I. MỞ ĐẦU1.Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu1.1. Mục tiêu nghiên cứu1.1.1. Ý tưởng khoa họcLào Cai có 13 dân tộc với 23 nhóm ngành khác nhau cư trú. Các dân tộc ở Lào Cai có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh chống ngoại xâm và có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì vậy, cần có một nghiên cứu tổng quan, toàn diện về tất cả các tộc người để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc trong đời sống hiện nay. 1.1.2. Mục tiêu chungNghiên cứu sưu tầm tư liệu hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”. Bản thảo cuốn sách có độ dày từ 600 trang đến 800 trang khổ A4, 500 ảnh, 13 lược đồ và nhiều phụ lục nhằm giới thiệu cụ thể các đặc trưng dân số, kinh tế xã hội và văn hóa v.v... của các dân tộc trong tỉnh Lào Cai. 1.1.3. Mục tiêu cụ thể Khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Trên cơ sở đó, biên soạn cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”. Cung cấp những hiểu biết về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc. Sưu tầm các tài liệu thứ cấp ở thư viện quốc gia, các viện nghiên cứu viết về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất bản. Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu, dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa... Xây dựng lược đồ phân bố và các đặc tính dân cư của các nhóm ngành dân tộc trong địa bàn tỉnh Lào Cai. Xây dựng album ảnh với hơn 500 ảnh chụp giới thiệu về các dân tộc ở Lào Cai.1.2. Đối tượng nghiên cứu:Các tộc người, các ngành nhóm địa phương của tộc người cư trú theo địa bàn làng, bản và phân theo nhóm ngôn ngữ.1.3. Phạm vi nghiên cứuĐề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai theo địa giới tương ứng với từng thời kỳ lịch sử cụ thể, có so sánh với các địa phương khác để làm sáng tỏ thêm vấn đề cần nghiên cứu.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuMột số khái niệm2.1.1. Khái niệm dân tộc, tộc người “Dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử, nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một vùng lãnh thổ và có chung một nền văn hoá” (Xtalin). Theo khái niệm này, ở Lào Cai có 13 dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, Thái, Phù Lá, Hà Nhì Đen, Giáy, Bố Y, Hoa, La Chí. Theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, tộc người là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên goi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc tộc người. Tức có chung một khát vọng, cùng được chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những kí ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ). Một tộc người không nhất thiết phải có cùng lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế.2.1.2. Nhóm, ngành dân tộcTrong mỗi dân tộc có sự phân chia thành các nhóm, ngành dân tộc khác nhau. Cách phân chia các nhóm, ngành chủ yếu dựa vào ngôn ngữ, trang phục, sinh hoạt văn hóa xã hội,…. Chẳng hạn như: sự phân biệt các nhóm Dao chủ yếu dựa vào sự khác nhau trong trang phục của người phụ nữ. Nhóm Dao Đỏ sử dụng nhiều màu đỏ trong trang phục, nhóm Dao Quần Trắng vì có tục mặc quần trắng trong đám cưới. Trong các nhóm dân tộc này, lại có sự phân chia thành các nhóm địa phương. Ở Lào Cai, duy nhất có người Dao Tuyển (một bộ phận thuộc nhóm dân tộc Dao Làn Tiẻn (Dao Chàm), người Dao Họ là nhóm địa phương của Dao Quần Trắng.2.1.3. Người mang thành phần dân tộcNgười mang thành phần dân tộc là những người có tên dân tộc nhưng ko còn văn hóa, ngôn ngữ. Ở Lào Cai, có những người mang tên dân tộc nhưng không còn ngôn ngữ, văn hóa, như : Khơ me, Ba Na, Sán Chay, Sán Dìu, Mnông, Thổ, Khơ Mú, Bru Vân Kiều, Tà Ôi, Xinh Min, Lào, La Hủ, La Ha, Lô Lô, Pu Péo.2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứuTrước hết, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về lịch sử, cấu trúc kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lào Cai, mà chỉ đề cập đến một tộc người hay một vấn đề cụ thể và mới dừng lại ở mức độ hết sức sơ giản.Một số phong tục tập quán của cư dân vùng Hưng Hóa (có châu Thủy Vỹ Lào Cai) đã được đề cập đến trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn. Năm 1788, trong tác phẩm “Hưng Hóa xứ phong thổ lục”, tiến sỹ Hoàng Đình Chính đã phác họa vài nét về dân cư, phong tục tập quán một số dân tộc ở châu Thủy Vĩ, Châu Văn Bàn (vùng đất Lào Cai ngày nay). Năm 1857, Phạm Thận Duật viết cuốn “Hưng Hóa ký lược” cũng đề cập một số nét về đặc điểm tính cách, văn hóa của một số dân tộc ở Thủy Vĩ, Văn Bàn. Nhìn chung, các tác phẩm thời phong kiến viết về các tộc người ở Lào Cai còn rất ít và mới chỉ dừng lại ở một vài nét chấm phá với ý nghĩa là những phong tục lạ. Từ khi thực dân Pháp đánh chiếm và cai trị Lào Cai, một số cha cố, sĩ quan quân đội có kiến thức dân tộc học đã viết một số tác phẩm về một số dân tộc Lào Cai. Đi tiên phong và có những nghiên cứu tiêu biểu về các tộc người ở miền núi phía Bắc trong đó có Lào Cai là viên quan năm kiêm nhà dân tộc học Đ.Bôniphasy. Trong các tác phẩm “Mán Làn tiẻn”, “Mán sừng”, ông đã sử dụng nhiều tư liệu sưu tầm ở Lào Cai. Năm 1924, linh mục Savina viết cuốn “Lịch sử Mèo” nói về người Hmông ở Sa Pa. Những tác phẩm này là những nghiên cứu mang tính chuyên đề song được phản ánh dưới cái nhìn của kẻ cai trị nên một số luận điểm lý giải về nguồn gốc các dân tộc còn không đúng, thiếu khách quan.Từ khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, dân tộc học, văn hóa học có những bước phát triển mới. Lào Cai đã trở thành địa bàn điền dã, nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu về văn hóa, dân tộc. Những tác phẩm tiêu biểu viết về các dân tộc ở Lào Cai thời kỳ này có thể kể đến “Dân ca Mèo” của Doãn Thanh, “Dân ca Giáy” của Lù Dín Siềng, Thèn Sèn, Nông Trung, “Tục ngữ Giáy” của Lò Ngân Sủn. Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở mức độ sưu tầm, chưa có những phân tích, đánh giá, luận giải. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là thời kỳ nở rộ nhiều tác phẩm nghiên cứu về văn hóa các tộc người ở Lào Cai, điển hình có “Văn hóa Hmông” (1996) của Trần Hữu Sơn, “Phong tục tập quán của người Nùng Dín ở thôn Tùng Lâu” của Vàng Thung Chúng, “”, “Phong tục người Giáy” của Sần Cháng; “Lễ cưới người Dao tuyển” của Trần Hữu Sơn; “Lễ hội các dân tộc Lào Cai”; “Thơ ca dân gian người Dao tuyển” của Trần Hữu Sơn chủ biên… Song các công trình nghiên cứu này mới chú ý đi sâu về một số thành tố văn hóa dân gian, chưa đề cập toàn diện về kinh tế xã hội của các tộc người. Đồng thời các công trình mới tập trung nhiều vào một dân tộc (Hmông, Giáy, Nùng) hoặc một ngành của dân tộc (như ngành Dao tuyển). Tóm lại, những nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất hiện từ khá sớm nhưng mới chỉ dừng lại ở mức sơ giản hoặc chỉ đề cập đến một lĩnh vực cụ thể còn thiếu những công trình nghiên cứu tổng quát, toàn diện về các tộc người ở Lào Cai. 2.3. Luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuHiện nay, nhiều trí thức, già làng dân tộc chưa đồng thuận với việc xác định thành phần dân tộc (như ngành Pa Dí, Thu Lao của dân tộc Tày, ngành Phù Lá, Xá Phó của dân tộc Phù Lá…). Do đó, cần có những nghiên cứu để làm rõ hơn những vấn đề cụ thể về tộc danh, tộc người.Mặt khác, các dân tộc ở Lào Cai có một kho tàng đồ sộ những tri thức bản địa cần được khai thác và vận dụng trong xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội hiện nay. Hơn nữa, vấn đề an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đang có những diễn biến phức tạp. Trong đó, có nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa tộc người, chẳng hạn như: tại sao nhà nước ta đã phải bỏ ra rất nhiều tiền bạc và công sức để tuyên truyền chính sách, ổn định kinh tế xã hội cho đồng bào vùng cao, biên giới nhưng ở vùng người H’Mông vẫn thường xuyên xảy ra các vấn đề về diễn biến hòa bình?,…. Do đó, rất cần những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, văn hóa tộc người để có được phương pháp tuyên truyền, vận động hiệu quả ở vùng đồng bào dân tộc. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài3.1. Ý nghĩa khoa họcĐề tài góp phần nghiên cứu và bổ sung lý thuyết về nghiên cứu các thành phần tộc người, quá trình tộc người, làm tài liệu cung cấp cho các trường học xây dựng giáo trình về môn dân tộc học địa phương, lịch sử văn hoá. Qua việc khảo sát, nghiên cứu toàn diện các mặt của đời sống các tộc người sẽ góp phần cụ thể hoá thêm khái niệm “văn hoá”, “giao thoa văn hoá”, “tiếp biến văn hoá”, “xung đột văn hoá”, “biến đổi văn hoá”,.... Những chuyên đề nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về các dân tộc cư trú ở Lào Cai đã cung cấp thêm tư liệu khoa học cho hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như chuyên ngành nghiên cứu “khu vực học”, “nhân học”, “văn hoá học”,.... Thông qua những nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai, độc giả sẽ hiểu thêm đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam nền văn hoá “đa dạng trong thống nhất”. 3.2. Ý nghĩa thực tiễnLào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới, nơi có sự cư trú của hơn 20 tộc người. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng. Do đó, việc nghiên cứu về các dân tộc cư trú trên địa bàn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị và giữ vững quốc phòng.Mặt khác, các dân tộc sinh sống ở Lào Cai từ lâu đời và có nhiều truyền thống quý báu. Vì thế, thông qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp khơi dậy những truyền thống đó để đồng bào tiếp tục gìn giữ và phát huy nó trong đời sống hiện đại.Đồng thời, việc nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai cũng góp phần thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Mối quan hệ giữa biến đổi văn hoá và việc bảo tồn văn hoá được thể hiện một cách rõ nét. Do đó, đề tài bước đầu đưa ra được những ý kiến về việc bảo tồn văn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, đề tài cũng làm nổi bật mỗi quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá. Qua đó, các cơ quan chức năng và tổ chức kinh doanh có được định hướng và sản phẩm kinh doanh phù hợp để phát triển kinh tế gắn với bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống. Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những kiến thức hữu ích cho các nhà quản lý trong quá trình hoạch định chính sách để những chính sách đó đáp ứng được yêu cầu bức thiết của nhân dân các dân tộc tỉnh nhà. II. NỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐÃ THỰC HIỆN1. Cách tiếp cận1.1. Cách tiếp cận chungTrong nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa và vận dụng một số lý thuyết trong các nghiên cứu về nhân học, nhân học văn hóa, văn hóa học.1.2. Cách tiếp cận chuyên ngànhĐề tài nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai nên cách tiếp cận của đề tài là tiếp cận theo hướng nhân học văn hóa. “Nhân loại học văn hóa chính là một ngành khoa học nghiên cứu nguồn gốc, quá trình trưởng thành, biến thiên và tiến hóa của cả nhân loại từ các phương diện như sản xuất vật chất, kết cấu xã hội, tổ chức cộng đồng, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng… đồng thời so sánh điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa của các dân tộc, các tộc người, các quốc gia, các khu vực, các đoàn thể xã hội… nhằm phát hiện được tính phổ biến của văn hóa và những mô hình văn hóa mang tính cá biệt, từ đó tổng kết ra quy luật thông thường và quy luật đặc thù của phát triển xã hội” (Từ Kiệt Thuấn (chủ biên): Để nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai, chúng tôi sử dụng thuyết tiến hóa về xã hội và văn hóa, thuyết chức năng, thuyết cấu trúc, thuyết phiên giải văn hóa (lý giải văn hóa), thuyết tương đối văn hóa.1.3. Cách tiếp cận liên ngànhĐề tài được thực hiện dựa trên cách tiếp cận liên ngành Dân tộc học, Văn hóa học, ngôn ngữ học, văn học,…. để giải quyết vấn đề đặt ra. 2. Nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm2.1. Sưu tầm các tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài nằm ở các thư viện quốc gia, viện nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất bản. Hệ thống, phân loại các tài liệu thứ cấp theo từng chuyên đề của đề tài. Phân tích các tài liệu thứ cấp sưu tầm được nhằm kế thừa nguồn tư liệu có trước mang tính khoa học, bác bỏ những thông tin không chính xác. 2.2. Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu, dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa.2.3. Xây dựng đề cương, kế hoạch nghiên cứu chi tiết cho đề tài, thiết kế bộ công cụ nghiên cứu phù hợp. Nội dung đề cương nghiên cứu đề cập đến các vấn đề cụ thể như sau (phù hợp với đề cương so sánh): Nhóm ngôn ngữ Việt Mường có dân tộc Kinh, dân tộc Mường Nhóm ngôn ngữ Ka Đai có dân tộc La Chí Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái gồm có dân tộc Tày (có ngành địa phương là Pa Dí, Thu Lao), dân tộc Thái, dân tộc Nùng (có ngành Nùng Dín, Nùng An), dân tộc Bố Y (Tu Dí)); dân tộc Giáy. Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao gồm có dân tộc Hmông (có ngành Hmông lềnh, Hmông đu, Hmông đơ, Hmông xanh, Hmông súa); dân tộc Dao (có các ngành Dao đỏ, Dao tuyển, Dao họ). Nhóm ngôn ngữ Tạng Miến gồm có các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá (có ngành Pu La và Xá Phó). Nhóm ngôn ngữ Hán: có người Hoa (Thượng Phương).2.4. Tiến hành nghiên cứu thông qua các phương pháp nhằm làm rõ các nội dung sau:2.4.1. Nghiên cứu lịch sử tộc người, chú ý đến nguồn gốc hình thành, đặc điểm di cư, các mối quan hệ lịch sử. Nghiên cứu về dân số và sự phân bố dân cư: số liệu về dân số trong lịch sử và qua các mốc từng điều tra dân số. Sự phân bố các dân tộc ở từng địa bàn làng, xã, phường. Trong đó chú ý sự phân bố theo làng. Tên gọi dân tộc: tên tự gọi, tên các dân tộc khác gọi trước đây. Đặc điểm chính về ngôn ngữ tộc người.2.4.2. Nghiên cứu cấu trúc kinh tế xã hội, văn hóa tộc người:Cơ cấu kinh tế truyền thống: trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế tự nhiên, nghề thủ công, trao đổi hàng hóa. Phân tích yếu tố truyền thống về những biến đổi. Nghiên cứu các thành tố văn hóa vật chất của dân tộc như nhà cửa, trang phục, ăn uống, đồ gia dụng, phương tiện đi lại truyền thống và những biến đổi hiện nay. Nghiên cứu về tổ chức xã hội như gia đình, dòng họ, làng truyền thống và biến đổi. Nghiên cứu về phong tục chủ yếu theo chu kỳ đời người và hệ thống ngày tết, ngày hội như sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới, tang ma, lễ tết hội và biến đổi. Nghiên cứu một số thành tố văn hóa dân gian như tín ngưỡng, văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian. Nghiên cứu về truyền thống chống giặc ngoại xâm oanh liệt của các dân tộc. Nghiên cứu truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống mới của các dân tộc Lào Cai.2.5. Xây dựng đề cương chi tiết cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”. 2.6. Triển khai điền dã, khảo sát thực địa mỗi ngành nhóm dân tộc ở 1 làng khác nhau nhằm thu thập thông tin, sưu tầm tưu liệu, chụp ảnh, ghi âm... phục vụ đề tài.2.7. Triển khai phân tích, tổng hợp thông tin thu thập được qua các đợt khảo sát và sưu tầm tư liệu thứ cấp viết thành 24 chuyên đề cấu tạo thành nội dung cuốn sách về các dân tộc ở Lào Cai 2.8. Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu, dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa...2.9. Xây dựng lược đồ phân bố và các đặc tính dân cư của các nhóm ngành dân tộc trong địa bàn tỉnh Lào Cai. Thu thập và xử lý thông tin làm căn cứ dữ liệu cho việc thiết kế các lược đồ. Thiết kế, chỉnh sửa 23 lược đồ In ấn 23 lược đồ2.10. Xây dựng hoành chỉnh bản thảo cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai” Tổng hợp tư liệu viết thành bản thảo cuốn sách theo đề cương chi tiết. Hội thảo các chuyên gia góp ý chỉnh sửa bản thảo cuốn sách “Các dân tộc Lào Cai” Chỉnh sửa biên tập hoàn thiện cuốn sách “Các dân tộc Lào Cai”2.11. Xây dựng album ảnh với hơn 500 ảnh chụp giới thiệu về các dân tộc ở Lào CaiChọn ảnh, rửa ảnh theo nội dung của các chuyên đề về 23 nhóm ngành dân tộc ở Lào Cai; Xây dựng đề cương cho album ảnh giới thiệu về các dân tộc; Chú thích ảnh ; Mua vật liệu làm khung và trình bày, dán ảnh vào album.3. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng3.1. Cơ sở phương pháp luận của đề tài là: i) tập hợp các phương pháp tiếp cận chung của các ngành khoa học là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp hệ thống; ii) Tập hợp các phương pháp chuyên ngành của nhân học văn hóa; iii) Tập hợp các phương pháp liên ngành của văn hóa học, văn hóa dân gian, dân tộc học, xã hội học, khu vực học, địa lý học nhân văn,…3.2. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp: áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp được thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm: các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương, thống kê ở các cơ quan thống kê, các tài liệu đã nghiên cứu về các dân tộc và các dân tộc ở Lào Cai. Nghiên cứu định tính: là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài. Trong đó có phương pháp cụ thể như sau:+ Phương pháp quan sát: kết hợp quan sát tham gia (participant observation) với nhiều cấp độ khác nhau từ quan sát thuần túy đến tham gia trực tiếp vào đời sống của các dân tộc,…+ Phương pháp phỏng vấn: kết hợp các kỹ thuật phỏng vấn như phỏng vấn theo câu hỏi cấu trúc sẵn đến phỏng vấn mở, khai thác các câu chuyện đời sống; phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm tập trung; phỏng vấn một lần và phỏng vấn nhiều lần..+ Phương pháp hội nghị: còn gọi là phương pháp chuyên gia, được thực hiện bằng cách nêu câu hỏi cho các chuyên gia nhằm thu thập thông tin qua phân tích, tranh luận của các chuyên gia. Đề tài sẽ tổ chức hai loại hội nghị: hội nghị bàn tròn mang tính chất tọa đàm trao đổi thường xuyên giữa nhóm thực hiện đề tài với một số chuyên gia; hội thảo khoa học nhằm khuyến khích chuyên gia đưa ra các ý kiến, khuyến nghị, các báo cáo nhằm thu thập thông tin, tranh luận về các vấn đề quan trọng. Nghiên cứu định lượng: ngoài việc sử dụng nghiên cứu định tính với những kỹ thuật điền dã dân tộc học nhân học là phương pháp chủ chốt, đề tài cũng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi(questionnaire) để thu thập những mẫu số và xu hướng chung. Mỗi ngành dân tộc ở các tiểu vùng khác nhau sẽ được đưa vào mẫu điều tra. Các câu hỏi sẽ được thiết kế dưới dạng theo nội dung, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi mở, câu hỏi đóng, câu hỏi hỗn hợp. Phương pháp khảo sát điền dã, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu so sánh liên văn hóa, loại hình học,….III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU1. Sau một thời gian lao động nghiêm túc và nỗ lực hết mình của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, công trình nghiên cứu xây dựng bản thảo cuốn sách các dân tộc ở Lào Cai đã hoàn thành, bao gồm 25 chuyên đề hoàn chỉnh (23 chuyên đề loại I và 02 chuyên đề loại II) theo đúng thuyết minh đề tài và đã có sự góp ý, chỉnh sửa của các chuyên gia.Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Kinh (Việt)1.1.1. Khái quát chungNgười Kinh bắt đầu có mặt ở Lào Cai ngay từ thời Bắc thuộc. Nhưng trong suốt thời kỳ phong kiến, số lượng người Kinh đến Lào Cai còn ít và lẻ tẻ. Từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhất là từ khi xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh, số lượng người Kinh ở Lào Cai đã tăng lên đáng kể. Đặc biệt, từ năm 1960, với cuộc vận động đi khai hoang, xây dựng kinh tế mới của Đảng ta, một lượng lớn người Kinh đã lên Lào Cai, với đầy đủ các tầng lớp, ngành nghề: nông dân, công nhân, công chức, viên chức,… Hiện nay, người Kinh có 212.528 người, cư trú chủ yếu ở những nơi có điều kiện thuận về đất đai sản xuất, đường giao thông, ở các trung tâm của huyện, thị trấn, thị xã. 1.1.2. Hoạt động kinh tế Nhìn chung, đời sống kinh tế của người Kinh không khác nhiều so với người Kinh trong cả nước. Ở nông thôn, người Kinh sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp: trồng lúa nước, nương ngô, khoai, sắn, chăn nuôi, làm vườn. Họ có nhiều kinh nghiệm trong thâm canh, tăng vụ lúa nước để đạt được năng suất và sản lượng cao. Bộ phận người Kinh sống ở các khu vực thành phố, thị trấn làm công ăn lương trong các cơ quan nhà nước, nhà máy, xí nghiệp và những người làm nghề tự do, buôn bán. So với các dân tộc thiểu số trong vùng, người Kinh có đời sống kinh tế vượt trội và ổn định hơn.1.1.3. Văn hoá vật chấtỞ nông thôn, người Kinh cư trú thành làng và các xóm trại. Người Kinh ở thành thị, cư trú thành các tổ, xóm. Có thể nói quan hệ láng giềng trong cộng đồng người Kinh khá chặt chẽ, theo quan niệm “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Đời sống văn hoá vật chất (ăn uống, trang phục, nhà cửa) của người Kinh giống như người Kinh trong cả nước.Gia đình người Kinh ở Lào Cai chủ yếu là các gia đình nhỏ, hạt nhân. Vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình ngày càng được nâng cao, bình đẳng với nam giới.1.1.4. Phong tục, tập quán trong chu kỳ đời người Người Kinh rất xem trọng việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái. Phụ nữ có thai luôn được gia đình quan tâm và chăm sóc đặc biệt. Đứa trẻ sinh ra được ông bà, cha mẹ yêu thương, chăm sóc chu đáo. Ngày nay, trẻ em vùng người Kinh sinh sống đều được hưởng chế độ giáo dục chu đáo và đầy đủ.Phong tục cưới xin của người Kinh ở Lào Cai cũng giống như người Kinh ở vùng Bắc Bộ nhưng ngày nay đã giản tiện đi nhiều. Về cơ bản, quy trình tổ chức đám cưới vẫn được duy trì theo phong tục cổ; gồm có các bước: kén chọn, giạm ngõ (chạm mặt), ăn hỏi, cưới, lại mặt và nộp cheo.Người Kinh có những quy định chặt chẽ trong việc làm nhà mới như: chọn thế đất, hướng nhà, ngày động thổ, ngày phát mộc, ngày khánh thành, với mong muốn gia đình có được cuộc sống yên ổn, thịnh vượng. Theo quan niệm của người Kinh, tang ma chỉ sự mất đi, biến đổi tang thương của đời người. Vì thế, tang quyến luôn cố gắng tổ chức một đám tang thật chu tất cho người đã mất. Một đám tang thường bao gồm các bước: khâm liệm, phát tang, nhập quan, phúng viếng và cúng cơm cho người chết, chọn đất đào huyệt, chuyển cữu, hạ huyệt. Sau đám tang, còn một số nghi lễ như: lễ cúng ba ngày, lễ cúng giải vía, lễ cúng 49 ngày, lễ cúng 100 ngày, cúng giỗ đầu, lễ Đàm tế, lễ cải táng.1.1.5. Văn hoá tinh thầnDân tộc Kinh có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú và đa dạng. Họ quan niệm vũ trụ được chia làm ba cõi theo trục dọc là cõi trời, trần gian và địa phủ; con người có phần hồn và phần xác, phần xác có thể mất đi nhưng linh hồn vẫn còn mãi mãi. Vì thế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã ăn sâu trong đời sống của người Kinh từ bao đời nay và trở thành một truyền thống. Bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Kinh còn có theo một số tôn giáo khác như đạo Phật, Thiên chúa giáo, đạo Mẫu. Dù đi theo bất cứ tôn giáo nào, người Kinh ở Lào Cai vẫn thực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước, sống tốt đời đẹp đạo, phụng sự tổ quốc và nhân dân.Người Kinh ở Lào Cai chủ yếu là các cư dân nông nghiệp từ các tỉnh như: Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Tây, Hưng Yên… lên làm ăn sinh sống nên mang theo những hoạt động văn hoá mang tính đặc trưng của quê hương mình lên vùng đất mới.Nghệ thuật tạo hình của người Kinh cũng rất đa dạng, phong phú và đạt đến trình độ khá cao. Người Kinh ở Lào Cai tùy theo nguồn gốc mà nổi tiếng với các sản phẩm của quê hương, như: đồ gỗ Đồng Kị, khảm trai Hà Tây,…. So với các dân tộc khác trong vùng thì nghệ thuật tạo hình của người Kinh phát triển mạnh và đạt đến độ tinh sảo.Dân tộc Kinh có nhiều lễ tết truyền thống như: tết Nguyên Đán, tết Hàn Thực, tết Đoan Ngọ, tết Trung Nguyên, tết Trung Thu, tết Táo Quân. Các lễ hội dân gian truyền thống của người Kinh ở Lào Cai không phong phú và đa dạng như các làng của người Kinh ở các vùng đồng bằng, do các làng người Kinh ở Lào Cai chủ yếu là những làng mới được thành lập, chưa có lịch sử lâu đời, dân cư còn thưa thớt, họ sống sen kẽ với các dân tộc khá. Do vậy, người Kinh thường tham gia vào các lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số trong vùng. Một trong những lễ hội tiêu biểu mang đậm nét văn hoá của người Việt trên mảnh đất Lào Cai đó là các lễ hội đền Thượng, đền Mẫu, đền Bảo Hà. Đây cũng là ba lễ hội lớn nhất trong năm.Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Mường1.2.1. Khái quát chungNgười Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mon, Moan, Mó… đều có nghĩa là người. Hiện nay, Mường là tên gọi chính thức của đồng bào. Người Mường chiếm tỷ lệ nhỏ so với các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tập chung chủ yếu ở thôn Đồng Tâm và thôn Cố Hải (xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng) với 14 hộ, 58 nhân khẩu, chiếm 1,8% số nhân khẩu toàn xã. Đây cũng là địa điểm chính được lựa chọn khảo sát, sưu tầm về văn hóa truyền thống của người Mường để làm đại diện cho cộng đồng người Mường ở Lào Cai. Người Mường ở đây đều có nguồn gốc từ dòng họ Đinh Công ( huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) di cư đến năm 1977. 1.2.2. Hoạt động kinh tế Cho đến nay, người Mường ở Lào Cai vẫn lấy nông nghiệp trồng trọt làm nguồn sống chính. Đồng thời, họ kết hợp trồng trọt với chăn nuôi gia súc, gia cầm và duy trì một số nghề thủ công như đan lát, làm mộc, thêu dệt, rèn đúc. Đặc biệt, người Mường bước đầu thích nghi với việc trao đổi buôn bán và sản xuất hàng hóa.1.2.3. Tổ chức xã hội Các làng bản người Mường là một đơn vị cư trú mà các thành viên cư trú trong đó liên kết với nhau bằng quan hệ láng giềng và quan hệ huyết thống (họ hàng) tính theo dòng phụ hệ và mang nặng tính phụ quyền. Tế bào của dòng họ là Noọc (nóc, nóc nhà). Đó là các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân. Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế, có tính phụ quyền chặt chẽ. Đặc quyền lớn nhất sau khi cha chết được dành cho người con trai trưởng với việc được hưởng phần lớn số tài sản do cha để lại. Tuy nhiên, không vì thế mà thân phận người con gái bị hắt hủi, bị coi rẻ.Xã hội cổ truyền của người Mường trước Cách mạng tháng Tám có sự phân hóa thành hai tầng đẳng cấp sâu sắc: đẳng cấp trên và đẳng cấp bình dân. Sự phân hóa ấy diễn ra theo phạm vi dòng họ và được cha truyền con nối. 1.2.3. Văn hoá vật chấtNgười Mường xưa ăn cơm đồ từ gạo nếp là chính. Nước uống, nấu ăn và sinh hoạt được lấy ở suối, múc bằng vò gốm hoặc ống bương rồi vác về nhà. Trong các kiểu chế biến món ăn truyền thống thì đồ và nướng (vùi, lam, lùi) là hình thức nấu ăn rất được đồng bào ưa chuộng.Trang phục nam giới đơn giản với áo cánh xẻ ngực, quần chân què lá tọa gần giống như bao tộc người khác ở miền núi phía Bắc. Trang phục truyền thống của người phụ nữ Mường gồm có: 01 cái khăn chít đầu màu trắng, đồng bào gọi là Cại mu (Cái mũ); 01 cái yếm màu trắng, ngắn hơn cái yếm cổ truyền của người phụ nữ Việt, đồng bào gọi là Cại yệm (Cái yếm); 01 cái áo cánh ngắn màu trắng, xẻ giữa, không có khuy cài bấm, đồng bào gọi là Cại ạo (Cái áo); 01 cái váy ống bằng vải đen, bó lấy cơ thể từ nách xuống đến gần mắt cá chân. Phương tiện vận chuyển và đi lại trước đây là ngựa dùng để đi đường bộ, bè và thuyền độc mộc dùng để đi trên sông nước.Làng bản của người Mường thường có vài chục nóc nhà, được tạo dựng trên những sườn đồi thấp hoặc trong các thung lũng hẹp dưới chân đồi; hoặc cũng có thể ở giữa cánh đồng. Người Mường không thích dựng nhà sát bờ sông hoặc sát mặt đường mà phải cách một dải đất có nhiều cây xanh. Trước kia, mỗi làng bản người Mường thường có một ngôi nhà cộng đồng do dân làng cùng đóng góp tiền của, công sức dựng lên, gọi là Nhà Lang. Đây là nơi diễn ra các cuộc hội họp của cộng đồng để giải quyết các công việc chung. Đồng thời, đó cũng là nơi để cho trai gái yêu nhau đến đó ngủ bạn, tâm tình, tìm hiểu nhau vào mỗi dịp nông nhàn.1.2.4. Phong tục, tập quán trong chu kỳ đời người Phong tục cưới xinĐám cưới truyền thống của người Mường ở Sơn Hải trải qua các bước: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi nhỏ, lễ ăn hỏi lớn, lễ cưới và lễ đón dâu.Lễ dạm ngõ (Ti đam ngo) của người Mường ở Sơn Hải diễn ra nhanh chóng, đơn giản. Một người đàn ông vợ con đề huề, đời sống khấm khá, thạo đường lý lẽ được nhà trai nhờ làm ông mối mang cơi trầu sang đánh tiếng với nhà gái. Nếu sau 10 ngày không thấy nhà gái trả lại trầu cau là lễ dạm ngõ thành công, nhà trai chuẩn bị vật phẩm để làm lễ ăn hỏi nhỏ.Sau lễ dạm ngõ, gia đình nhà trai tiếp tục cử ông mối, chàng rể mang lễ vật sang nhà gái để làm lễ ăn hỏi nhỏ. Trong lễ này, hai bên gia đình bàn bạc, thỏa thuận rồi đi đến thống nhất các nội dung cho thủ tục tiếp theo là lễ ăn hỏi to (ăn nòm). Vào ngày lành tháng tốt, nhà trai cử ông mối, chú rể và một phù rể (rể piêng) mang lễ vật sang nhà gái tổ chức ăn nòm theo đúng phong tục cổ truyền. Trong lễ ăn nòm, nhà gái sẽ đưa ra những khoản thách cưới. Sau lễ ăn hỏi, nhà gái mang trầu cau đi chia khắp xóm gần, làng xa ngầm báo rằng con gái nhà mình đã có nơ`i có trốn, tránh hiện tượng các chàng trai trẻ trong vùng “nhòm ngó”.Sau lễ ăn hỏi khảng 23 tháng cho đến 1 2 năm, hai gia đình sẽ tiến hành tổ chức lễ cưới. Đoàn đón dâu nhà trai gồm 2 ông mối, chú rể, phù rể và một số thanh niên, nam nữ gánh đồ thách cưới và thực hiện việc nấu nướng bên nhà gái, anh em họ hàng, bạn bè của chú rể. Khi đoàn đón dâu đến cổng nhà gái sẽ bị một tốp thanh niên giăng chỉ đỏ ngang cổng. Ông mối trao cho họ 5 hào hay 1 đồng bạc trắng, họ sẽ tháo chỉ và cuốn vào cổ chú rể. Đến chân cầu thang, chú rể phải vái lạy mọi người rồi mới được lên nhà. Trước khi vào nhà, ông mối của hai nhà hát đối với nhau và nhà gái té nước vào ông mối và chú rể để lấy may. Sau đó, nhà gái tiến hành nghi thức cúng tổ tiên để thông báo với tổ tiên việc con gái mình đi lấy chồng, cầu mong tổ tiên phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc, con cháu đầy đàn. Sau nghi lễ cúng tổ tiên và tiệc rượu liên hoan, đoàn nhà trai xin phép được
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.1.2 Mục tiêu chung
Nghiên cứu sưu tầm tư liệu hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách “Các dân tộc ởLào Cai” Bản thảo cuốn sách có độ dày từ 600 trang đến 800 trang khổ A4, 500ảnh, 13 lược đồ và nhiều phụ lục nhằm giới thiệu cụ thể các đặc trưng dân số, kinh
tế - xã hội và văn hóa v.v của các dân tộc trong tỉnh Lào Cai
1.1.3 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện các dân tộc sinh sống trên địa bàntỉnh Lào Cai Trên cơ sở đó, biên soạn cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”
- Cung cấp những hiểu biết về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc
- Sưu tầm các tài liệu thứ cấp ở thư viện quốc gia, các viện nghiên cứu viết
về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất bản
- Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu,
dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa
- Xây dựng lược đồ phân bố và các đặc tính dân cư của các nhóm ngành dântộc trong địa bàn tỉnh Lào Cai
- Xây dựng album ảnh với hơn 500 ảnh chụp giới thiệu về các dân tộc ở Lào Cai
1.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các tộc người, các ngành nhóm địa phương của tộc người cư trú theo địabàn làng, bản và phân theo nhóm ngôn ngữ
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai theo địa giới tương ứng vớitừng thời kỳ lịch sử cụ thể, có so sánh với các địa phương khác để làm sáng tỏthêm vấn đề cần nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm dân tộc, tộc người
- “Dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử, nói chungmột ngôn ngữ, sống chung trên một vùng lãnh thổ và có chung một nền văn hoá”
Trang 2(Xtalin) Theo khái niệm này, ở Lào Cai có 13 dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Mường,Hoa, Nùng, Thái, Phù Lá, Hà Nhì Đen, Giáy, Bố Y, Hoa, La Chí.
- Theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, tộc người là một cộng đồng mang tínhtộc người có chung một tên goi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liênkết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộcngười, có chung một ý thức tự giác tộc tộc người Tức có chung một khát vọng,cùng được chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những kí ức lịch
sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) Một tộc người không nhất thiếtphải có cùng lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế
2.1.2 Nhóm, ngành dân tộc
Trong mỗi dân tộc có sự phân chia thành các nhóm, ngành dân tộc khác nhau.Cách phân chia các nhóm, ngành chủ yếu dựa vào ngôn ngữ, trang phục, sinh hoạt vănhóa xã hội,… Chẳng hạn như: sự phân biệt các nhóm Dao chủ yếu dựa vào sự khácnhau trong trang phục của người phụ nữ Nhóm Dao Đỏ sử dụng nhiều màu đỏ trongtrang phục, nhóm Dao Quần Trắng vì có tục mặc quần trắng trong đám cưới Trong cácnhóm dân tộc này, lại có sự phân chia thành các nhóm địa phương Ở Lào Cai, duy nhất
có người Dao Tuyển (một bộ phận thuộc nhóm dân tộc Dao Làn Tiẻn (Dao Chàm),người Dao Họ là nhóm địa phương của Dao Quần Trắng
2.1.3 Người mang thành phần dân tộc
Người mang thành phần dân tộc là những người có tên dân tộc nhưng ko cònvăn hóa, ngôn ngữ Ở Lào Cai, có những người mang tên dân tộc nhưng không cònngôn ngữ, văn hóa, như : Khơ me, Ba Na, Sán Chay, Sán Dìu, Mnông, Thổ, Khơ
Mú, Bru Vân Kiều, Tà Ôi, Xinh Min, Lào, La Hủ, La Ha, Lô Lô, Pu Péo
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trước hết, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có công trình nàonghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về lịch sử, cấu trúc kinh tế, văn hóa, xãhội của các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lào Cai, mà chỉ đề cập đến một tộcngười hay một vấn đề cụ thể và mới dừng lại ở mức độ hết sức sơ giản
Một số phong tục tập quán của cư dân vùng Hưng Hóa (có châu Thủy VỹLào Cai) đã được đề cập đến trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của nhà bác học
Lê Quý Đôn Năm 1788, trong tác phẩm “Hưng Hóa xứ phong thổ lục”, tiến sỹHoàng Đình Chính đã phác họa vài nét về dân cư, phong tục tập quán một số dântộc ở châu Thủy Vĩ, Châu Văn Bàn (vùng đất Lào Cai ngày nay) Năm 1857, PhạmThận Duật viết cuốn “Hưng Hóa ký lược” cũng đề cập một số nét về đặc điểm tínhcách, văn hóa của một số dân tộc ở Thủy Vĩ, Văn Bàn Nhìn chung, các tác phẩmthời phong kiến viết về các tộc người ở Lào Cai còn rất ít và mới chỉ dừng lại ở mộtvài nét chấm phá với ý nghĩa là những phong tục lạ
Từ khi thực dân Pháp đánh chiếm và cai trị Lào Cai, một số cha cố, sĩ quanquân đội có kiến thức dân tộc học đã viết một số tác phẩm về một số dân tộc LàoCai Đi tiên phong và có những nghiên cứu tiêu biểu về các tộc người ở miền núi
Trang 3phía Bắc trong đó có Lào Cai là viên quan năm kiêm nhà dân tộc học Đ.Bôniphasy.Trong các tác phẩm “Mán Làn tiẻn”, “Mán sừng”, ông đã sử dụng nhiều tư liệu sưutầm ở Lào Cai Năm 1924, linh mục Savina viết cuốn “Lịch sử Mèo” nói về ngườiHmông ở Sa Pa Những tác phẩm này là những nghiên cứu mang tính chuyên đềsong được phản ánh dưới cái nhìn của kẻ cai trị nên một số luận điểm lý giải vềnguồn gốc các dân tộc còn không đúng, thiếu khách quan.
