp dạy học, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý giáo dục đặc biệt là giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, như: tổ chức các giờ học, các hoạt động giáo dục diễn ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên – hiệu quả và chất lượng
Tăng cường hoạt động kiểm tra chuyên môn dự giờ rút kinh nghiệm đánh giá xếp loại theo chuẩn 14 Bên cạnh đó thường tổ chức cho giáo viên giao lưu trao đổi học hỏi rút kinh nghiệm giảng dạy trong và ngoài trường
Thường xuyên kiểm tra đánh giá, xếp lại học sinh theo tinh thần đổi mới (QĐ30)
2.1.5.2 Đội ngũ giáo viên
Trang 7Cần từng bước chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Nhằm trang bị cho giáo viên những kiến thức cơ bản cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học thông qua các hoạt động sau:
+ Tổ chức tạo điều kiện cho giáo viên học chuẩn và tiêu chuẩn
+ Xây dựng các chuyên đề giáo dục PT
+ Đổi mới nâng cao sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt tổ khối,…
2.1.5.3.Cơ sở vật chất
Trang bị đầy đủ SGK, sách tham khảo của giáo viên , đồ dùng học tập , thiết
bị dạy – học
- Trở về với mỗi giáo viên hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đang thu hút và tác động đến từng cá nhân Mỗi tiết dạy để đảm bảo sự thành công, thì việc đổi mới phương pháp dạy học phải được đặt, lên vị trí hàng đầu đó là “kim chỉ nam” cho việc dạy học ngày nay
2.1.6 Đôi điều về tính tích cực và phương pháp dạy học tích cực
2.1.6.1 Tính tích cực là gì? (TTC)
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi đi học Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động
cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác, hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như : hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn; thích phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc , đòi hỏi giải thích những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức , kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới…
2.1.6.2 Phương pháp tích cực là gì?
- Phương pháp tính tích cực là một thuật ngữ được rút gọn; được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục – dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học
Trang 82.1.6.3 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực (TTC)
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
2.2 Những cải tiến cho phù hợp với thực tiễn.
2.2 1 Sự hạn chế trong quá trình giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 2 qua việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh
Thực tế cho thấy đến nay phần lớn giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp nói chung và giảng dạy phân môn Tập đọc nói riêng chỉ chú trọng về mặt hình thức là giảng dạy đầy đủ , không sót kiến thức, ổn định được in trong sách giáo khoa Mà chưa quan tâm đến vấn đề cốt lõi của phân môn Tập đọc là việc rèn kỹ năng quan
trọng cho học sinh : “Kỹ năng đọc” Hơn nữa giáo viên chưa thật sự đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh nghĩa là mọi hoạt động dạy học diễn ra không nhằm phát huy tính tích cực của người học, mà tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Đành rằng để dạy theo PPTC thì giáo viên phải nổ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Rõ ràng, cách dạy chỉ đạo cách học nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Cũng như có trường hợp, giáo viên hăng hái
áp dụng PPTC nhưng thất bại vì HS chưa thích ứng vẫn theo lối học tập thụ động
* Tóm lại : Từ thực trạng trên cho thấy quá trình dạy học như thế chưa phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh; không phát huy được khả năng tìm tòi, khám phá của các em, chưa khuyến khích, phát triển năng lực – năng khiếu sở trường của cá nhân học sinh Làm cho hiệu quả giáo dục không đạt chất lượng như mong muốn
2.2.2 Hiệu quả học tập và kỹ năng đọc của học sinh trong quá trình học phân môn tập đọc
