1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bai thu hoach ho so HC 12

13 169 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Sau khi nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh G.L, bà Nguyễn Thị Tuyết cho rằng Quyết định xử phạt hành

Trang 1

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

HỒ SƠ HÀNH CHÍNH SỐ 12

(Vụ kiện: Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính) Người khởi kiện :

Bà: Nguyễn Thị Tuyết Sinh năm: 1982

CMND số: 230 590 023 Cấp tại: Công an tỉnh G.L

Địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L

Người đại diện theo ủy quyền của bà Tuyết:

CMND số: 230 511 680 Cấp tại: Công an tỉnh G.L

Địa chỉ: Số 33 (73) Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, thành phố P, tỉnh G.L

Người bị kiện:

Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

Ông: Trần Ngọc Minh

CMND số: 280 041 289… Cấp tại: Công an tỉnh G.L

Chức vụ: Phó GĐ kiêm Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Địa chỉ: Số 06, Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L

Người đại diện theo ủy quyền của ông Minh:

Ông: Dương Văn Thành

CMND số: 230 728 301 Cấp tại: Công an tỉnh G.L

Chức vụ: Phó Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

Địa chỉ: Số 06, Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN:

 Bà Nguyễn Thị Tuyết sinh năm 1982 là chủ hộ kinh doanh cá thể dịch vụ nhà trọ bình dân tại số 09, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L Bà Tuyết được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 39A 8005684 ngày 19/11/2012 Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và

Du lịch tỉnh G.L đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh là nhà trọ Hoàng Lan do bà Tuyết làm chủ, tại số 241 đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh G.L

 Sau khi kiểm tra, đã phát hiện cơ sở có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội Đoàn đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính

số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013, theo mẫu biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch Nôi dung biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC kết luận nhà nghỉ Hoàng Lan có hành vi vi phạm như sau:

“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan

hệ tình dục) Phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang ở chung phòng xem ti vi Tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành.

Trang 2

Kết luận chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra tình trạng vi phạm như trên” Có các bản tường trình của ông Nguyễn Văn Thường,

bà Nguyễn Thị Lành, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy kèm theo

 Ngày 29/12/2013, Thanh tra Sở mời bà Nguyễn Thị Tuyết đến làm việc, tại buổi làm việc bà Tuyết đã viết bản tường trình thừa nhận hành vi vi phạm trên và xin sửa chữa Ngày 16/01/2014, Thanh tra Sở xét thấy đây là vụ việc rất phức tạp cần thêm thời gian xác minh, làm rõ nên đã là tờ trình số 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời gian ra quyết định xử phạt hành chính đến hết ngày 11/03/2014 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt

 Ngày 10/03/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014, phạt tiền với mức phạt là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) đối với hành vi vi phạm của bà

Nguyễn Thị Tuyết với lý do là “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ)”.

 Sau khi nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh G.L, bà Nguyễn Thị Tuyết cho rằng Quyết định xử phạt hành chính đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà nên ngày 24/03/2014, bà Tuyết đã làm đơn khiếu nại (lần đầu) đến Giám đốc

Sở Văn hóa và Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế Ngày 20/04/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính (lần đầu) Theo đó, giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Bà Tuyết cho rằng Quyết định giải quyết khiếu nại trên không có căn cứ pháp lý

và vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nên ngày 02/05/2014 bà Tuyết đã làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh G.L yêu cầu

“Tuyên hủy Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L”.

 Ngày 13/05/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã ra thông báo thụ lý vụ án số 03/2014/TB-THC Sau đó, Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã tiến hành lập biên bản lấy lời khai của ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện), ông Mai Anh Tuấn (đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện) Do hai bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, không đưa ra được hướng thỏa thuận giải quyết nên ngày 10/09/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã ban hành Quyết định số 04/2014/QĐST-XX quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/09/2014

Trình tự thủ tục chính trong vụ kiện:

 Ngày 23/12/2013, đoàn Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

đã tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị Tuyết (chủ nhà trọ bình dân)

 Ngày 10/03/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP đối với bà Nguyễn Thị

Trang 3

Tuyết Nhưng do có sai sót về mặt hình thức văn bản, Thanh tra Sở đã ban hành Công văn số 02/2014/CV-TTr để đính chính lại

 Ngày 24/03/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết làm Đơn khiếu nại Quyết định xử phạt số 02/QĐ-XP

