1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm Tập Đọc lớp 2

22 341 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chơng trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của môn Tiếngviệt ở bậc tiểu học là: - Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt Nghe, nó

Trang 1

I - Lý do chọn đề tài:

1/ Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngời Ngôn ngữ còn

là hiện thực trực tiếp của t tởng:

Ngôn ngữ là phơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngời Môn Tiếng việtrất quan trọng đối với học sinh tiểu học Bởi vì nếu học sinh tiểu học không có vốn từ vựngTiếng việt thì không sử dụng đúng Tiếng việt sẽ rất khó khăn trong giao tiếp và trong họctập Chơng trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của môn Tiếngviệt ở bậc tiểu học là:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt (Nghe, nói, đọc,viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy học Tiếng việt, góp phần rèn luyện các thao tác của t duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng việt và những hiểu biết sơgiản về xã hội Tự nhiên và con ngời, về văn hoá văn học của Việt Nam và nớc ngoài

- Bồi dỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹpcủa Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa

2/ Xuất phát từ nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học:

- Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thànhnăng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc đợc tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu vềchất lợng của “đọc” đọc đúng, đọc nhanh (đọc lu loát, trôi chảy) đọc có ý thức (không hiểu

đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kỹ năngnày đợc hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng đợc rènluyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác

động tích cực đến những kỹ năng khác

Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội dung vănbản Ngợc lại nêu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm đợc.Nhiều khi, khó mà nói đợc rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng

mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng Vì vậy trong dạy đọc không thể xemnhẹ yếu tố nào

- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phơng pháp và thói quen làm việc vớibản bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng ngự trịtrong nhà trờng đó là một trong những điều kiện để trờng học thực sự trở thành trung tâm văn hoá.Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đợc rằng khảnăng đọc là có lợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong nhữngcon đờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển

- Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đợc đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn

kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách phân môn tập đọc còn có nhiệm vụ

+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh

+ Phát triển ngôn ngữ và t duy cho học sinh

+ Giáo dục t tởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh

3/ Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng việt trong chơng trình mới:

Môn Tiếng việt trong chơng trình tiểu học mới, thực hiện sự đổi mới cả về mục tiêu nội dung và phơng pháp dạy học, phơng tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, các

-đánh giá kết quả của học sinh

Trang 2

Hiện nay mục tiêu giáo dục đã đợc xác định rõ ràng Chơng trình SGK tơng đối ổn

định - nội dung… Chính vì vậy để thờng xuyên nâng cao chất lợng dạy học thì phơng phápdạy học càng trở nên quan trọng vô cùng

Tầm quan trọng đó phải đợc thể hiện theo quan điểm: “Dạy học lấy học sinh trungtâm” Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Do đó chúng ta có thểkhẳng định rằng: Việc đổi mới phơng pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học nói chung và đổimới phơng pháp dạy học đọc nói riêng, là một việc làm rất cần thiết và thờng xuyên để nângcao chất lợng dạy học tập đọc Tạo cho học sinh nắm đợc các kiến thức kỹ năng theo yêucầu của môn học đúng, để hiểu đợc nội dung đợc đọc Tôi còn vận dụng các phơng pháp phùhợp với đặc điểm tâm sinh lý trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trờng ở vùng miền núi

là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phơng pháp dạy theo quan điểmgiao tiếp

4/ Thực trạng ở trờng Tiểu học hiện nay:

Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh cha đọc đợc

nh ta mong muốn, đọc cha đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các em cha hiểu đợc nội dung câu thơcâu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung biểu cảm của tác giả

Học sinh cha hiểu cách nói văn chơng, vốn lý luận cha có các em thờng ngắt giọnggiữa từ ghép, các em cha đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần học giọng xuống khi

đọc câu hỏi giọng đọc các em còn đều đều cha toát lên đợc nội dung câu hỏi Khi đọc cáccâu hội thoại các em cha phân biệt đợc giọng của nhân vật, giọng của tác giả

- Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bớc khi dạy tập đọc theo chơng trình mới, vậndụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế bài soạn chứ khôngchú ý đến đặc thù của địa phơng

Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nh thế nào, làm thế nào để chữa lỗi phát âmcho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng

đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn Làm thế nào để để hiểu đợc

“văn” Làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, với cách dạy nh thế nào để chonhững gì đợc đọc hiểu và tác động và chính cuộc sống các em… Đó là những trăn trở củagiáo viên trong mỗi giờ tập đọc từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả cha cao mà trongchơng trình cha có hớng dẫn cụ thể, cha đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy

Xuất phát từ những lý do vừa nêu trên trong luận văn này chúng tôi chọn nghiên cứu

về đề tài: “Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 ”

1.2/ ý nghĩa của việc đọc:

Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hoá khoa học t tởng tìnhcảm của các thế hệ trớc và của cả những ngơì đơng thời phần lớn đã đợc ghi lại bằng chữviết Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn minh của loài ngời, không

Trang 3

thể sống một cuộc sống bình thờng có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hộihiện đại Biết đọc con ngời đã nhận khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìmhiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội t duy, biết đọc con ngời

sẽ có khả năng chế ngự một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bêntrong của ngời khác, thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác đặc biệt khí đọc các tácphẩm văn chơng, con ngời không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy

nở những ớc mơ tốt đẹp đợc khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng nh bồi ỡng tâm hồn Không biết đọc con ngời sẽ không có điều kiện hởng thụ sự giáo dục mà xãhội dành cho họ, không thể hình thành đợc một nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đạibùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp ngời ra sử dụng các nguồnthông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học học cả đời

d-Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học Đọc trở thành một đòihỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi ngời đi học Đầu tiên là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc

để học Đọc chiếm lĩnh đợc một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ

để học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó

là một khả năng không thể thiếu đợc của con ngời thời đại văn minh

Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng nh t duycủa ngời đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn bồi dỡng ở các em lòng yêu cáithiện cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgíc cũng nh biết t duy có hình ảnh

Nh vậy đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục vàphát triển

1.3/ Cơ sở tâm sinh lý của việc dạy tập đọc:

Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm bản chất kỹnăng đọc Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc khi đọc là cơ sở của việc dạy đọc

Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữviết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác

- Đọc đợc xem là một hoạt động có 2 mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng

bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại bằng lời nói âmthanh Đo là vận động t tởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa cáccon chữ và ý tởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đợc nội dungnhững gì đợc đọc Đọc bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơquan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đợc đọc, càng ngày những yếu

tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau là nhiều hơn

Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa nhữngmặt riêng lẻ này trong quá trình đọc Đó là điểm phân biệt ngời mới biết đọc và ngời đọcthành thạo Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc cànghoàn thiện, càng chính xác biểu cảm bấy nhiêu

Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển dạngthức chữ viết của từ và âm thanh) đọc đợc hiểu và kỹ thuật đọc cộng với sự thông hiểu đọc(không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc”

đợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phơng pháp dạy học

Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài T.G.EGôrốp chia việc hình thành kỹ năng này qua 3 giai đoạn phân tích, tổng hợp (còn gọi là giai

đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chính thể của hành động) và giai đoạn tự động hoá

Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp Thời gian gần đây ngời ta đã chú trọng hơn

đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc, làm việc với văn

Trang 4

bản Đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc, đồng thời hớng

đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hớng đến đọc có ý thức bài đọc

Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đa ra cho các em đọc thìcác em sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công Do đó hiểu nhữnggì đợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc

Mục đích này chỉ có thể đạt đợc thông qua con đờng luyện giao tiếp có ý thức Mộtphơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới trong sự chiếm lĩnhngôn ngữ Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm

Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bớc sau:

+ Hiểu nghĩa các từ ngữ

+ Hiểu nghĩa các câu

+ Hiểu nghĩa các khối đoạn

+ Hiểu nghĩa đợc cả bài

Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu đợc những câu điều mình

đọc Hầu nh toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát âm,còn nghĩa thì cha đủ thì giờ và sức lực mà nhận biết Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liênkết thành câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu và nội dung còn khó khăn Đây là cơ sở để

