1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bai thu hoach ho so HS 09

14 15 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 157,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hôm nay Tôi tham gia phiên tòa với tư cách là Luật sư bào chữa cho Bị cáo Võ Hoàng Triều, bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tà

Trang 1

PHẦN I BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

(Cố ý gây thương tích & Hủy hoại tài sản)

* LÝ LỊCH BỊ CAN

Bị can: Nguyễn Quốc Việt Tên gọi khác:/

Sinh năm: 1972 Tại: Tỉnh Bình Định

Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh

Trình độ văn hóa: 2/12 Nghề nghiệp: Làm nông

Con ông: Nguyễn Thủy Sinh năm: 1940

Con bà: Nguyễn Thị Bích Sinh năm: 1949

Bị can còn 07 người em

Vợ: Phan Thị Thanh Lâm Sinh năm: 1972

Bị can có 03 người con, người lớn nhất SN: 1995, nhỏ nhất SN: 2003

Tiền án, tiền sự: Không

Bị can bị bắt tạm giam: 30/08/2012, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

 Nguyễn Quốc Việt có vợ và 03 người con đều trú tại tổ 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Bà Đoàn Thị Xuân có 03 người con, đã ly hôn chồng năm 2006 Hiện Đoàn Thị Xuân trú tại làng H’ra, xã Ia Hla, huyện Chư Pưh

 Từ năm 2007, Nguyễn Quốc Việt và Đoàn Thị Xuân sống chung với nhau như

vợ chồng và làm chung 4ha tiêu Xuân đầu tư tiền, Việt trực tiếp chăm sóc, trong thời gian sống với nhau và làm ăn chung không có mâu thuẫn gì Thời gian gần đây giữa chị Xuân với anh Việt xảy ra mâu thuẫn về quan hệ tình cảm, chị Xuân đã nói với anh Việt không sống chung với nhau nữa Từ đó, Nguyễn Quốc Việt có nhiều biểu hiện buồn chán, bực tức

 Ngày 16/04/2012, Việt đem trả cho chị Xuân 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng) tiền mượn Xuân đầu tư hồ tiêu hồi đầu năm và còn nợ lại 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) Đến khoảng 12 giờ ngày 17/04/2012, Việt trả hết số nợ còn lại và cho thêm mẹ con chị Xuân 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) nhưng chị Xuân không nhận Sau đó, chị Xuân bỏ đi chơi đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì về Việt đi bộ đến nhà anh Đỗ Quỳnh ở cùng thôn mua một gói cháo và 13.000 đồng (mười ba ngàn đồng) tiền xăng, khoảng 375ml và đựng vào túi ni lông rồi về treo túi xăng ngoài xe máy dựng trước nhà chị Xuân Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Việt nói “Bây giờ bà muốn gì”, chị Xuân nói “Anh về với vợ con anh

đi, tôi không sống được với anh” Nghe vậy Việt bực tức cầm tô cháo đang ăn hất vào mặt chị Xuân Việt tuyên bố “Mày dồn tao vào đường chết mày phải chết”

 Trong lúc chị Xuân đang nằm trên giường thì Việt dùng xăng tạt vào người chị Xuân rồi dùng quẹt ga bật lửa đốt làm chị Xuân bỏng nặng và lửa cháy nhà Chị Xuân chạy xuống buồng tắm lấy nước dội làm lửa tắt thì Việt uống thuốc diệt cỏ để tự tử Khi thuốc chưa ngấm thì Việt lấy xe mô tô chở chị Xuân đi cấp cứu, Việt chở Xuân đến nhà chị Trần Thị Bích Liên ở thôn Dư Keo, cùng xã Hla, Việt nhờ Liên đưa Xuân

đi cấp cứu Sau đó, Việt điều khiển xe chở Xuân ngồi giữa, Liên ngồi sau chạy được khoảng 500m, Việt bị ngấm thuốc diệt cỏ, nên điều khiển xe chạy loạng choạng Thấy

Trang 2

vậy, Liên nói Việt dừng xe, Việt dừng xe và ngã ra đường ói mửa Chị Liên gọi xe rồi cùng mọi người đưa Việt và Xuân đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu Sau

đó, Xuân và Việt đều được chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh

điều trị Đến ngày 19/9/2012, chị Xuân ra viện Đối với Nguyễn Quốc Việt, ngày

22/04/2012 Bệnh viện Chợ Rẫy trả về vì không có thuốc giải độc thuốc diệt cỏ Gia đình đưa Việt đến điều trị thuốc Đông y ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Lăk

 Ngày 20/05/2012, Nguyễn Quốc Việt đã đến Cơ quan CSĐT công an tỉnh Gia Lai đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình

 Ngày 16/01/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã ra quyết định truy tố

Nguyễn Quốc Việt về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 104 và điểm a, khoản 3, Điều 143 Bộ luật Hình sự.