 Ngày 20/04/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

ra Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) của bà Tuyết

 Ngày 02/05/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết đã gửi đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân tỉnh G.L

 Sau khi đóng tiền tạm ứng án phí, ngày 13/05/2014 Tòa án nhân dân tỉnh G.L

đã ra Thông báo thụ lý vụ án số 03/2014/TB-THC

 Ngày 29/05/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

đã gửi Công văn số 04/2014/CV-TTr đến Tòa án nhân dân tỉnh G.L

 Ngày 18/06/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L tiến hành lấy lời khai của ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện)

 Ngày 10/07/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L tiến hành lấy lời khai của ông Mai Anh Tuấn (đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện)

 Ngày 24/07/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L tiếp tục lấy lời khai của ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện)

 Ngày 17/08/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L lập Biên bản lấy lời khai của ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện) và ông Mai Anh Tuấn (đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện)

 Ngày 05/09/2014, bà Tuyết làm Đơn kiến nghị gửi Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

 Ngày 10/09/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã ban hành Quyết định số 04/2014/QĐST-XX quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/09/2014

II DANH MỤC CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:

1 Luật tố tụng hành chính 2015

2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003

4 Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05 tháng 10 năm 2010 của Bộ công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

6 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo

Trang 4

III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA:

Hỏi Người khởi kiện:

1 Xin ông cho biết cơ sở kinh doanh (nhà trọ) của bà Tuyết được cấp giấy phép hoạt động vào năm nào?

2 Ông cho biết ngày nào đoàn Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến kiểm tra và có lập Biên bản vi phạm hành chính cùng ngày không?

3 Bà Tuyết có biết hay có nghe nói về quy định khi cho khách thuê phòng trọ phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách hay không?

4 Bà Tuyết nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP vào ngày nào?

5 Bà Tuyết đã bị thiệt hại gì khi nhận Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

số 23?

Hỏi Người bị kiện:

1 Xin ông cho biết ông lập Biên bản vi phạm hành chính đối với bà Tuyết vào mấy giờ, ngày nào?

2 Trong Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013, các ông căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để xác định hành vi vi phạm của bà Tuyết?

3 Xin ông cho biết, khi lập một biên bản vi phạm hành chính mà chi ghi “Các hành vi trên đã vi phạm vào Điểm….Khoản…Điều….Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa-thông tin” mà không ghi cụ thể một điều khoản nào hết, như vậy là đúng hay

sai?

4 Theo Tôi được biết Nghị định số 158 trên có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2014, việc ông áp dụng một văn bản pháp luật chưa có hiệu lực thi hành để lập Biên bản xử phạt hành vi của một người là đúng hay sai?

5 Ông sử dụng Nghị định số 158 để lập Biên bản vi phạm, vậy tại sao trong Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 về việc xử phạt vi phạm hành chính của bà Tuyết, ông lại áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 167 của Chính phủ để xử phạt

bà Tuyết về hành vi “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”?

6 Ông có nhận được Bản tường trình của ông Nguyễn Văn Thường (có bà Nguyễn Thị Lành ký tên), ông Phan Văn, bà Nguyễn Thị Thùy hay không?

7 Trong Biên bản số 11 ghi nhận “khi tiến hành kiểm tra phòng số 11, có ông Thường và bà Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục)” có đúng không? Ông có thấy họ trao đổi tiền bạc với nhau hay không?

Trang 5

8 Trong Biên bản số 11 cũng ghi nhận “phòng số 9 có ông Văn và bà Thùy không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi” có đúng không? Ông có thấy họ quan hệ tình dục hay trao đổi tiền bạc với nhau hay không?

9 Trong Biên bản số 11 ông có ghi nhận vào biên bản hành vi sắp xếp để thực hiện mua bán dâm của bà Tuyết hay không?

10 Bà Tuyết không hề có hành vi tổ chức hoạt động mại dâm, cũng như không

có chứng cứ chứng minh các bên đang mua bán dâm Các ông lại cho rằng cơ sở bà Tuyết tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh để tổ chức hoạt động mại dâm là đúng hay sai?

11 Ông căn cứ vào văn bản pháp luật nào để chứng minh rằng khi cho khách thuê phòng trọ phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách?

12 Ông cho biết Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi tờ trình

số 02/TT/TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời gian ra Quyết định xử phạt đúng không?

