1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN đề NGUOIF MÔNG

26 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÊN ĐỀ TÀITRI THỨC BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CỦA NGƯỜI H’MÔNG TẠI Xà SAN SẢ HỒ HUYỆN SA PA – TỈNH LÀO CAIA. MỞ ĐẦU1.Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu1.1. Mục tiêu nghiên cứu1.1.1. Ý tưởng khoa họcLào Cai có 13 dân tộc với 23 nhóm ngành khác nhau cư trú. Các dân tộc ở Lào Cai hầu hết đều sinh sống tại những nơi vùng núi, vùng đồi . Vì vậy, cần có một nghiên cứu về cuộc sống, sinh hoạt đặc biệt về việc bảo vệ nguồn nước của người dân nói chung và dân tộc H Mông nói riêng tại xã Sản Hồ huyện Sa Pa Tỉnh Lào Cai. 1.1.2. Mục tiêu chungNghiên cứu sưu tầm tư liệu hoàn chỉnh về việc bảo vệ nguồn nước của người dân tộc H Mông nói riêng tại xã Sản Hồ huyện Sa Pa Tỉnh Lào Cai. 1.1.3. Mục tiêu cụ thể Khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện cuộc sống của người dân tộc H Mông trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Trên cơ sở đó cung cấp những hiểu biết về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc. Sưu tầm các tài liệu thứ cấp ở thư viện quốc gia, các viện nghiên cứu viết về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất bản. Xây dựng lược đồ phân bố và các đặc tính dân cư của dân tộc H Mông trong địa bàn tỉnh Lào Cai.1.2. Đối tượng nghiên cứu:Bảo vệ nguồn nước của người dân tộc H Mông tại xã Sản Hồ huyện Sa Pa Tỉnh Lào Cai. 1.3. Phạm vi nghiên cứuĐề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai theo địa giới tương ứng với từng thời kỳ lịch sử cụ thể, có so sánh với các địa phương khác để làm sáng tỏ thêm vấn đề cần nghiên cứu.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuTrước hết, có thể khẳng định rằng :Trong đời sống nước đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với người H’Mông mà đối với tất cả các dân tộc. Nước là một phần không thể nào thiếu được của cuộc sống. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài3.1. Ý nghĩa khoa họcĐề tài góp phần nghiên cứu và bổ sung lý thuyết về nghiên cứu tập tục sinh hoạt của thành phần tộc ngườilàm tài liệu cung cấp cho các trường học xây dựng giáo trình về môn dân tộc học địa phương, lịch sử văn hoá. Qua việc khảo sát, nghiên cứu toàn diện các mặt của đời sống các tộc người sẽ góp phần cụ thể hoá thêm khái niệm “cuộc sống văn hoá của một bộ phận dân tộc người Lào CaiNhững chuyên đề nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về cuoocj sống các dân tộc cư trú ở Lào Cai đã cung cấp thêm tư liệu khoa học cho hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như chuyên ngành nghiên cứu “khu vực học”, “nhân học”, “văn hoá học”,.... Thông qua những nghiên cứu về cuộc sống người dân tộc ở Lào Cai, độc giả sẽ hiểu thêm đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam nền văn hoá “đa dạng trong thống nhất”. 3.2. Ý nghĩa thực tiễnLào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới, nơi có sự cư trú của hơn 20 tộc người. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng. Do đó, việc nghiên cứu về các dân tộc cư trú trên địa bàn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị và giữ vững quốc phòng.Mặt khác, các dân tộc sinh sống ở Lào Cai từ lâu đời và có nhiều truyền thống quý báu. Vì thế, thông qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp khơi dậy những truyền thống đó để đồng bào tiếp tục gìn giữ và phát huy nó trong đời sống hiện đại.Đồng thời, việc nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai cũng góp phần thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những kiến thức hữu ích cho các nhà quản lý trong quá trình hoạch định chính sách để những chính sách đó đáp ứng được yêu cầu bức thiết của nhân dân các dân tộc tỉnh nhà. B. NỘI DUNG:I Quan niện về nguồn nước và cách phân loại nguồn nước1.1.Quan niệm về nguồn nướcTheo tiếng H’Mông nước gọi là “Đề”, cũng như các dân tộc khác nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt của họ. Người H’Mông có tập quán cư trú ở vùng rẻo cao núi đá, điều kiện đi lại khó khăn nên việc vận chuyển nhất là nước rất hạn chế nên vai trò của nguồn nước, đặc biệt là những nguồn nước gần nơi cư trú, nơi sản xuất đối với họ là quan trọng hơn cả. Hơn nữa, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp với loại hình canh tác lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang do đó nước là một yếu tố không thể thiếu. Ngoài ra nước còn là yếu tố không thể thiếu cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt của người và vật nuôi. Cho nên đến với bản làng người H’Mông dễ dàng nhận thấy tiêu chí chọn làng đầu tiên của họ là làng đó phải được cư trú bên sườn núi xung quanh bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết cho cuộc sống như: Dưới chân làng phải có một con suối lớn, trên làng phải có một khu rừng già hay rừng cây tán rộng lâu năm có khả năng giữ đất và giữ nước. Và điều quan trọng là quanh khu vực người dân cư trú và canh tác phải có nhiều mạch nước và khe nước đủ để cung cấp cho sinh hoạt và cho sản xuất quanh năm . Có thể nói nước có đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tộc người tồn tại song song với vai trò của rừng và nước là một trong những yếu tố hình thành lên bản làng của người H’Mông.Nguồn nước: Theo tiếng H’Mông nguồn nước được gọi là “Hấu đề” trong đó từ “Hấu” có nghĩa là nguồn, là gốc. Còn từ “Đề” có nghĩa là nước. Theo quan niệm của người H’Mông nguồn nước chính là nơi nước bắt đầu chảy ra thành dòng hay còn gọi là “Thlế chớ” – Nơi nước bắt đầu chảy ra. Bản Cát Cát của người H’Mông ở xã San Sả Hồ huyện Sa Pa là một bản làng nằm dưới chân dãy núi Phan xi păng – “Hủa xi pan” với hệ thống rừng quốc gia Hoàng Liên cho nên những nguồn nước ở đây hầu hết đều bắt nguồn từ rừng này mà ra “Cù dống”. Cũng có những nguồn nước, con suối chảy từ nơi khác đến nhưng về nguồn gốc tận cùng của những nguồn nước đó cũng là bắt nguồn từ rừng. Do vai trò của nước đối với đời sống người H’Mông là rất quan trọng cho nên việc khai thác, bảo vệ, giữ gìn nguồn nước cũng rất được người dân quan tâm.1.2.Phân loại nguồn nướcQua quá trình khảo sát và điền dã thực tế về nguồn nước và cách thức sử dụng nguồn nước của người dân tại bản Cát Cát chúng tôi tiến hành phân loại nguồn nước theo những tiêu chí sau:Theo nguồn gốc:1. Nước mạch, nước khe “Háng đề” tức là nơi nước chảy ra, đùn lên từ lòng đất nhưng chỉ là những dòng nhỏ, mạch nhỏ; Mỏ nước “Háng thlế”, dịch ra còn có nghĩa là những thung lũng nước hoặc chỗ có nhiều nước: Bản Cát Cát của người H’mông là một bản làng nằm trong thung lũng với bốn bề là núi cao, người dân canh tác nương rẫy và làm ruộng bậc thang ngay chính trên những sườn của thung lũng đó. Trong khi thu thập ý kiến của những người lớn tuổi làm ruộng ở đây được biết: Nếu tính các khe nước và mạch nước nhỏ thì bốn bên của bản, ở tất cả các khu ruộng đều có, áng chừng phải hơn trăm cái bao gồm cả những khe nước chảy từ trên rừng xuống và những khe nước đùn từ dưới đất lên, các khe này thường có nhiều hơn vào mùa mưa, nhiều khe có quanh năm, nhưng các khe nước này đều rất nhỏ, nước trong và mát. Phải rất nhiều khe nước như thế thì mới đủ để dùng cho một khu ruộng bậc thang, việc tìm và phát hiện những khe nước là điều kiện tốt nhất để đảm bảo nguồn nước canh tác cho những thửa ruộng bậc thang. Còn nếu tính riêng những khe nước đủ lớn để chọn làm ruộng bậc thang cũng như để dùng trong sinh hoạt thì cũng có đến vài chục cái. Có những cái vừa sử dụng làm nước sinh hoạt vừa sử dụng làm nước để trồng cấy lúa (nhưng đó phải là những khe nước lớn) bắt ngồn từ những mỏ nước “Háng thlế” như những khe nước lấy từ rừng trúc “Trông xôong” ngay phía trên nhà của hộ gia đình ông Câu, anh trai ông Câu, ông Khoa, anh xông, ông Dể,… ở đội 2 thôn Cát Cát (có tổng cộng 7 hộ dùng nguồn nước khe lấy từ rừng trúc “Trông xôong” này. Nguồn nước này vừa sử dụng cho sinh hoạt và cũng dùng để cung cấp nước cho những thửa ruộng bậc thang ngay phía dưới, trước cửa nhà) .Qua việc quan sát và thu thập thông tin từ những người lớn tuổi trong bản được biết ở trong thôn trước kia và cũng như hiện nay người dân vẫn sử dụng nguồn nước chính lấy từ các khe chảy từ các mỏ nước lớn“Háng thlế”. Có tất cả 3 mỏ nước lớn phân bố đều khắp các phía của làng. Thứ nhất là ở đội 1 từ trên đường xuống tức tính từ khu trụ sở ủy ban nhân dân xã xuống trạm soát vé số 1 xuống khu trạm xá xuôi xuống dưới thì thường dùng nước từ mỏ nước lớn bắt nguồn từ cao nguyên Lồ Sấy Thủng thuộc vào dãy Cang Thàng phía bên trên trụ sở của ủy ban nhân dân xã San Sả Hồ hiện nay. Mỏ nước này là mỏ nước lớn nhất, ngon nhất, ngọt nhất hầu như người dân ở đây đều dẫn nước từ mỏ này về nhà để dùng. Thứ hai là ở đội 2, tính từ khu rừng trúc hất ngược xuống khu ruộng bậc thang thì các hộ gia đình ở đây thường dùng nước từ các khe chảy từ khu rừng trúc “Trông xôong” xuống. Thứ ba là ở đội 3, phía bên kia trường học thì thường dùng nước ở khe bắt nguồn từ mỏ nước lớn ở phía đường đi Lai Châu chảy xuống. Trước kia người dân chỉ sử dụng ba nguồn nước đó nhưng những năm gần đây, các hộ gia đình trong bản cũng đều được sử dụng nguồn nước sạch do nhà nước xây dựng cho dân. Nguồn nước này được dẫn từ khe nước lớn bắt nguồn từ cao nguyên Lồ Sấy Thủng thuộc vào dãy Cang Thàng phía bên trên trụ sở của ủy ban nhân dân xã San Sả Hồ bằng hệ thống mương máng xây và hệ thống ống dẫn nước bằng nhựa, có bể dự trữ nước để dẫn về các hộ gia đình.2. Nước suối: Người H’Mông ở Cát Cát không có tên gọi với danh từ chung là suối mà mỗi con suối lại có một tên gọi riêng biệt. Đặc điểm chung của những con suối ở đây hầu hết đều nhỏ, gập ghềnh nhiều đá lởm chởm giữa dòng. Trên địa bàn thôn Cát Cát có tất cả ba con suối.“Đề vô ki” hay còn gọi là suối Hoa, suối Ba ba. Sở dĩ có những tên gọi này với những lý do như sau: Con suối này được bắt nguồn từ trên Thác bạc đổ xuống và chảy thành dòng xuống địa bàn của thôn. Vì con suối này chảy dưới chân dãy Phan xi păng, vườn quốc gia Hoàng Liên với thảm thực vật phong phú đặc biệt là các loại hoa như hoa lan, hoa đỗ quyên với đủ các màu trắng, đỏ, tím,… nên hai bên bờ suối nhất là vào mùa xuân đều ngập tràn trong sắc hoa, những cánh hoa đó rơi xuống dòng chảy của suối tạo nên một cảnh sắc rất đẹp, người ta tưởng tượng như đó là những con suối có dòng chảy bằng hoa, tên suối hoa bắt nguồn từ đó . Còn tên gọi suối Ba ba là do phía trên dòng suối từ chỗ thác Tiên sa đi ngược lên phía trên trước kia có một hòn đá to có hình dạng rất giống như một con ba ba nên người ta gọi đây là suối ba ba.“Đề chô lú” theo tiếng Kinh còn có những tên gọi khác như suối vàng, suối thủy tiên, suối chim én: Những tên gọi như suối vàng, suối thủy tiên đều là do những người làm du lịch và khách du lịch đặt. Còn tên gọi suối chim én theo lời của ông Má A Chư, 90 tuổi tại thôn Cát Cát kể lại rằng: Trước kia vào mùa xuân không biết từ đâu chim én cứ từng đàn, từng đàn bay về làm tổ bên những vách đá cạnh suối cho nên người dân ở đây còn gọi suối này là suối chim én. Con suối này bắt nguồn từ dãy Phan xi păng chảy xuống địa bàn thôn Cát Cát thành dòng chảy lớn tạo nên con suối “Đề chô lú”.“Thềnh hù” con suối này người Kinh thường gọi là suối Bàng. Con suối này bắt nguồn từ nhiều khe nhỏ hợp thành một khe nước lớn bắt đầu từ phía trên đường chảy dồn xuống tạo thành thác nước nhỏ chảy thành dòng, con suối này ở gần khu vực cây thiêng của làng, chảy cắt ngang khu ruộng bậc thang của đội 2. Bình thường con suối này ít nước, dòng chảy nhỏ nhưng cứ mỗi khi trời mưa lâu, mưa khoảng 2 – 3 ngày thì mới có nhiều nước. Nhưng khi nào trời mưa to khoảng 2 ngày thì nước đổ về đầy suối, thậm chí mực nước rất lớn. Nếu so giữa 3 con suối thì con suối này khi lũ to, mực nước là lớn hơn cả. Trước đây khi chưa có cây cầu sắt bắc qua suối như bây giờ thì việc đi lại vào những ngày này rất khó khăn, những ngày mưa lũ to người dân ở bên này bờ còn không qua được phía bên kia, phải đợi khi nước rút thì mới sang được bờ.Cả ba con suối này gặp nhau tại một điểm hợp thành một dòng chảy đổ xuống khu vực Bản Hồ. Do con suối “Thềnh hù” nằm phía bên trên cao hơn so với con suối “Đề vô ki” và “Đề chô lú” cho nên khi đổ từ trên cao xuống tại điểm giao nhau tạo thành một dòng thác trắng xóa nhìn rất đẹp mắt. Người ta vẫn thường nói dòng thác là nơi hội tụ của cả ba con suối nhưng thực chất thì dòng thác đó chỉ được tạo nên từ nguồn nước ở con suối “Thềnh hù” cùng với những mạch nước ngầm trên đó chảy xuống mà tạo thành. Người H’Mông chỉ gọi là “Cháng đề” tức thác nước nhưng những người làm du lịch ở đây còn đặt tên cho thác này là thác Tiên sa. Nguồn nước của thác này phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước từ “Thềnh hù” và các mạch nước phía bên trên dòng thác đổ xuống cho nên thác này chỉ có nhiều nước và đẹp nhất vào mùa mưa nhất là trong khoảng tháng 5, tháng 6, tháng 7 âm lịch.3. Nước mưa “Đề nàng”: Nguồn nước nay chỉ có khi có mưa, mùa mưa ở đây là vào tháng 5, 6, 7, chỉ có những tháng này mới có nhiều mưa, những trận mưa lớn tuy không có nhiều ý nghĩa trong việc cung cấp nước cho sinh hoạt, ăn uống nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn trong nông nghiệp là cung cấp nguồn nước cho cây trồng. Cho nên họ không coi đây là nguồn nước chính nhưng nguồn nước này đóng vai trò quan trọng trong việc trồng cây và cấy lúa trên những thửa ruộng bậc thang. Nước mưa cũng được dùng trong sinh hoạt, ở những hộ gia đình có ít nước hay mạch nước nhỏ vào mùa mưa họ cũng hứng nước đó để dùng trong việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày.4. Nước ao: Nguồn nước này không nhiều trong bản chỉ có 3 hộ là đào ao thả cá và sử dụng nguồn nước này trong sinh hoạt hàng ngày, đó là các hộ gia đình của ông Phay, ông Phú và ông Chơ. Những ao này được đào ở khu đất bằng, ở lưng chừng đồi, nơi có nhiều mạch nước chảy xuống. Diện tích những cái ao này không lớn lắm, cái to nhất là của nhà ông Chơ, to hơn cái nhà. Thực tế do khí hậu ở Cát Cát khá lạnh nên việc nuôi cá không đem lại năng xuất cao, chủ yếu là để phục vụ đời sống gia đình, cải thiện bữa ăn. Hiện nay có thả một số loại cá như cá trôi, cá trắm, cá chép,… Còn trước kia, cách bây giờ khoảng 40 – 50 năm khi những giống cá này chưa về đến đây thì giống cá được nuôi chủ yếu là cá đỏ “gì là” và cá trắng “Dẻ đơ”, những giống cá này là những giống cá được bắt tứ ngoài suối rồi mang về thả, hoặc nếu nhà nào không có thì thường đi xin ở trên Ý Lèng Hồ “Hảng đinh de” tại những nhà cũng nuôi cá mà có nhiều loại cá này. Ngoài ra những ao cá này còn đóng vai trò như những “Háng thlế” cung cấp nước cho những thửa ruộng phía dưới của ao.Có thể thấy các nguồn nước trong bản khá nhiều, đa số là các nguồn nước có sẵn trong tự nhiên mà người dân không phải mất công khai phá hay đào, khơi. Trong các nguồn nước kể trên thì có nước khe, nước mạch và nước suối là nguồn nước được sử dụng nhiều nhất vì những nguồn nước này vừa sạch lại có nước quanh năm.Theo mục đích sử dụng:1. Nước dùng trong sinh hoạt hàng ngày: Trong mục này được chia làm hai phần đó là nước dùng để ăn uống và nước dùng trong sinh hoạt hàng ngày khác như tắm rửa,…Nước dùng trong ăn uống: Người H’Mông có tập quán ăn chín uống sôi, nước lã sau khi hứng về dùng nồi để đun cho sôi sau đó mở nắp để nguội cả nhà cùng uống. Do điều kiện khí hậu nơi đây nằm trong đai khí hậu Sa Pa nên quanh năm mát mẻ, có khi cả mấy ngày cũng không phải uống giọt nước nào. Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp đặc biệt như đối với trẻ con hoặc khi lên rẫy hoặc đi đường xa thì cũng có người vẫn uống nước lã lấy từ các khe, các mạch hay suối. Tiêu chuẩn để chọn nguồn nước để dùng này cũng không quá phức tạp, chỉ cần nguồn nước đó sạch, đảm bảo vệ sinh là được. Thường thì người H’Mông dùng nguồn nước khe và mạch để uống, trước kia khi chưa có nguồn nước sạch hoặc vào mùa nước cạn, nước khe mạch ít thì họ cũng dùng nước suối hay nước mưa. Hiện nay phổ biến là dùng nguồn nước sạch do nhà nước xây dựng và nguồn nước khe do người dân tự dẫn về sử dụng.Nước dùng trong những sinh hoạt khác: Cũng vẫn dùng các nguồn nước như nước uống nhưng sử dụng nhiều hơn là nguồn nước suối như: việc tắm, giặt quần áo, chăn màn hay giặt sạch sợi lanh sau khi đã luộc để tẩy trắng sợi, ngâm gỗ,… Đặc biệt là việc đánh bắt cá trên các dòng suối, hoạt động này tuy không diễn ra thường xuyên nhưng cũng đóng một vai trò nhất định, cung cấp một nguồn thực phẩm phong phú cải thiện bữa ăn. Những hộ nhà có ao thì cũng dùng nước ao để phục vụ sinh hoạt gia đình. Ngoài ra trước kia trong bản có nhiều nhà còn sử dụng cố giã gạo bằng nước, để vận hành cối này người ta cũng dùng nước khe, nước mạch khơi thành những mương hay bắc thành những chiếc máng có dòng chảy lớn làm cho nước chảy từ trên cao dội xuống phần gáo nước của cối giã tạo lực như chiếc đòn bẩy làm chiếc chày nâng lên hạ xuống để giã vào cối bên trong có chứa đầy thóc.2.Nước phục vụ sản xuất: Trong đó quan trọng nhất là nguồn nước dùng để phục vụ cho việc trồng cấy lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang. Vì không giống như người H’Mông ở Bắc Hà hay Mường Khương cây trồng chính của họ là cây ngô, một loại cây trồng không cần nhiều nước, được trồng trên những sườn núi, quả đồi, vai trò của cây lúa thấp hơn cây ngô rất nhiều. Còn ở bản Cát Cát người H’Mông cũng trồng ngô nhưng với số lượng ít hơn lúa, ở những sườn đồi không có nước để làm ruộng bậc thang. Cây ngô mang lại hiệu quả kinh tế không cao, còn cây trồng chính của họ lại là cây lúa nước, nguồn cung cấp lương thực chính. Trong việc trồng cấy nguồn nước sử dụng nhiều nhất vẫn là nước khe và các mạch ở phía trên của khu ruộng được dẫn trực tiếp chảy vào ruộng. Do đặc thù của loại ruộng này là thoải theo hình bậc thang từ trên xuống dưới nên quá trình dẫn nước cũng như vậy, nước phải được bắt đầu từ thửa ruộng cao nhất chảy qua các thửa ruộng trung gian ở giữa xuống đến thửa ruộng thấp nhất. Chính vì thế những nguồn nước phía dưới thấp như nước suối thì không dùng được vào việc làm ruộng bậc thang. Làm nông nghiệp rất phụ thuộc vào tự nhiên, canh tác ruộng bậc thang ở đây cũng vậy rất phụ thuộc vào thời tiết cũng như việc mưa nắng. Mặc dù có những khe, mạch nước nhưng những nguồn nước này vào mùa khô cũng hay bị cạn, rất ít nước. Cho nên vào những thời điểm nắng nóng, ít mưa, hạn hán nếu không có nước mưa thì việc mất mùa cũng thường hay xảy ra nhất là vào giai đoạn khi lúa vừa cấy xong đến giai đoạn lúa chuẩn bị vào đòng, đang vào đòng ứng với khoảng thời gian mùa hè nắng nóng, trùng với thời điểm thường hay khô hạn, ít nước nhưng lại hay có mưa tuy nhiên có những năm mưa rất ít, lượng nước không đáng kể như năm ngoái (năm 2010). Vào thời điểm đó mà trời không có mưa thì mất mùa cũng là điều bình thường. Một số hộ có ao cá thì họ cũng sử dụng chúng như một kho chứa nước, dẫn nước từ ao xuống các ruộng phía dưới .Nước dùng trong chăn nuôi: Ngoài 3 hộ nuôi cá ra thì các hộ khác trong bản ít phải quan tâm đến nguồn nước này. Do vật nuôi ở đây nuôi dưới hình thức thả rong là chủ yếu nên vật nuôi tự kiếm nước để uống trên các dòng chảy lộ thiên, các mương máng dẫn nước, các vũng nước hay trong các thửa ruộng. Ngay cả những vật nuôi cần nhiều nước như vịt thì họ cũng thả rong trên những mảnh ruộng bậc thang gần nhà mà không phải quan tâm đến việc dẫn nước về hay quây thành một khu riêng để phục vụ chăn nuôi.1.Vai trò của nguồn nước trong đời sống.Có thể nói trong đời sống nước đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với người H’Mông mà đối với tất cả các dân tộc. Nước là một phần không thể nào thiếu được của cuộc sống. Nước dùng để phục vụ trực tiếp các nhu cầu trong sinh hoạt và trong sản xuất.Thứ nhất, trong lao động sản xuất: Trong lĩnh vực này nước có hai vai trò chính là phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi. Do điều kiện khí hậu ở đây lạnh, chăn nuôi các loại thủy hải sản không thích hợp nên nước dùng trong lao động sản xuất chủ yếu là phục vụ cho việc trồng trọt với cây trồng chính là lúa nước. Trong trồng trọt nước là một yếu tố rất quan trọng, là tiêu chuẩn để chọn vị trí làm ruộng. Đặc thù ruộng ở đây là những khu ruộng bậc thang nằm trên những sườn đồi dốc thoai thoải nên việc dẫn nước từ phía dưới lên trên ruộng rất khó, người dân ở đây không sử dụng. Cho nên khi làm ruộng bậc thang kinh nghiệm đầu tiên trong việc chọn đất là ở đây là phải chọn chỗ nào có những mạch, khe nước hoặc vị trí đó phải là nơi thuận lợi để dẫn nước từ các mạch và các khe. Nguồn nước dùng để trồng cấy cũng giống như nguồn nước dùng trong sinh hoạt, đều là các mạch và khe nước nhưng các mạch và khe này không cần nước sạch như nước dùng trong sinh hoạt mà chỉ cần các mạch, khe đó có nhiều nước là được và cách dẫn nước cũng không cần cẩn thận và cầu kỳ như cách dẫn nước sinh hoạt. Cây trồng chính là cây lúa, một năm ở đây lại chỉ cấy được một vụ, nguồn thực phẩm chính cũng là cây lúa nên trong cuộc sống của người H’Mông ở bản Cát Cát họ rất chú trọng tới việc chăm sóc cây lúa, cũng như bảo vệ nguồn nước cho cây lúa vì từ khi cấy lúa cho đến giai đoạn lúa trổ bông nếu thiếu nước vào ruộng thì bông lúa sẽ lép và năm đó sẽ mất mùaMặc dù vai trò của nước trong chăn nuôi so với trồng trọt ở đây mức độ sử dụng ít hơn nhưng vai trò thì cũng không kém phần quan trọng. Nước vừa để vật nuôi như trâu, lợn,… là điều kiện để chăn nuôi một số loại động vật dưới nước như cá, thủy cầm như vịt.Trong đời sống sinh hoạt: Ngoài vai trò của nước trong sinh hoạt như nước để tắm rửa, giặt giũ, nước để ăn uống thì nước còn có một vai trò khác đó là nguồn nước còn cung cấp cho người dân ở đây nguồn thức ăn để cải thiện đời sống. Trong bản có tất cả ba con suối lớn, ngoài ra có đến hàng trăm những khe nước lớn nhỏ, đó là môi trường sinh tụ của nhiều loại tôm cá. Mặc dù việc đánh bắt ở đây không nhiều bằng săn bắn nhất là từ mấy chục năm trở lại đây nhất là từ những năm 1990 với sự xuất hiện của hoạt động du lịch, nguồn cá trong các khe suối không còn được nhiều như trước nữa, hình thức đánh cá bằng mìn bị nhà nước cấm nên hoạt động đánh bắt của người dân ở đây lại càng ít hơn nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của dân tộc.Dân tộc H’Mông ở Cát Cát cũng như dân tộc H’Mông ở những nơi khác là một dân tộc thiểu số với tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh tức là họ cho rằng tất cả mọi thứ trong tự nhiên đều có thần như mỗi một khu đất lại có một vị thần riêng, một cây cổ thụ lớn thì sẽ có thần cây, một tảng đá lớn cũng có thần đá,… Và nguồn nước ở đây thì họ cũng coi là có thần nước cai quản. Những lễ hội hay nghi lễ lớn liên quan đến nguồn nước ở đây không có mà chỉ có lễ cúng nguồn nước vào ngày cuối năm và đầu năm đó là lễ cúng nguồn nước sạch do người chủ gia đình thực hiện vào ngày 29 hoặc 30 tết và thắp hương ở nguồn nước vào ngày mùng 1 tết. Những lễ này tuy không lớn nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tộc người vì họ cho rằng những lễ cầu cúng đó có ý nghĩa để cầu xin thần nước cho nước chảy mãi, người dân sẽ không bao giờ thiếu nước để ăn và thiếu nước vào ruộng, cho cây lúa tốt tươi, bông lúa nặng hạt.2.Kinh nghiệm sử dụng và bảo vệ nguồn nước3.1. Cách khai thác nguồn nướcNhư đã nói ở trên, trong bản Cát Cát có khá nhiều nguồn nước nhưng đa số đều là nguồn nước lộ thiên, nhiều nhất là hệ thống các khe và mạch nước ngay trên mặt đất nên việc khai thác và sử dụng nguồn nước không đòi hỏi nhiều công sức như ở những vùng khác. Những nơi khác để lấy nước sinh hoạt thì họ phải đào giếng vì nguồn nước lộ thiên ít, chủ yếu là các mạch nước ngầm nằm sâu dưới lòng đất cho nên phải đào sâu trúng mạch chảy thì mới có nước để dùng. Nhưng ở đây chưa thấy có hộ gia đình nào phải đào giếng để lấy nước mà nguồn nước được dùng chủ yếu là dẫn từ các khe bằng hệ thống rãnh nước và mương máng về nhà. Người H’Mông sử dụng nguồn nước chủ yếu là phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày và trong việc trồng cấy lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang. Cũng giống những nơi khác ở Sa Pa như Tả Van, Lao Chải,… ở Cát Cát do điều kiền khí hậu nên cũng chỉ thích hợp để canh tác lúa một vụ vào thời gian nóng nhất trong năm ứng với thời điểm hay có mưa. Vụ lúa này kéo dài khoảng bốn tháng cũng như một vụ lúa hai vụ, nó bắt đầu từ cuối tháng tư đầu tháng năm cho đến cuối tháng tám đầu tháng chín thì thu hoạch xong. Còn việc sử dụng nguồn nước để chăn nuôi thì ít, có một số hộ gia đình cũng đào ao để thả cá còn nuôi gia cầm trên dòng nước thì cũng chưa thấy có. Nguồn nước lớn và ngon nhất từ trước đến giờ vẫn là mạch nước ngay phía bên trên nhà trình tường hiện nay. Rất nhiều nhà chung nhau sử dụng nguồn nước đó.Trong bản có hệ thống 3 con suối trong đó có 2 con suối là suối “Đề vô ki” và“Đề chô lú” có những đặc điểm rất thích hợp với việc làm hệ thống thủy điện như dòng chảy nhanh, mạnh có độ dốc, và lưu lượng nước thường xuyên. Thao lời ông Má A Chơ: Từ những năm 1920 khi bố của ông Má A Chơ còn sống người Pháp đã sử dụng chính sức lao động của những người dân nơi đây đặc biệt là những người H’Mông trong bản Cát Cát để xây dựng nhà máy thủy điện trên các con suối. Nhà máy thủy điện này được đặt trên con suối “Đề vô ki” vì tính ra trong ba con suối, suối này là suối bắt nguồn từ thác bạc nên lượng nước quanh năm tương đối ổn định, suối có độ dốc nhất, dòng chảy tuy nhỏ nhưng mạnh nhất, gập ghềnh nhất tạo ra tốc độ dòng chảy lớn. Khi đó nhà máy thủy điện này hoạt động rất tốt, đảm bảo việc cung cấp điện cho phần lớn bộ phận dân cư trên thị trấn Sa Pa. Từ khi người Pháp rút khỏi Sa Pa thì nhà máy thủy điện này dần dần xuống cấp, hư hỏng, cách đây khoảng 20 năm thì nhà máy này không còn được sử dụng nữa.Cách dẫn nước: Người H’Mông ở đây không dẫn nước từ chỗ thấp lên chỗ cao mà thường chỉ dẫn nước từ chỗ cao chảy xuống chỗ thấp hoặc những chỗ ngang bằng nhau. Nước được dẫn từ các khe chảy ra nhằm lấy nước cho sinh hoạt hoặc lấy nước cho sản xuất. Có 2 cách chính đó là đào mương rãnh trên mặt đất để dẫn nước “ Cử đề” và dùng những cây dạng ống để làm mương máng dẫn nước “Seo lồng chự”. Trong cách dẫn nước để dùng cho sản xuất và dùng cho sinh hoạt có sự khác nhau dựa theo mục đích sử dụng. Cụ thể như sau:Cách dẫn nước với mục đích dùng trong sản xuất: Ở những chỗ địa hình đất liền, tương đối bằng phẳng không bị chia cắt bởi những hào hay khu trũng sâu thì người ta thường dùng cuốc đào thành những rãnh nhỏ rộng khoảng từ 20 – 40cm, sâu từ 10 – 20cm để dẫn nước từ trên nguồn về khu ruộng của mình vì nguồn nước này không cần nước sạch. Sau khi nước về các ruộng thì họ tạo thành các khe hở trên các thửa ruộng để dẫn nước từ ruộng ở trên cao xuống những ruộng ở dưới thấp. Nếu nguồn nước có độ cao tương đương với thửa ruộng nào thì sẽ được dẫn trực tiếp vào thửa đó chứ không nhất thiết là bắt buộc phải dẫn từ thửa ruộng ở vị trí cao nhất. Ngoài ra ở những nơi địa hình không được nối liền tức là bị chia cắt bởi vực sâu hay muốn đưa nước từ bên này suối sang bên kia suối, những chỗ đá không đào được rãnh nước thì người ta dùng một cách khác đó là dùng hệ thống máng nước bằng thân cây khoét rỗng như một chiếc cầu để đưa nước từ bên này qua bên kia. Nếu khoảng cách quá xa mà không thể dùng một máng nước đưa qua được mà phải nối máng hoặc nước chảy nhiều, đảm bảo độ bền cho máng nước người ta còn làm cọc chống từ dưới mặt đất lên để đỡ đoạn giữa của máng nước. Một dòng nước từ nguồn dẫn đến nơi sử dụng có thể chỉ dùng một cách dẫn bằng mương máng đào hay bằng ống cây, có khi lại sử dụng kết hợp cả 2 loại hình này, điều đó phụ thuộc vào địa hình dẫn nước.Cách dẫn nước trong sinh hoạt: Nước dùng trong sinh hoạt gia đình phảỉ là nước sạch nên chủ yếu họ dùng cây làm máng dẫn nước từ nguồn về đến nhà vì nếu dùng rãnh đào thì trong dòng nước đó sẽ bị lẫn cả đất, đá, lá cây còn dùng máng để dẫn thì nước sẽ đỡ bị bẩn hơn, tuy nhiên một số hộ dẫn nước về sinh hoạt vẫn dùng theo hình thức “ Cử đề” này . Máng dẫn nước thường được làm bằng cây vầu “Xùng khó trử”, cây mai gọi là “Lồng chử” vì những cây này có thân rỗng to, thẳng ở bản lại mọc nhiều nên không khó để tìm. Trung bình mỗi máng nước dài khoảng từ 4 – 7m. Cây vầu thì thường dùng làm máng nhỏ vì cây nhỏ hơn cây mai nên chỉ thích hợp dùng ở chỗ có dòng chảy nhỏ còn những chỗ có dòng chảy lớn thì thường dùng cây mai vì cây này thân cây to hơn, ruột cũng rỗng lớn hơn, có những cây to bề ngang của ruột còn hơn cả một găng tay người lớn, tính ra trung bình những cây đó đường kính cũng phải từ 15 – 20cm, chiều dài từ 5 – 8m, dẫn được nhiều nước. Những máng này cũng rất bền, trung bình cũng phải được 1 năm, có cái bền còn dùng được đến 2 năm (đối với những loại máng mà có nước chảy thường xuyên thì có độ bề lâu hơn vì máng được ngâm với nước sẽ chắc hơn, còn những máng để khô không được nước chảy nhiều thì độ bền sẽ không bằng và dễ bị mục hoặc giòn, nứt và gẫy). Máng có 3 loại đó là loại máng ống thông “Chá đề”, máng cách đốt “jằng xùng” và máng một nửa tiếng H’Mông cũng gọi là “Chá đề”. Trong đó có máng ống thông là dùng để dẫn nước sạch “Đề hú”, còn máng cách đốt và máng một nửa dùng để dẫn nước sinh hoạt hoặc nước sản xuất. Cụ thể về các laọi máng này như sau:Thứ nhất: Máng ống thông “Chá đề” là loại máng còn nguyên vẹn cả một cây chặt đoạn gốc và đoạn ngọn lấy đoạn ống to đều đều nhau ở giữa vì đoạn gốc và đầu cây thân ống nhỏ, dẫn được ít nước và nước chảy sẽ không đều. Cây sau khi chọn và chặt xong thì được khoét sạch các đầu mấu bên trong thành một chiếc ống thông dùng để dẫn nước sạch “Đề hú” về các hộ gia đình để ăn uống. Đây là loại máng làm kỳ công nhất từ khâu chọn cây cho đến cách đục khoét thân. Cây chọn phải thẳng, có độ to đều đều nhau, phải là cây bánh tẻ vì nếu chọn cây già quá thì gỗ chắc, cứng, khó đục hơn nữa những cây già thường giòn, khi để ngoài lâu dễ bị nứt hoặc vỡ làm rò rỉ nước. Còn nếu chọn cây non quá thì tuy khi đục ống dễ dàng nhưng khi dùng ống đó để một thời gian, nhất là để ngoài trời thì nó dễ bị teo vào hoặc dễ bị gãy ra thành khúc ở những đầu mấu. Có nhiều cách để đục thông các đầu mấu trong thân cây: Đối với những cây ngắn người ta dùng những thanh sắt cứng, to, nhọn hoặc những dụng cụ như chiếc thuổng chọc vào ống cây để đục những đầu mấu trong thân cây. Còn đối với những cây dài hơn nếu dùng theo cách đó thì không thể đục được hết các đầu mấu mà chỉ có thể đục được những mấu ở hai đầu. Người ta còn có một cách khác là dùng con dao nhọn do người H’Mông tự rèn, dao này thường rất cứng, rất sắc buộc vào thân của một cây trúc nhỏ nhưng phải đủ độ cứng và chắc sao cho vừa vào thân ống đó để chọc thủng các đầu mấu ở đoạn giữa. Những ống này có thể được để trên mặt đất hoạc chôn dưới một lớp đất nhẹ. Vì dẫn nước thường ở xa nhà nên người ta phải dùng nhiều ống nối lại với nhau. Cách nối loại ống này cũng phải rất tỉ mỉ không như loại máng một nửa chỉ cần nối các máng đè lên nhau là xong còn loại máng này người ta phải nối rất cẩn thận không để nước rò rỉ ra ngoài và cũng như không để nước bẩn, đất cát bên ngoài lọt vào trong máng. Do những máng này ngắn, nên để dẫn nước từ nguồn về nhà thì cần phải sử dụng rất nhiều máng để nối lại với nhau. Cách nối máng này như sau. Trước tiên, họ dùng những dây mây “Tra dê hau” hoặc những dây thép để buộc các đầu ống nối lại với nhau cho chắc. Sau đó dùng loại đất “Pì phau cừ đê” là loại đất bùn, đất sét lấy từ dưới ruộng lên, nhào mịn sao cho có độ dẻo vừa phải để đắp lên chỗ vừa nối đó với mục đích làm chỗ đó kín vào, nước không bị rò rỉ ra ngoài.Thứ 2: Máng cách đốt “jằng xùng” là loại máng dùng để dẫn nước trong sinh hoạt hoặc trong sản xuất. Cách chọn cây để làm máng thì cũng tương tự như máng ống thông cũng vẫn là những cây to đều và thẳng nhưng mức độ thẳng không quan trọng bằng làm ống thông. Cách làm loại máng này đơn giản hơn rất nhiều chỉ cần dùng dao khoét đi một phần cây ở chỗ vùng xung quanh đầu mẩu thành một ô vuông sau đó lại dùng dao nhọn khoét sạch đầu mẩu trong thân cây đi một cách dễ dàng. Còn phần giữa của hai đốt thì vẫn để nguyên như ống thông tạo thành những đoạn cách đều nhau qua lỗ thủng ở đầu mấu. Cách nối loại máng này cũng tương tự như loại máng ống thông nhưng chỉ cần dùng dây mây và dây thép buộc lại chứ không cần phải đắp đất ở bên ngoàiThứ 3: Máng một nửa “Chá đề”: Loại máng này cách chọn cây thì cũng tương tự như hai loại máng trên nhưng cách làm thì đơn giản hơn. Chỉ cần dùng cây mai hoặc cây vầu bổ đôi thành 2 nửa bằng nhau sau đó dùng dao khoét hết đầu mẩu phía bên trong đi, như vậy là đã có một máng nước. Như các loại máng khác thì một cây chỉ làm được một cái máng, còn loại máng này thì từ một cây có thể làm thành được 2 chiếc máng. Loại máng này sử dụng phổ biến nhất là trong việc dẫn nước vào ruộng vì cách làm dễ, tiết kiệm nguyên liệu, thời gian và công sức. Cách nối máng cũng đơn giản, chỉ cần gác máng này lên máng kia hoặc lấy dây buộc ở đầu nối là được.Cách dẫn nước này hiện nay vẫn còn được sử dụng tuy nhiên bên cạnh những loại máng truyền thống đó người dân còn sử dụng cả những ống nhựa để dẫn nước, nhất là nước dùng trong việc ăn uống thì bây giờ đa số là dùng loại ống dẫn này. Do những nguồn nước ở đây luôn có sẵn, nên bình thường người dân ở đây không có thói quen dự trữ nước, mà chỉ dùng trực tiếp nước từ máng bắc từ nguồn chảy về nhà. Tuy nhiên một số hộ gia đình vẫn có thùng gỗ để chứa nước nhất là vào mùa hạn hán, ít nước hoặc vào mùa mưa khi mà nước trên các nguồn nhất là các khe thường hay đục do các khe đó tường lộ thiên hoặc bắt nguồn từ rừng nên mỗi khi mưa to mưa xối vào thường cuốn theo đất đá chảy vào dòng làm cho nước không trong như ngày thường. Khi đó họ có biện pháp xử lý như sau. Nếu mà mưa không lâu nước chảy đục thì người ta không dùng nước đó để dùng nữa mà cho chảy hết ra ngoài cho đến khi nào nước trong trở lại thì dùng. Nếu mà mưa nhiều, lâu và vẫn bắt buộc phải sử dụng nước đó vì không có nguồn nước khá thì người ta sẽ hứng nước vào thùng sau đó để lắng hết căn đất rồi múc lấy phần nước sạch phía trên để dùng.Ngoài ra người H’Mông còn biết lợi dụng sức nước để phục vụ cho đời sống, họ sáng tạo ra những chiếc cối giã gạo “Chỉu đề” để tận dụng sức nước. Trước kia khi chưa có điện, chưa có máy sát thóc, chiếc cối này được sử dụng rất phổ biến hầu như gia đình nào cũng có một cái. Những chiếc cối này thường được để gần nhà, bên cạnh nhà ngay chỗ nguồn nước chảy. Chiếc cối này có có hai bộ phận chính là chày giã và cối giã. Chày giã gạo như một cái cầu bập bênh được làm bằng một thân cây gỗ thông lớn, dài khoảng 3 – 4m chia làm hai phần. Thứ nhất là máng hứng nước ở phía cuối của chày giã được đục từ thân cây, khoét rỗng như một chiếc gáo để hứng dòng nước chảy từ một máng nước phía trên xuống. Tiếp theo là đến phần điểm tựa của chày giã chia chày giã thành hai phần là gáo nước và chày giã. Điểm tựa này cũng chính là hai cột gỗ cao khoảng 50cm so với mặt đất để đỡ và nâng chiếc cối gia lên. Thường thì người ta làm cánh tay đòn phía bên gáo nước dài hơn cánh tay đòn phía bên chày giã. Mục đích là để giảm lượng nước chảy vào gáo mà vẫn tạo được một lực mạnh để giã đầu chày xuống lòng cối đá. Phần thứ hai là chày giã chỉ là một thanh gỗ bình thường được đẽo là lõi của thân cây thông, bề dày của bản gỗ khoảng từ 15 – 20 cm. Tính từ điểm tựa đến đầu chày giã có độ dài khoảng bằng 13 độ dài của chiếc chày giã gạo này. Phía đầu của cánh tay đòn này có được gắn một chiếc chày nhỏ phù hợp với bề rộng cũng như độ sâu của chiếc cối không được quá to hay quá nhỏ, quá dài cũng như quá ngắn, được đóng chắc vào cánh tay đòn sao cho khi giã thì đầu chiếc chày đó sẽ giã thẳng xuống chiếc cối mà không bị lệch ra ngoài và phải vừa với chiếc cối. Còn chiếc cối thì được làm bằng một hòn đá khoét rỗng ruột, hòn đá thường có hình trụ dài nhưng đầu cối lại rộng hơn, đáy cối nhỏ dần như hình nón cụt, thành cối dày từ 3 – 5cm, nhiều cái cối do sử dụng quá lâu từ đời này qua đời khác thành cối cũng bị mòn đi rất nhiều, đáy cối cũng sâu thêm, bề mặt lòng cối trở nên bóng. Ruột cối càng to thì càng chứa được nhiều thóc gạo, bình thường mỗi cối chứa khoảng từ 4 – 5kg thóc, có những cối to còn chứa đến cả 10kg. Do những chiếc cối giã này thường để ngoài trời, để đề phòng những trường hợp mưa nước làm ướt gạo trong cối thì họ còn làm cả mái che cho chiếc cối. Nguyên lý hoạt động của những chiếc cối này cũng rất đơn giản, người ta sẽ mắc một máng nước từ khe chảy xuống sao cho nước sẽ chảy thẳng vào phần gáo của chiếc cối giã và đổ đầy gạo vào chiếc cối giã. Do cách đặt cối giã và cấu tạo của cối giã co nên bình thường khi chưa có nước chảy vào, phần máng nước của chiếc cối giã sẽ bẩu lên và khi nước chảy đầy vào phần gáo của máng nước thì chiếc chày sẽ từ từ như một chiếc bập bênh trong đó phần gáo chứa đầy nước sẽ nặng hơn nên trĩu dần xuống làm cho đầu phía bên kia có chày giã đang đặt trong cối giã bị bẩu dần lên qua điểm tựa cao hơn mặt đất ở giữa chiếc cày giã. Và khi chiếc gáo đầy lại bị nước xối vào sẽ trĩu dần xuống làm cho nước ở trong gáo bị chảy hết ra ngoài. Khi đó đầu gáo trở nên nhẹ hơn và ngay lập tức bị bẩu ngược trở lên đồng thời theo nguyên lý của đòn bẩy thì đầu phía bên chày giã sẽ bị dập mạnh xuống chiếc cối chứa gạo trong đó. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại như vậy rất nhiều lần, chiếc chày được nâng lên rồi lại hạ xuống tạo thành nguồn lực giac xuống chiếc cối làm lớp vỏ của những hạt thóc bị đập bung ra thành hạt gạo trắng. Khi đó người ta chỉ cần múc gạo trong cối ra mang đi sẩy cho hết lớp vỏ là đã có gạo trắng để nấu. Nếu như nước trên nguồn lớn, nước máng chảy to thì chỉ cần một ngày đã giã xong một mẻ còn nếu nước chảy bé thì cũng phải mất từ 2 – 3 ngày mới giã xong được một mẻ. Những cối giã gạo này tuy công suất không lớn nhưng cũng rất tiện lợi vì giã gạo thì cần phải có sức khỏe, mà ban ngày những người khỏe mạnh đều phải lên nương rẫy đến tối mới về nhà, ban đêm thì là thời gian nghỉ ngơi nên họ chỉ tranh thủ giã gạo khi rảnh rỗi nên những chiếc cối này có thể làm thay sức con người, giã gạo cả ngày lẫn đêm nếu nước chảy đều đặn vào máng mà con người lại không phải mất sức. Không chỉ là cối giã gạo, nhiều hộ gia đình còn sử dụng cối giã này để giã cả ngô, sắn để nấu cho lợn ăn. Tuy nhiên, cách đây vài chục năm, kể từ khi có điện, có máy sát người dân ở đây không còn sử dụng những chiếc cối giã gạo bằng nước này nữa. Nhiều hộ gia đình phá bỏ, một số hộ thì vẫn để đó, khi hoạt động du lịch phát triển ở đây thì những chiếc cối giã gạo này được công ty du lịch mua và dựng lại để tạo cảnh quan cho khu du lịch, góp phần giữ lại bản sắc của chính những người H’Mông nơi đây. Hiện nay trong khu du lịch Cát Cát có tất cả 8 chiếc cối giã bằng nước được bố trí dọc hai bên đường đi bộ từ đầu làng từ chỗ trạm kiểm soát vé số 1 đi xuống đến dưới suối.3.2. Kinh nghiệm đánh bắt thủy hải sản trên khe, suốiDo đặc điểm các con suối ở đây là nhỏ, dốc và nước chảy siết nên các khe, suối ở Cát Cát không có nhiều cá. So với trước kia thì hiện nay, kể từ khi có sự xuất hiện của hoạt động du lịch (cách bây giờ khoảng trên dưới 20 năm) mật độ cá trên các con suối giảm hẳn và còn chủ yếu là những con cá nhỏ như cá bống “Kê dú úi”, cá trắng “Dẻ đơ”,… Người dân ở đây thường săn bắn các loại thú trên rừng là chủ yếu còn hoạt động đánh bắt cá cũng không thường xuyên như việc đi săn, chỉ thỉnh thoảng vào vụ có nhiều cá thì đi đánh bắt gọi là có cái để cải thiện bữa ăn và cho có đủ chất. Việc đánh bắt cá trước đây đã ít, hiện nay lại còn ít hơn do lượng cá ở đây càng ngày càng giảm về số lượng và việc đánh bắt cá trên các dòng cùng khó hơn. Ngoài ra chính sách cấm săn bắt cũng như cấm dùng các chất gây nổ để đánh bắt cá cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, trao đổi buôn bán thực phẩm ở nơi đây cũng là một trong những tác động đáng kể đến hoạt động này. Do họ ít đi đánh bắt cá nên những kinh nghiệm về các loại cá cũng như đánh bắt của người dân nơi đây cũng không nhiều.Theo lời những người đàn ông lớn tuổi trong làng, đọan suối mà có nhiều cá nhất vẫn là khe suối nhỏ nơi mà cả ba con suối “Thềnh hù”, “Đề vô ki” và “Đề chô lú” gặp nhau và giao nhau. Đó chính là ở chỗ thác nước Tiên Sa sau đó hợp lại thành một dòng suối nhỏ đổ xuống một khe thấp hơn và chảy xuống phía dưới Bản Hồ. Mặc dù khe này có rất nhiều cá nhưng khe suối đó lại nằm sâu xuống phía dưới so với mặt bằng của các con suối kia, hai bên là vách núi cao hiểm trở, dòng chảy rất nhỏ lại có đá gập ghềnh, mấp mô, chủ yếu là những hòn đá tai mèo, trơn trượt nên việc đánh bắt ở đó rất khó, ít ai dám đi xuống khe suối đó. Còn những chỗ khác cũng có cá nhưng không nhiều bằng ở chỗ đó và cũng chỉ có chủ yếu là cá nhỏ. Cá thường sống nhiều ở những khu nước trũng, nước chảy không siết, còn hai bên bờ có bụi cây hoặc dưới chân những hòn đá dưới suối là địa điểm ẩn nấp của những con cua “Trau trì”.Trên các khe suối ở đây có những loại cá sau: Nhiều nhất là cá trắng “Dẻ đơ” là loại cá mình thon, đầu nhỏ, người có màu trắng và hơi xám ở lưng, con cá này thường nhỏ, sống theo đàn rất đông. Những con to thì mình bằng hai ngón tay, dài khoảng một gang tay. Cá này có nhiều nhưng rất khó để bắt, kể cả khi quang chài nên chủ yếu bắt được do nổ mìn. Nhiều không kém cá trắng là cá bống “Kê dú úi”, cũng là loại cá nhỏ, sống nhiều ở tầng đáy, cũng không quá khó để bắt, thường bắt được khi dùng vợt để xúc và khi quăng chài. Cá rắn hổ mang “Dề cềnh dú ” là loại cá màu đen, có vảy cứng như rắn hổ mang nên mới có tên gọi như vậy. Cá này cũng nhiều không kém cá trắng, là loại cá đánh bắt được nhiều nhất khi căng chài. Một loại cá nữa là cá đỏ “Gì là”, cá này có hình dáng như sau: có hai vạch đỏ chạy dọc theo sống lưng, bụng trắng, con to cũng phải đến gần 1kg. Một loại cá nữa cũng có rất nhiều là cá rô “Xì pua” nhìn gần giống như loại cá rô đồng. Ngoài ra ở đây còn có rất nhiều cua “Trau trì” ẩn nấp hai bên bờ có bụi cây hoặc dưới chân những tảng đá. Cua ở đây thường mai rất cứng, bắt được nhiều nhất là khi đi xúc hoặc khi mò theo dưới chân của những tảng đá ở bên suối.Cách đoán định và kinh nghiệm đánh bắt các loại cá: Theo kinh nghiệm của những người dân nơi đây thì ở những chỗ nước sạch, khi mặt trời chiếu vào thẳng dòng nước là khi mà đánh bắt cá khó nhất. Vào thời điểm trăng tròn tức là giữa tháng trong khoảng những ngày 13, 14, 15, 16 âm lịch hàng tháng là thời điểm thích hợp nhất để đánh bắt cá vào ban đêm vì khi đó trăng sáng, việc đánh bắt cá vào ban đêm cũng dễ hơn vào ban ngày. Mùa có nhiều cá nhất là mùa hè vì khi đó thời tiết nắng ấm, cá về đây đẻ nhiều nhưng mùa này cũng lại là mùa đánh bắt khó nhất vì hay có nước lũ to bất ngờ và trời hay mưa nên đá ở suối trơn, khó di chuyển. Thời điểm thích hợp để đánh bắt cá và cũng chính là thời điểm mà người dân ở đây hay đi đánh bắt đó là vào mùa đông. Tuy mùa này thời tiết lạnh nhưng cũng vì thế nên suối thường cạn, nước ít nên dễ dàng trong việc di chuyển, đi lại trên các hòn đá trong lòng suối. Là mùa khô nên đá ở lòng suối không bị ngập nước, không có nhiều rêu mọc nên không trơn, đi lại dễ dàng hơn. Khi đó nước cạn, dòng chày nhỏ, cá sẽ tập chung trong những vũng nước trũng hoặc náu mình dưới chân của những tảng đá, chỉ cần mò bằng tay hoặc dùng chài quăng hoặc dùng cây rừng cho vào

