1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bai thu hoach ho so HC 10

16 13 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Vào ngày 01/12/2002, ông Phong cùng vợ là bà Nguyễn Thị Nghiệm đến UBND huyện Gia Lộc xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất nêu trên...  Ngày 15/01/2016, bà Nguyễn Thị Thao đi

Trang 1

PHẦN I BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Người khởi kiện :

Bà: Nguyễn Thị Ngợi Sinh năm: 1935

CMND số: 140 553 403 Cấp tại: Công an Hải Dương

Địa chỉ: Thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Người bị kiện:

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

Địa chỉ: Đường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông: Nguyễn Hữu Phong Sinh năm: 1966

Bà: Nguyễn Thị Nghiệm Sinh năm: 1971

Cùng địa chỉ: Thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN:

 Ông Nguyễn Hữu Đặt, sinh ngày 10/10/1935 tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, chết ngày 22/02/2001 lập khai tử tại UBND xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương ngày 26/02/2001, số 05/2001, quyển 01/2001 Có vợ là bà Nguyễn Thị Ngợi, sinh ngày 20/10/1935 Ông Nguyễn Hữu Đặt chết không để lại di chúc Lúc sinh thời ông Đặt và bà Ngợi có tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ) tại thửa đất số 195 và 192, số tờ 07, tại Xứ Đồng, Thanh Liễu với tổng diện tích là 935m2, trong đó gồm 785m2 đất thổ cư (T) và 150m2 đất ao (A)

 Phần QSDĐ 935m2 trên cấp cho ông Nguyễn Hữu Đặt được ghi vào sổ Đăng ký ruộng đất xã và Bản đồ địa chính tại trang sổ số 39, số thứ tự 195 tờ bản đồ 07, lập theo Chỉ thị 299 ngày 18/12/1980 của Thủ tướng Chính phủ nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Theo Bản đồ địa chính xã năm 1992, đổi thành thửa 329 và

327 tờ bản đồ số 03 Đến năm 2004, đổi theo Bản đồ địa chính xã thành thửa 334 tờ bản đồ số 03 Ông Đặt và bà Ngợi có tất cả là 05 (năm) người con là:

01 Nguyễn Thị Đón Sinh năm: 1963

02 Nguyễn Hữu Phong Sinh năm: 1966

03 Nguyễn Thị Phú Sinh năm: 1968

04 Nguyễn Thị Thao Sinh năm: 1973

05 Nguyễn Thị Thảo Sinh năm: 1976

Tất cả cùng thường trú tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

 Vào ngày 01/12/2002, ông Phong cùng vợ là bà Nguyễn Thị Nghiệm đến UBND huyện Gia Lộc xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất nêu trên Tổng diện tích đất đăng ký là 1181m2, gồm 700m2 đất ở và 481m2 đất trồng cây Khi

đó trên đất có 03 căn nhà, gồm căn nhà của ông Phong và bà Nghiệm (60m2), căn nhà

Trang 2

của bà Ngợi (32m2), căn nhà của bà Thao (72m2) Đến năm 2007, ông Phong và bà Nghiệm được UBND huyện Gia Lộc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 734508 vào ngày 30/12/2007 đối với toàn bộ phần đất nêu trên

 Ngày 15/01/2016, bà Nguyễn Thị Thao đi lao động từ nước ngoài về có đề nghị

bà Ngợi (mẹ ruột) cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho các con theo diện tích đã xây nhà

từ trước trên đất của bà Ngợi, để chăm sóc bà Ngợi lúc tuổi già sức yếu Nhưng khi bà Ngợi thông báo cho các con thì mới biết con trai lớn là ông Phong và vợ là bà Nghiệm

đã tự ý đi đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ

 Bà Ngợi cho rằng bà chưa tuyên bố cho QSDĐ trên cho bất kỳ người con nào, việc ông Phong và bà Nghiệm tự ý đi đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ là hoàn toàn trái ý chí của bà Cho nên, bà Ngợi đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố

Hải Dương yêu cầu “Hủy Bìa đỏ số AK 734508, tờ bản đồ số 03, do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 30/12/2007 cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm”