13 Theo tôi được biết Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là ông Trần Ngọc Minh, vậy tại sao người ký Tờ trình số 02 ngày 16/01/2014 lại là Thượng tá Nguyễn Thạc?

14 Theo quy định của pháp luật tại Khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì thời hạn gia hạn xử phạt là không quá 60 ngày Nhưng mãi đến ngày 10/03/2014 mới ra quyết định xử phạt là đúng hay sai?

15 Ông cho rằng nếu được cấp trên (là Giám đốc sở) phê duyệt việc xin gia hạn thời hạn ra Quyết định xử phạt thì có quyền ra Quyết định khi đã quá thời hạn theo quy định của pháp luật đúng không?

16 Ông căn cứ vào quy định tại văn bản pháp luật nào để khẳng định điều đó? (Dự phòng)

IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN: BÀ NGUYỄN THỊ TUYẾT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa Vị đại diện Viện kiểm sát và các luật sư đồng nghiệp!

Tôi Luật sư Phan Nguyễn Hoa Thiên thuộc Văn phòng luật sư K & cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ Hôm nay Tôi tham gia phiên tòa với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết, trong

vụ Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với phía Người bị kiện là Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L, địa chỉ tại số 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L

Kính thưa HĐXX!

Trang 6

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và phần thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay với tư cách

là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện tôi xin trình bày luận

cứ bảo vệ cho thân chủ Tôi như sau:

Thứ nhất, về căn cứ pháp lý Trong Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt

động văn hóa, thể thao và du lịch số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 đã kết luận hành

vi của bà Tuyết vi phạm Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa – thông tin Nhưng căn cứ vào khoản 1 Điều 84 của Nghị định này thì đến ngày 01/01/2014 Nghị định 158 mới

có hiệu lực thi hành, việc Chánh thanh tra Sở áp dụng một văn bản pháp luật chưa có hiệu lực thi hành để lập Biên bản xử phạt hành vi của một người là không đúng pháp luật

Trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014

do Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành lại áp dụng khoản 1 Điều 25 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ để xử phạt

bà Tuyết 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) với lý do “Đã có hành vi vi phạm hành chính: thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là không

đúng Tại thời điểm lập Biên bản vi phạm, đoàn kiểm tra không chứng minh được cơ

sở kinh doanh của bà Tuyết xảy ra hoạt động mua bán dâm

Thứ hai, thời gian lập Biên bản lúc 21 giờ ngày 23/12/2013 là không đúng, theo

quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau

Trong Biên bản vi phạm lại không ghi rõ hành vi của bà Tuyết đã vi phạm điều khoản cụ thể nào của Nghị định số 158 ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa – thông tin, điều này không phù hợp Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 của Thông

tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ công an quy định:

“ e) Cho thuê lưu trú

-

- Người đến lưu trú có trách nhiệm xuất trình một trong các loại giấy tờ sau: Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; các loại giấy tờ có dán ảnh do các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam cấp; giấy xác nhận cử đi công tác của cơ quan, tổ chức; xác nhận của cơ quan đến liên hệ công tác; xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

’’

Vì vậy việc bà Tuyết đã kiểm tra chứng minh nhân dân của những người khách thuê phòng là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật về cho thuê lưu trú Và tại Điều 3 Pháp lệnh số 10 ngày 17/03/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về phòng, chống mại dâm cũng quy định:

“Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Trang 7

2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.

3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.

……… ”

Ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành tại phòng số 11 đã làm bản tường trình sự việc trên, họ khẳng định mình là vợ chồng hợp pháp Ông Phan Văn, bà Nguyễn Thị Thùy tại phòng số 09 cũng có bản tường trình và khẳng định rằng mình là

vợ chồng sắp cưới Tại thời điểm lập biên bản đoàn kiểm tra cũng không chứng minh được họ trao đổi tiền bạc với nhau để thực hiện hành vi mua bán dâm Trong pháp luật hiện hành cũng không có quy định về việc bà Tuyết phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách hàng trước khi cho họ thuê phòng Việc yêu cầu chủ cơ sở kinh doanh phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách hàng là không phù hợp, gây ảnh hưởng, khó khăn cho sự hoạt động của cơ sở kinh doanh của bà Tuyết

Thứ ba, về hiệu lực thi hành Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của