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI

"TRI THỨC BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CỦA NGƯỜI H’MÔNG TẠI XÃ SAN SẢ HỒ

-HUYỆN SA PA – TỈNH LÀO CAI"

A MỞ ĐẦU

1 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1 Ý tưởng khoa học

Lào Cai có 13 dân tộc với 23 nhóm ngành khác nhau cư trú Các dân tộc ở Lào Cai hầu hết đều sinhsống tại những nơi vùng núi, vùng đồi Vì vậy, cần có một nghiên cứu về cuộc sống, sinh hoạt đặc biệt vềviệc bảo vệ nguồn nước của người dân nói chung và dân tộc H' Mông nói riêng tại xã Sản Hồ- huyện Sa Pa -Tỉnh Lào Cai

1.2 Đối tượng nghiên cứu:

Bảo vệ nguồn nước của người dân tộc H' Mông tại xã Sản Hồ- huyện Sa Pa - Tỉnh Lào Cai

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai theo địa giới tương ứng với từng thời kỳ lịch sử cụthể, có so sánh với các địa phương khác để làm sáng tỏ thêm vấn đề cần nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trước hết, có thể khẳng định rằng :Trong đời sống nước đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối vớingười H’Mông mà đối với tất cả các dân tộc Nước là một phần không thể nào thiếu được của cuộc sống

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần nghiên cứu và bổ sung lý thuyết về nghiên cứu tập tục sinh hoạt của thành phầntộc ngườilàm tài liệu cung cấp cho các trường học xây dựng giáo trình về môn dân tộc học địa phương,lịch sử văn hoá Qua việc khảo sát, nghiên cứu toàn diện các mặt của đời sống các tộc người sẽ góp phần

cụ thể hoá thêm khái niệm “cuộc sống văn hoá'' của một bộ phận dân tộc người Lào Cai

Những chuyên đề nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về cuoocj sống các dân tộc cư trú ởLào Cai đã cung cấp thêm tư liệu khoa học cho hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương cũng nhưchuyên ngành nghiên cứu “khu vực học”, “nhân học”, “văn hoá học”,

Thông qua những nghiên cứu về cuộc sống người dân tộc ở Lào Cai, độc giả sẽ hiểu thêm đặc

trưng của nền văn hoá Việt Nam - nền văn hoá “đa dạng trong thống nhất”

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới, nơi có sự cư trú của hơn 20 tộc người Đây là địa bàn có vịtrí chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng Do đó, việc nghiên cứu về các dân tộc cư trú trên địa bàn có ýnghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị và giữ vững quốc phòng

Trang 2

Mặt khác, các dân tộc sinh sống ở Lào Cai từ lâu đời và có nhiều truyền thống quý báu Vì thế, thôngqua quá trình nghiên cứu sẽ giúp khơi dậy những truyền thống đó để đồng bào tiếp tục gìn giữ và phát huy nótrong đời sống hiện đại.