đề xuất các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học

1.4/ Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học:

Phơng pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quan mật thiết vớimột số vấn đề của ngôn ngữ học nh vấn đề chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu, nghĩa của

từ, câu đoạn

Phơng pháp dạy tập đọc dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngôn ngữ học xác lập nội dung

và phơng pháp dạy tập đọc Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữhọc không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không

đảm bảo hiệu quả dạy học

+ Chính âm trong Tiếng việt:

Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả về mặtxã hội

Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng việt hiện naynên lấy hệ thống ngữ âm (cách phát âm) của phơng ngữ bác bộ mà tiêu biểu là tiếng Hà Nộilàm căn cứ bổ sung cách phát âm Một số phụ âm quặt lỡi (tr, s, r) và không phát âm phânbiệt d/gi

1.4.1/ Vấn đề ngữ điệu Tiếng việt:

Ngữ điệu là sợ thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay học thấp giọng đọc,giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu, ngữ điệu gồm toàn bộcác phơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) đợc sử dụng bình diện câu nh độ thấp của âmthanh cờng độ mạnh yếu, hay là môi trờng truyền dẫn (độ dài ngắn của âm thanh, hay là thờigian thực tế của âm thanh) âm sắc (là sắc thái riêng của âm thanh)

Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yêu tố tham gia tạo thành lời nói

Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng việt nh các ngôn ngữ có thanh

điệu khác, chủ yếu đợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (trờng độ) và sự chuyểngiọng (phối hợp cả cờng độ và trờng độ)

1.4.2/ Cơ sở lý thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho học sinh:

Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích,

đánh giá một văn bản nói chung cũng nh lý thuyết để phân tích đánh giá các tác phẩm văn

Trang 5

chơng nói riêng Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn

đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm

về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩmcủa thể loại văn chơng dùng làm ngữ liệu đọc ở Tiểu học

Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tụcngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử… là khác nhau Việc hớng dẫn học sinh tìm hiểu nộidung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệgiữa nội dung hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kểchuyện và biểu hiện các phơng tiện, biện pháp tu từ

Khi luyện đọc cho học sinh dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học,tính hình tợng, tính tổ chức cao và tính hàm đa nghĩa của nó

* Chuẩn bị cho việc đọc thành tiếng:

Giáo viên hớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi ngồi đọc cần ngồi ngayngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35cm, cổ và đầu thẳng, phảithở sâu và thở ra chậm để lấy hơi ở lớp khi đợc cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tựtin không hấp dẫn đọc ngay

Trớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cờng độ và t thế khi đọc, tức làrèn đọc to, đọc đàng hoàng Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành tiếng ngời đọc một lúc

đóng hai vai: Một vai - và mặt này thờng đợc nhấn mạnh - là ngời tiếp nhận thông tin, bằngchữ viết, vai thứ hai là ngời trung gian để truyền thông tin, đa văn bản viết đến ngời nghe.Khi giữ vai thứ hai này, ngời đọc đã thực hiện việc tái sản sinh văn bản Vì vậy khi đọc thànhtiếng ngời đọc có thể đọc cho mình hoặc cho ngời khác hoặc cho cả hai Đọc cùng với phátbiểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viênphải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em sự tự tin cần thiết.Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến ngời nghe Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các

em đọc không phải chỉ đề cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc

đủ lớn cho tất cả những ngời này nghe rõ Nhng nh thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá

to hoặc gàn lên Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các em

đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên cho học sinh

đứng lên bảng để đối diện với những ngời nghe t thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừathoải mái sinh phải đợc mở rộng và cân bằng hai tay

* Luyện đọc đúng:

- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi

Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng hệthống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát

âm địa phơng lệch chuẩn, với những học sinh ngời dân tộc thì lu ý không để hệ thống ngữ

âm mẹ đẻ ảnh hớng tiêu cực đến phát âm Tiếng việt Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các

âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu)

- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng việt.+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch

Trang 6

+ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểu tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vàonghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc không đợc táchmột từ làm hai VD: Ông già bẻ gẫy từng chiếc một/cách dễ dàng.