Từ khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, dân tộc học, văn hóa học cónhững bước phát triển mới Lào Cai đã trở thành địa bàn điền dã, nghiên cứu củamột số nhà nghiên cứu về văn hóa, dân tộc Những tác phẩm tiêu biểu viết về cácdân tộc ở Lào Cai thời kỳ này có thể kể đến “Dân ca Mèo” của Doãn Thanh, “Dân
ca Giáy” của Lù Dín Siềng, Thèn Sèn, Nông Trung, “Tục ngữ Giáy” của Lò NgânSủn Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở mức độ sưu tầm, chưa cónhững phân tích, đánh giá, luận giải
Trang 4Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là thời kỳ nở rộ nhiều tác phẩm nghiên cứu
về văn hóa các tộc người ở Lào Cai, điển hình có “Văn hóa Hmông” (1996) củaTrần Hữu Sơn, “Phong tục tập quán của người Nùng Dín ở thôn Tùng Lâu” củaVàng Thung Chúng, “”, “Phong tục người Giáy” của Sần Cháng; “Lễ cưới ngườiDao tuyển” của Trần Hữu Sơn; “Lễ hội các dân tộc Lào Cai”; “Thơ ca dân gianngười Dao tuyển” của Trần Hữu Sơn chủ biên… Song các công trình nghiên cứunày mới chú ý đi sâu về một số thành tố văn hóa dân gian, chưa đề cập toàn diện vềkinh tế - xã hội của các tộc người Đồng thời các công trình mới tập trung nhiềuvào một dân tộc (Hmông, Giáy, Nùng) hoặc một ngành của dân tộc (như ngànhDao tuyển)
Tóm lại, những nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất hiện từ khá sớmnhưng mới chỉ dừng lại ở mức sơ giản hoặc chỉ đề cập đến một lĩnh vực cụ thể cònthiếu những công trình nghiên cứu tổng quát, toàn diện về các tộc người ở Lào Cai
2.3 Luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, nhiều trí thức, già làng dân tộc chưa đồng thuận với việc xác địnhthành phần dân tộc (như ngành Pa Dí, Thu Lao của dân tộc Tày, ngành Phù Lá, XáPhó của dân tộc Phù Lá…) Do đó, cần có những nghiên cứu để làm rõ hơn nhữngvấn đề cụ thể về tộc danh, tộc người
Mặt khác, các dân tộc ở Lào Cai có một kho tàng đồ sộ những tri thức bản địacần được khai thác và vận dụng trong xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội hiện nay
Hơn nữa, vấn đề an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu sốđang có những diễn biến phức tạp Trong đó, có nhiều vấn đề liên quan đến vănhóa tộc người, chẳng hạn như: tại sao nhà nước ta đã phải bỏ ra rất nhiều tiền bạc
và công sức để tuyên truyền chính sách, ổn định kinh tế - xã hội cho đồng bàovùng cao, biên giới nhưng ở vùng người H’Mông vẫn thường xuyên xảy ra các vấn
đề về diễn biến hòa bình?,… Do đó, rất cần những nghiên cứu chuyên sâu về lịch
sử, văn hóa tộc người để có được phương pháp tuyên truyền, vận động hiệu quả ởvùng đồng bào dân tộc
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần nghiên cứu và bổ sung lý thuyết về nghiên cứu các thànhphần tộc người, quá trình tộc người, làm tài liệu cung cấp cho các trường học xâydựng giáo trình về môn dân tộc học địa phương, lịch sử văn hoá Qua việc khảosát, nghiên cứu toàn diện các mặt của đời sống các tộc người sẽ góp phần cụ thểhoá thêm khái niệm “văn hoá”, “giao thoa văn hoá”, “tiếp biến văn hoá”, “xung độtvăn hoá”, “biến đổi văn hoá”,
Những chuyên đề nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về các dân tộc
cư trú ở Lào Cai đã cung cấp thêm tư liệu khoa học cho hoạt động nghiên cứu lịch
sử địa phương cũng như chuyên ngành nghiên cứu “khu vực học”, “nhân học”,
“văn hoá học”,
Trang 5Thông qua những nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai, độc giả sẽ hiểu thêm
đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam - nền văn hoá “đa dạng trong thống nhất”
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới, nơi có sự cư trú của hơn 20 tộcngười Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng Do đó,việc nghiên cứu về các dân tộc cư trú trên địa bàn có ý nghĩa quan trọng trong việc pháttriển kinh tế, ổn định chính trị và giữ vững quốc phòng
Mặt khác, các dân tộc sinh sống ở Lào Cai từ lâu đời và có nhiều truyền thốngquý báu Vì thế, thông qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp khơi dậy những truyền thống
đó để đồng bào tiếp tục gìn giữ và phát huy nó trong đời sống hiện đại
Đồng thời, việc nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai cũng góp phần thựchiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và
an ninh nhân dân vững chắc
Mối quan hệ giữa biến đổi văn hoá và việc bảo tồn văn hoá được thể hiệnmột cách rõ nét Do đó, đề tài bước đầu đưa ra được những ý kiến về việc bảo tồnvăn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đồng thời, đề tài cũng làm nổi bật mỗi quan
hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá Qua đó, các cơ quanchức năng và tổ chức kinh doanh có được định hướng và sản phẩm kinh doanh phùhợp để phát triển kinh tế gắn với bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống
Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những kiến thứchữu ích cho các nhà quản lý trong quá trình hoạch định chính sách để những chínhsách đó đáp ứng được yêu cầu bức thiết của nhân dân các dân tộc tỉnh nhà
II NỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐÃ THỰC HIỆN
Đề tài nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai nên cách tiếp cận của đề tài là
tiếp cận theo hướng nhân học văn hóa “Nhân loại học văn hóa chính là một ngành khoa học nghiên cứu nguồn gốc, quá trình trưởng thành, biến thiên và tiến hóa của cả nhân loại từ các phương diện như sản xuất vật chất, kết cấu xã hội, tổ chức cộng đồng, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng… đồng thời so sánh điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa của các dân tộc, các tộc người, các quốc gia, các khu vực, các đoàn thể xã hội… nhằm phát hiện được tính phổ biến của văn hóa và những mô hình văn hóa mang tính cá biệt, từ đó tổng kết ra quy luật thông thường và quy luật đặc thù của phát triển xã hội” (Từ Kiệt Thuấn (chủbiên):
Trang 6Để nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai, chúng tôi sử dụng thuyết tiến hóa
về xã hội và văn hóa, thuyết chức năng, thuyết cấu trúc, thuyết phiên giải văn hóa(lý giải văn hóa), thuyết tương đối văn hóa
1.3 Cách tiếp cận liên ngành
Đề tài được thực hiện dựa trên cách tiếp cận liên ngành Dân tộc học, Vănhóa học, ngôn ngữ học, văn học,… để giải quyết vấn đề đặt ra
2 Nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm
2.1 Sưu tầm các tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài nằm ở các thư viện quốc gia, viện nghiên cứu về các dân tộc ở Lào Cai đã xuất bản.
- Hệ thống, phân loại các tài liệu thứ cấp theo từng chuyên đề của đề tài
- Phân tích các tài liệu thứ cấp sưu tầm được nhằm kế thừa nguồn tư liệu cótrước mang tính khoa học, bác bỏ những thông tin không chính xác
2.2 Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu, dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa.
2.3 Xây dựng đề cương, kế hoạch nghiên cứu chi tiết cho đề tài, thiết kế
bộ công cụ nghiên cứu phù hợp Nội dung đề cương nghiên cứu đề cập đến các vấn đề cụ thể như sau (phù hợp với đề cương so sánh):
- Nhóm ngôn ngữ Việt Mường có dân tộc Kinh, dân tộc Mường
- Nhóm ngôn ngữ Ka Đai có dân tộc La Chí
- Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái gồm có dân tộc Tày (có ngành địa phương là
Pa Dí, Thu Lao), dân tộc Thái, dân tộc Nùng (có ngành Nùng Dín, Nùng An), dântộc Bố Y (Tu Dí)); dân tộc Giáy
- Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao gồm có dân tộc Hmông (có ngành Hmônglềnh, Hmông đu, Hmông đơ, Hmông xanh, Hmông súa); dân tộc Dao (có cácngành Dao đỏ, Dao tuyển, Dao họ)
- Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến gồm có các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá (cóngành Pu La và Xá Phó)
- Nhóm ngôn ngữ Hán: có người Hoa (Thượng Phương)
2.4 Tiến hành nghiên cứu thông qua các phương pháp nhằm làm rõ các nội dung sau:
2.4.1 Nghiên cứu lịch sử tộc người, chú ý đến nguồn gốc hình thành, đặc điểm di cư, các mối quan hệ lịch sử.
- Nghiên cứu về dân số và sự phân bố dân cư: số liệu về dân số trong lịch sử
và qua các mốc từng điều tra dân số
- Sự phân bố các dân tộc ở từng địa bàn làng, xã, phường Trong đó chú ý sựphân bố theo làng
- Tên gọi dân tộc: tên tự gọi, tên các dân tộc khác gọi trước đây
- Đặc điểm chính về ngôn ngữ tộc người
Trang 7Cơ cấu kinh tế truyền thống: trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế tự nhiên, nghề thủcông, trao đổi hàng hóa Phân tích yếu tố truyền thống về những biến đổi.
- Nghiên cứu các thành tố văn hóa vật chất của dân tộc như nhà cửa, trang phục,
ăn uống, đồ gia dụng, phương tiện đi lại truyền thống và những biến đổi hiện nay
- Nghiên cứu về tổ chức xã hội như gia đình, dòng họ, làng truyền thống vàbiến đổi
- Nghiên cứu về phong tục chủ yếu theo chu kỳ đời người và hệ thống ngàytết, ngày hội như sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới, tang ma, lễ tết hội và biến đổi
- Nghiên cứu một số thành tố văn hóa dân gian như tín ngưỡng, văn học dângian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian
- Nghiên cứu về truyền thống chống giặc ngoại xâm oanh liệt của các dân tộc
- Nghiên cứu truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống mới của các dân tộcLào Cai
2.5 Xây dựng đề cương chi tiết cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”
2.6 Triển khai điền dã, khảo sát thực địa mỗi ngành nhóm dân tộc ở 1 làng khác nhau nhằm thu thập thông tin, sưu tầm tưu liệu, chụp ảnh, ghi âm phục vụ đề tài.
