Công tác trắc đạc cần thực hiện theo một trình tự thống nhất, kết hợp chặt chẽ với thời hạn hoàn thành từng bộ phận công trình đảm bảo vị trí, độ cao của đối tượng xây lắp đúng yêu cầ
Trang 1BIỆN PHÁP THI CÔNG TRẮC ĐẠC
I Căn cứ chung để lập biện pháp thi cơng:
Các tiêu chuẩn trắc địa công trình – Nhà xuất bản GTVT
Tiêu chuẩn: TCVN 9364-2012: Nhà cao tầng – Kỹ thuật đo đạc phục vụ công tác thi công (thay thế TCXDVN 203:1997)
Tiêu chuẩn: TCVN 9398-2012: Công tác trắc địa trong xây dựng công trình – Yêu cầu chung (thay thế TCXDVN 309:2004)
II Giải pháp tổng quát:
Trắc đạc Công trình là một công tác hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi một đơn vị xây dựng phải thực hiện trong suốt quá trình thi công, nhằm đảm bảo tính chính xác của từng kết cấu Công trình
Công tác trắc đạc cần thực hiện theo một trình tự thống nhất, kết hợp chặt chẽ với thời hạn hoàn thành từng bộ phận công trình đảm bảo vị trí, độ cao của đối tượng xây lắp đúng yêu cầu thiết kế
Trước khi tiến hành công tác trắc đạc cần nghiên cứu bản vẽ công trình kiểm tra kích thước, tọa độ, độ cao trên các bản vẽ được sử dụng Thu dọn các chướng ngại vật làm hạn chế tính hợp lý của phương pháp đo hoặc làm giảm độ chính xác và tốc độ đo
Để triển khai, sẽ thiết lập các Tổ Trắc đạc, mỗi tổ gồm 3 người : 1 Thợ chính + 2 Thợ phụ (có trình độ trung cấp trở lên ), với đầy đủ thiết bị (Máy toàn đạc điện tử, Máy kinh vĩ, Máy thủy bình, Máy thông tầng, Quả dọi,Thước thủy, Mia và Thước thép ( 50m + 7.5m )), để đảm bảo công việc mỗi tháp sẽ bố trí 01 tổ trắc đạc chuyên phục vụ cho công tác phần thô
Nhà cao tầng là một loại công trình dân dụng phức tạp Để thực hiện các yếu tố của loại công trình này người ta thường sử dụng hệ tọa độ vuông góc
Theo quy định, các nhà cao tầng trong thành phố được quy hoạch trên một bản đồ quy hoạch tổng thể Mỗi khi triển khai dự án xây dựng nhà cao tầng các cơ quan chức năng của thành phố như: Sở địa chính, văn phòng kiến trúc sư trưởng thành phố sẽ tiến hành làm các thủ tục cấp đất, giao đất Ban quản lý dự án có trách nhiệm xây dựng nhà cao tầng theo đúng quy hoạch đã được duyệt
Thông thường, trong biên bản bàn giao đất sở địa chính thành phố sẽ giao cho BQLDA một bản vẽ ranh giới khu đất với đầy đủ tọa độ của các điểm đặc trưng Tọa độ các điểm này thường được cho trong hệ tọa độ chung của quốc gia (hệ tọa độ chung của thành phố) Nói chung hệ tọa độ này không thích hợp với việc xây dựng nhà cao tầng vì các trục tọa độ thường không song song với các trục chính của tòa nhà và các giá trị tọa độ rất lớn gây ra những phiền phức nhất định trong việc ghi tọa độ trên các bản vẽ
Trang 2 Do diện tích mặt bằng xây dựng nhà cao tầng thường không lớn lắm (khoảng từ vài nghìn mét vuông) đến một vài hecta Vì vậy trong trường hợp này tốt nhất nên sử dụng hệ tọa độ vuông góc giả định (quy ước)