+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:

Ví dụ không đọc: - Em cầm tờ/lịch cũ

Ngày hôm qua đâu rồi+ Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: - Mẹ là/ngọngió của con suốt đời:

- Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấuchấm Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, học giọng ở cuối câu kể, thay

đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với câu cầu khiến cần nhấngiọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau Ngoài ra còn phải hạ giọng khi

đọc bộ phận giải thích của câu

Nh vậy đọc đúng đa bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm

- Trình tự luyện đọc đúng: Trớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa cáclỗi khi đọc Tuỳ đối tợng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh địa phơnghoặc các vùng dân tộc dễ mắc phải để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc tr-ớc

Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh, cuối cùng cho các

em đọc cá nhân các tiếng, từ khó này, với những câu mà giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc saiphách câu Cũng tiến hành nh vậy, cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh cả đoàn bài

- Luyện đọc nhanh: Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọckhông ê, a ngắc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng Đọc nhanh chỉ thực

sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đợc đọc Khi đọc cho ngời khác nghe thìngời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhng để cho ngời nghe hiểu kịp thời Vì vậy đọc nhanhkhông phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận đợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếngtrùng với tốc độ của lời nói

+ Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hớng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọcbằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ,câu , đoạn, bài Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra còn cóbiện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnhtốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có tiếng cho trớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút

Định tốc độ đọc nh thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc

* Chuẩn bị cho việc đọc thầm: Cũng nh khi ngồi đọc (vì ít khi đứng đọc) thành

tiếng, t thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm

- Kỹ năng đọc thầm phải đợc chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọc nhỏ →

đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi(đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bớc: Di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đếnchỉ có măt di chuyển Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này

Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời gian đọcthầm cho từng đoạn và bài

+ Đọc hiểu: Hiệu quả của đọc thầm đợc đo bằng khả năng thông hiểu nội dung vănbản đọc Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức đọc hiểu Kết quả của đọc thầmphải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài Tức là toàn bộ những gì đ ợc

đọc Nh tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì đợc đọc ngời đọc khôngphải xem tất cả các chữ đều quan trọng nh nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những

Trang 7

từ “chìa khoa” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản Đó là những từ để giúp ta hiểu đợc nộidung của bài Trong những bài khoa văn chơng đó là những từ dùng “đắt” tạo nên giá trịnghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm nh các từláy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chơng.

Tiếp đó cần hớng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng của bài.Những câu nêu ý nghĩa chung của bài

2/ Một số vấn đề liên quan đến phơng pháp dạy học:

2.1/ Nguyên tắt dạy học:

Những nguyên tắt đặc trng của dạy học Tiếng việt ở tiểu học phải phản ánh đợc đặctrng của chính quá trình dạy học Tiếng việt ở Tiểu học và chi phối bao trùm lên rất cả quátrình dạy Những nguyên tắc đang đợc xem là chung nhất và mang tính đặc thù trong dạyhọc Tiếng việt ở Tiểu học là nguyên tắt phát triển lời nói (còn gọi là nguyên tắc giao tiếp huynguyên tắc thực hành) nguyên tắc phát triển từ duy (còn gọi là nguyên tắc rèn luyện ngônngữ gắn liền với rèn luyện t duy hay nguyên tắc phát triển) và nguyên tắc tính đến trình độphát triển tiếng mẹ đẻ của học sinh

2.1.1/ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc) giao tiếp, nguyên tắc thực hành):

Đây là nguyên tắc trung tâm của dạy học Tiếng việt ở Tiểu học Nguyên tắc này đòihỏi khi dạy học Tiếng việt phải đảm bảo các yêu cầu sau:

a/ Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đa chúng vào các

đơn vị lớn hơn Ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu nh thế nào Câu ở trong đoạn trong bài

ra sao

b/ Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục

đích Từ là hớng vào việc hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh

c/ Phải tổ chức tốt hoạt động nói năng của học sinh để dạy học Tiếng việt Nghĩa làphải sử dụng giao tiếp nh một phơng pháp dạy học chủ đạo ở tiểu học