2.7 Triển khai phân tích, tổng hợp thông tin thu thập được qua các đợt khảo sát và sưu tầm tư liệu thứ cấp viết thành 24 chuyên đề cấu tạo thành nội dung cuốn sách về các dân tộc ở Lào Cai
2.8 Xây dựng thư mục học về các dân tộc trong tỉnh Lào Cai làm nguồn tài liệu, dữ liệu đáp ứng các nhu cầu tra cứu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa
2.9 Xây dựng lược đồ phân bố và các đặc tính dân cư của các nhóm ngành dân tộc trong địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Thu thập và xử lý thông tin làm căn cứ dữ liệu cho việc thiết kế các lược đồ
- Thiết kế, chỉnh sửa 23 lược đồ
- In ấn 23 lược đồ
2.10 Xây dựng hoành chỉnh bản thảo cuốn sách “Các dân tộc ở Lào Cai”
- Tổng hợp tư liệu viết thành bản thảo cuốn sách theo đề cương chi tiết
- Hội thảo các chuyên gia góp ý chỉnh sửa bản thảo cuốn sách “Các dân tộcLào Cai”
- Chỉnh sửa biên tập hoàn thiện cuốn sách “Các dân tộc Lào Cai”
2.11 Xây dựng album ảnh với hơn 500 ảnh chụp giới thiệu về các dân tộc
ở Lào Cai
Chọn ảnh, rửa ảnh theo nội dung của các chuyên đề về 23 nhóm ngành dântộc ở Lào Cai; Xây dựng đề cương cho album ảnh giới thiệu về các dân tộc; Chúthích ảnh ; Mua vật liệu làm khung và trình bày, dán ảnh vào album
3 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Trang 83.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài là: i) tập hợp các phương pháp tiếp
cận chung của các ngành khoa học là phương pháp lịch sử, phương pháp logic vàphương pháp hệ thống; ii) Tập hợp các phương pháp chuyên ngành của nhân họcvăn hóa; iii) Tập hợp các phương pháp liên ngành của văn hóa học, văn hóa dângian, dân tộc học, xã hội học, khu vực học, địa lý học nhân văn,…
3.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp: áp dụng phương pháp phân tích
và tổng hợp được thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵnliên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm: các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhànước ở trung ương và địa phương, thống kê ở các cơ quan thống kê, các tài liệu đãnghiên cứu về các dân tộc và các dân tộc ở Lào Cai
- Nghiên cứu định tính: là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài.Trong đó có phương pháp cụ thể như sau:
+ Phương pháp quan sát: kết hợp quan sát tham gia (participant observation)với nhiều cấp độ khác nhau từ quan sát thuần túy đến tham gia trực tiếp vào đờisống của các dân tộc,…
+ Phương pháp phỏng vấn: kết hợp các kỹ thuật phỏng vấn như phỏng vấn theocâu hỏi cấu trúc sẵn đến phỏng vấn mở, khai thác các câu chuyện đời sống; phỏng vấn
cá nhân và thảo luận nhóm tập trung; phỏng vấn một lần và phỏng vấn nhiều lần
+ Phương pháp hội nghị: còn gọi là phương pháp chuyên gia, được thực hiệnbằng cách nêu câu hỏi cho các chuyên gia nhằm thu thập thông tin qua phân tích, tranhluận của các chuyên gia Đề tài sẽ tổ chức hai loại hội nghị: hội nghị bàn tròn mang tínhchất tọa đàm trao đổi thường xuyên giữa nhóm thực hiện đề tài với một số chuyên gia;hội thảo khoa học nhằm khuyến khích chuyên gia đưa ra các ý kiến, khuyến nghị, cácbáo cáo nhằm thu thập thông tin, tranh luận về các vấn đề quan trọng
- Nghiên cứu định lượng: ngoài việc sử dụng nghiên cứu định tính vớinhững kỹ thuật điền dã dân tộc học/ nhân học là phương pháp chủ chốt, đề tài cũng
sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi(questionnaire) để thu thập những mẫu
số và xu hướng chung Mỗi ngành dân tộc ở các tiểu vùng khác nhau sẽ được đưavào mẫu điều tra Các câu hỏi sẽ được thiết kế dưới dạng theo nội dung, câu hỏilựa chọn, câu hỏi mở, câu hỏi đóng, câu hỏi hỗn hợp
- Phương pháp khảo sát điền dã, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu so sánhliên văn hóa, loại hình học,…
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Sau một thời gian lao động nghiêm túc và nỗ lực hết mình của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, công trình nghiên cứu xây dựng bản thảo cuốn sách các dân tộc ở Lào Cai đã hoàn thành, bao gồm 25 chuyên đề hoàn chỉnh (23 chuyên đề loại I và 02 chuyên đề loại II) theo đúng thuyết minh đề tài và đã có
sự góp ý, chỉnh sửa của các chuyên gia.
Trang 9Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Kinh (Việt)
1.1.1 Khái quát chung
Người Kinh bắt đầu có mặt ở Lào Cai ngay từ thời Bắc thuộc Nhưng trongsuốt thời kỳ phong kiến, số lượng người Kinh đến Lào Cai còn ít và lẻ tẻ Từ khithực dân Pháp xâm lược, nhất là từ khi xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng – CônMinh, số lượng người Kinh ở Lào Cai đã tăng lên đáng kể Đặc biệt, từ năm 1960,với cuộc vận động đi khai hoang, xây dựng kinh tế mới của Đảng ta, một lượng lớnngười Kinh đã lên Lào Cai, với đầy đủ các tầng lớp, ngành nghề: nông dân, công nhân,công chức, viên chức,… Hiện nay, người Kinh có 212.528 người, cư trú chủ yếu ởnhững nơi có điều kiện thuận về đất đai sản xuất, đường giao thông, ở các trung tâmcủa huyện, thị trấn, thị xã
1.1.2 Hoạt động kinh tế
Nhìn chung, đời sống kinh tế của người Kinh không khác nhiều so với ngườiKinh trong cả nước Ở nông thôn, người Kinh sinh sống chủ yếu bằng nôngnghiệp: trồng lúa nước, nương ngô, khoai, sắn, chăn nuôi, làm vườn Họ có nhiềukinh nghiệm trong thâm canh, tăng vụ lúa nước để đạt được năng suất và sản lượngcao Bộ phận người Kinh sống ở các khu vực thành phố, thị trấn làm công ăn lươngtrong các cơ quan nhà nước, nhà máy, xí nghiệp và những người làm nghề tự do,buôn bán So với các dân tộc thiểu số trong vùng, người Kinh có đời sống kinh tếvượt trội và ổn định hơn.
1.1.3 Văn hoá vật chất
Ở nông thôn, người Kinh cư trú thành làng và các xóm trại Người Kinh ởthành thị, cư trú thành các tổ, xóm Có thể nói quan hệ láng giềng trong cộng đồngngười Kinh khá chặt chẽ, theo quan niệm “bán anh em xa mua láng giềng gần”
Đời sống văn hoá vật chất (ăn uống, trang phục, nhà cửa) của người Kinhgiống như người Kinh trong cả nước
Gia đình người Kinh ở Lào Cai chủ yếu là các gia đình nhỏ, hạt nhân Vaitrò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình ngày càng được nâng cao, bình đẳng vớinam giới
1.1.4 Phong tục, tập quán trong chu kỳ đời người
Người Kinh rất xem trọng việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái Phụ nữ có thailuôn được gia đình quan tâm và chăm sóc đặc biệt Đứa trẻ sinh ra được ông bà,cha mẹ yêu thương, chăm sóc chu đáo Ngày nay, trẻ em vùng người Kinh sinhsống đều được hưởng chế độ giáo dục chu đáo và đầy đủ
Phong tục cưới xin của người Kinh ở Lào Cai cũng giống như người Kinh ởvùng Bắc Bộ nhưng ngày nay đã giản tiện đi nhiều Về cơ bản, quy trình tổ chứcđám cưới vẫn được duy trì theo phong tục cổ; gồm có các bước: kén chọn, giạmngõ (chạm mặt), ăn hỏi, cưới, lại mặt và nộp cheo
Trang 10Người Kinh có những quy định chặt chẽ trong việc làm nhà mới như: chọnthế đất, hướng nhà, ngày động thổ, ngày phát mộc, ngày khánh thành, với mongmuốn gia đình có được cuộc sống yên ổn, thịnh vượng
Theo quan niệm của người Kinh, tang ma chỉ sự mất đi, biến đổi tangthương của đời người Vì thế, tang quyến luôn cố gắng tổ chức một đám tang thậtchu tất cho người đã mất Một đám tang thường bao gồm các bước: khâm liệm,phát tang, nhập quan, phúng viếng và cúng cơm cho người chết, chọn đất đàohuyệt, chuyển cữu, hạ huyệt Sau đám tang, còn một số nghi lễ như: lễ cúng bangày, lễ cúng giải vía, lễ cúng 49 ngày, lễ cúng 100 ngày, cúng giỗ đầu, lễ Đàm tế,
lễ cải táng
1.1.5 Văn hoá tinh thần
Dân tộc Kinh có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú và đa dạng Họquan niệm vũ trụ được chia làm ba cõi theo trục dọc là cõi trời, trần gian và địaphủ; con người có phần hồn và phần xác, phần xác có thể mất đi nhưng linh hồnvẫn còn mãi mãi Vì thế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã ăn sâu trong đời sống củangười Kinh từ bao đời nay và trở thành một truyền thống Bên cạnh tín ngưỡng thờcúng tổ tiên, người Kinh còn có theo một số tôn giáo khác như đạo Phật, Thiênchúa giáo, đạo Mẫu Dù đi theo bất cứ tôn giáo nào, người Kinh ở Lào Cai vẫnthực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước, sống tốt đời đẹp đạo, phụng sự tổquốc và nhân dân
Người Kinh ở Lào Cai chủ yếu là các cư dân nông nghiệp từ các tỉnh như:Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Tây, Hưng Yên… lên làm ăn sinh sống nênmang theo những hoạt động văn hoá mang tính đặc trưng của quê hương mình lênvùng đất mới
Nghệ thuật tạo hình của người Kinh cũng rất đa dạng, phong phú và đạt đếntrình độ khá cao Người Kinh ở Lào Cai tùy theo nguồn gốc mà nổi tiếng với cácsản phẩm của quê hương, như: đồ gỗ Đồng Kị, khảm trai Hà Tây,… So với cácdân tộc khác trong vùng thì nghệ thuật tạo hình của người Kinh phát triển mạnh vàđạt đến độ tinh sảo
Dân tộc Kinh có nhiều lễ tết truyền thống như: tết Nguyên Đán, tết HànThực, tết Đoan Ngọ, tết Trung Nguyên, tết Trung Thu, tết Táo Quân Các lễ hộidân gian truyền thống của người Kinh ở Lào Cai không phong phú và đa dạng nhưcác làng của người Kinh ở các vùng đồng bằng, do các làng người Kinh ở Lào Caichủ yếu là những làng mới được thành lập, chưa có lịch sử lâu đời, dân cư còn thưathớt, họ sống sen kẽ với các dân tộc khá Do vậy, người Kinh thường tham gia vàocác lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số trong vùng Một trong những lễ hộitiêu biểu mang đậm nét văn hoá của người Việt trên mảnh đất Lào Cai đó là các lễhội đền Thượng, đền Mẫu, đền Bảo Hà Đây cũng là ba lễ hội lớn nhất trong năm
Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Mường
1.2.1 Khái quát chung
Trang 11Người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mon, Moan, Mó… đều có nghĩa là người Hiện nay, Mường là tên gọi chính thức của đồng bào Người Mường chiếm