 Ngày 31/05/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương đã thụ lý vụ án Ngày 23/08/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương đã mở Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Do còn thiếu những tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ

án nên Viện kiểm sát nhân dân TP.Hải Dương đã gửi Công văn số 99/YCXM vào ngày 05/09/2016 cho TAND thành phố Hải Dương để tiến hành xác minh làm rõ vụ án theo quy định của pháp luật

Trình tự thủ tục chính trong vụ kiện:

 Ngày 07/03/2016, Uỷ ban nhân dân xã Tân Hưng, TP.Hải Dương tiến hành

hòa giải “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa bà Nguyễn Thị Thao và ông Nguyễn Hữu

Phong

 Ngày 23/05/2016, bà Nguyễn Thị Ngợi khởi kiện Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương

 Sau khi bà Ngợi đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương đã

ra Thông báo thụ lý vụ án số 01/2016/TLST-HC ngày 31/05/2016

 Ngày 09/06/2016, bà Nguyễn Thị Thao, ông Nguyễn Hữu Phong, bà Nguyễn

Thị Nghiệm có Bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân TP.Hải Dương Đồng thời, Tòa án

nhân dân TP.Hải Dương tiến hành lập Biên bản lấy lời khai của bà Thao, ông Phong và

bà Nghiệm

 Ngày 22/06/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương gửi CV số

121/2016/CV-TA cho NBK yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu để giải quyết vụ án

 Ngày 29/06/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương gửi CV số

166/2016/CV-TA cho Phòng TN và MT huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu để giải quyết vụ án

 Ngày 06/07/2016, Phòng TN và MT huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương gửi CV

số 16/CV-TNMT cho Tòa án nhân dân TP.Hải Dương để trả lời CV số 166 năm 2016 Đồng thời, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương tiến hành lập Biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Ngợi

Trang 3

 Ngày 02/08/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương gửi giấy triệu tập cho bà Nguyễn Thị Thao

 Ngày 22/08/2016, UBND TP.Hải Dương gửi văn bản cho Tòa án nhân dân TP.Hải Dương để trình bày quan điểm của mình trong việc cung cấp, tiếp cận, kiểm tra chứng cứ và đối thoại vụ án Hành chính

 Ngày 23/08/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương mở Phiên họp kiểm tra việc việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Đồng thời, lập Biên bản đối thoại giữa các đương sự tham gia vụ kiện

 Ngày 05/09/2016, Viện kiểm sát nhân dân TP.Hải Dương gửi CV số 99/YCXM cho Toàn án nhân dân TP.Hải Dương yêu cầu Tòa án tiến hành xác minh làm rõ để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật

 Ngày 22/09/2016, Tòa án nhân dân TP.Hải Dương đã lập Biên bản xác minh

vụ việc nêu trên

II DANH MỤC CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:

1 Luật Đất đai năm 2003

2 Bộ luật Dân sự năm 2005

3 Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA:

Hỏi Người bị kiện: (Đại diện theo ủy quyền ông Trần Hồ Đăng)

1 Xin ông cho biết trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm?

2 Ông cho biết cơ sở pháp lý nào để UBND huyện Gia Lộc cấp giấy chứng nhận cho ông Phong và bà Nghiệm?

3 Trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ có giấy tờ, văn bản nào thể hiện việc chuyển QSDĐ từ ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Nguyễn Thị Ngợi sang cho ông Phong và bà Nghiệm hay không?

4 Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ chưa đầy đủ theo thủ tục quy định mà tại sao phía Ủy ban vẫn cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Phong, bà Nghiệm?

5 Khi lập và công bố công khai danh sách các trường hợp được Cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại trụ sở UBND xã phía gia đình ông Phong có ai phản đối hay có ý kiến

gì không?

6 Xin ông cho biết thuế sử dụng đất hàng năm là do ai nộp? Ai là người trực tiếp canh tác và sử dụng phần đất trên?

7 Việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ có tiến hành đo vẽ hiện trạng thửa đất không? Có xác định vị trí đất không?