2.1.2/ Nguyên tắt phát triển t duy, yêu cầu:

a/ Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất t duy trong giờ dạy tiếng

b/ Phải chú ý làm cho học sinh thông hiểu đợc ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ.c/ Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm đợc nội dung các vấn đề cần nói viết và biếtthể hiện nội dung này bằng các phơng tiện ngôn ngữ

2.1.3/ Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh: Sự vận dụng nguyên

tắc này khi dạy Tiếng việt với t cách là tiếng mẹ đẻ và với t cách là ngôn ngữ thứ hai có khácnhau

Trớc hết, với những học sinh ngời việt, khi nghiên cứu Tiếng việt học sinh tiếp xúcvới một đối tợng quen thuộc, gắn bó trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của các em Trớc khi

đến trờng các em đã nắm hai dạng hoạt động nói và nghe Các em đã co một vốn từ và quytắc ngữ pháp nhất định Vì vậy, cần phải điều tra, nắm vững vốn Tiếng việt của học sinh theotừng lớp từng vùng khác nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phơng pháp dạy học Đó

là, yêu cầu thứ nhất của việc thực hiện nguyên tắc, yêu cầu thứ hai là phải phát huy tính tíchcực chủ động của học sinh trong giờ học Tiếng việt Yêu cầu thứ ba là giáo viên cần hệthống hoá, phát huy những năng lực tích cực của học sinh hạn chế và xoá bỏ những mặt tiêucực về lời nói của các em trong quá trình học tập Ví dụ, chú trọng dạy phong cách viết vàdạng độc thoại là những phong cách và dạng lời nơi học sinh mới làm quen lần đầu tiên khi

đến trờng Chú ý chữa các lỗi phát âm địa phơng đặc biệt là các lỗi chính tả do phát âm địaphơng

Trang 8

Với những học sinh học Tiếng việt với t cách là thứ tiếng th hai Việc vận dụngnguyên tắc này cũng rất quan trọng Nếu tiếng mẹ đẻ có đặc điểm giống Tiếng việt thì họcsinh cần sử dụng kinh nghiệm nói năng sang nói Tiếng việt Còn những điểm nào khônggiống thì xem là cản trở, cần làm so sánh loại hình, nghiên cứu sự chuyển di tích cực và tiêucực để có ứng dụng trọng dạy học Tiếng việt cho những đối tợng này.

Vấn đề nguyên tắc dạy tiếng đang đợc tiếp tục nghiên cứu từ mô hình thực tế đến cácquy luật, từ quy luật đến các nguyên tắc các phơng pháp rồi lại quay về thực tế Quy trìnhcần có này cha đợc khép kín Vì vậy trên thực tế, các nguyên tắc dạy học Tiếng việt cha đợcứng dụng triệt để và cha có kết quả cao

đầu của quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm ra điểm giống và khác nhau và sắp xếpchúng theo một trật tự nhất định) phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính ta,phân tích tập viết phân tích ngôn ngữ các tác phẩm văn chơng… Tất cả các dạng phân tíchngôn ngữ đều là bộ phận cấu thành của nhiều bài tập khác nhau: Bài tập viết, chính ta, kể lạicác bài văn với nhiệm vụ mang tính phân tích:

+ Phơng pháp luyện tập theo mẫu: Là phơng pháp mà học sinh tạo các đơn vị ngônngữ, lời nòi bằng cách mô phỏng lời thầy giáo sách khoa phơng pháp này gồm nhiều dạngbài tập nh kể lại đặt câu theo mẫu cho trớc Phát âm hoặc đọc diễn cảm theo thầy giáo phơngpháp này thờng đợc sử dụng trên giờ tập đọc, chính tả, ngữ pháp tập làm văn

+ Phơng pháp giao tiếp: Là phơng pháp dạy tiếng dựa vào lời nói những thông báosinh động vào giao tiếp bằng ngôn ngữ Phơng pháp này gắn liền với phơng pháp luyện tậptheo mẫu cơ sở của phơng pháp giao tiếp là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Nếu ngôn ngữ