tỷ lệ nhỏ so với các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tập chung chủ yếu ởthôn Đồng Tâm và thôn Cố Hải (xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng) với 14 hộ, 58 nhânkhẩu, chiếm 1,8% số nhân khẩu toàn xã Đây cũng là địa điểm chính được lựa chọnkhảo sát, sưu tầm về văn hóa truyền thống của người Mường để làm đại diện chocộng đồng người Mường ở Lào Cai Người Mường ở đây đều có nguồn gốc từdòng họ Đinh Công ( huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) di cư đến năm 1977
1.2.2 Hoạt động kinh tế
Cho đến nay, người Mường ở Lào Cai vẫn lấy nông nghiệp trồng trọt làmnguồn sống chính Đồng thời, họ kết hợp trồng trọt với chăn nuôi gia súc, gia cầm vàduy trì một số nghề thủ công như đan lát, làm mộc, thêu dệt, rèn đúc Đặc biệt, ngườiMường bước đầu thích nghi với việc trao đổi buôn bán và sản xuất hàng hóa
1.2.3 Tổ chức xã hội
Các làng bản người Mường là một đơn vị cư trú mà các thành viên cư trútrong đó liên kết với nhau bằng quan hệ láng giềng và quan hệ huyết thống (họhàng) tính theo dòng phụ hệ và mang nặng tính phụ quyền Tế bào của dòng họ là
Noọc (nóc, nóc nhà) Đó là các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân Mỗi gia đình là một
đơn vị kinh tế, có tính phụ quyền chặt chẽ Đặc quyền lớn nhất sau khi cha chết đượcdành cho người con trai trưởng với việc được hưởng phần lớn số tài sản do cha để lại.Tuy nhiên, không vì thế mà thân phận người con gái bị hắt hủi, bị coi rẻ
Xã hội cổ truyền của người Mường trước Cách mạng tháng Tám có sự phânhóa thành hai tầng đẳng cấp sâu sắc: đẳng cấp trên và đẳng cấp bình dân Sự phân hóa
ấy diễn ra theo phạm vi dòng họ và được cha truyền con nối
1.2.3 Văn hoá vật chất
Người Mường xưa ăn cơm đồ từ gạo nếp là chính Nước uống, nấu ăn vàsinh hoạt được lấy ở suối, múc bằng vò gốm hoặc ống bương rồi vác về nhà Trongcác kiểu chế biến món ăn truyền thống thì đồ và nướng (vùi, lam, lùi) là hình thứcnấu ăn rất được đồng bào ưa chuộng
Trang phục nam giới đơn giản với áo cánh xẻ ngực, quần chân què lá tọa gầngiống như bao tộc người khác ở miền núi phía Bắc Trang phục truyền thống của
người phụ nữ Mường gồm có: 01 cái khăn chít đầu màu trắng, đồng bào gọi là Cại
mu (Cái mũ); 01 cái yếm màu trắng, ngắn hơn cái yếm cổ truyền của người phụ nữ Việt, đồng bào gọi là Cại yệm (Cái yếm); 01 cái áo cánh ngắn màu trắng, xẻ giữa, không có khuy cài bấm, đồng bào gọi là Cại ạo (Cái áo); 01 cái váy ống bằng vải
đen, bó lấy cơ thể từ nách xuống đến gần mắt cá chân
Phương tiện vận chuyển và đi lại trước đây là ngựa dùng để đi đường bộ, bè
và thuyền độc mộc dùng để đi trên sông nước
Làng bản của người Mường thường có vài chục nóc nhà, được tạo dựng trênnhững sườn đồi thấp hoặc trong các thung lũng hẹp dưới chân đồi; hoặc cũng có
Trang 12thể ở giữa cánh đồng Người Mường không thích dựng nhà sát bờ sông hoặc sátmặt đường mà phải cách một dải đất có nhiều cây xanh Trước kia, mỗi làng bảnngười Mường thường có một ngôi nhà cộng đồng do dân làng cùng đóng góp tiền
của, công sức dựng lên, gọi là Nhà Lang Đây là nơi diễn ra các cuộc hội họp của
cộng đồng để giải quyết các công việc chung Đồng thời, đó cũng là nơi để cho traigái yêu nhau đến đó ngủ bạn, tâm tình, tìm hiểu nhau vào mỗi dịp nông nhàn
1.2.4 Phong tục, tập quán trong chu kỳ đời người
Phong tục cưới xin
Đám cưới truyền thống của người Mường ở Sơn Hải trải qua các bước: lễdạm ngõ, lễ ăn hỏi nhỏ, lễ ăn hỏi lớn, lễ cưới và lễ đón dâu
Lễ dạm ngõ (Ti đam ngo) của người Mường ở Sơn Hải diễn ra nhanh chóng,
đơn giản Một người đàn ông vợ con đề huề, đời sống khấm khá, thạo đường lý lẽđược nhà trai nhờ làm ông mối mang cơi trầu sang đánh tiếng với nhà gái Nếu sau
10 ngày không thấy nhà gái trả lại trầu cau là lễ dạm ngõ thành công, nhà traichuẩn bị vật phẩm để làm lễ ăn hỏi nhỏ
Sau lễ dạm ngõ, gia đình nhà trai tiếp tục cử ông mối, chàng rể mang lễ vậtsang nhà gái để làm lễ ăn hỏi nhỏ Trong lễ này, hai bên gia đình bàn bạc, thỏa
thuận rồi đi đến thống nhất các nội dung cho thủ tục tiếp theo là lễ ăn hỏi to (ăn nòm) Vào ngày lành tháng tốt, nhà trai cử ông mối, chú rể và một phù rể (rể piêng) mang lễ vật sang nhà gái tổ chức ăn nòm theo đúng phong tục cổ truyền Trong lễ
ăn nòm, nhà gái sẽ đưa ra những khoản thách cưới Sau lễ ăn hỏi, nhà gái mang
trầu cau đi chia khắp xóm gần, làng xa ngầm báo rằng con gái nhà mình đã có nơ`i
có trốn, tránh hiện tượng các chàng trai trẻ trong vùng “nhòm ngó”.
Sau lễ ăn hỏi khảng 2-3 tháng cho đến 1 -2 năm, hai gia đình sẽ tiến hành tổchức lễ cưới
Đoàn đón dâu nhà trai gồm 2 ông mối, chú rể, phù rể và một số thanh niên,nam nữ gánh đồ thách cưới và thực hiện việc nấu nướng bên nhà gái, anh em họhàng, bạn bè của chú rể Khi đoàn đón dâu đến cổng nhà gái sẽ bị một tốp thanhniên giăng chỉ đỏ ngang cổng Ông mối trao cho họ 5 hào hay 1 đồng bạc trắng, họ
sẽ tháo chỉ và cuốn vào cổ chú rể Đến chân cầu thang, chú rể phải vái lạy mọingười rồi mới được lên nhà Trước khi vào nhà, ông mối của hai nhà hát đối vớinhau và nhà gái té nước vào ông mối và chú rể để lấy may Sau đó, nhà gái tiếnhành nghi thức cúng tổ tiên để thông báo với tổ tiên việc con gái mình đi lấychồng, cầu mong tổ tiên phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc, con cháu đầy đàn.Sau nghi lễ cúng tổ tiên và tiệc rượu liên hoan, đoàn nhà trai xin phép được đón
dâu Tháp tùng cô dâu là một đoàn đưa dâu của nhà gái gồm có 02 bà mối (mơ nai), cô dâu (con du), 02 phù dâu (ôi dù) và cũng khoảng 40 người là anh em, họ
hàng, bạn bè của cô dâu Của hồi môn của một cô dâu Mường thường có vòng cổ
(trằm cóc), vòng tay (trằm tay), xà tích (sân thu), vài đồng bạc trắng, 04 cái chăn
bông (01 cái dành biếu ông bà nội; 01 cái dành biếu bố mẹ chồng; 02 cái để lại cho vợ
Trang 13chồng dùng); 01 cái địu (quặn) cùng một số khăn mặt, vỏ chăn, mặt phà, gối, vải để
nàng dâu mới biếu ông bà, bố mẹ, anh em, họ hàng nhà chồng
Trước khi vào nhà trai, cô dâu được mẹ chồng tháo nón và dội 3 ống nước
để rửa chân Sau nghi thức cúng gia tiên và ma bếp, nhà trai tổ chức bữa tiệc mừngđám cưới Trong buổi tiệc này, hai nhà trai - gái tổ chức hát ví rất vui vẻ
Sau tiệc rượu liên hoan tại nhà trai, đoàn nhà gái xin phép ra về Đêm ấy, 02phù dâu ngủ lại cùng cô dâu Sáng hôm sau, 02 phù dâu đưa cô dâu về lại nhà gái
và ngủ lại đó một đêm nữa Đến sáng hôm thứ ba, ông bà thông gia bên nhà trai
cùng ông mối, chú rể, phù rể đem theo 01 đôi gà, 01 klèng rượu, 50 kg gạo nếp
sang nhà gái để làm lễ đón con dâu về hẳn nhà trai
Phong tục sinh đẻ và nuôi con
Gia đình dành sự chăm sóc đặc biệt đối với sản phụ và thai nhi Gắn với đó
là các phong tục tập quán liên quan đến sinh đẻ và nuôi dạy con cái Sản phụ ngườiMường kiêng không buộc lạt thắt nút hay đóng cọc, kiêng không bước qua dâybuộc trâu, kiêng không ăn quả dính đôi, không ăn cơm bằng đĩa, không đến đám ma,không với cao, không ăn đồ chua, đắng, chát,
Gần đến ngày sản phụ trở dạ, gia đình sẽ dựng một gian buồng trong nhàdành riêng cho bà đẻ Sản phụ người Mường đẻ ngồi, tay vịn vào một chiếc cột đểlấy đà Cuộc “vượt cạn” của sản phụ Mường được sự trợ giúp của một người phụ
nữ có kinh nghiệm trong việc đỡ đẻ Khi đã được “mẹ tròn, con vuông”, cha đứatrẻ lấy lưới đánh cá, lá đài bi, cây lúc lắc giăng quanh nhà để ngăn không cho ma
cà rồng đến hại sản phụ và trẻ sơ sinh Đồng thời, người nhà cũng treo một lọn rơm
cỡ bằng nắm tay ở cổng để báo hiệu cấm cửa, ngăn không cho người lạ vào nhà.Nhau thai của trẻ được người cha đem đi chôn ở một nơi mát mẻ, thường là gầndòng suối, mạch nước hay dưới giọt gianh của mái nhà
Sản phụ sau khi sinh phải ở cữ 7 ngày (nếu sinh con trai) hoặc 9 ngày (nếusinh con gái) Hết hạn ở cữ, gia đình làm lễ cúng báo tổ tiên, cúng Mụ và đặt têncho trẻ Vào ngày này, nếu đứa con ấy là con đầu lòng và trong đám cưới của bố
mẹ trẻ, nhà trai có nộp trâu thách cưới thì ông bà ngoại sẽ tặng lại cho đôi vợchồng con trâu ấy để họ có phương tiện làm ăn nuôi con
Người Mường có tục làm phép đốt vía cho trẻ sơ sinh trong trường hợp trẻ
bị sài đẹn Để làm lễ này, gia chủ phải mời bà đỡ đến làm phép Bà đỡ lấy lưỡi cày
nung đỏ trong bếp than rồi ngâm vào chậu nước Trong lúc lưỡi cày đang bốc khói
nghi ngút, bà đỡ vừa bế đứa trẻ giơ trên chậu nước vừa đọc câu chú: “Vía lành thì
ở, vía dữ thì đi, con trai đốt…, con gái đốt…” Sau lễ này, nếu trẻ ăn ngon, ngủ kỹ,
không quấy khóc nữa thì được coi là linh nghiệm
Khi trẻ được khoảng 6 – 8 tuổi, nếu là con trai, người cha sẽ dạy cho trẻ cách
đi săn, lấy củi, xẻ gỗ, quăng chài… là các kỹ năng cần thiết để cho trẻ bước vàođời Nếu trẻ là con gái sẽ được mẹ truyền dạy cho các kỹ năng thêu thùa, trồngbông, dệt vải, nhuộm chàm, may vá để chuẩn bị lấy chồng
Trang 14Ngoài ra, người Mường có nhiều tục lệ gắn với các trường hợp khó sinhhoặc hữu sinh vô dưỡng, như: lễ nhận con mình làm con nuôi hay nhận em út củachồng làm con nuôi, đánh dấu cho đứa trẻ.
Phong tục dựng nhà mới
Người Mường thường làm nhà vào dịp nông nhàn, sau khi đã xong xuôi việcđồng áng (tháng 10, 11 âm lịch) Ngôi nhà truyền thống của người Mường là nhàsàn, được làm từ nguồn nguyên liệu gỗ, tre, nứa, lá… sẵn có trong vùng Khungnhà được hình thành theo kiểu vì trung gian – loại vì đang trong quá trình chuyểnhóa từ cột sang kèo Xưa kia, mỗi gia đình thường ở trong một khuôn viên khépkín được rào giậu cẩn thận để tránh thú dữ Cạnh nhà là một mảnh vườn nhỏ đểtrồng rau, xung quanh có cây ăn quả Càng về sau, do sức ép dân số cũng như nhucầu về chống thú dữ không còn, các ngôi nhà tùy theo điều kiện của từng gia đình
mà khuôn viên được làm lớn hay nhỏ, có rào giậu hay không Thông thường, nhàsàn của người Mường có bốn gian Bài trí không gian trong nhà đáng chú ý nhất lànơi thờ tổ tiên và bếp luôn được đặt trong nhà Trâu, bò được nhốt dưới gầm sàn
Phong tục tang ma
Người Mường quan niệm một người khi nhắm mắt xuôi tay là được về với
tổ tiên và đồng bào dùng từ Wề quêl tộng (Về quê tổ) để nói về quan niệm này.