Đồng thời, việc nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai cũng góp phần thực hiện chiến lược đại đoànkết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc

Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những kiến thức hữu ích cho các nhàquản lý trong quá trình hoạch định chính sách để những chính sách đó đáp ứng được yêu cầu bức thiếtcủa nhân dân các dân tộc tỉnh nhà

B NỘI DUNG:

I/ Quan niện về nguồn nước và cách phân loại nguồn nước

1.1 Quan niệm về nguồn nước

Theo tiếng H’Mông nước gọi là “Đề”, cũng như các dân tộc khác nước có vai trò rất quan trọng

trong đời sống sinh hoạt của họ Người H’Mông có tập quán cư trú ở vùng rẻo cao núi đá, điều kiện đi lạikhó khăn nên việc vận chuyển nhất là nước rất hạn chế nên vai trò của nguồn nước, đặc biệt là nhữngnguồn nước gần nơi cư trú, nơi sản xuất đối với họ là quan trọng hơn cả Hơn nữa, hoạt động kinh tế chủyếu là nông nghiệp với loại hình canh tác lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang do đó nước là mộtyếu tố không thể thiếu Ngoài ra nước còn là yếu tố không thể thiếu cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt củangười và vật nuôi Cho nên đến với bản làng người H’Mông dễ dàng nhận thấy tiêu chí chọn làng đầutiên của họ là làng đó phải được cư trú bên sườn núi xung quanh bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết chocuộc sống như: Dưới chân làng phải có một con suối lớn, trên làng phải có một khu rừng già hay rừngcây tán rộng lâu năm có khả năng giữ đất và giữ nước Và điều quan trọng là quanh khu vực người dân cưtrú và canh tác phải có nhiều mạch nước và khe nước đủ để cung cấp cho sinh hoạt và cho sản xuất quanhnăm1 Có thể nói nước có đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tộc người tồn tại song song với vaitrò của rừng và nước là một trong những yếu tố hình thành lên bản làng của người H’Mông

Nguồn nước: Theo tiếng H’Mông nguồn nước được gọi là “Hấu đề” trong đó từ “Hấu” có nghĩa

là nguồn, là gốc Còn từ “Đề” có nghĩa là nước Theo quan niệm của người H’Mông nguồn nước chính

là nơi nước bắt đầu chảy ra thành dòng hay còn gọi là “Thlế chớ” – Nơi nước bắt đầu chảy ra Bản Cát

Cát của người H’Mông ở xã San Sả Hồ - huyện Sa Pa là một bản làng nằm dưới chân dãy núi Phan xi

păng – “Hủa xi pan” với hệ thống rừng quốc gia Hoàng Liên cho nên những nguồn nước ở đây hầu hết đều bắt nguồn từ rừng này mà ra “Cù dống” Cũng có những nguồn nước, con suối chảy từ nơi khác đến

nhưng về nguồn gốc tận cùng của những nguồn nước đó cũng là bắt nguồn từ rừng Do vai trò của nướcđối với đời sống người H’Mông là rất quan trọng cho nên việc khai thác, bảo vệ, giữ gìn nguồn nướccũng rất được người dân quan tâm

1.2 Phân loại nguồn nước

Qua quá trình khảo sát và điền dã thực tế về nguồn nước và cách thức sử dụng nguồn nước củangười dân tại bản Cát Cát chúng tôi tiến hành phân loại nguồn nước theo những tiêu chí sau:

- Theo nguồn gốc:

1 Qua quá trình khảo sát thực tế tại bản Cát Cát của người H’Mông tại xã San Sả Hồ thì làng cư trú ngay dưới chân dãy Phan xi păng, khu rừng quốc gia Hoàng Liên, dưới chân làng là một hệ thống ba con suối: suối hoa, suối thủy tiên, suối bàng ngoài ra còn có hàng trăm các khe nước nhỏ chảy từ nhiều hướng từ các khu rừng

2

Trang 3

1 Nước mạch, nước khe -“Háng đề” tức là nơi nước chảy ra, đùn lên từ lòng đất nhưng chỉ là những dòng nhỏ, mạch nhỏ; Mỏ nước - “Háng thlế”, dịch ra còn có nghĩa là những thung lũng nước hoặc chỗ có nhiều nước: Bản Cát Cát của người H’mông là một bản làng nằm trong thung lũng với bốn bề là

núi cao, người dân canh tác nương rẫy và làm ruộng bậc thang ngay chính trên những sườn của thunglũng đó Trong khi thu thập ý kiến của những người lớn tuổi làm ruộng ở đây được biết: Nếu tính các khenước và mạch nước nhỏ thì bốn bên của bản, ở tất cả các khu ruộng đều có, áng chừng phải hơn trăm cáibao gồm cả những khe nước chảy từ trên rừng xuống và những khe nước đùn từ dưới đất lên, các khe nàythường có nhiều hơn vào mùa mưa, nhiều khe có quanh năm, nhưng các khe nước này đều rất nhỏ, nướctrong và mát Phải rất nhiều khe nước như thế thì mới đủ để dùng cho một khu ruộng bậc thang, việc tìm

và phát hiện những khe nước là điều kiện tốt nhất để đảm bảo nguồn nước canh tác cho những thửa ruộngbậc thang Còn nếu tính riêng những khe nước đủ lớn để chọn làm ruộng bậc thang cũng như để dùngtrong sinh hoạt thì cũng có đến vài chục cái Có những cái vừa sử dụng làm nước sinh hoạt vừa sử dụng

làm nước để trồng cấy lúa (nhưng đó phải là những khe nước lớn) bắt ngồn từ những mỏ nước - “Háng

thlế” như những khe nước lấy từ rừng trúc “Trông xôong” ngay phía trên nhà của hộ gia đình ông Câu,

anh trai ông Câu, ông Khoa, anh xông, ông Dể,… ở đội 2 thôn Cát Cát (có tổng cộng 7 hộ dùng nguồn

nước khe lấy từ rừng trúc “Trông xôong” này Nguồn nước này vừa sử dụng cho sinh hoạt và cũng dùng

để cung cấp nước cho những thửa ruộng bậc thang ngay phía dưới, trước cửa nhà) 2

Qua việc quan sát và thu thập thông tin từ những người lớn tuổi trong bản được biết ở trong thôn trướckia và cũng như hiện nay người dân vẫn sử dụng nguồn nước chính lấy từ các khe chảy từ các mỏ nước

lớn“Háng thlế” Có tất cả 3 mỏ nước lớn phân bố đều khắp các phía của làng Thứ nhất là ở đội 1 từ trên

đường xuống tức tính từ khu trụ sở ủy ban nhân dân xã xuống trạm soát vé số 1 xuống khu trạm xá xuôixuống dưới thì thường dùng nước từ mỏ nước lớn bắt nguồn từ cao nguyên Lồ Sấy Thủng thuộc vào dãyCang Thàng phía bên trên trụ sở của ủy ban nhân dân xã San Sả Hồ hiện nay Mỏ nước này là mỏ nướclớn nhất, ngon nhất, ngọt nhất hầu như người dân ở đây đều dẫn nước từ mỏ này về nhà để dùng Thứ hai

là ở đội 2, tính từ khu rừng trúc hất ngược xuống khu ruộng bậc thang thì các hộ gia đình ở đây thường

dùng nước từ các khe chảy từ khu rừng trúc “Trông xôong” xuống Thứ ba là ở đội 3, phía bên kia trường

học thì thường dùng nước ở khe bắt nguồn từ mỏ nước lớn ở phía đường đi Lai Châu chảy xuống Trướckia người dân chỉ sử dụng ba nguồn nước đó nhưng những năm gần đây, các hộ gia đình trong bản cũngđều được sử dụng nguồn nước sạch do nhà nước xây dựng cho dân Nguồn nước này được dẫn từ khenước lớn bắt nguồn từ cao nguyên Lồ Sấy Thủng thuộc vào dãy Cang Thàng phía bên trên trụ sở của ủyban nhân dân xã San Sả Hồ bằng hệ thống mương máng xây và hệ thống ống dẫn nước bằng nhựa, có bể

dự trữ nước để dẫn về các hộ gia đình

2 Nước suối: Người H’Mông ở Cát Cát không có tên gọi với danh từ chung là suối mà mỗi consuối lại có một tên gọi riêng biệt Đặc điểm chung của những con suối ở đây hầu hết đều nhỏ, gập ghềnhnhiều đá lởm chởm giữa dòng Trên địa bàn thôn Cát Cát có tất cả ba con suối

“Đề vô ki” hay còn gọi là suối Hoa, suối Ba ba Sở dĩ có những tên gọi này với những lý do như

sau: Con suối này được bắt nguồn từ trên Thác bạc đổ xuống và chảy thành dòng xuống địa bàn của thôn

Vì con suối này chảy dưới chân dãy Phan xi păng, vườn quốc gia Hoàng Liên với thảm thực vật phongphú đặc biệt là các loại hoa như hoa lan, hoa đỗ quyên với đủ các màu trắng, đỏ, tím,… nên hai bên bờsuối nhất là vào mùa xuân đều ngập tràn trong sắc hoa, những cánh hoa đó rơi xuống dòng chảy của suối

Trang 4

tạo nên một cảnh sắc rất đẹp, người ta tưởng tượng như đó là những con suối có dòng chảy bằng hoa, tênsuối hoa bắt nguồn từ đó3 Còn tên gọi suối Ba ba là do phía trên dòng suối từ chỗ thác Tiên sa đi ngượclên phía trên trước kia có một hòn đá to có hình dạng rất giống như một con ba ba nên người ta gọi đây làsuối ba ba.

“Đề chô lú” theo tiếng Kinh còn có những tên gọi khác như suối vàng, suối thủy tiên, suối chim

én: Những tên gọi như suối vàng, suối thủy tiên đều là do những người làm du lịch và khách du lịch đặt

Còn tên gọi suối chim én theo lời của ông Má A Chư, 90 tuổi tại thôn Cát Cát kể lại rằng: Trước kia vào

mùa xuân không biết từ đâu chim én cứ từng đàn, từng đàn bay về làm tổ bên những vách đá cạnh suối cho nên người dân ở đây còn gọi suối này là suối chim én Con suối này bắt nguồn từ dãy Phan xi păng

chảy xuống địa bàn thôn Cát Cát thành dòng chảy lớn tạo nên con suối “Đề chô lú”.

“Thềnh hù” con suối này người Kinh thường gọi là suối Bàng Con suối này bắt nguồn từ nhiều khe

nhỏ hợp thành một khe nước lớn bắt đầu từ phía trên đường chảy dồn xuống tạo thành thác nước nhỏchảy thành dòng, con suối này ở gần khu vực cây thiêng của làng, chảy cắt ngang khu ruộng bậc thangcủa đội 2 Bình thường con suối này ít nước, dòng chảy nhỏ nhưng cứ mỗi khi trời mưa lâu, mưa khoảng

2 – 3 ngày thì mới có nhiều nước Nhưng khi nào trời mưa to khoảng 2 ngày thì nước đổ về đầy suối,thậm chí mực nước rất lớn Nếu so giữa 3 con suối thì con suối này khi lũ to, mực nước là lớn hơn cả.Trước đây khi chưa có cây cầu sắt bắc qua suối như bây giờ thì việc đi lại vào những ngày này rất khókhăn, những ngày mưa lũ to người dân ở bên này bờ còn không qua được phía bên kia, phải đợi khi nướcrút thì mới sang được bờ

Cả ba con suối này gặp nhau tại một điểm hợp thành một dòng chảy đổ xuống khu vực Bản Hồ Do

con suối “Thềnh hù” nằm phía bên trên cao hơn so với con suối “Đề vô ki” và “Đề chô lú” cho nên khi

đổ từ trên cao xuống tại điểm giao nhau tạo thành một dòng thác trắng xóa nhìn rất đẹp mắt Người ta vẫnthường nói dòng thác là nơi hội tụ của cả ba con suối nhưng thực chất thì dòng thác đó chỉ được tạo nên

từ nguồn nước ở con suối “Thềnh hù” cùng với những mạch nước ngầm trên đó chảy xuống mà tạo thành Người H’Mông chỉ gọi là “Cháng đề” tức thác nước nhưng những người làm du lịch ở đây còn

đặt tên cho thác này là thác Tiên sa Nguồn nước của thác này phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước từ

“Thềnh hù” và các mạch nước phía bên trên dòng thác đổ xuống cho nên thác này chỉ có nhiều nước và

đẹp nhất vào mùa mưa nhất là trong khoảng tháng 5, tháng 6, tháng 7 âm lịch

3 Nước mưa “Đề nàng”: Nguồn nước nay chỉ có khi có mưa, mùa mưa ở đây là vào tháng 5, 6, 7,

chỉ có những tháng này mới có nhiều mưa, những trận mưa lớn tuy không có nhiều ý nghĩa trong việccung cấp nước cho sinh hoạt, ăn uống nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn trong nông nghiệp là cung cấpnguồn nước cho cây trồng Cho nên họ không coi đây là nguồn nước chính nhưng nguồn nước này đóngvai trò quan trọng trong việc trồng cây và cấy lúa trên những thửa ruộng bậc thang Nước mưa cũng đượcdùng trong sinh hoạt, ở những hộ gia đình có ít nước hay mạch nước nhỏ vào mùa mưa họ cũng hứngnước đó để dùng trong việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày

4 Nước ao: Nguồn nước này không nhiều trong bản chỉ có 3 hộ là đào ao thả cá và sử dụng nguồnnước này trong sinh hoạt hàng ngày, đó là các hộ gia đình của ông Phay, ông Phú và ông Chơ Những aonày được đào ở khu đất bằng, ở lưng chừng đồi, nơi có nhiều mạch nước chảy xuống Diện tích những cái

3 Tên gọi này là do khách du lịch và những người làm du lịch ở đây đặt nên Theo lời anh Nguyễn Trung Kiên, 32 tuổi – Trưởng phòng thương mại du lịch công ty cổ phần du lịch Cát Cát

4

Trang 5

ao này không lớn lắm, cái to nhất là của nhà ông Chơ, to hơn cái nhà Thực tế do khí hậu ở Cát Cát khálạnh nên việc nuôi cá không đem lại năng xuất cao, chủ yếu là để phục vụ đời sống gia đình, cải thiện bữa

ăn Hiện nay có thả một số loại cá như cá trôi, cá trắm, cá chép,… Còn trước kia, cách bây giờ khoảng 40

– 50 năm khi những giống cá này chưa về đến đây thì giống cá được nuôi chủ yếu là cá đỏ “gì là” và cá trắng “Dẻ đơ”, những giống cá này là những giống cá được bắt tứ ngoài suối rồi mang về thả, hoặc nếu nhà nào không có thì thường đi xin ở trên Ý Lèng Hồ “Hảng đinh de” tại những nhà cũng nuôi cá mà có nhiều loại cá này Ngoài ra những ao cá này còn đóng vai trò như những “Háng thlế” cung cấp nước cho

những thửa ruộng phía dưới của ao

Có thể thấy các nguồn nước trong bản khá nhiều, đa số là các nguồn nước có sẵn trong tự nhiên màngười dân không phải mất công khai phá hay đào, khơi Trong các nguồn nước kể trên thì có nước khe,nước mạch và nước suối là nguồn nước được sử dụng nhiều nhất vì những nguồn nước này vừa sạch lại

có nước quanh năm

- Theo mục đích sử dụng:

1 Nước dùng trong sinh hoạt hàng ngày: Trong mục này được chia làm hai phần đó là nước dùng

để ăn uống và nước dùng trong sinh hoạt hàng ngày khác như tắm rửa,…

Nước dùng trong ăn uống: Người H’Mông có tập quán ăn chín uống sôi, nước lã sau khi hứng vềdùng nồi để đun cho sôi sau đó mở nắp để nguội cả nhà cùng uống Do điều kiện khí hậu nơi đây nằmtrong đai khí hậu Sa Pa nên quanh năm mát mẻ, có khi cả mấy ngày cũng không phải uống giọt nước nào.Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp đặc biệt như đối với trẻ con hoặc khi lên rẫy hoặc đi đường xa thìcũng có người vẫn uống nước lã lấy từ các khe, các mạch hay suối Tiêu chuẩn để chọn nguồn nước đểdùng này cũng không quá phức tạp, chỉ cần nguồn nước đó sạch, đảm bảo vệ sinh là được Thường thìngười H’Mông dùng nguồn nước khe và mạch để uống, trước kia khi chưa có nguồn nước sạch hoặc vàomùa nước cạn, nước khe mạch ít thì họ cũng dùng nước suối hay nước mưa Hiện nay phổ biến là dùngnguồn nước sạch do nhà nước xây dựng và nguồn nước khe do người dân tự dẫn về sử dụng

Nước dùng trong những sinh hoạt khác: Cũng vẫn dùng các nguồn nước như nước uống nhưng sửdụng nhiều hơn là nguồn nước suối như: việc tắm, giặt quần áo, chăn màn hay giặt sạch sợi lanh sau khi

đã luộc để tẩy trắng sợi, ngâm gỗ,… Đặc biệt là việc đánh bắt cá trên các dòng suối, hoạt động này tuykhông diễn ra thường xuyên nhưng cũng đóng một vai trò nhất định, cung cấp một nguồn thực phẩmphong phú cải thiện bữa ăn Những hộ nhà có ao thì cũng dùng nước ao để phục vụ sinh hoạt gia đình.Ngoài ra trước kia trong bản có nhiều nhà còn sử dụng cố giã gạo bằng nước, để vận hành cối này người

ta cũng dùng nước khe, nước mạch khơi thành những mương hay bắc thành những chiếc máng có dòngchảy lớn làm cho nước chảy từ trên cao dội xuống phần gáo nước của cối giã tạo lực như chiếc đòn bẩylàm chiếc chày nâng lên hạ xuống để giã vào cối bên trong có chứa đầy thóc

2 Nước phục vụ sản xuất: Trong đó quan trọng nhất là nguồn nước dùng để phục vụ choviệc trồng cấy lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang Vì không giống như người H’Mông ở Bắc Hàhay Mường Khương cây trồng chính của họ là cây ngô, một loại cây trồng không cần nhiều nước, đượctrồng trên những sườn núi, quả đồi, vai trò của cây lúa thấp hơn cây ngô rất nhiều Còn ở bản Cát Cátngười H’Mông cũng trồng ngô nhưng với số lượng ít hơn lúa, ở những sườn đồi không có nước để làmruộng bậc thang Cây ngô mang lại hiệu quả kinh tế không cao, còn cây trồng chính của họ lại là cây lúanước, nguồn cung cấp lương thực chính Trong việc trồng cấy nguồn nước sử dụng nhiều nhất vẫn là

Trang 6

nước khe và các mạch ở phía trên của khu ruộng được dẫn trực tiếp chảy vào ruộng Do đặc thù của loạiruộng này là thoải theo hình bậc thang từ trên xuống dưới nên quá trình dẫn nước cũng như vậy, nướcphải được bắt đầu từ thửa ruộng cao nhất chảy qua các thửa ruộng trung gian ở giữa xuống đến thửaruộng thấp nhất Chính vì thế những nguồn nước phía dưới thấp như nước suối thì không dùng được vàoviệc làm ruộng bậc thang Làm nông nghiệp rất phụ thuộc vào tự nhiên, canh tác ruộng bậc thang ở đâycũng vậy rất phụ thuộc vào thời tiết cũng như việc mưa nắng Mặc dù có những khe, mạch nước nhưngnhững nguồn nước này vào mùa khô cũng hay bị cạn, rất ít nước Cho nên vào những thời điểm nắngnóng, ít mưa, hạn hán nếu không có nước mưa thì việc mất mùa cũng thường hay xảy ra nhất là vào giaiđoạn khi lúa vừa cấy xong đến giai đoạn lúa chuẩn bị vào đòng, đang vào đòng ứng với khoảng thời gianmùa hè nắng nóng, trùng với thời điểm thường hay khô hạn, ít nước nhưng lại hay có mưa tuy nhiên cónhững năm mưa rất ít, lượng nước không đáng kể như năm ngoái (năm 2010) Vào thời điểm đó mà trờikhông có mưa thì mất mùa cũng là điều bình thường Một số hộ có ao cá thì họ cũng sử dụng chúng nhưmột kho chứa nước, dẫn nước từ ao xuống các ruộng phía dưới4.

Nước dùng trong chăn nuôi: Ngoài 3 hộ nuôi cá ra thì các hộ khác trong bản ít phải quan tâm đến nguồnnước này Do vật nuôi ở đây nuôi dưới hình thức thả rong là chủ yếu nên vật nuôi tự kiếm nước để uốngtrên các dòng chảy lộ thiên, các mương máng dẫn nước, các vũng nước hay trong các thửa ruộng Ngay

cả những vật nuôi cần nhiều nước như vịt thì họ cũng thả rong trên những mảnh ruộng bậc thang gần nhà

mà không phải quan tâm đến việc dẫn nước về hay quây thành một khu riêng để phục vụ chăn nuôi

1 Vai trò của nguồn nước trong đời sống.

Có thể nói trong đời sống nước đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với người H’Mông

mà đối với tất cả các dân tộc Nước là một phần không thể nào thiếu được của cuộc sống Nước dùng đểphục vụ trực tiếp các nhu cầu trong sinh hoạt và trong sản xuất

Thứ nhất, trong lao động sản xuất: Trong lĩnh vực này nước có hai vai trò chính là phục vụ chotrồng trọt và chăn nuôi Do điều kiện khí hậu ở đây lạnh, chăn nuôi các loại thủy hải sản không thích hợpnên nước dùng trong lao động sản xuất chủ yếu là phục vụ cho việc trồng trọt với cây trồng chính là lúanước Trong trồng trọt nước là một yếu tố rất quan trọng, là tiêu chuẩn để chọn vị trí làm ruộng Đặc thùruộng ở đây là những khu ruộng bậc thang nằm trên những sườn đồi dốc thoai thoải nên việc dẫn nước từphía dưới lên trên ruộng rất khó, người dân ở đây không sử dụng Cho nên khi làm ruộng bậc thang kinhnghiệm đầu tiên trong việc chọn đất là ở đây là phải chọn chỗ nào có những mạch, khe nước hoặc vị trí

đó phải là nơi thuận lợi để dẫn nước từ các mạch và các khe Nguồn nước dùng để trồng cấy cũng giốngnhư nguồn nước dùng trong sinh hoạt, đều là các mạch và khe nước nhưng các mạch và khe này khôngcần nước sạch như nước dùng trong sinh hoạt mà chỉ cần các mạch, khe đó có nhiều nước là được vàcách dẫn nước cũng không cần cẩn thận và cầu kỳ như cách dẫn nước sinh hoạt Cây trồng chính là câylúa, một năm ở đây lại chỉ cấy được một vụ, nguồn thực phẩm chính cũng là cây lúa nên trong cuộc sốngcủa người H’Mông ở bản Cát Cát họ rất chú trọng tới việc chăm sóc cây lúa, cũng như bảo vệ nguồnnước cho cây lúa vì từ khi cấy lúa cho đến giai đoạn lúa trổ bông nếu thiếu nước vào ruộng thì bông lúa

sẽ lép và năm đó sẽ mất mùaMặc dù vai trò của nước trong chăn nuôi so với trồng trọt ở đây mức độ sửdụng ít hơn nhưng vai trò thì cũng không kém phần quan trọng Nước vừa để vật nuôi như trâu, lợn,… làđiều kiện để chăn nuôi một số loại động vật dưới nước như cá, thủy cầm như vịt

6

Trang 7

Trong đời sống sinh hoạt: Ngoài vai trò của nước trong sinh hoạt như nước để tắm rửa, giặt giũ,nước để ăn uống thì nước còn có một vai trò khác đó là nguồn nước còn cung cấp cho người dân ở đâynguồn thức ăn để cải thiện đời sống Trong bản có tất cả ba con suối lớn, ngoài ra có đến hàng trămnhững khe nước lớn nhỏ, đó là môi trường sinh tụ của nhiều loại tôm cá Mặc dù việc đánh bắt ở đâykhông nhiều bằng săn bắn nhất là từ mấy chục năm trở lại đây nhất là từ những năm 1990 với sự xuấthiện của hoạt động du lịch, nguồn cá trong các khe suối không còn được nhiều như trước nữa, hình thứcđánh cá bằng mìn bị nhà nước cấm nên hoạt động đánh bắt của người dân ở đây lại càng ít hơn nhưngvẫn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của dân tộc.

Dân tộc H’Mông ở Cát Cát cũng như dân tộc H’Mông ở những nơi khác là một dân tộc thiểu số với tínngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh tức là họ cho rằng tất cả mọi thứ trong tự nhiên đều có thần như mỗimột khu đất lại có một vị thần riêng, một cây cổ thụ lớn thì sẽ có thần cây, một tảng đá lớn cũng có thầnđá,… Và nguồn nước ở đây thì họ cũng coi là có thần nước cai quản Những lễ hội hay nghi lễ lớn liênquan đến nguồn nước ở đây không có mà chỉ có lễ cúng nguồn nước vào ngày cuối năm và đầu năm đó là

lễ cúng nguồn nước sạch do người chủ gia đình thực hiện vào ngày 29 hoặc 30 tết và thắp hương ở nguồnnước vào ngày mùng 1 tết Những lễ này tuy không lớn nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong đờisống tộc người vì họ cho rằng những lễ cầu cúng đó có ý nghĩa để cầu xin thần nước cho nước chảy mãi,người dân sẽ không bao giờ thiếu nước để ăn và thiếu nước vào ruộng, cho cây lúa tốt tươi, bông lúanặng hạt

2 Kinh nghiệm sử dụng và bảo vệ nguồn nước

3.1 Cách khai thác nguồn nước

Như đã nói ở trên, trong bản Cát Cát có khá nhiều nguồn nước nhưng đa số đều là nguồn nước lộthiên, nhiều nhất là hệ thống các khe và mạch nước ngay trên mặt đất nên việc khai thác và sử dụngnguồn nước không đòi hỏi nhiều công sức như ở những vùng khác Những nơi khác để lấy nước sinh hoạtthì họ phải đào giếng vì nguồn nước lộ thiên ít, chủ yếu là các mạch nước ngầm nằm sâu dưới lòng đấtcho nên phải đào sâu trúng mạch chảy thì mới có nước để dùng Nhưng ở đây chưa thấy có hộ gia đìnhnào phải đào giếng để lấy nước mà nguồn nước được dùng chủ yếu là dẫn từ các khe bằng hệ thống rãnhnước và mương máng về nhà Người H’Mông sử dụng nguồn nước chủ yếu là phục vụ đời sống sinh hoạthàng ngày và trong việc trồng cấy lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang Cũng giống những nơi khác

ở Sa Pa như Tả Van, Lao Chải,… ở Cát Cát do điều kiền khí hậu nên cũng chỉ thích hợp để canh tác lúamột vụ vào thời gian nóng nhất trong năm ứng với thời điểm hay có mưa Vụ lúa này kéo dài khoảng bốntháng cũng như một vụ lúa hai vụ, nó bắt đầu từ cuối tháng tư đầu tháng năm cho đến cuối tháng tám đầutháng chín thì thu hoạch xong Còn việc sử dụng nguồn nước để chăn nuôi thì ít, có một số hộ gia đìnhcũng đào ao để thả cá còn nuôi gia cầm trên dòng nước thì cũng chưa thấy có Nguồn nước lớn và ngonnhất từ trước đến giờ vẫn là mạch nước ngay phía bên trên nhà trình tường hiện nay Rất nhiều nhà chungnhau sử dụng nguồn nước đó

Trong bản có hệ thống 3 con suối trong đó có 2 con suối là suối “Đề vô ki” và“Đề chô lú” có

những đặc điểm rất thích hợp với việc làm hệ thống thủy điện như dòng chảy nhanh, mạnh có độ dốc, và

lưu lượng nước thường xuyên Thao lời ông Má A Chơ: Từ những năm 1920 khi bố của ông Má A Chơ

còn sống người Pháp đã sử dụng chính sức lao động của những người dân nơi đây đặc biệt là những người H’Mông trong bản Cát Cát để xây dựng nhà máy thủy điện trên các con suối Nhà máy thủy điện

Trang 8

này được đặt trên con suối “Đề vô ki” vì tính ra trong ba con suối, suối này là suối bắt nguồn từ thác bạc

nên lượng nước quanh năm tương đối ổn định, suối có độ dốc nhất, dòng chảy tuy nhỏ nhưng mạnh nhất,gập ghềnh nhất tạo ra tốc độ dòng chảy lớn Khi đó nhà máy thủy điện này hoạt động rất tốt, đảm bảoviệc cung cấp điện cho phần lớn bộ phận dân cư trên thị trấn Sa Pa Từ khi người Pháp rút khỏi Sa Pa thìnhà máy thủy điện này dần dần xuống cấp, hư hỏng, cách đây khoảng 20 năm thì nhà máy này không cònđược sử dụng nữa

Cách dẫn nước: Người H’Mông ở đây không dẫn nước từ chỗ thấp lên chỗ cao mà thường chỉ dẫnnước từ chỗ cao chảy xuống chỗ thấp hoặc những chỗ ngang bằng nhau Nước được dẫn từ các khe chảy

ra nhằm lấy nước cho sinh hoạt hoặc lấy nước cho sản xuất Có 2 cách chính đó là đào mương rãnh trên

mặt đất để dẫn nước “ Cử đề” và dùng những cây dạng ống để làm mương máng dẫn nước “Seo lồng

chự” Trong cách dẫn nước để dùng cho sản xuất và dùng cho sinh hoạt có sự khác nhau dựa theo mục

đích sử dụng Cụ thể như sau:

Cách dẫn nước với mục đích dùng trong sản xuất: Ở những chỗ địa hình đất liền, tương đối bằng phẳngkhông bị chia cắt bởi những hào hay khu trũng sâu thì người ta thường dùng cuốc đào thành những rãnhnhỏ rộng khoảng từ 20 – 40cm, sâu từ 10 – 20cm để dẫn nước từ trên nguồn về khu ruộng của mình vìnguồn nước này không cần nước sạch Sau khi nước về các ruộng thì họ tạo thành các khe hở trên cácthửa ruộng để dẫn nước từ ruộng ở trên cao xuống những ruộng ở dưới thấp Nếu nguồn nước có độ caotương đương với thửa ruộng nào thì sẽ được dẫn trực tiếp vào thửa đó chứ không nhất thiết là bắt buộcphải dẫn từ thửa ruộng ở vị trí cao nhất Ngoài ra ở những nơi địa hình không được nối liền tức là bị chiacắt bởi vực sâu hay muốn đưa nước từ bên này suối sang bên kia suối, những chỗ đá không đào được rãnhnước thì người ta dùng một cách khác đó là dùng hệ thống máng nước bằng thân cây khoét rỗng như mộtchiếc cầu để đưa nước từ bên này qua bên kia Nếu khoảng cách quá xa mà không thể dùng một mángnước đưa qua được mà phải nối máng hoặc nước chảy nhiều, đảm bảo độ bền cho máng nước người tacòn làm cọc chống từ dưới mặt đất lên để đỡ đoạn giữa của máng nước Một dòng nước từ nguồn dẫn đếnnơi sử dụng có thể chỉ dùng một cách dẫn bằng mương máng đào hay bằng ống cây, có khi lại sử dụng kếthợp cả 2 loại hình này, điều đó phụ thuộc vào địa hình dẫn nước

Cách dẫn nước trong sinh hoạt: Nước dùng trong sinh hoạt gia đình phảỉ là nước sạch nên chủ yếu họdùng cây làm máng dẫn nước từ nguồn về đến nhà vì nếu dùng rãnh đào thì trong dòng nước đó sẽ bị lẫn

cả đất, đá, lá cây còn dùng máng để dẫn thì nước sẽ đỡ bị bẩn hơn, tuy nhiên một số hộ dẫn nước về sinh

hoạt vẫn dùng theo hình thức “ Cử đề” này Máng dẫn nước thường được làm bằng cây vầu “Xùng khó

trử”, cây mai gọi là “Lồng chử” vì những cây này có thân rỗng to, thẳng ở bản lại mọc nhiều nên không

khó để tìm Trung bình mỗi máng nước dài khoảng từ 4 – 7m Cây vầu thì thường dùng làm máng nhỏ vìcây nhỏ hơn cây mai nên chỉ thích hợp dùng ở chỗ có dòng chảy nhỏ còn những chỗ có dòng chảy lớn thìthường dùng cây mai vì cây này thân cây to hơn, ruột cũng rỗng lớn hơn, có những cây to bề ngang củaruột còn hơn cả một găng tay người lớn, tính ra trung bình những cây đó đường kính cũng phải từ 15 –20cm, chiều dài từ 5 – 8m, dẫn được nhiều nước Những máng này cũng rất bền, trung bình cũng phảiđược 1 năm, có cái bền còn dùng được đến 2 năm (đối với những loại máng mà có nước chảy thườngxuyên thì có độ bề lâu hơn vì máng được ngâm với nước sẽ chắc hơn, còn những máng để khô khôngđược nước chảy nhiều thì độ bền sẽ không bằng và dễ bị mục hoặc giòn, nứt và gẫy) Máng có 3 loại đó là

loại máng ống thông “Chá đề”, máng cách đốt “jằng xùng” và máng một nửa tiếng H’Mông cũng gọi là

8

Trang 9

“Chá đề” Trong đó có máng ống thông là dùng để dẫn nước sạch “Đề hú”, còn máng cách đốt và máng

một nửa dùng để dẫn nước sinh hoạt hoặc nước sản xuất Cụ thể về các laọi máng này như sau:

Thứ nhất: Máng ống thông “Chá đề” là loại máng còn nguyên vẹn cả một cây chặt đoạn gốc và đoạn

ngọn lấy đoạn ống to đều đều nhau ở giữa vì đoạn gốc và đầu cây thân ống nhỏ, dẫn được ít nước và nướcchảy sẽ không đều Cây sau khi chọn và chặt xong thì được khoét sạch các đầu mấu bên trong thành một

chiếc ống thông dùng để dẫn nước sạch “Đề hú” về các hộ gia đình để ăn uống Đây là loại máng làm kỳ

công nhất từ khâu chọn cây cho đến cách đục khoét thân Cây chọn phải thẳng, có độ to đều đều nhau,phải là cây bánh tẻ vì nếu chọn cây già quá thì gỗ chắc, cứng, khó đục hơn nữa những cây già thườnggiòn, khi để ngoài lâu dễ bị nứt hoặc vỡ làm rò rỉ nước Còn nếu chọn cây non quá thì tuy khi đục ống dễdàng nhưng khi dùng ống đó để một thời gian, nhất là để ngoài trời thì nó dễ bị teo vào hoặc dễ bị gãy rathành khúc ở những đầu mấu Có nhiều cách để đục thông các đầu mấu trong thân cây: Đối với nhữngcây ngắn người ta dùng những thanh sắt cứng, to, nhọn hoặc những dụng cụ như chiếc thuổng chọc vàoống cây để đục những đầu mấu trong thân cây Còn đối với những cây dài hơn nếu dùng theo cách đó thìkhông thể đục được hết các đầu mấu mà chỉ có thể đục được những mấu ở hai đầu Người ta còn có mộtcách khác là dùng con dao nhọn do người H’Mông tự rèn, dao này thường rất cứng, rất sắc buộc vào thâncủa một cây trúc nhỏ nhưng phải đủ độ cứng và chắc sao cho vừa vào thân ống đó để chọc thủng các đầumấu ở đoạn giữa Những ống này có thể được để trên mặt đất hoạc chôn dưới một lớp đất nhẹ Vì dẫnnước thường ở xa nhà nên người ta phải dùng nhiều ống nối lại với nhau Cách nối loại ống này cũng phảirất tỉ mỉ không như loại máng một nửa chỉ cần nối các máng đè lên nhau là xong còn loại máng này người

ta phải nối rất cẩn thận không để nước rò rỉ ra ngoài và cũng như không để nước bẩn, đất cát bên ngoài lọtvào trong máng Do những máng này ngắn, nên để dẫn nước từ nguồn về nhà thì cần phải sử dụng rất

nhiều máng để nối lại với nhau Cách nối máng này như sau Trước tiên, họ dùng những dây mây “Tra dê

hau” hoặc những dây thép để buộc các đầu ống nối lại với nhau cho chắc Sau đó dùng loại đất “Pì phau

cừ đê” là loại đất bùn, đất sét lấy từ dưới ruộng lên, nhào mịn sao cho có độ dẻo vừa phải để đắp lên chỗ

vừa nối đó với mục đích làm chỗ đó kín vào, nước không bị rò rỉ ra ngoài

Thứ 2: Máng cách đốt “jằng xùng” là loại máng dùng để dẫn nước trong sinh hoạt hoặc trong sản xuất.

Cách chọn cây để làm máng thì cũng tương tự như máng ống thông cũng vẫn là những cây to đều vàthẳng nhưng mức độ thẳng không quan trọng bằng làm ống thông Cách làm loại máng này đơn giản hơnrất nhiều chỉ cần dùng dao khoét đi một phần cây ở chỗ vùng xung quanh đầu mẩu thành một ô vuông sau

đó lại dùng dao nhọn khoét sạch đầu mẩu trong thân cây đi một cách dễ dàng Còn phần giữa của hai đốtthì vẫn để nguyên như ống thông tạo thành những đoạn cách đều nhau qua lỗ thủng ở đầu mấu Cách nốiloại máng này cũng tương tự như loại máng ống thông nhưng chỉ cần dùng dây mây và dây thép buộc lạichứ không cần phải đắp đất ở bên ngoài

Thứ 3: Máng một nửa “Chá đề”: Loại máng này cách chọn cây thì cũng tương tự như hai loại máng trên

nhưng cách làm thì đơn giản hơn Chỉ cần dùng cây mai hoặc cây vầu bổ đôi thành 2 nửa bằng nhau sau

đó dùng dao khoét hết đầu mẩu phía bên trong đi, như vậy là đã có một máng nước Như các loại mángkhác thì một cây chỉ làm được một cái máng, còn loại máng này thì từ một cây có thể làm thành được 2chiếc máng Loại máng này sử dụng phổ biến nhất là trong việc dẫn nước vào ruộng vì cách làm dễ, tiếtkiệm nguyên liệu, thời gian và công sức Cách nối máng cũng đơn giản, chỉ cần gác máng này lên mángkia hoặc lấy dây buộc ở đầu nối là được

Trang 10

Cách dẫn nước này hiện nay vẫn còn được sử dụng tuy nhiên bên cạnh những loại máng truyền thống đóngười dân còn sử dụng cả những ống nhựa để dẫn nước, nhất là nước dùng trong việc ăn uống thì bây giờ

đa số là dùng loại ống dẫn này Do những nguồn nước ở đây luôn có sẵn, nên bình thường người dân ởđây không có thói quen dự trữ nước, mà chỉ dùng trực tiếp nước từ máng bắc từ nguồn chảy về nhà Tuynhiên một số hộ gia đình vẫn có thùng gỗ để chứa nước nhất là vào mùa hạn hán, ít nước hoặc vào mùamưa khi mà nước trên các nguồn nhất là các khe thường hay đục do các khe đó tường lộ thiên hoặc bắtnguồn từ rừng nên mỗi khi mưa to mưa xối vào thường cuốn theo đất đá chảy vào dòng làm cho nướckhông trong như ngày thường Khi đó họ có biện pháp xử lý như sau Nếu mà mưa không lâu nước chảyđục thì người ta không dùng nước đó để dùng nữa mà cho chảy hết ra ngoài cho đến khi nào nước trongtrở lại thì dùng Nếu mà mưa nhiều, lâu và vẫn bắt buộc phải sử dụng nước đó vì không có nguồn nướckhá thì người ta sẽ hứng nước vào thùng sau đó để lắng hết căn đất rồi múc lấy phần nước sạch phía trên

để dùng

Ngoài ra người H’Mông còn biết lợi dụng sức nước để phục vụ cho đời sống, họ sáng tạo ra

những chiếc cối giã gạo “Chỉu đề” để tận dụng sức nước Trước kia khi chưa có điện, chưa có máy sát

thóc, chiếc cối này được sử dụng rất phổ biến hầu như gia đình nào cũng có một cái Những chiếc cối nàythường được để gần nhà, bên cạnh nhà ngay chỗ nguồn nước chảy Chiếc cối này có có hai bộ phận chính

là chày giã và cối giã Chày giã gạo như một cái cầu bập bênh được làm bằng một thân cây gỗ thông lớn,dài khoảng 3 – 4m chia làm hai phần Thứ nhất là máng hứng nước ở phía cuối của chày giã được đục từthân cây, khoét rỗng như một chiếc gáo để hứng dòng nước chảy từ một máng nước phía trên xuống Tiếptheo là đến phần điểm tựa của chày giã chia chày giã thành hai phần là gáo nước và chày giã Điểm tựanày cũng chính là hai cột gỗ cao khoảng 50cm so với mặt đất để đỡ và nâng chiếc cối gia lên Thường thìngười ta làm cánh tay đòn phía bên gáo nước dài hơn cánh tay đòn phía bên chày giã Mục đích là đểgiảm lượng nước chảy vào gáo mà vẫn tạo được một lực mạnh để giã đầu chày xuống lòng cối đá Phầnthứ hai là chày giã chỉ là một thanh gỗ bình thường được đẽo là lõi của thân cây thông, bề dày của bản gỗkhoảng từ 15 – 20 cm Tính từ điểm tựa đến đầu chày giã có độ dài khoảng bằng 1/3 độ dài của chiếcchày giã gạo này Phía đầu của cánh tay đòn này có được gắn một chiếc chày nhỏ phù hợp với bề rộngcũng như độ sâu của chiếc cối không được quá to hay quá nhỏ, quá dài cũng như quá ngắn, được đóngchắc vào cánh tay đòn sao cho khi giã thì đầu chiếc chày đó sẽ giã thẳng xuống chiếc cối mà không bịlệch ra ngoài và phải vừa với chiếc cối Còn chiếc cối thì được làm bằng một hòn đá khoét rỗng ruột, hòn

đá thường có hình trụ dài nhưng đầu cối lại rộng hơn, đáy cối nhỏ dần như hình nón cụt, thành cối dày từ

3 – 5cm, nhiều cái cối do sử dụng quá lâu từ đời này qua đời khác thành cối cũng bị mòn đi rất nhiều, đáycối cũng sâu thêm, bề mặt lòng cối trở nên bóng Ruột cối càng to thì càng chứa được nhiều thóc gạo,bình thường mỗi cối chứa khoảng từ 4 – 5kg thóc, có những cối to còn chứa đến cả 10kg Do những chiếccối giã này thường để ngoài trời, để đề phòng những trường hợp mưa nước làm ướt gạo trong cối thì họcòn làm cả mái che cho chiếc cối Nguyên lý hoạt động của những chiếc cối này cũng rất đơn giản, người

ta sẽ mắc một máng nước từ khe chảy xuống sao cho nước sẽ chảy thẳng vào phần gáo của chiếc cối giã

và đổ đầy gạo vào chiếc cối giã Do cách đặt cối giã và cấu tạo của cối giã co nên bình thường khi chưa

có nước chảy vào, phần máng nước của chiếc cối giã sẽ bẩu lên và khi nước chảy đầy vào phần gáo củamáng nước thì chiếc chày sẽ từ từ như một chiếc bập bênh trong đó phần gáo chứa đầy nước sẽ nặng hơnnên trĩu dần xuống làm cho đầu phía bên kia có chày giã đang đặt trong cối giã bị bẩu dần lên qua điểmtựa cao hơn mặt đất ở giữa chiếc cày giã Và khi chiếc gáo đầy lại bị nước xối vào sẽ trĩu dần xuống làm

10

Trang 11

cho nước ở trong gáo bị chảy hết ra ngoài Khi đó đầu gáo trở nên nhẹ hơn và ngay lập tức bị bẩu ngượctrở lên đồng thời theo nguyên lý của đòn bẩy thì đầu phía bên chày giã sẽ bị dập mạnh xuống chiếc cốichứa gạo trong đó Quá trình này cứ lặp đi lặp lại như vậy rất nhiều lần, chiếc chày được nâng lên rồi lại

hạ xuống tạo thành nguồn lực giac xuống chiếc cối làm lớp vỏ của những hạt thóc bị đập bung ra thànhhạt gạo trắng Khi đó người ta chỉ cần múc gạo trong cối ra mang đi sẩy cho hết lớp vỏ là đã có gạo trắng