đợc coi là phơng tiện giao tiếp thì lời nói đợc coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ.Dạy Tiếng việt theo hớng giao tiếp tức là dạy phát triển từng lời của từng cá nhân học sinh.Phơng pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lý thuyết thì đợcnghiên cứu trên cơ sở sở phân tích các hiện tợng đa ra trong bài Để thực hiện phơng phápgiao tiếp phải tạo ra cho học sinh nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, môi trờng giao tiếp,các phơng tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp

Việc tách ra từng phơng pháp là để giải thích rõ nội dung của chúng Trong thực tếdạy học các phơng pháp thờng đợc sử dụng phối hợp chặt chẽ không có phơng pháp nào làvạn năng Điều quan trọng là phải nắm vững các điều kiện cụ thể của dạy học để lựa chọnphơng pháp cho phù hợp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến lựa chọn phơng pháp là nhiệm

vụ dạy học, nội dung dạy học, khả năng của học sinh trình độ của giáo viên, điều kiện vật chất

III - Một số cơ sở thực tiễn:

1/ Các phơng tiện dạy học:

Trang 9

- ở địa bàn chúng tôi đồ dùng dạy học đã có là bảng phụ phấn màu, phiếu bài tập vàtranh minh họa trong sách giáo khoa.

Đồ dùng, các phơng tiện hiệu quả giờ dạy tập đọc Hiện nay trong thực tế dạy học tập

đọc có hai cách làm trái ngợc nhau Có những giáo viên khi dạy tập đọc không bao giờ quantâm đến việc chuẩn bị đồ dùng gì khác ngoài quyển SGK Ngợc lại có những giáo viên chorằng đồ dùng dạy học là điều kiện đầu tiên quyết định chất lợng giờ dạy Để minh hoạ chomột tiết tập đọc có giáo viên đã bỏ ra vài trăm ngàn đồng để có đợc một bức tranh

Khi chuẩn bị đồ dùng dạy học, giáo viên cần xác định đợc mục đích của đồ dùng đó

là gì, nó đợc sử dụng vào lúc vào và cách sử dụng của nó ra sao Trong thực tế có những giáo viên

đã sử dụng đồ dùng trực quan một cách tuỳ tiện mà không nắm đợc mục đích của chúng

+ Các tài liệu dạy học:

Tập một tập trung vào mảng “Học sinh - nhà trờng - gia đình” gồm 8 đơn vị học dạytrong 16 tuần và 2 tuần cho ôn tập kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ

Các đơn vị học là: Em là học sinh (Tuần 1, 20 bạn bè (Tuần 3, 4) trờng học (tuần 5, 6)thầy cô (tuần 7, 8) cha mẹ (tuần 10, 11)

Anh em (tuần 12, 13) ông bà (tuần 14, 15) bạn trong nhà (tuân 16, 17 )

- Tập 2 gồm 7 đơn vị học dạy trong 15 tuần và 2 tuần ôn tập, kiểm tra

- Các đơn vị học là: Bốn mùa (tuần 19, 20) chim chóc (tuần 21, 22) muông thú (tuần

23, 24); Sông biển (tuần 25, 26) cây cối (tuần 28, 29) Bác Hồ (tuần 30, 31) nhân dân (tuần

32, 33, 34)

* Cấu trúc mỗi đơn vị học:

Mỗi đơn vị học là một chủ điểm học trong 2 tuần (riêng chủ điểm nhân dân học trong

3 tuần từ 32 - 34)

* Tuần thứ nhất: 10 tiết, gồm:

- Phân môn tập đọc: Có 3 bài dạy trong 4 tiết

+ Bài thứ nhất là một truyện kể dạy trong 2 tiết Bài tập đọc này còn là ngữ liệu chotiết kể chuyện và tiết chính ta kế tiếp giúp cho học sinh thực hành nói và viết tốt hơn qua bàitập đọc