II DANH MỤC CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:

1 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

2 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

3 Công văn của Tòa án nhân dân tối cao số 148/2002/KHXX ngày 30/09/2002 về việc hướng dẫn áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự 1999

4 Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn

áp dụng chương XIV "Các tội phạm xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999 do Bộ Công An; Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

5 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn một số qui định của Bộ luật hình sự (sửa đổi 2010)

III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA:

Hỏi Người làm chứng bà Trần Thị Bích Liên:

1 Xin bà cho biết bà có quen biết với bị cáo Việt và bị hại Xuân hay không?

2 Tối ngày 17/04/2012, bị cáo Việt có chở Xuân đến nhà bà nhờ bà đưa Xuân đi cấp cứu phải không?

3 Lúc đó, tình trạng của bị cáo và bị hại như thế nào?

4 Bà cam kết như thế nào về lời khai tại tòa ngày hôm nay?

Hỏi Người bị hại bà Đoàn Thị Xuân:

1 Xin bị hại cho biết, mối quan hệ giữa bị hại và bị cáo như thế nào?

2 Trong quá trình chung sống bà và bị cáo có mâu thuẫn gì hay không? Mâu thuẫn xảy ra xuất phát từ những lý do gì?

3 Giữa bị cáo và bà có tranh chấp gì về tài sản hay không?

4 Tại sao bà thường hay chửi mắng bị cáo và ba mẹ của bị cáo?

5 Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 17/04/2012, bà có chửi bị cáo hay không? Tại sao? (Hỏi nếu trả lời có)

Trang 3

6 Căn nhà bị cháy là do xăng và lửa lan ra từ người bà đúng không?

7 Khị bị cháy, bà kêu cứu thì bị cáo đã làm gì?

8 Số tài sản bị cháy trong gia đình bà, bà đã sử dụng được bao lâu?

Sử dụng từ thời điểm nào?

9 Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại bà có hóa đơn, chứng từ gì không?

Hỏi Bị cáo Nguyễn Quốc Việt:

1 Bị cáo chung sống với chị Xuân kể từ thời điểm nào?

2 Trong quá trình chung sống bị cáo với bà Xuân có thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã hay không? Lý do là gì?

3 Bị cáo thường dùng phương tiện gì để vào rẫy? Mục đích bị cáo mua xăng là

để làm gì?

4 Thời điểm bà Xuân dùng lời lẽ chửi bới bị cáo và ba mẹ bị cáo là trước hay sau khi bị cáo mua xăng?

5 Sau khi mua xăng về bị cáo để xăng ở đâu? Tại sao lại để xăng ở đó?

6 Tại sao bị cáo lại dùng xăng đốt bà Xuân? Bị cáo có ý định đốt nhà hay các tài sản khác trong nhà bà Xuân hay không?

7 Khi bà Xuân kêu cứu bị cáo đã làm gì? Bị cáo chở bà Xuân đi cấp cứu phải không? Tại sao bị cáo lại hành động như vậy?

8 Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bà Xuân hay chưa? Bồi thường bao nhiêu?

9 Bị cáo biết được kết quả định giá tài sản từ đâu? Vào thời điểm nào?

10 Vì sao bị cáo lại yêu cầu định giá lại tài sản? Phía Cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết yêu cầu của bị cáo chưa?

11 Tại phiên tòa hôm nay bị cáo có ý kiến gì về việc định giá tài sản và yêu cầu bồi thường của bị hại hay không?

12 Bị cáo cho biết, bị cáo học đến lớp mấy? Vì sao lại nghỉ học?

13 Gia đình bị cáo có bao nhiêu người? Ai là lao động chính trong gia đình?

14 Đây là lần thứ mấy bị cáo phạm tội?

15 Bị cáo nhận thức như thế nào về hành vi mà mình đã gây ra?

IV LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO: VÕ HOÀNG TRIỀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-d♦d -Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa!

Thưa các luật sư đồng nghiệp!