để nấu Nếu như nước trên nguồn lớn, nước máng chảy to thì chỉ cần một ngày đã giã xong một mẻ cònnếu nước chảy bé thì cũng phải mất từ 2 – 3 ngày mới giã xong được một mẻ Những cối giã gạo này tuycông suất không lớn nhưng cũng rất tiện lợi vì giã gạo thì cần phải có sức khỏe, mà ban ngày nhữngngười khỏe mạnh đều phải lên nương rẫy đến tối mới về nhà, ban đêm thì là thời gian nghỉ ngơi nên họchỉ tranh thủ giã gạo khi rảnh rỗi nên những chiếc cối này có thể làm thay sức con người, giã gạo cả ngàylẫn đêm nếu nước chảy đều đặn vào máng mà con người lại không phải mất sức Không chỉ là cối giã gạo,nhiều hộ gia đình còn sử dụng cối giã này để giã cả ngô, sắn để nấu cho lợn ăn Tuy nhiên, cách đây vàichục năm, kể từ khi có điện, có máy sát người dân ở đây không còn sử dụng những chiếc cối giã gạo bằngnước này nữa Nhiều hộ gia đình phá bỏ, một số hộ thì vẫn để đó, khi hoạt động du lịch phát triển ở đâythì những chiếc cối giã gạo này được công ty du lịch mua và dựng lại để tạo cảnh quan cho khu du lịch,góp phần giữ lại bản sắc của chính những người H’Mông nơi đây Hiện nay trong khu du lịch Cát Cát cótất cả 8 chiếc cối giã bằng nước được bố trí dọc hai bên đường đi bộ từ đầu làng từ chỗ trạm kiểm soát vé

số 1 đi xuống đến dưới suối

3.2 Kinh nghiệm đánh bắt thủy hải sản trên khe, suối

Do đặc điểm các con suối ở đây là nhỏ, dốc và nước chảy siết nên các khe, suối ở Cát Cát không

có nhiều cá So với trước kia thì hiện nay, kể từ khi có sự xuất hiện của hoạt động du lịch (cách bây giờkhoảng trên dưới 20 năm) mật độ cá trên các con suối giảm hẳn và còn chủ yếu là những con cá nhỏ như

cá bống “Kê dú úi”, cá trắng “Dẻ đơ”,… Người dân ở đây thường săn bắn các loại thú trên rừng là chủ

yếu còn hoạt động đánh bắt cá cũng không thường xuyên như việc đi săn, chỉ thỉnh thoảng vào vụ cónhiều cá thì đi đánh bắt gọi là có cái để cải thiện bữa ăn và cho có đủ chất Việc đánh bắt cá trước đây đã

ít, hiện nay lại còn ít hơn do lượng cá ở đây càng ngày càng giảm về số lượng và việc đánh bắt cá trên cácdòng cùng khó hơn Ngoài ra chính sách cấm săn bắt cũng như cấm dùng các chất gây nổ để đánh bắt cácùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, trao đổi buôn bán thực phẩm ở nơi đây cũng là một trongnhững tác động đáng kể đến hoạt động này Do họ ít đi đánh bắt cá nên những kinh nghiệm về các loại cácũng như đánh bắt của người dân nơi đây cũng không nhiều

Theo lời những người đàn ông lớn tuổi trong làng, đọan suối mà có nhiều cá nhất vẫn là khe suối

nhỏ nơi mà cả ba con suối “Thềnh hù”, “Đề vô ki” và “Đề chô lú” gặp nhau và giao nhau Đó chính là ở

chỗ thác nước Tiên Sa sau đó hợp lại thành một dòng suối nhỏ đổ xuống một khe thấp hơn và chảy xuốngphía dưới Bản Hồ Mặc dù khe này có rất nhiều cá nhưng khe suối đó lại nằm sâu xuống phía dưới so vớimặt bằng của các con suối kia, hai bên là vách núi cao hiểm trở, dòng chảy rất nhỏ lại có đá gập ghềnh,mấp mô, chủ yếu là những hòn đá tai mèo, trơn trượt nên việc đánh bắt ở đó rất khó, ít ai dám đi xuốngkhe suối đó Còn những chỗ khác cũng có cá nhưng không nhiều bằng ở chỗ đó và cũng chỉ có chủ yếu là

cá nhỏ Cá thường sống nhiều ở những khu nước trũng, nước chảy không siết, còn hai bên bờ có bụi cây

hoặc dưới chân những hòn đá dưới suối là địa điểm ẩn nấp của những con cua “Trau trì”.

Trang 12

Trên các khe suối ở đây có những loại cá sau: Nhiều nhất là cá trắng “Dẻ đơ” là loại cá mình

thon, đầu nhỏ, người có màu trắng và hơi xám ở lưng, con cá này thường nhỏ, sống theo đàn rất đông.Những con to thì mình bằng hai ngón tay, dài khoảng một gang tay Cá này có nhiều nhưng rất khó để bắt,

kể cả khi quang chài nên chủ yếu bắt được do nổ mìn Nhiều không kém cá trắng là cá bống “Kê dú úi”,

cũng là loại cá nhỏ, sống nhiều ở tầng đáy, cũng không quá khó để bắt, thường bắt được khi dùng vợt để

xúc và khi quăng chài Cá rắn hổ mang “Dề cềnh dú ” là loại cá màu đen, có vảy cứng như rắn hổ mang

nên mới có tên gọi như vậy Cá này cũng nhiều không kém cá trắng, là loại cá đánh bắt được nhiều nhất

khi căng chài Một loại cá nữa là cá đỏ “Gì là”, cá này có hình dáng như sau: có hai vạch đỏ chạy dọc theo sống lưng, bụng trắng, con to cũng phải đến gần 1kg Một loại cá nữa cũng có rất nhiều là cá rô “Xì

pua” nhìn gần giống như loại cá rô đồng Ngoài ra ở đây còn có rất nhiều cua “Trau trì” ẩn nấp hai bên

bờ có bụi cây hoặc dưới chân những tảng đá Cua ở đây thường mai rất cứng, bắt được nhiều nhất là khi

đi xúc hoặc khi mò theo dưới chân của những tảng đá ở bên suối

Cách đoán định và kinh nghiệm đánh bắt các loại cá: Theo kinh nghiệm của những người dân nơiđây thì ở những chỗ nước sạch, khi mặt trời chiếu vào thẳng dòng nước là khi mà đánh bắt cá khó nhất.Vào thời điểm trăng tròn tức là giữa tháng trong khoảng những ngày 13, 14, 15, 16 âm lịch hàng tháng làthời điểm thích hợp nhất để đánh bắt cá vào ban đêm vì khi đó trăng sáng, việc đánh bắt cá vào ban đêmcũng dễ hơn vào ban ngày Mùa có nhiều cá nhất là mùa hè vì khi đó thời tiết nắng ấm, cá về đây đẻnhiều nhưng mùa này cũng lại là mùa đánh bắt khó nhất vì hay có nước lũ to bất ngờ và trời hay mưa nên

đá ở suối trơn, khó di chuyển Thời điểm thích hợp để đánh bắt cá và cũng chính là thời điểm mà ngườidân ở đây hay đi đánh bắt đó là vào mùa đông Tuy mùa này thời tiết lạnh nhưng cũng vì thế nên suốithường cạn, nước ít nên dễ dàng trong việc di chuyển, đi lại trên các hòn đá trong lòng suối Là mùa khônên đá ở lòng suối không bị ngập nước, không có nhiều rêu mọc nên không trơn, đi lại dễ dàng hơn Khi

đó nước cạn, dòng chày nhỏ, cá sẽ tập chung trong những vũng nước trũng hoặc náu mình dưới chân củanhững tảng đá, chỉ cần mò bằng tay hoặc dùng chài quăng hoặc dùng cây rừng cho vào nước là đã đượcrất nhiều cá

Cách đánh bắt cá và dụng cụ đánh bắt cá cũng có nhiều loại như: Thời xa xưa nhất thì người ta thường

đánh bắt bằng cách bẫy cá “Tó chuôn dề” Dụng cụ để bẫy cá là những chiếc giỏ tự đan bằng tre, có hình

thon, tròn, nhỏ hai đầu và phình to ở đoạn giữa, dài khoảng từ 40 – 50cm, một đầu thì đan kín lại vớinhau còn một đầu thì để hở miệng với đường kính khoảng 10cm Đầu giỏ có đan thêm một cái nắp cũngbằng tre là một vòng tròn, có nhiều nan làm tua rua dẻo xung quanh vòng tròn đó, những nan này xiênvào trong cùng một phía như thành hình một hình nón cụt sao cho con cá có thể chui qua khe hở này đểvào bên trong giỏ Khi đóng nắp giỏ người ta bịt vòng tròn đó vào đầu giỏ, hướng đầu có những tua rualàm bằng những nan tre dẻo vào phía trong của giỏ với mục đích làm cho con cá khi xiên vào phía bêntrong giỏ thì dễ còn khi đã ăn mồi quay ra sẽ bị những nan tre cản lại, không ra được nữa Cách đánh bắtnhư sau: Cho giun thối vào phía trong của giỏ để làm mồi nhử cá vì đây là thức ăn thích nhất của các loại

cá, sau đó đậy nắp giỏ vào, đem đặt ở chỗ giữa các khe đá, nơi dòng nước chảy xuyên qua những cũngkhông được chảy quá siết nếu không sẽ làm nát vào chảy tan hết mồi nhử, chỗ đó phải thường xuyên có

cá bơi lội qua lại Cách đặt thì người ta cho đầu của giỏ tức đầu có nắp đậy có tua rua hướng lên phía trênnguồn nước để hứng lấy dòng chảy của nước, mỗi lần đặt khoảng chừng chục cái ở nhiều vị trí khác nhauxung quanh nơi mà hay có nhiều cá qua lại Đặt như vậy khoảng một buổi ví dụ như ban đêm đi đặt bẫythì sáng đi ra gỡ bẫy Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì đặt bẫy vào ban đêm là hay được nhiều

12

Trang 13

nhất Cách đánh bắt này thường bắt được những loại cá như cá bống, lươn, cá rắn hổ mang,… có cả cá to,

cá nhỏ Nhiều khi một giỏ còn đánh được mấy con một lúc

Dụng cụ thứ hai là lưới, chài mua ở ngoài chợ về hoặc do người dân tự làm bằng dây lanh hoặc dây bao,dây cước đan thành những ô mặt sàng nhỏ để cá không thể chui qua được, chân của các lưới chài này thì

có gắn thêm chì Để có một chiếc lưới như vậy làm mất rất nhiều thời gian nên thường thì người dân đimua chài, lưới ngoài chợ về dùng vừa tiết kiệm thời gian mà cũng rất tiện lợi, loại lưới này cũng nhưnhững chiếc lưới đánh cá cả các dân tộc khác Dùng dụng cụ này để đánh bắt thì được nhiều cá to và đềucá

Dụng cụ thứ ba là vợt để xúc Vợt xúc có hai loại là vợt xúc bằng dây và vợt xúc bằng tre Loại vợt xúc

bằng dây thường mua của người Giáy, là loại mà vòng tròn làm khung vợt và cán vợt bằng tre hoặc sắt,bên dưới là bụng vợt làm bằng dây dù, dây bao hoặc dây cước cách đan giống như đan chài, lưới Cũng

có khi người H’Mông tự đan nhưng chủ yếu là bằng dây lanh, dây đay do cách đan cũng phức tạp và vợt

ít sử dụng nên phần đông là họ đi mua của người Giáy hoặc mua ngoài chợ đem về dùng Loại vợt xúcbằng tre hay còn gọi là rổ xúc dạng như cái thuyền của người Kinh nhưng bé chủ to hơn cái rổ hay dùngmột chút, một đầu rổ thì thon tròn còn một đầu rổ thì bằng để làm điểm đặt xúc Hai đầu rổ cao hơn, ởphía giữa thì trũng xuống Những loại vợt này nhỏ, nhẹ cả trẻ con và người lớn ai cũng đều sử dụng được,

thường sử dụng để xúc cá quanh bờ nhất là vào mùa nước lũ “Lù lầu” Nhưng dùng vợt thì chỉ xúc được

những loại cá nhỏ quanh bờ như cá bống hoặc tôm, cua

Cách thứ tư là dùng lưới dăng : Cách đánh bắt này sư dụng nhiều vào mùa nước lũ, đặt chiếc lưới ngangdòng chảy của nước sau đó lùa cá để cá vướng vào lưới và nhấc lưới lên là thu được cá Cách đánh bắtnày thu được đủ loại từ cá lớn, cá bé, cua, tôm Lưới dăng cá cũng làm tương tự như những loại lướikhác, chỉ có điều nó là một tấm hình chữ nhật dài khoảng….m, rộng khoảng….m

Cách thứ năm để đánh bắt là tát nước: Cách này thường sử dụng ở những dòng nước hoặc những vũngnước nhỏ, trong Dùng đất, đá đắp hai đầu của dòng nước, không cho nước vào và ra sau đó có thể dùngtay hoặc dùng chậu, xô tát cạn nước bên trong để bắt cá

Cách thứ sáu là dùng thuốc nổ: Cách này sử dụng ở chỗ nước sâu, trong, nhiều cá Cách này trước kiathường sử dụng vì khi đó nhà nước chưa cấm, cứ đi rừng về còn thuốc là mang đi đánh cá nếu không thấychỗ nào có nhiều cá thì lại đi mua thuốc nổ ở ngoài chợ mang về để đánh Đánh theo kiểu này thì được rấtnhiều cá, cả con to, con nhỏ đều chết hết Cá được nhiều ăn phải được mấy ngày mới hết Do đánh bằngmìn nên được nhiều, khi đó cá ở bên trên thì dùng vợt để xúc, còn cả ở bên dưới thì lấy tay mò hoặc lặnxuống để bắt Nhưng cách đánh bắt này vừa nguy hiểm lại ảnh hưởng đến nguồn cá, giống cá, môi trườngcảnh quan, môi trường sinh thái nhất là cảnh quan du lịch trong bản nên từ lâu đã bị nhà nước cấm, ngườidân ở đây cũng không còn sử dụng nữa, hiện nay phổ biến nhất vẫn là dùng chài và lưới để đánh cá.Cách thứ bảy là dùng cây rừng để đánh cá: Đó là một dạng cây leo, mọc ở trong rừng hoặc ngay trên quảđồi phía trên đường cái từ Sa Pa dẫn xuống bản Cát Cát hiện nay cũng vẫn còn thấy mọc Người H’Mông

ở đây cũng không biết tiếng Kinh gọi là cây gì nhưng theo tiếng dân tộc thì gọi là cây “Lế” Cây này là

một dạng cây leo, thân cây to phải bằng 2 ngón tay, lá cũng to bằng bàn tay, thân cây và lá cây màu xanhtrắng, rễ cây màu đỏ đỏ, hồng hồng thường hay mọc bám vào thân những cây gỗ lớn hay mọc leo lên trêncác bụi cây leo ở những nơi râm mát, nơi có bóng cây Loại cây này người có nhai phải cũng không chết,chỉ có mỗi cá ăn phải mới chết Cách dùng cây này để đánh cá như sau: Sau khi đi lấy cây về, nhổ được

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w