+ Bài thứ hai là một văn bản thông thờng dạy trong 1 tiết

+ Bài thứ 3 là một văn bản thơ đợc dạy trong 1 tiết

- Phân môn kể chuyện: Có 1 bài dạy trong 1 tiết

- Phân môn chính tả có 2 bài dạy trong 2 tiết

- Phân môn luyện từ và câu có 1 bài dạy trong 1 tiết

- Phân môn tập làm văn có 1 bài dạy trong 1 tiết

* Tuần thứ hai 10 tiết gồm:

- Phân môn tập đọc: Có 3 bài dạy trọng 4 tiết

+ Bài thứ nhất là một truyện kể dạy trong 2 tiết

+ Bài thứ 2 là một văn bản miêu tả dạy trong 1 tiết

+ Bài thứ 3 là một truyện vui đợc dạy trong 1 tiết

- Phân môn kể chuyện: Có 1 bài dạy trong 1 tiết

Trang 10

- Phân môn luyện từ và câu có 1 bài dạy trong 1 tiết

- Phân môn tập làm văn có 1 bài dạy trong 1 tiết

* Những thuận lợi:

- Khổ sách lớn hơn so với SGK lớp 2 cũ, kênh chữ rõ ràng giúp học sinh dễ dàngtrong việc tập đọc

- Các chủ điểm sát thực, gần gủi với đời sống hàng ngày của học sinh

+ Các loại văn bản không phải là văn đợc đa vào dạy trong phân môn tập đọc nh vănbản hành chính, báo chí hành dụng, giúp học sinh vận dụng những điều đã học vào cuộcsống Không văn chơng hoá kiến thức trung các bài tập đọc của Tiểu học

+ Đa vào dạy các truyện vui đem đến cho các giờ học những tiếng cời nhẹ nhàng, qua

- SGV chỉ đa ra những gợi ý về cách tổ chức cho học sinh làm việc về cách đánh giá,

về việc đúng các thiết bị mà không nếu thành các yêu cầu mang tính chất bắt buộc giáo viênphải làm theo Vì thế giáo viên có cơ hội để vận dụng linh hoạt và sáng tạo những hớng dẫnnói trên vào điều kiện daỵ học cụ thể của lớp mình

SGV đồng thời là một tài liệu nguồn, trong sách có nhiều bài đã cung cấp cho giáoviên những kiến thức khoa học cơ bản cần đợc bổ túc để dạy học có nhiều bài giới thiệu chogiáo viên những kỹ thuật dạy học mới

* Sách thiết kế bài giảng: Bám sát nội dung chơng trình Tiếng việt 2 mới đợc ban

hành, về phơng pháp, các hoạt động dạy và học đợc thiết kế theo hớng dạy học trên cơ sởhoạt động học tập của học sinh

* Các tài liệu khác nh vở bài tập:

Địa bàn trờng đóng tơng đối xa trung tâm điều kiện cấp phát hạn chế Kinh tế gia

đình hạn hẹp một số phụ huynh cha thật sự quan tâm đến bậc học nên đa số các em không

có điều kiện mua VBT để sử dụng dẫn đến việc sử dụng VBT không đồng đều

2/ Các hoạt động dạy và học:

2.1/ Hoạt động của giáo viên:

- Đa số giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ song trình độ giáo viênkhông đồng đều, do không có điều kiện học tập để nâng cao trình độ Không cập nhật đợccác thông tin chơng trình mới, cách bố trí giáo viên trong trờng thiếu tính hệ thống

- Giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo viên, thiết kế để dạy cha xác định đợc mục tiêunội dung bài dạy, cha nắm vững phơng pháp dạy học nên trong quá trình dạy học thờng diễn

ra một cách máy móc rập khuôn, cha có sáng tạo, cha phân phối thời gian hợp lý cho từnghoạt động, cha biết cách phối hợp các hình thức tổ chức dạy học Vài trò làm mẫu cho họcsinh cha chuẩn, hớng dẫn học sinh đọc cha cụ thể, có một số câu hỏi còn áp đặt, cha quantâm đến tất cả các đối tợng học sinh

2.2/ Hoạt động của học sinh:

Trang 11

Đa số các em là con em dân tộc thiểu số việc tiếp xúc với các hoạt động xã hội cònhạn chế, cách phát âm cha rõ nên có ảnh hởng đến việc dạy học tiếng việt kỹ năng đọc củahọc sinh còn thấp Đọc ngắt nghỉ hơi cha đúng, học sinh cha hiểu đợc cách nói văn chơngvốn lý luận cha có Kết quả học đọc của các em cha đáp ứng đợc yêu cầu của việc hìnhthành kỹ năng đọc, các em cha nắm đợc công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, t tởng tìnhcảm của ngời khác chứa đựng trong văn bản đọc.