8 Trong Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Phong, bà Nghiệm là loại đất gì?

Trang 4

9 Phòng TN và MT huyện Gia Lộc đã bàn giao toàn bộ hồ sơ địa chính của xã Tân Hưng cho phòng TN và MT thành phố Hải Dương vào năm 2008 có đúng không?

Có văn bản nào thể hiện việc giao nhận toàn bộ hồ sơ đó không?

10 Ông Trần Hồ Đăng – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương trình bày quan điểm về vụ án này trong văn bản ngày 22/8/2016 đã khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai vì chưa đầy đủ thủ tục theo quy định có đúng không?

11 Vậy tại sao phía UBND thành phố Hải Dương không thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phong, bà Nghiệm?

12 Ông có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của phía bà Nguyễn Thị Ngợi?

Hỏi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn

Hữu Phong)

1 Xin ông cho biết mối quan hệ của ông và bà Nguyễn Thị Ngợi là gì?

2 Xin ông trình bày rõ về nguồn gốc đất mà ông được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ tại xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương?

3 Ai là người thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất (nghĩa vụ đóng thuế nhà đất) của phần đất nêu trên đối với cơ quan nhà nước?

4 Ông có phải là ngưởi quản lý và sử dụng trực tiếp phần đất đang tranh chấp hay không?

5 Vào năm nào thì ông bắt đầu quản lý và sử dụng phần đất đó cho đến nay?

6 Ngoài ông ra còn ai tham gia quản lý và sử dụng phần đất đó không?

7 Xin ông trình bày các bước mà ông tiến hành để được cấp giấy chứng nhận?

8 Ông có văn bản nào thể hiện việc chuyển QSDĐ từ ông Nguyễn Hữu Đặt và

bà Nguyễn Thị Ngợi sang cho ông hay không?

9 Khi ông làm thủ tục đăng ký Giấy chứng nhận QSDĐ có thông báo cho các thành viên trong gia đình (các đồng thừa kế) không? Họ có đồng ý không?

10 Phần đất ông Đặt để lại không có di chúc là cho ai Vậy tại sao ông tự ý đi đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng ông mà không thông báo hay hỏi ý kiến của các thành viên trong gia đình? (trường hợp trả lời là “không”)

11 Trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 01/12/2002 có đứng tên của ông mà tại sao chỉ có một mình vợ ông là bà Nghiệm ký tên?

12 Ông có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngợi?

Hỏi Người khởi kiện (Đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Nhàn)

1 Xin bà cho biết nguồn gốc đất ông Phong và bà Nghiệm được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ là từ đâu?

2 Bà có giấy tờ gì để chứng minh nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Hữu Đặt và

bà Nguyễn Thị Ngợi không?

Trang 5

3 Bà có hay biết gì về việc ông Phong và bà Nghiệm được cấp giấy chứng nhận QSDĐ không?

4 Bà có ký bất kỳ giấy tờ nào để ông Phong và bà Nghiệm tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận không?

5 Khi UBND xã đi đo đạc đất để làm thủ tục, giấy tờ bà có biết không? Lúc đó

bà có ý kiến phản đối gì về việc đo đạc đất không?

6 Ông Phong có thông báo cho các thành viên trong gia đình biết về việc ông làm đơn xin cấy Giấy chứng nhận QSDĐ không?

7 Từ trước đến nay bà có bao giờ đồng ý cho ông Phong phần đất trên để ông Phong đi đăng ký Giấy chứng nhận QSDĐ không?

8 Việc ông Phong xây nhà trên phần đất trên là vào năm nào? Bà có đồng ý việc

đó không?

9 Ngoài yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm thì

bà còn yêu cầu nào khác không?

IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN: BÀ NGUYỄN THỊ NGỢI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-d♦d -Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và các luật sư đồng nghiệp! Tôi Luật sư Phan Nguyễn Hoa Thiên thuộc Văn phòng luật sư K & cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ Hôm nay Tôi tham gia phiên tòa với tư cách là Luật

sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ngợi, trong vụ Khiếu kiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với phía Người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, địa chỉ đường Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Kính thưa HĐXX!