Thực chất của vấn đề này là sau khi chúng ta đã chọn định hướng cho các trục tọa độ chúng ta có thể tịnh tiến chúng đi một lượng tùy ý Thông thường người ta thường tịnh tiến gốc tọa độ xuống điểm thấp nhất ở góc bên trái và phía dưới của công trình và gán cho nó một giá trị chẵn Với gốc tọa độ như vậy thì giá trị tọa độ của tất cả các điểm trên mặt bằng xây dựng đều mang dấu + , điều này hạn chế được các sai lầm trong việc tính toán và ghi chép tọa độ của các điểm
Tương tự như vai trò của lưới không chế mặt bằng, lưới khống chế độ cao có nhiệm vụ đảm bảo cho việc xây dựng nhà cao tầng đúng cao độ thiết kế trong quy hoạch chung của đô thị Thông thường các nhà cao tầng trong thành phố lưới khống chế độ cao được xây dựng có độ chính xác tương đương với thủy chuẩn nhà nước hạng IV là đủ Người ta cũng không xây dựng các mốc cao độ riêng mà thường dẫn cao độ từ mốc độ cao quốc gia vào tất cả các mốc của lưới khống chế mặt bằng Ngoài ra, để tiện sử dụng người ta thường vạch các mốc độ cao
±0.000 trên các vật kiến trúc kiên cố Việc dẫn cao độ được thực hiện bằng các máy móc chuyên dụng và tuân theo các hạn sai của quy phạm hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành
III Một số chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng:
Hình 1: Trích từ TCVN9364-2012, trang số 8
Trang 3Hình 2: Trích từ TCVN9364-2012, trang số 11
Hình 3: Trích từ TCVN9364-2012, trang số 16
Trang 4IV Nội dung triển khai:
IV.1 Công tác triển khai thi công trắc đạc phần thô
IV.1.1 Nhận bàn giao mốc:
Sau khi nhận biên bản bàn giao mốc và cao độ từ Đơn vị TVGS và Chủ đầu tư Đơn vị thi công có trách nhiệm tiếp nhận và bảo quản trong suốt quá trình thi công công trình
IV.1.2 Triển khai thi công:
Để tránh trường hợp các mốc có thể bị biến dạng hoặc bị che khuất khi công trình thi công, ngay sau khi tiếp nhận mốc, cần tiến hành kiểm tra và triển khai ngay vào công trình Tiến hành xây dựng hệ lưới trục phụ (hiện tại công trình đã thi công xong phần hầm) vào công trình
Thiết bị bao gồm: máy toàn đạc điện tử, máy thủy bình, máy thông tầng, thước thép (30m + 7.5m) và các dụng cụ khác Tất cả các thiết bị trước khi thi công phải được kiểm định và có độ chính xác đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng nhà cao tầng
Chuyền cao độ: Dẫn cao độ chuẩn từ mốc vào công trình, sau đó quy ước code ± 0.000 cho công trình Quét code +1000 mm vào các vị trí cột, vách trước và sau khi đổ bêtông để khống chế cao độ đổ bêtông và triển khai chạy đà, cân chỉnh sàn tiếp theo Sau khi đổ bêtông sàn tầng 1, dùng thước thép 30m kéo theo phương thẳng đứng lên trên sàn tầng 2, làm dấu rồi dùng máy thủy bình quét gửi lên cột, vách Để tránh sai số cộng dồn do kéo thước gây ra, bằng cách: cao độ sàn tầng 3, 4, 5, đều lấy từ tầng trệt làm chuẩn đo lên Đến sàn tầng 5 khóa lại, tương tự cao độ các sàn tầng 6, 7, 8, 9, 10, lấy cao độ sàn tầng 5 làm chuẩn, cứ thế 5 sàn một lần ta khóa cao độ một lần