Trang 9Thực trạng không mấy lạc quan về kết quả đọc còn thấp của học sinh, cũng như sự thiếu tự giác và lơ là của các em hiện nay Các em thường mắc khá nhiều lỗi đọc Cụ thể là các lỗi cơ bản sau:
2.2.3 Lỗi phát âm lệch chuẩn chữ viết
Khi đọc HS thường phát âm không chính xác cả âm đầu lẫn phần vần và thanh điệu
Chẳng hạn : đọc r thành g (bối rối – bối gối, rập rình – gập gình) , đọc phụ
âm qu thành v (quảng cáo - vảng cáo) đọc âm ê trong vần kéo dài thành i ê (mếu máo – miếu máo, đều – điều) đọc âm o thành âm o (trong xanh – trông xanh) đọc
âm y thành i ( may mắn – mai mắn, bàn tay – bàn tai, ) đọc vần oan thành on (hoàn toàn – hòn tòn, ) âm cuối n thành ng (củi mùn – củi mùng; bắn súng – bắng súng ) ; t thành c (ánh mắt – ánh mắc) … nguyên nhân lỗi phát âm lệch chuẩn này
là do học sinh chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thể âm của môi trường sinh sống
2.2.4 Lỗi đọc không đúng trọng âm:
Học sinh sử dụng cách đọc không có điểm nhấn hoặc nhấn giọng vào những tiếng không có trọng âm, khiến cho giọng đọc trở nên đều đều, buồn tẻ hoặc làm cho nội dung thông báo bị hiểu sai lệch Nguyên nhân của hiện tượng này, là do các em chưa xác định được các từ ngữ đảm nhiệm vai trò thông báo chính trong câu ; chưa biết phân biệt đâu là yếu tố trọng âm trong một từ Đây là một lỗi đọc,
mà đa số học sinh thường mắc phải
2.2.5 Lỗi ngắt giọng không đúng chỗ
Ngắt giọng không chính xác ở các câu văn dài, có cấu tạo ngữ pháp phức tạp (ngắt giọng ngẫu hứng theo nhịp thở (còn gọi là ngắt giọng sinh lý) Khi đọc thơ, học sinh thường đọc theo áp lực của nhạc thơ, tách rời đọc với hiểu
2.2.6 Lỗi đọc không đúng ngữ điệu, không diễn cảm
Học sinh không thể hiện đúng các kiểu câu khi đọc do nhầm lẫn về hình thức diễn đạt
Chẳng hạn: Đọc các câu hỏi tu từ như: câu hỏi thông thường, đọc câu cảm
như câu hỏi, đọc lên giọng máy móc ở các từ cuối câu hỏi Khiến cho một cuộc trò chuyện tâm tình được thể hiện như một cuộc cải vã Một số giáo viên, do cách hiểu
Trang 10chưa thật chính xác, khái niệm đọc diễn cảm Nên khi đọc mẫu đã cố gắng uốn gịong một cách cầu kỳ, khiến giọng đọc trở nên thiếu độ trung thực cần thiết Học sinh vì làm theo mẫu, nên cũng đọc thái quá như vậy
Tóm lại: xuất phát từ thực trạng nêu trên , cho thấy hiệu quả giờ học phân
môn tập đọc thông qua kỹ năng đọc của học sinh còn nhiều hạn chế, như thế chưa phát huy tính tích cực hoạt động học tập, sáng tạo mang tính sáng tạo, tự giác của học sinh Thể hiện qua kết quả khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 2A như sau:
Tổng số học
sinh
Trên trung bình
Dưới trung bình
Chất lượng cho thấy học sinh đọc mức độ trung bình trở lên chưa cao; tỉ lệ học sinh đọc yếu còn nhiều cũng như sự thiếu tự giác, và lơ là của các em hiện nay Tất yếu dẫn tới câu hỏi : chúng ta có thể làm gì để nâng cao khả năng đào tạo trình độ đọc cho HS? Đây không chỉ là vấn đề nghiên cứu lý thuyết thuần túy về đọc mà còn liên quan đến việc phát triển mục đích và phương pháp đào tạo, giáo dục việc đọc cho học sinh tiểu học hiện nay
Với thực trạng nêu trên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đề cập việc sửa lỗi đọc cho học sinh lớp 2 bằng một hoạt động bỗ trợ, đó là : sử dụng tổ hợp bài tập (BT) rèn kỹ năng đọc cho học sinh trong giờ tập đọc
2.3 Nội dung của giải pháp mới
2.3.1 Vị trí , vai trò của giáo viên trong phương pháp dạy tập đọc theo hướng đổi mới
Đổi mới phương pháp dạy – học là vấn đề được đặt lên vị trí hàng đầu được các cấp quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm Vì nó là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục Vì vậy mỗi giáo viên chúng
ta trực tiếp giảng dạy cần xác định rõ chính xác, nắm vững về việc đổi mới sao cho phù hợp với tình hình, năng lực của học sinh Nghĩa là giáo viên không đóng vai trò truyền thụ kiến thức cho học sinh bằng các phương pháp như : thuyết trình giảng giải, song song đó là học sinh chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động Mà