Trang 4

Tôi Luật sư Phan Nguyễn Hoa Thiên thuộc Văn phòng luật sư K & cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ Hôm nay Tôi tham gia phiên tòa với tư cách là Luật

sư bào chữa cho Bị cáo Võ Hoàng Triều, bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy

tố về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 3 Điều

104 và điểm a, khoản 3, Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Lời đầu tiên cho phép tôi được thay mặt thân chủ của mình là bị cáo Nguyễn Quốc Việt gửi lời xin lỗi chân thành nhất tới người bị hại Tôi cũng hiểu và thông cảm cho những hậu quả mà phía bị hại phải gánh chịu, đây là hậu quả mà bản thân tôi cũng như tất cả mọi người đều không mong muốn xảy ra Vì vậy, tại phiên tòa ngày hôm nay, bản thân tôi một lần nữa xin phép được đại diện cho thân chủ của mình để gửi tới người bị hại lời xin lỗi, mong rằng phía bị hại sẽ thông cảm cho những gì mà thân chủ tôi đã gây ra

Trước khi phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Tôi xin được tóm tắt lại vụ việc như sau:

Từ năm 2007, Nguyễn Quốc Việt và Đoàn Thị Xuân sống chung với nhau như

vợ chồng và làm chung 4ha tiêu Xuân đầu tư tiền, Việt trực tiếp chăm sóc, trong thời gian sống với nhau và làm ăn chung không có mâu thuẫn gì Thời gian gần đây giữa chị Xuân với anh Việt xảy ra mâu thuẫn về quan hệ tình cảm

Ngày 16/04/2012, Việt đem trả cho chị Xuân 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng), đến khoảng 12 giờ ngày 17/04/2012, Việt trả hết số nợ còn lại và cho thêm mẹ con chị Xuân 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) nhưng chị Xuân không nhận Việt đi bộ đến nhà anh Đỗ Quỳnh ở cùng thôn mua một gói cháo và 13.000 đồng (mười ba ngàn đồng) tiền xăng, khoảng 375ml và đựng vào túi ni lông rồi về treo túi xăng ngoài xe máy dựng trước nhà chị Xuân Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Việt cãi nhau với chị Xuân Trong lúc chị Xuân đang nằm trên giường thì Việt dùng xăng tạt vào người chị Xuân rồi dùng quẹt ga bật lửa đốt làm chị Xuân bỏng nặng và lửa cháy nhà Chị Xuân chạy xuống buồng tắm lấy nước dội làm lửa tắt thì Việt uống thuốc diệt cỏ để tự tử Khi thuốc chưa ngấm thì Việt lấy xe mô tô chở chị Xuân đi cấp cứu, Việt chở Xuân đến nhà chị Trần Thị Bích Liên nhờ Liên đưa Xuân đi cấp cứu

Sau đó, Việt bị ngấm thuốc diệt cỏ, nên điều khiển xe chạy loạng choạng Thấy vậy, Liên nói Việt dừng xe, Việt dừng xe và ngã ra đường ói mửa Chị Liên gọi xe rồi cùng mọi người đưa Việt và Xuân đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu Đến ngày 19/9/2012, chị Xuân ra viện Đối với Nguyễn Quốc Việt gia đình đưa Việt đến điều trị thuốc Đông y ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Lăk

Ngày 20/05/2012, Nguyễn Quốc Việt đã đến Cơ quan CSĐT công an tỉnh Gia Lai đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình

Ngày 16/01/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã ra quyết định truy tố

Nguyễn Quốc Việt về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 104 và điểm a, khoản 3, Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Kính thưa Hội đồng xét xử!

* Đối với tội “Cố ý gây thương tích” tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã thừa

nhận hành vi phạm tội của mình, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 83% theo kết quả trong Giấy chứng nhận giám định pháp y (Bút lục số 29) Do đó, Viện kiểm sát nhân

Trang 5

dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ Tuy nhiên, khi lượng hình phạt kính mong Hội đồng xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Bởi lẽ:

Thứ nhất, sau khi bị cáo dùng xăng đốt bị hại thì bị cáo đã uống thuốc trừ sâu

để tự kết liễu đời mình, tuy nhiên khi đang uống thuốc trừ sâu thì bị cáo nghe bị hại kêu cứu, bị cáo đã chạy xuống giúp bị hại dập lửa và chở bị hại đi cấp cứu Điều này chứng tỏ bị cáo vẫn còn lòng thương người và đã cố gắng ngăn chặn, khắc phục hậu quả mà mình đã gây ra Hành vi này của bị cáo có đủ căn cứ để được hưởng tình tiết

giảm nhẹ “Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm” theo

quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự

Thứ hai, sau khi sự việc xảy ra, vợ bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường cho bị

hại số tiền là 200.000.000 đồng, điều này được ghi nhận tại các Giấy nhận tiền các ngày 20/05/2012, 27/06/2012, 16/08/2012 (Bút lục số 103) và Giấy nhận tiền ngày 09/05/2012 (Bút lục số 104) Việc bồi thường này là hoàn toàn tự nguyện, với mong muốn khắc phục một phần hậu quả mà bị cáo đã gây ra Việc làm này xứng đáng được

hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, vào ngày 17/04/2012 trong quá trình xảy ra mâu thuẫn, mặc dù bị cáo