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và phần thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện tôi xin trình bày

ý kiến bảo vệ cho thân chủ Tôi như sau:

Đầu tiên Tôi xin tóm tắt lại nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Hữu Đặt sinh năm 1935, chết ngày 22/02/2001 Có vợ là bà Nguyễn Thị Ngợi, sinh năm 1935 Ông Nguyễn Hữu Đặt chết không để lại di chúc Lúc sinh thời ông Đặt và bà Ngợi có tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ) tại thửa đất số 195 và 192, số tờ 07, tại Xứ Đồng, Thanh Liễu với tổng diện tích là 935m2, trong đó gồm 785m2 đất thổ cư (T) và 150m2 đất ao (A)

Phần QSDĐ 935m2 trên cấp cho ông Nguyễn Hữu Đặt được ghi vào sổ Đăng ký ruộng đất xã và Bản đồ địa chính tại trang sổ số 39, số thứ tự 195 tờ bản đồ 07, lập

Trang 6

theo Chỉ thị 299 ngày 18/12/1980 của Thủ tướng Chính phủ nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Ông Đặt và bà Ngợi có tất cả là 05 (năm) người con là: Nguyễn Thị Đón, Nguyễn Hữu Phong, Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thị Thao, Nguyễn Thị Thảo

Vào ngày 01/12/2002, ông Phong cùng vợ là bà Nguyễn Thị Nghiệm đến UBND huyện Gia Lộc xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất nêu trên Tổng diện tích đất đăng ký là 1181m2, gồm 700m2 đất ở và 481m2 đất trồng cây Đến năm 2007, ông Phong và bà Nghiệm được UBND huyện Gia Lộc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 734508 vào ngày 30/12/2007 đối với toàn bộ phần đất nêu trên

Ngày 15/01/2016, bà Nguyễn Thị Thao đi lao động từ nước ngoài về có đề nghị

bà Ngợi (mẹ ruột) cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho các con theo diện tích đã xây nhà

từ trước trên đất của bà Ngợi, để chăm sóc bà Ngợi lúc tuổi già sức yếu Nhưng khi bà Ngợi thông báo cho các con thì mới biết con trai lớn là ông Phong và vợ là bà Nghiệm

đã tự ý đi đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ

Bà Ngợi cho rằng bà chưa tuyên bố cho QSDĐ trên cho bất kỳ người con nào, việc ông Phong và bà Nghiệm tự ý đi đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ là hoàn toàn trái ý chí của bà Cho nên, bà Ngợi đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố

Hải Dương yêu cầu “Hủy Bìa đỏ số AK 734508, tờ bản đồ số 03, do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 30/12/2007 cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm”.

Yêu cầu trên của thân chủ Tôi là hoàn toàn có sơ sở bởi các lẽ sau đây:

Thứ nhất, về nguồn gốc đất Theo hồ sơ địa chính của xã Tân Hưng, tại sổ Đăng

ký ruộng đất xã và Bản đồ địa chính tại trang sổ số 39, số thứ tự 195 tờ bản đồ 07, lập theo Chỉ thị 299 ngày 18/12/1980 của Thủ tướng Chính phủ thì phần QSDĐ 935m2 gồm 785m2 đất thổ cư (T) và 150m2 đất ao (A) cấp cho ông Nguyễn Hữu Đặt nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Theo Bản đồ địa chính xã năm 1992, đổi thành thửa 329 và 327 tờ bản đồ số 03 Đến năm 2004, đổi theo Bản đồ địa chính xã thành thửa 334 tờ bản đồ số 03 Việc này đã được thể hiện rõ trong biên bản lấy lời khai của bà Ngợi và các con của bà Ngợi trong đó có ông Phong Trong Biên bản đối thoại ngày 23/08/2016 tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương các bên cũng đã xác định rõ về nguồn gốc đất

Thứ hai, ông Nguyễn Hữu Đặt mất ngày 22/02/2001, khi mất ông không để lại

di chúc hay giấy tờ gì khác Theo Khoản 1, Điều 633 của BLDS năm 2005 quy định:

“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 02 Điều 81 của Bộ luật này”

Tức là lúc ông Đặt chết thì phát sinh quan hệ thừa kế Toàn bộ di sản mà ông Đặt để lại sẽ được phân chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế Tại thời điểm mở thừa kế, toàn bộ hàng thừa kế thứ nhất đều không làm văn bản nào thể hiện việc phân chia di sản, tặng cho hay từ chối quyền hưởng di sản của mình Do các chị em đều đi làm ăn xa nhà nên chưa ai yêu cầu chia di sản thừa kế

Trang 7

Đến năm 2002, ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm tự ý đến UBND xã Tân Hưng là thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với toàn bộ phần đất trên cho mình, trong hồ sơ không có văn bản nào thể hiện việc phân chia di sản thừa kế, cho nên không có căn cứ nào chứng minh việc xin cấp Giấy chứng nhận là hợp pháp

Thứ ba, về điều kiện được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Ủy ban nhân dân xã

Tân Hưng chỉ căn cứ vào Đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm năm 2002 và 2007 đã lập hồ sơ và công bố công khai danh sách các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ tại UBND xã, sau đó gửi hồ sơ lên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lộc kiểm tra hồ sơ và trình UBND huyện Quyết định cấp Giấy chứng nhận QSDĐ

Ngoài những giấy tờ trên, UBND xã Tân Hưng không có giấy tờ nào khác thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất từ bố mẹ sang cho vợ chồng ông Phong và bà Nghiệm Cũng không có văn bản thể hiện sự thỏa thuận phân chia di sản giữa các đồng thừa kế

Vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 50 Luật đất đai 2003 quy định:

“1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm

1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất

Như vậy, ông Phong và bà Nghiệm không đáp ứng được các điều kiện nêu trên,

hồ sơ chưa đầy đủ thủ tục theo quy định do đó không đủ điều kiện để được cấp giấy

Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc thời điểm đó cấp Giấy chứng nhận QSDĐ như vậy là sai, hoàn toàn trái với luật đất đai 2003

Trang 8

Thứ tư, về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Theo quy định tại

Chương 3, Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 thì thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Người sử dụng đất có trách nhiệm nộp hồ sơ kê khai đăng ký quyền

sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất Hồ sơ Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất do người sử dụng đất lập gồm:

a) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực bao gồm một trong những giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 100, Luật đất đai 2013.

c) Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất sử dụng.

Trong khi đó, hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm chỉ có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và Thông báo về việc hộ gia đình

tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mà không

có thêm tài liệu nào khác

+ Bước 2: Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra và xác nhận vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất những vấn đề như: Hiện trạng sử dụng đất: Tên người sử dụng đất, vị trí, diện tích, loại đất và ranh giới sử dụng đất; Nguồn gốc sử dụng đất; Tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai; Quy hoạch sử dụng đất;

Ông Phong không cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ trong hồ sơ nhưng Uỷ ban nhân dân xã Tân Hưng vẫn thực hiện việc xét hồ sơ, không yêu cầu ông Phong bổ sung các giấy tờ còn thiếu theo quy định pháp luật

+ Bước 3: Kết thúc việc xét đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân cấp xã công bố công khai kết quả xét đơn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và các thôn, ấp, bản, tổ dân phố để mọi người dân được tham gia ý kiến; thời gian công khai là 15 ngày.

Tại Biên bản xác minh ngày 29/06/2018, ông Đỗ Đình Huân (cán bộ địa chính xã) có khai rằng “Sau khi tổng hợp danh sách công khai để cấp Giấy chứng nhận, gia đình bà Ngợi không có ý kiến gì” Ngoài ra, bà Ngợi khẳng định rằng bà không hề biết ông Phong, bà Nghiệm sang tên trong Giấy chứng nhận QSDĐ từ bao giờ Chỉ đến khi

bà Thao - con gái bà Ngợi đi lao động từ nước ngoài về, bà Ngợi định làm giấy tờ cho

bà Thao thì mới biết thửa đất số 334 này do ông Phong, bà Nghiệm đứng tên

Như vậy, từ những vị phạm trình tự thủ tục trên, có thể thấy rằng UBND xã Tân Hưng không niêm yết công khai kết quả xét đơn cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình ông Phong tại trụ sở UBND xã Tân Hưng