Tang lễ của người Mường được tổ chức trang trọng Dân làng cử ra một người
thông thạo lý lẽ, am hiểu phong tục để chủ trì đám tang – gọi là Tầu biểu, cắt đặt các phần việc cho bà con đến giúp Lễ tang bao gồm các nghi lễ: lễ Quàng qué
(Quang quẻ), lễ nhập quan, lễ giải oan, lễ hạ huyệt Sau tang lễ, tang quyến để tangngười chết đủ 3 năm, 3 tháng, 10 ngày Trong 100 ngày đầu phải lập ban thờ riêng,bát hương riêng, con trai trưởng chịu trách nhiệm thờ cúng phải dâng cơm cúnghồn người chết đủ mỗi ngày 3 bữa Sau khi đoạn tang, bát hương riêng mới được
bỏ đi để nhập vào bát hương thờ chung tổ tiên ba đời trên ban thờ Những con trai
ở riêng, con gái lấy chồng được chia số chân hương trong bát hương cúng cơm vềcắm vào bát hương trên ban thờ của nhà mình
Người Mường không có tục cải mộ, không cúng giỗ hàng năm vào ngày tổtiên chết Để tưởng nhớ tổ tiên, mỗi khi lễ tết, con cháu đều dâng rượu, thịt, thắphương khấn mời tổ tiên về hưởng lễ và phù hộ cho con cháu
1.2.5 Văn hoá tinh thần
Người Mường tin vào sự tồn tại của linh hồn con người sau khi chết và cácđấng siêu linh trong thế giới tự nhiên Trong đời sống tín ngưỡng, đồng bào thờcúng ma bản, ma rừng và thờ cúng tổ tiên
Người Mường thờ tổ tiên ba đời ngay tại gian gốc cạnh cột thiêng Họ tinrằng, tổ tiên luôn phù hộ cho cuộc sống cũng như việc làm ăn của con cháu Chính vìvậy, các dịp lễ tết và mỗi khi trong nhà có đại sự, con cháu đều dâng lễ kính cẩn mời
tổ tiên về thụ hưởng và phù hộ cho con cháu trong nhà
Trang 15Hàng năm, đồng bào có tục cấm cửa rừng từ ngày 23 tháng Chạp cho đếnhết ngày 18 tháng Giêng Cùng với tục cấm cửa rừng, người Mường còn có lễ cúng
ma bản, ma rừng định kỳ hàng năm vào một ngày tốt trong khoảng thời gian từ 14đến 25 tháng Giêng
Người Mường có nhiều lễ, tết trong một năm theo chu kỳ sản xuất nôngnghiệp như: tết Nguyên Đán, tết Nguyên Tiêu, lễ cúng mở cửa rừng, tết ThanhMinh, tết Đoan Ngọ, lễ Hạ điền, tết Trung Nguyên, tết Trung Thu, lễ Thượng Điền,tết cơm mới, lễ cấm cửa rừng
Người Mường không có chữ viết Vì vậy, văn học truyền miệng dân gian đãtrở thành một loại hình nghệ thuật truyền tải những thông tin về lịch sử, văn hóa,
xã hội của người Mường qua các thế hệ
Nghệ thuật dân gian của đồng bào phong phú, đa dạng và mang những màusắc riêng Nhiều điệu múa dân gian như múa bật bông, múa xúc tép, múa sạp…mang nội dung phản ánh đời sống sinh hoạt và sản xuất của người lao động vàđược nhân dân ưa chuộng
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập ngày càng sâurộng vào nền kinh tế thế giới, cùng với các dân tộc trong tỉnh, đời sống kinh tếngười Mường ở Lào Cai đã có nhiều khởi sắc Trên nền tảng của nền sản xuất nôngnghiệp hiện đại đem đến nguồn sản phẩm dôi dư không nhỏ, đồng bào đã nhanhchóng thích nghi và phát triển hoạt động trao đổi hàng hóa Phương thức trao đổi,mua bán cổ truyền theo kiểu vật đổi vật đã được thay thế bằng phương thức traođổi tiền – hàng – tiền Các mặt hàng được bán chủ yếu là nông sản thu được từ cáchoạt động trồng trọt và chăn nuôi Các mặt hàng mua về là các nhu yếu phẩm vàcác đồ dùng lâu bền, vải may mặc, phân bón, thức ăn gia súc… đã phá vỡ nền kinh
tế tự túc, khép kín và đã thích nghi với nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa
Khi phương thức mưu sinh thay đổi đã dẫn đến sự thay đổi của hàng loạt yếu
tố văn hóa truyền thống, trong đó có các yếu tố được xem là biểu tượng của vănhóa Mường, làm nên cốt cách bản sắc văn hóa dân tộc Mường, là ngôn ngữMường… Nhiều yếu tố văn hóa vật chất hiện truyền thống hiện nay đã lùi về, ẩnvào trong thế giới biểu tượng Ngay cả trong tôn giáo tín ngưỡng, người Mườngcho đến nay vẫn tin vào sự tồn tại của linh hồn tổ tiên và các đấng siêu linh nhưngniềm tin ấy cũng đã ít nhiều có sự suy giảm Điều duy nhất còn nguyên vẹn chođến ngày nay ở đồng bào là ý thức tự giác tộc người
Chuyên đề nghiên cứu dân tộc Tày
1.3.1 Khái quát chung
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở tỉnh Lào Cai năm 1999, người Tày có94.243 người, cư trú chủ yếu ở các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng Ngoài nhữnghuyện kể trên họ còn cư trú rải rác ở một số huyện khác trong tỉnh như: Sa Pa, Bắc Hà
Người Tày thường sống dọc theo các triền sông, suối, làm nhà định cư trongcác thung lũng hẹp, dưới chân núi thấp Bản của người Tày được bao bọc xung
Trang 16quanh bởi các quả đồi, ngọn núi, những ngôi nhà sàn thấp hẳn ở phía dưới lưng tựavào núi, mặt trước ôm ấp lấy đồng rộng và những con suối uốn lượn Không gianvăn sinh tồn nằm gọn trong những lòng chảo, vùng thung lũng hẹp, cảnh đẹp hữutình giao hoà giữa thiên nhiên và con người Mỗi làng bản đều có rừng cấm để bảo
vệ nguồn nước và gìn giữ những giá trị tâm linh về các vị thần rừng, thần nướctrong hệ thống đa thần của người Tày
1.3.2 Hoạt động kinh tế
Người Tày canh tác ruộng nước là chủ yếu Cây lương thực chủ yếu là lúa,ngô, khoai, sắn, và một số hoa màu như: đậu xanh, lạc, vừng, hay các loại rauquả: rau mét, khoai lang, rau muống, bầu bí, chuối, xoài, Trong quá trình canhtác, người Tày áp dụng nhiều tri thức bản địa trong việc dẫn nước tưới tiêu vàchăm sóc cây trồng
Chăn nuôi là nghề phụ sau trồng trọt Do đặc điểm của mỗi vùng cư trú nên
họ có trình độ kỹ thuật chăn nuôi khác nhau và có tập quán chăn nuôi khác nhau.Chăn nuôi đại gia súc của người Tày chủ yếu là trâu và ngựa Ngoài ra, người Tàycòn có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi cá
Trồng bông dệt vải là một nghề thủ công có truyền thống từ lâu đời và đượcduy trì đến ngày nay Các sản phẩm của nghề trồng bông dệt vải không những phục
vụ cho nhu cầu thiết yếu của người dân mà còn trở thành một loại hàng hoá đượctrao đổi, mua bán Cùng với nghề trồng bông dệt vải, nghề thêu hoa văn cũng cótruyền thống từ lâu để tạo nên những sản phẩm đẹp, giàu giá trị thẩm mỹ và giá trịnhân văn
Nghề rèn đúc được phát triển mạnh mẽ trong vùng người Tày ở Thanh Phú,Nậm Sài huyện Sa Pa, Tà Chải huyện Bắc Hà Đồng bào đã tự làm ra những sảnphẩm để phục vụ đời sống lao động, sản xuất, sinh hoạt và một phần để trao đổi,mua bán
Nghề mộc, nghề đan lát cũng là nghề phát triển phổ biến và rộng rãi ở vùngdân tộc Tày Các sản phẩm của nghề mộc, nghề đan lát chủ yếu đáp ứng nhu cầuđời sống lao động, sinh hoạt, sản xuất
Hoạt động trao đổi, mua bán diễn ra ở các chợ phiên trong vùng
1.3.3 Tổ chức xã hội
Mô hình gia đình chủ yếu của người Tày là gia đình hạt nhân Mỗi gia đình
là một đơn vị kinh tế độc lập, họ có tài sản riêng và là một đơn vị tiêu dùng Chủnhà “chẩu lườn” là người có quyền hành cao nhất trong gia đình Yếu tố gia trưởng
và phụ quyền thể hiện đậm nét trong các gia đình người Tày cho đến ngày nay
Theo quan niệm của người Tày, những người do cùng một ông tổ sinh ra, cóquan hệ về mặt huyết thống, giống nhau về tên gọi được gọi là người cùng họ “pilọng họ” Mỗi dòng họ đều mang những nét đặc trưng riêng như những trong nghi
lễ thờ cúng, các vị thần thờ cúng trong dòng họ, số bát hương trên bàn thờ, số quehương thắp và những điều kiêng kỵ để phân biệt với các dòng họ trong làng
Trang 17Trước đây, các dòng họ đều có trưởng họ, người Tày gọi là “cốc họ” hay
“cốc trường”, vị trí trưởng họ được thừa hưởng thông qua hình thức cha truyền connối hoặc do những người trong dòng họ tín nhiệm bầu làm trưởng họ Ngoài cácmối quan hệ về mặt xã hội, tình cảm thì các thành viên trong dòng họ còn được gắnkết về mặt đời sống tâm linh Các thành viên trong dòng họ luôn có ý niệm về ông
tổ và vị thần hộ mệnh luôn dõi theo bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong dòng họ
Bộ máy tổ chức các làng truyền thống của người Tày rất chặt chẽ, đứng đầumường có tù trưởng, thổ ty, còn đứng đầu làng có già làng, trưởng bản và thầy mo,then, Pụt, tạo
Cơ chế hoạt động của các làng dựa trên những quy tắc, quy ước, hương ước
do các thành viên trong làng đặt ra, ai vi phạm quy tắc sẽ bị làng phạt và nặng hoặc
là bị đuổi ra khỏi làng Các làng của người Tày không chỉ là một tổ chức xã hội mà
nó còn là một cộng đồng về văn hoá, tín ngưỡng đã tạo nên những nét đặc trưng,
sự khác biệt giữa làng này với làng khác
1.3.4 Văn hoá vật chất
Nguồn lương thực chủ yếu dùng trong các bữa ăn thường nhật của ngườiTày là cơm tẻ " khấu khao" Cách nấu phổ biến trước đây của người Tày là dùngchõ tre, hoặc mai để đồ cơm, sau này dùng thùng gỗ Còn ngày nay, điều kiện củacác gia đình đã đầy đủ hơn, họ dùng nồi gang, nồi cơm điện để nấu Gạo nếp được
sử dụng chủ yếu để đồ xôi, làm bánh dày, bánh trưng trong những dịp lễ, tết Vàodịp giáp hạt hay khi mất mùa, đói kém, người Tày ăn thêm ngô, củ mài, củ đao,
Cơ cấu bữa ăn của người Tày được chia làm hai bữa chính là bữa trưa và bữa tối,những gia đình có điều kiện họ ăn thêm một hai bữa phụ vào buổi sáng hoặc buổiđêm Thực phẩm sử dụng hàng ngày chủ yếu là các loại rau, cá tự kiếm được hay
tự nuôi, trồng Khi nhà có khách hay vào dịp lễ, tết, cơ cấu bữa ăn phong phú hơn
có thêm các loại thịt: thịt lợn, thịt trâu, thịt gà, thịt vịt, và các chế biến các món
ăn cũng cầu kỳ hơn Đặc biệt vào các ngày lễ, tết, đồng bào làm nhiều loại bánh:bánh trưng, bánh gù, bánh dày Trong những dịp này, họ cũng làm một số món ănmang tính biểu tượng văn hoá cao như: xôi 5 màu biểu tượng cho âm dương, ngũhành, bánh trưng gù tượng trưng cho vú của con trâu