đã nhắc nhở nhưng phía bị hại vẫn nhiều lần chửi bới cha mẹ của bị cáo, có thể thấy, chính những lời lẽ miệt thị của bị hại đối với cha mẹ bị cáo đã làm bị cáo bị kích động mạnh về mặt tinh thần, trong lúc không kiềm chế được cảm xúc nên mới xảy ra hành

vi phạm tội Như vậy, việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội suy cho cùng cũng một phần xuất phát từ lỗi của phía bị hại nên cần xem xét và cho bị cáo được hưởng tình

tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” theo quy định tại điểm đ, khoản 1

Điều 46 Bộ luật Hình sự

Thứ tư, sau khi bị bắt giữ bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi mà

mình đã thực hiện cũng như mong muốn có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của mình Việc này góp phần tích cực cho Cơ quan cảnh sát điều tra giải quyết nhanh chóng vụ án

Việc làm trên của bị cáo có đủ căn cứ để được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi” theo quy định tại điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ

luật Hình sự

Thứ năm, sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình ngày 20/05/2012,

bị cáo đã đến Cơ quan CSĐT công an tỉnh Gia Lai đầu thú Điều này được thể hiện rất

rõ tại Biên bản tiếp nhận người có hành vi phạm tội ra đầu thú ngày 10/05/2012 (Bút lục số 03, 04)

Tại Mục 7 Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/06/2002 về giải đáp các vấn

đề nghiệp vụ quy định trong trường hợp người phạm tội tự thú thì áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Nếu người phạm tội đầu thú thì áp dụng khoản 2 Điều 46 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, nếu trường hợp người phạm tội đầu thú nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 46 bộ luật Hình sự (Người phạm tội tự thú)

Trang 6

Như vậy, mặc dù bị cáo chỉ đầu thú nhưng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi trong quá trình điều tra giải quyết vụ án nên đây thuộc trường hợp chuyển hóa theo hướng dẫn tại mục 7 Công văn 81/2002/TANDTC nên có đủ căn cứ để cho bị cáo

được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm o

khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự

Thứ sáu, bị cáo chỉ mới học đến lớp 2 rồi nghỉ học đi làm nông thì nhận thức và

hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế Bị cáo có ba người con còn đang đi học, bản thân là lao động chính trong gia đình, toàn bộ kinh tế cũng như chi phí sinh hoạt hằng ngày của gia đình phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu nhập của bị cáo Bị cáo từ trước đến nay vẫn luôn chấp hành tốt pháp luật tại địa phương, chưa có bất kỳ tiền án hay tiền sự nào Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết này và cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự

* Đối với tội “Hủy hoại tài sản” tôi không đồng ý với quan điểm của Viện

kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai bởi lẽ:

Thứ nhất, đối với tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự

thì mục đích của người phạm tội là mong muốn hủy hoại tài sản của người khác, mục đích này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trong lúc bị cáo bị kích động tinh thần nên đã dùng xăng đốt bị hại và đã gây ra hỏa hoạn chứ bị cáo hoàn toàn không nhằm mục đích hướng tới việc hủy hoại tài sản của phía bị hại

Thứ hai, lỗi cấu thành tội này là lỗi cố ý, tức là mong muốn và có mục đích hủy

hoại tài sản của người khác, còn bị cáo không cố ý thực hiện hành vi hủy hoại tài sản bởi lẽ khi thực hiện hành vi dùng xăng đốt bị hại thì bị cáo không ý thức được với hành vi đó của mình lại gây ra những thiệt hại về tài sản Như vậy có thể thấy thiệt hại xảy ra là hoàn toàn nằm ngoài ý chí chủ quan của bị cáo và thực chất thì bị cáo không mong muốn thiệt hại đó xảy ra