Chuyền lưới trục: Triển khai chuyển trục (tháp X1) từ các mốc X1-1, X1-2, X1-3 và X1-4 (tương tự các tháp X2 và Podium lần lượt là các mốc X2-1, X2-2, X2-3 và X2-4; P1, P2, P3 và P4) từ tầng trệt lên sàn tầng 5: Dùng máy dọi tâm (thiên đỉnh) đặt lần lượt tại các mốc X1-1, X1-2, X1-3 và X1-4, chiếu lên sàn tầng 5 Đồng thời, tại sàn tầng 5, dùng các miếng Mecal đặt tại lỗ thông tầng để đón tia laze chiếu lên Tại mỗi mốc tiến hành ít nhất 4 trạm máy, để loại trừ sai số Ở vị trí số đọc là 00, qua tia chiếu thẳng đứng ta đánh dấu được một điểm trên tấm Mecal, tương tự các vị trí 900, 1200, 2700 ta lần lượt đánh dấu tiếp được các điểm
2, 3, 4 Nối các điểm đối xứng lại, giao của chúng là điểm ta cần chiếu Sau khi chuyển 4 mốc lên, tiến hành kiểm tra lại kích thước và góc giữa các mốc, nếu sai số trong giới hạn cho phép thì mới triển khai bố trí chi tiết các cấu kiện, nếu không thỏa thì tiến hành đo lại cho đến khi đạt
Do các điểm trên tấm Mecal sau khi chiếu lên và triển khai chi tiết sẽ được tháo
ra, nên phải có biện pháp để lưu giữ các điểm này, bằng cách mỗi một điểm tâm chiếu sẽ được gửi lên mặt sàn bêtông bằng 4 điểm cách tâm chiếu một khoảng 20-30cm bằng cách căng 2 sợi dây vuông góc theo trục đã triển khai, và giao của
Trang 52 sợi dây này trùng với tâm chiếu Khoan đánh dấu 4 điểm này lên sàn bằng các cây đinh có đánh dấu chữ thập ở tâm, dùng sơn đỏ khoanh tròn và ghi chú bên cạnh để tiện tìm kiếm sử dụng, khi cần khôi phục lại điểm chiếu để dùng ta chỉ cần căng 2 sợi dây theo từng cặp qua 4 vị trí đánh dấu này
Các máy chiếu đứng trong quá trình sử dụng, vận chuyển, cộng với chiều cao tăng lên thì hình ảnh của điểm chiếu cũng kém rõ ràng hơn Vì vậy, không nên chiếu xuyên suốt từ mặt bằng gốc lên, mà nên chia ra từng đoạn 5tầng một để chiếu, tuần tự chiếu để chuyển trục lên cao
Tại các tầng sau khi đã khóa lỗ thông sàn ta tiến hành bít lại để phục vụ cho công tác hoàn thiện Tại mỗi vị trí lỗ thông sàn, đục tạo nhám các bên thành và khoan cấy mỗi bên 02 cây thép ф10 đặt vuông góc với nhau rồi lắp cofa đổ bêtông bít lại, trước khi đổ bêtông để tăng độ kết dính bằng cách tưới một ít sika liên kết vào các thành lỗ
Hình 5: Chuyền trục bằng máy chiếu đứng
Trang 6 Triển khai các trục phụ trợ: Đặt máy toàn đạc điện tử (hoặc kinh vĩ) tại mốc
C3-1 ngắm C3-2 làm chuẩn, kết hợp với thước thép bố trí được C3-1 điểm của các trục 27-1m, 29-1m, 31-1m, 34+1m, 36-1m trên phương vuông góc với C3-1 & C3-2 Tương tự đặt máy toàn đạc điện tử (hoặc kinh vĩ) tại C3-4 ngắm C3-3 làm chuẩn, kết hợp với thước thép bố trí được 1 điểm của các trục 27-1m, 29-1m, 31-1m, 34+1m, 36-1m trên phương vuông góc với C3-4 & C3-3 Như vậy, trên các trục phụ trợ 27, 29, 31 & 34 ta đã xác định được 2 điểm, đặt máy toàn đạc điện tử (hoặc kinh vĩ) tại một trong 2 điểm vừa xác định ngắm điểm còn lại làm chuẩn để bố trí các trục còn lại bên trong tương tự Cũng bằng cách đó, lần lượt đặt máy tại C3-1 ngắm C3-4 làm chuẩn và đặt máy tại C3-2 ngắm C3-3 làm chuẩn, bố trí các trục phụ trợ còn lại