Thứ năm, việc ông Phong và bà Nghiêm tự ý làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ là trái quy định pháp luật Bản thân ông Phong biết phần đất mình đi

đăng ký cấp Giấy chứng nhận QSDĐ là di sản thừa kế nhưng khi đi đăng ký ông Phong đã không thông báo cho các đồng thừa kế biết, không hỏi ý kiến của họ mà đã

tự ý làm Việc làm này của ông Phong là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế Ngoài việc ông Phong nói rằng mẹ ông là bà Ngợi nói cho ông đứng

Trang 9

tên sở hữu toàn bộ diện tích đất mà ông Đặt để lại thì ông Phong không đưa ra được bất kỳ bằng chứng, văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất từ cha mẹ sang cho ông

Trong các bản khai của ông Phong, thì ông trình bày rằng ông là con trai trong gia đình bà Ngợi nên ông có quyền hưởng phần đất do cha mẹ để lại Tuy nhiên đây là hành vi hoàn toàn trái với quy định của pháp luật Trong Bộ luật dân sự cũng như Luật đất đai không hề quy định việc hưởng tài sản của cha mẹ có sự phân biệt giữa con trai

và con gái Theo quy định về thừa kế của Bộ luật dân sự thì tất cả các con đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau Ngoài ra, ông Phong và bà Nghiệm cho rằng mình là người nộp thuế sử dụng đất hàng năm cho Nhà nước thì mình có quyền đứng tên sở hữu toàn bộ phần diện tích đất đó là không có căn cứ hợp lý Bởi vì, vợ chồng ông Phong, bà Nghiệm đang ở trên phần đất đó thì nghĩa vụ đóng thuế là hợp lý Mặc khác,

bà Ngợi đã già yếu, không còn khả năng lao động thì việc đóng thuế đất cho mẹ và chăm sóc mẹ là bổn phận của con cái Việc ông tự mình đi QSDĐ cho cá nhân ông là trái pháp luật nên không được chấp nhận, không liên quan đến việc ông nộp thuế hàng năm

Thứ sáu, tại văn bản ngày 22/8/2016 trình bày quan điểm của Ủy ban nhân dân

thành phố trong việc cung cấp, tiếp cận, kiểm tra chứng cứ và đối thoại vụ án Hành chính, do ông Trần Hồ Đăng, chức vụ Phó chủ tịch UBND thành phố Hải Dương ký,

đã khẳng định hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Phong và bà Nghiệm là chưa đầy đủ theo quy định Đồng thời cũng nêu rằng “Nếu tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ra bản án về việc yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông Phong và bà Nghiệm thì UBND thành phố Hải Dương có thể căn cứ và Điều 106 Luật đất đai năm 2003 và Điều 87 của NĐ43/2014NĐ-CP để thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp”

Từ những gì tôi vừa trình bày phía trên đều cho thấy việc UBND huyện Gia Lộc trước đây đã cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Phong và bà Nghiệm là không có căn cứ và vi phạm trình tự thủ nghiêm trọng

Việc thân chủ tôi bà Nguyễn Thị Ngợi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải

Dương tuyên xử “Hủy Bìa đỏ số AK 734508, tờ bản đồ số 03, do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 30/12/2007 cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm”

là có cơ sở

Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu của bà khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngợi

Xin cảm ơn Hội đồng xét xử và mọi người đã chú ý lắng nghe./

Trang 10

PHẦN II NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN ÁN

1 Thẩm phán Chủ toạ phiên toà

Do ……… phụ trách

- Về trang phục: ………

………

- Phong thái: ………

………

- Nội dung vai diễn:

2 Hội thẩm nhân dân 1 Do ……… phụ trách - Về trang phục:

………

- Phong thái:

………

- Nội dung vai diễn:

Ngày đăng: 11/05/2020, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w