Thứ ba, xét về động cơ thì trước khi thực hiện hành vi phạm tội, mối quan hệ

giữa thân chủ tôi và phía bị hại vẫn bình thường mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào nên thân chủ tôi hoàn toàn không có động cơ vì tư thù hay bất kỳ lý do nào khác trong việc hủy hoại tài sản của bị hại

Như vậy, hành vi của bị cáo không thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự thì tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem

xét giảm mức bồi thường cho bị cáo dựa trên những cơ sở sau:

Thứ nhất, tại Biên bản định giá tài sản ngày 02/05/2012 của Hội đồng định giá

tài sản UBND huyện Chư Pưh trong tố tụng hình sự đã xác định tổng thiệt hại về tài sản do hành vi của bị cáo gây ra là 200.999.000 đồng (Bút lục số 33, 34) Căn cứ theo quy định hiện hành của pháp luật thì kết quả định giá như trên là không đúng với giá trị thực tế của tài sản bỡi lẽ khi định giá thì Hội đồng định giá không khấu hao tài sản trong quá trình sử dụng Hơn nữa, giá trị tài sản định giá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực tế trên thị trường Về vấn đề này thì thân chủ tôi là bị cáo Nguyễn Quốc Việt sau khi biết được kết quả định giá đã có Đơn xin định giá lại tài sản gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai (Bút lục số 35,36) nhưng không được Tòa án xem xét

Vì vậy, tại phiên tòa ngày hôm nay tôi đề nghị Hội đồng xét xử nên cân nhắc lại giá trị

Trang 7

định giá tài sản cho phù hợp với giá trị thực tế bị thiệt hại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ tôi

Thứ hai, liên quan đến vấn đề bồi thường chi phí điều trị thương tích thì phía bị

hại có yêu cầu thân chủ tôi bồi thường tổng cộng 133.530.100 đồng (Bút lục số 116)

Trong đó có 43.830.100 đồng (phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy), 43.200.000 đồng (tiền vật lý trị liệu), 10.900.000 đồng (tiền thay băng vết thương), 21.800.000 đồng (tiền vệ sinh tắm rửa hàng ngày) và 13.800.000 đồng (Tiền thuê xe cấp cứu) Thân chủ

tôi không đồng ý với khoản tiền bồi thường này vì giá trị đối với khoản tiền trên là không thực tế trong quá trình điều trị thương tích, hơn nữa cũng không có bất kỳ một hóa đơn hay chứng từ nào để chứng minh cho các khoản tiền (vật lý trị liệu, thay băng vết thương, vệ sinh tắm rửa hằng ngày) nêu trên là xác thực Do đó, thân chủ tôi chỉ

đồng ý bồi thường cho phía bị hại 43.830.100 đồng chi phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thuốc than và 13.800.000 đồng tiền thuê xe chở đi cấp cứu từ Gia Lai đến Bệnh

viện Chợ Rẫy

Như vậy từ những phân tích trên, với tư cách là Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Việt tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm p, điểm o khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 47, khoản 3 Điều 104, điểm a khoản 3 Điều 143 Bộ luật Hình sự để xem xét tuyên xử thân chủ tôi không phạm tội “Hủy hoại tài sản” đồng thời xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ tôi về tội “Cố ý gây thương tích” cũng như xem xét giảm mức bồi thường dân sự cho thân chủ tôi theo đúng quy định hiện hành của pháp luật

Trên đây là toàn bộ quan điểm của tôi để bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Việt, kính mong Hội đồng xét xử xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình lượng hình Tôi tin tưởng Hội đồng xét xử sẽ ra một bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Cuối cùng, Tôi xin thay mặt thân chủ, thay mặt gia đình thân chủ và nhân danh

cá nhân Tôi, xin cảm ơn Hội đồng xét xử và mọi người đã chú ý lắng nghe

Trân trọng

Trang 8

PHẦN II NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN ÁN

1 Thẩm phán Chủ toạ phiên toà

Do ……… phụ trách

2 Hội thẩm nhân dân 1 Do ……… phụ trách

3 Hội thẩm nhân dân 2 Do ……… phụ trách

Trang 9

4 Thư ký phiên toà Do ……… phụ trách

5 Đại diện Viện kiểm sát Do ……… phụ trách

6 Bị cáo Nguyễn Quốc Việt Do ……… phụ trách

Trang 10

7 Bị hại Đoàn Thị Xuân Do ……… phụ trách

8 Người làm chứng Trần Thị Bích Liên Do ……… phụ trách

9 Luật sư bào chữa cho Bị cáo Nguyễn Quốc Việt Do ……… phụ trách

Ngày đăng: 11/05/2020, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w