Triển khai mực chân cột vách: Sau khi bố trí xong các trục phụ trợ, dùng thước thép 5m (7.5m) định vị chi tiết mực chân cột vách Sau khi hoàn thành bố trí mực chi tiết, tiến hành nghiệm thu nội bộ trước khi mời Đơn vị Tư Vấn Giám Sát nghiệm thu, để bàn giao cho công tác lắp thép + cofa
Kết hợp với giám sát công trình kiểm tra, nghiệm thu nội bộ vị trí, kích thước, độ thẳng đứng của cofa cột vách, trước khi TVGS nghiệm thu cho đổ bêtông
Quét cao độ gửi +1000 mm và tim trục lên cột vách sau khi dở cofa, để phục vụ cho công tác chạy đáy đà, cofa sàn tiếp theo
Hình 6: Xác định vị trí tim trục bằng máy kinh vĩ và thước thép
Trang 7 Ngay sau khi ghép cofa sàn, tiến hành định vị lỗ chờ thông tầng trước khi đổ bêtông Đánh dấu chính xác các vị trí lỗ thông tầng trên mặt sàn tầng thi công , để theo đó cắt ván khuôn sàn và lắp đặt vào đó các hộp khuôn bằng gỗ có kích thước 150x150 mm
Triển khai trục phụ trợ lên sàn cofa, đảm bảo vị trí kích thước của cột vách, thành đà không bị sai lệch Đồng thời kiểm tra cao độ cofa sàn đảm bảo đúng khẩu độ
Bố trí nhân sự nghiệm thu nội bộ và nghiệm thu với TVGS, chuẩn bị máy laze trực cao độ đổ bêtông (nếu đổ bêtông vào ban đêm) hoặc máy thủy bình
IV.2 Công tác triển khai hoàn công công trình
Thiết bị dùng để phục vụ cho công tác này bao gồm: máy toàn đạc điện tử (hoặc kinh vĩ), máy thủy bình, thước thép (30m và 7.5m), máy laze
Công tác đo vẽ hoàn công vị trí cột vách, cao độ sàn, đáy sàn được tiến hành ngay trong quá trình thi công phần thô
Ngay sau khi cofa sàn được dỡ, dựa vào đường trục lúc triển khai thi công phần thô phục vụ công tác chạy đáy đà, đo ra hai bên mép cột, ghi chép lại số thực tế để so sánh với số thiết kế, từ đó để có cơ sở xác định các giá trị vượt quá sai số cho phép để điều chỉnh kịp thời các tầng phía trên, và để phục vụ cho việc đo vẽ hoàn công sau khi thi công xong toàn bộ tòa nhà Tương tự cao độ sàn và đáy sàn, ta cũng ghi chép lại trong quá trình đo để có kết quả so sánh với cao độ thiết kế
Hình 7: Trích từ TCVN9364-2012, trang số 17
Trang 8IV.3 Công tác triển khai thi công trắc đạc phần hoàn thiện
Trong quá trình thi công phần thô, hệ lưới trục phụ trợ có thể bị phai mờ hoặc mất
ở một số vị trí, vì thế để phục vụ công tác thi công phần hoàn thiện, phải tiến hành khôi phục lại toàn bộ hệ lưới trục phụ trợ, trước khi bố trí chi tiết mực chân tường
Ngồi mực chân tường cịn phải triển khai 2 đường mực phụ trợ hai bên để phục vụ cơng tác nghiệm thu và trát tường, như vậy mực chân tường sẽ cĩ 4 đường mực Sau khi định vị xong tồn bộ mực chân tường tiến hành kiểm tra lại tồn bộ kích thước tổng quát, một cách chính xác khơng cĩ sai sĩt gì thì dùng máy laze quét lên trần sàn
Cơng tác lấy cỡ để phục vụ hồn thiện mặt ngồi được thực hiện như hình vẽ
Hình 8: Trích từ TCVN9364-2012, trang số 17
Trang 9
Hình 9: Lấy cỡ phục vụ công tác hoàn thiện bằng các trục phụ
Trang 10
Hình 11: Máy toàn đạc điện tử và gương mini Hình 10: Máy kinh vỹ điện tử
Trang 11Hình 12: Máy thủy bình và máy thông tầng