Chính phủ có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 1 Điều 72 là kể từ ngày 28/12/2013 Ngày lập biên bản vi phạm là 23/12/2013, là trước ngày Nghị định 167 có hiệu lực Nhưng khi ban hành Quyết định xử phạt hành vi hành chính của một người lại áp dụng Nghị định 167, một văn bản pháp luật chưa có hiệu lực thi hành là không đúng với quy định của pháp luật

Thứ tư, về thời hạn ra quyết định xử phạt Căn cứ theo khoản 1 Điều 66 Luật xử

lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:

“Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt

vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể

từ ngày lập biên bản;

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”

Có nghĩa là luật chỉ cho phép thời hạn xin gia hạn tối đa là 60 ngày, khi hết thời

hạn trên phải ra Quyết định xử phạt Trong khi đó, Biên bản vi phạm hành chính lập

ngày 23/12/2013 nhưng mãi đến ngày 10/03/2014 Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mới ban hành Quyết định số 23 để xử phạt vi phạm hành chính đối với

bà Tuyết Tính từ ngày lập Biên bản đến ngày ra Quyết định tổng cộng là 77 ngày, đã quá thời hạn ra Quyết định Đồng nghĩa với Quyết định xử phạt số 23 ngày 10/03/2014 không có hiệu lực pháp luật

Trang 8

Thứ năm, về thẩm quyền xử phạt Căn cứ vào Điều 69 Nghị định

167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của Thanh tra, Quản lý thị trường như sau:

“ ; Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II; … Nghị định này theo chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi, lĩnh vực mình quản lý”

Quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị định này là quy định về “Vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình” Mục 2 Chương II thì quy định về “Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội” nên việc áp dụng khoản 1 Điều 25 thuộc Mục 2 Chương II của Nghị định 167/2013/NĐ-CP để ra Quyết định xử phạt bà Tuyết của Chánh thanh tra Sở là không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, việc Thanh tra Sở cho rằng mình đã làm tờ trình số 02/TT-TTr ngày

16/01/2014 xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt hành chính đến ngày 11/03/2014 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt nên Quyết định số 23/QĐ-XP ban hành ngày 10/03/2014 là hoàn toàn đúng với quy định Về vấn đề này, phía Chánh thanh tra Sở không đưa ra được cơ sở pháp lý nào chứng minh cho việc gia hạn của mình là phù hợp với quy định của pháp luật Cho nên, Tờ trình số 02 này mặc dù được phê duyệt nhưng vẫn không có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, người làm Tờ trình số 02 này để là Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhưng người ký không phải là ông Trần Ngọc Minh (Chánh thanh tra Sở) mà là Thượng tá Nguyễn Thạc Giám đốc Sở đã không phát hiện ra sai lầm này mà còn phê duyệt Tờ trình số 02 này, điều đó là trái pháp luật

Từ những gì tôi vừa trình bày phía trên đều cho thấy việc thân chủ tôi bà

Nguyễn Thị Tuyết đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh G.L tuyên xử “Hủy Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L” là đúng với các quy định của pháp luật.

Trên cơ sở các căn cứ trên, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ hồ

sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu của bà khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết

Trên đây là nội dung bản luận cứ của tôi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Tuyết

Xin cảm ơn Hội đồng xét xử và mọi người đã chú ý lắng nghe./

IV NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN ÁN

1 Thẩm phán Chủ toạ phiên toà

- Về trang phục: ………

………

- Phong thái: ………

………

- Nội dung vai diễn: ………

Trang 9

+ Giai đoạn khai mạc phiên toà: ………

+ Giai đoạn hỏi:

+ Giai đoạn tranh luận:

2 Hội thẩm nhân dân 1

- Về trang phục:

………

- Phong thái:

………

- Nội dung vai diễn:

3 Hội thẩm nhân dân 2

- Về trang phục:

……….………

- Phong thái:

……….………

- Nội dung vai diễn:

4 Thư ký phiên toà

- Về trang phục:

Trang 10

- Phong thái:

……….………

- Nội dung vai diễn:

5 Người khởi kiện

- Về trang phục:

……….………

- Phong thái:

……….………

- Nội dung vai diễn:

6 Người Bị kiện

- Về trang phục:

……….…………

- Phong thái:

……….…………

- Nội dung vai diễn:

7 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

- Về trang phục:

……….………

- Phong thái:

Ngày đăng: 11/05/2020, 16:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w