- Đa số các em còn ham chơi vốn kiến thức của các em còn hạn chế

- Các em còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên

VI - Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2

1/ Đối mới các phơng tiện dạy học:

- Xây dựng phổ biến các phơng tiện dạy học khác nhau

- Khuyến khích giáo viên làm đồ dùng phù hợp với nội dung bài Biết sử dụng phơngtiện khác nhau một cách có hiệu quả

- Hớng dẫn học sinh sử dụng các đồ dùng dạy học để các em tự phát triển tri thức mớihình thành những kỹ năng cần thiết phát triển năng lực cá nhân

2/ Đổi mới nội dung dạy học:

Nh ta đã biết chất lợng đọc của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó vai tròhớng dẫn của giáo viên rất quan trọng

2.1/ Chuẩn bị kỹ cho việc đọc:

- Giáo viên có kỹ năng “đọc” thành thục

Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi giờ học.Những kỹ năng này trớc hết phải có kỹ năng giải mã nghĩa, ý của văn bản đó Giáo viên phảitạo đợc hình đọc lý tởng cũng tức là phải có kỹ năng đọc thành thục Giáo viên phải đọc đợcbài tập đọc từ việc biết cách xác định từ, câu quan trọng đến việc hiểu đợc nghĩa, ý, tình củavăn bản Giáo viên không thể hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà bản thân mình không có,không thể gặt hái đợc những gì mà ta không có khả năng gieo trồng Vì vậy, trong dạy họcchúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm những gì mà bản thân mình cha không làm đ-

ợc Giáo viên không thể luyện cho học sinh đọc hay đọc diễn cảm mà bản thân mình cha xác

định đợc bài văn cần đọc với giọng điệu nh thế nào Khi dạy học không có hiệu quả nhiềugiáo viên đỗ lỗi cho phơng pháp mà không biết rằng “Phơng pháp chỉ là hình thức của sự tựvận động bên trong của chính nội dung”

Một trong ba phơng pháp dạy học quan trọng nhất ở Tiểu học là phơng pháp luyệntheo mẫu Vì vậy không biết làm mẫu thì không thể tiến hành giờ dạy Do đó khi soạn bàigiáo viên phải xác định đợc những kỹ năng đọc cần có và luyện tập cho mình thành thụcnhững kỹ năng này Khi soạn bài giáo viên phải tự làm trớc những gì mà học sinh phải làmtrên lớp: Đọc thành tiếng, giải nghĩa từ, trả lời những câu hỏi về nội dung bài

- Giáo viên có sự hiểu biết về chơng trình SGK, các tài liệu dạy học

- Giáo viên phải tìm hiểu vốn “đọc” của học sinh, đặc điểm, trình độ của học sinh.Quyển SGK đầu tiên ngời giáo viên phải nghiên cứu chính là học sinh không phải đến khisoạn một bài cụ thể chúng ta mới tiến hành tìm hiểu học sinh Việc tìm hiểu học sinh làmột quá trình lây dài đã đợc tiến hành trớc đó Để tiến hành dạy học tập đọc chúng taphải hiểu rõ học sinh của mình, đặc điểm, trình độ của học sinh, các em đa có nhữngkiến thức kỹ năng đọc gì, cụ thể chúng ta phải biết rõ học sinh của mình có hứng thú vớinhững bài tập đọc nào, phát âm có gì sai chuẩn, khó phát âm, những từ ngữ nào trong bài.Khó đọc đúng, đọc hay những câu nào… Để luyện đọc hiểu chúng ta cần nắm đ ợc học

Ngày đăng: 18/06/2015, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w