Nhà ở của người Tày chủ yếu là nhà sàn, dùng vật liệu xây dựng sẵn có ở địaphương, lợp bằng lá cọ (Vùng Bảo Yên, Văn Bàn) hoặc cỏ giang nay là tấm lợpProxi măng hoặc ngói Nhà sàn của người Tày có 4 kiểu: nhà Lều, nhà Quan ma,nhà Cai tư, nhà Con thong Cầu thang lên nhà sàn làm bằng gỗ và thường có 9 bậc,mỗi bậc tượng trưng cho một vía của người phụ nữ Tày Nhà sàn người Tày thườngđặt 3 bếp: một bếp đặt ở gian chính giữa ngôi nhà, đây là bếp chính dùng để tiếpkhách và là nơi giữ lửa cho tất cả các bếp khác cũng như sưởi ấm cho cả gia đình;bếp thứ hai được đặt cạnh giường của người già với mục đích giữ ấm trong mùađông; bếp cuối cùng dùng để chế biến thức ăn, bếp này thường được dựng ở mộtgian riêng Bên cạnh đó, người Tày cũng thờ ma bếp ở ngay góc bếp hoặc cắm ốngnhang vào bức vách thẳng khuôn bếp nhưng về vách phía sau gọi là “sỏi lội”
Trang 18Y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải bông nhuộm chàm, tự dệt, khôngtrang trí hoa văn Y phục của nữ thường gồm áo cánh, áo dài năm thân, quần váy,thắt lưng, khăn đội đầu, hài vải Áo cánh là loại 4 thân xẻ ngực, cổ tròn, có hai túinhỏ phía dưới hai vạt trước, thường được cắt may bằng vải chàm hoặc trắng Khi
đi hội thường được mặt lót phía trong áo dài dài cũng là loại 5 thân, xẻ nách phảicài cúc vải hoặc đồng, cổ tròn ống tay và thân hẹp có eo Trước đây phụ nữ mặcváy, nhưng gần đây phổ biến mặc quần; đó là loại quần về nguyên tắc cắt maygiống nam giới kích thước có phần hẹp hơn Khăn phụ nữ Tày cũng là loại khănvuông màu chàm khi đội gập chéo giống kiểu 'mỏ quạ' của người Kinh Nón củaphụ nữ Tày khá độc đáo Nón bằng nan tre lợp lá có mái nón bằng và rộng Trangsức phụ nữ Tày đơn giản song có đủ các chủng loại cơ bản như vòng cổ, vòng tay,vòng chân, xà tích Có nơi còn đeo túi vải
Y phục của nam giới Tày gồm loại áo cánh 4 thân (slửa cỏm), áo dài 5 thân,khăn đội đầu, quần và giày vải Áo cánh 4 thân là loại xẻ ngực, cổ tròn cao, khôngcầu vai, xẻ tà, cài cúc vải (7 cái) và hai túi nhỏ phía dưới 2 thân trước Trong dịptết, lễ, hội nam giới mặc thêm loại áo dài 5 thân xẻ nách phải, đơm cúc vải hay cúcđồng Quần (khóa) cũng làm bằng vải sợi bông nhuộm chàm như áo, cắt theo kiểuquần đũng chéo, độ choãng vừa phải dài tới mắt cá chân Quần có cạp rộng khôngluồn rút, khi mặc có dây buộc ngoài Khăn đội đầu màu chàm (30cm x 200cm) Quấntrên đầu theo lối chữ nhân
Trước đây, phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền, ngựa hoặc đi bộ Ngày nay,người ta sử dụng xe máy là phương tiện thông dụng nhất
1.3.5 Phong tục, tập quán trong chu kỳ đời người
Phong tục cưới xin
Thanh niên nam nữ Tày đến tuổi cập kê tìm hiểu nhau qua những đêm chọcsàn, tuy nhiên quyết định hôn nhân vẫn là ý kiến của cha mẹ Khi bố mẹ chàng traiđồng ý cho lấy cô gái nào sẽ chủ động tìm người làm mối để sang nói chuyện vớinhà gái
Sau khi tìm được ngày tốt, bố mẹ chàng trai mang lễ vật sang nhà gái đểdạm ngõ, bàn bạc về hôn sự của các con mình Trong lễ dạm ngõ, nhà trai sẽ xinbản ghi ngày sinh của cô gái và nhà gái ghi bản lục mệnh ấy lên tấm vải điều traocho nhà trai Việc trao bản giấy này còn có ý nghĩa là hôn nhân đã được ký kết giữahai bên gia đình Sau đó, nhà trai nhờ thầy tìm ngày lành tháng tốt để đến nhà gáilàm lễ ăn hỏi Ông mối “Pú sứ” cùng với bà mối “Gia tỏn” và những người thanh
niên khoẻ mạnh gánh đồ lễ vật sang nhà gái Nhà gái yêu cầu nhà trai chuẩn bị vàbàn giao đầy đủ những lễ vật mà họ đã thách cưới khi đồng ý gả con gái cho bênnhà trai số lượng lễ vật này do cộng đồng làng quy định không có gia đình nàothách cưới cao hơn quy định chung
Vào ngày tốt, đoàn nhà trai sang nhà gái để đón dâu Đoàn đi đón dâu gồmcó: ông bà mối, đội kèn trống, chú rể, phù rể và những người mang đồ lễ Khi tới
Trang 19nhà gái, đội thợ kèn phải thổi bài xin vào cửa, vào được trong nhà lại thổi bài cúngcúi lạy gia tiên, chúc mừng đôi vợ chồng mới hạnh phúc Tới giờ tốt việc xin dâubắt đầu, ông bà mối xin thưa chuyện rồi hát xin dâu bằng bài hát dân ca Tày Trướckhi đi đôi vợ chồng phải lạy bàn thờ nhà ngoại, lạy tất cả anh em họ hàng nhà gái.Đoàn nhà trai ra về bị đoàn nhà gái bôi phẩm đỏ lên mặt để đánh dấu, vừa để phânbiệt đoàn nhà gái và nhà trai, vừa thể hiện sự vui mừng, may mắn của đám cưới.
Khi đoàn đưa dâu về đến nhà trai, ông mối hướng dẫn cô dâu, chú rể bái lạybốn phương tám hướng tại mâm lễ đã chuẩn bị sẵn đặt ở ngay ngõ Trước khi lênnhà cô dâu phải bỏ dép đi ở đường thay đôi dép mới Thầy cúng làm lễ nhập giatiên và trình báo với tổ tông về thành viên mới của gia đình, cầu sự phù trợ của tổtiên Nghi lễ nhập buồng, cô dâu được người nhà trai dẫn vào trong buồng, trongbuồng cô dâu đặt bàn thờ ở góc nhà có 1 bát gạo, 1 quả trứng đỏ để làm lễ gọi víacho cô dâu, chú rể, trước buồng có treo lá bùa, cành lá bưởi tác dụng để trừ tà maxấu theo cô dâu về nhà Sau khi người vợ bái lạy người chồng thể hiện thân phậnphụ thuộc vào chồng, người chủ gia đình thì các bà mối làm lễ dải chăn chiếu, và lăntrứng đỏ chéo bốn góc của chăn Chiếu, chăn, gối đều là cặp đôi, mỗi loại đủ 2 chiếc,
ý nghĩa của cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ đông con nhiều cháu, gắn bó đời đời Sau
khi cưới ba ngày, đôi vợ chồng son không được tới bất kỳ một nhà ai vì sợ đem đếnxúi quẩy cho người ta Đủ 3 ngày, hai vợ chồng về thăm nhà vợ
Phong tục sinh đẻ
Khi mang thai, người phụ nữ kiêng không được bước qua dây buộc trâu, ngựa
ở trên đường, không được đóng cọc, không được ăn rau bí, không được ăn thịt lợntrắng, thịt trâu, thịt ngựa, thịt cá có màu trắng, không được ăn muối sống Trước khisinh khoảng 1 tháng, gia đình phải mời thầy về làm lễ gọi vía, đánh thức vía quay trở
về với cơ thể người mẹ để chuẩn bị cho kỳ khai hoa
Phụ nữ Tày đẻ ngồi Người mẹ hoặc bà tự cắt rốn cho đứa trẻ bằng cật nứarồi lấy dây buộc lại Nhau thai được người chồng bỏ vào ống nứa đem đi chôn ởmột nơi xa và kín, lúc chôn không để ai nhìn thấy Nhau thai phải chôn sâu kẻo con
gì đó bới lên ăn thì con cái trở nên ốm yếu, chết yểu Việc đào sâu, chôn kỹ cònmang ý thức bảo vệ môi trường, tránh ô nhiễm nguồn nước Cuống rốn của conrụng được mẹ gói vào tờ giấy đặt cạnh đèn dầu (không để cháy) với hàm ý mongmuốn con mình sau này khoẻ mạnh, thông minh sáng dạ như cây đèn Sau 3 ngày,gói đó được dắt lên mái nhà Con gái hay con trai đều làm như nhau không phânbiệt Gia đình lấy cành lá xanh cắm trước cửa để thông báo cho người lạ biết
Khi đứa trẻ được một tháng, gia đình mời thầy về làm lễ đầy tháng và đặt têncho con Bên ngoại được ưu tiên đặt tên cho cháu
Phong tục dựng nhà mới
Năm dựng nhà phải là năm hợp tuổi với chủ nhà Khu đất được chọn phảitương đối bằng phẳng, đất chắc không sụt lở, đặc biệt là phải ở gần con suối, cónguồn nước tiện sinh hoạt và cung cấp nguồn thực phẩm nuôi sống con người.Thông thường, nhà sàn của người Tày làm theo hướng tựa lưng vào dãy núi cao và
Trang 20nhìn ra cánh đồng, dãy núi, đồi thấp Nguyên liệu để làm nhà là các loại gỗ đượcgia chủ chuẩn bị từ lâu Họ kiêng lấy những cây bị mối, mọt, cụt ngọn, có mấu,chạng, cây có dây leo quấn quanh
Ngày dựng nhà mới phải được chủ nhà xem xét cần thận vì tránh dựng ngàymất của ông bà, bố mẹ và cả ngày sinh của bản thân mình Khi dựng, gia chủ nhờmột người làm thợ cả, chỉ huy quán xuyến công việc lắp dựng, bắt đầu là kéo hàng cột
ở phía ngoài cùng trước, rồi lần lượt, ghép các cây xà, vì kèo cho vừa mộng đục đểtạo thành bộ khung vững chắc Sau đó, làm sàn, lịa ván tường, buộc đòn tay
Sau khi dựng nhà xong, gia chủ phải tổ chức nghi lễ lên nhà mới Đầu tiên,
bà ngoại, bà nội hoặc người vợ mang ống nước dội vào bốn cột cái để sau này làm ăn,sinh sống sẽ mát mẻ, thuận lợi Tiếp đó là nghi thức mang lửa lên nhà Ông nội hoặcchồng cầm bó đuốc, củi lửa lên đốt ở gian giữa, dưới tấm vải đỏ Đồng thời, họ đặt 4gói muối ở bốn góc của đống lửa để khẳng định vị trí, vai trò của mình trong gia đình
Ở 8 góc nhà đặt 8 nhúm thóc Sau đó, bàn thờ tổ tiên được chuyển đến nhà mới Giađình đốt pháo ăn mừng và mời mọi người đến chung vui cùng gia đình
Phong tục tang ma
Khi gia đình có người mất, người nhà bắn ba phát súng (nay đánh ba hồitrống) báo hiệu cho dân làng biết Các thành viên trong gia đình phân công đểchuẩn bị cho đám tang Những người già am hiểu lý lẽ sẽ làm chủ đám và đi mờithầy cúng về cúng chỉ đường đưa hồn người chết đi gặp tổ tiên Thi hài được vệsinh, tắm sạch sẽ, đàn bà mặc 9 bộ quần áo, đàn ông mặc 7 bộ quần áo và một tấmvải dài 9 sải làm chăn đắp (đối với nữ) còn 7 sải đối với nam giới Người mất làphụ nữ thì cắt móng tay, móng chân, chải đầu, còn nam giới thì cắt tóc Người chếtcòn được con cháu cho ngậm 1 hào bạc làm lộ phí đi cầu đường
Đến giờ nhập quan, thầy mo làm lý quét quan tài (hay con gọi là quét nhà)dùng con gà trống hoặc dùng bó nứa đi vòng quanh quan tài xuống cuối quan tài,vừa quét vừa đuổi các tà ma xấu đi chỗ khác và đọc gọi hồn cho người mất vàoquan tài Riêng con trai cả phải đỡ đầu người mất vào áo quan các anh em kháctheo thứ tự từ trên xuống
Đến giờ đưa ma, thầy cúng đọc bài khấn trình báo với tổ tiên cho phép ngườichết ra nghĩa địa vì đã được giờ tốt Theo phong tục người Tày cầm bó đuốc đitrước soi đường, tiếp đến là ngôi nhà táng và quan tài của người mất Nơi chôn cấtthường cùng với mộ của anh em trong dòng họ, hướng mộ thường chọn đầu tựavào núi, chân xuôi xuống dưới Khi chôn xong tất cả mọi người phải ra suối tắmgội sạch sẽ mới được phép vào nhà Sau 3 ngày, chủ nhà mời thầy cúng về cho linhhồn người mất
Sau khi người mất được 3 đến 5 năm, những gia đình có điều kiện thường tổchức lễ ma khô để gọi hồn người chết về nhà cùng ở với tổ tiên Trong lễ này giađình phải mổ trâu để cúng Khi cúng xong gia chủ phải cho người đem thịt trâu,gạo, rượu sang nhà đưa cho thầy cúng để cảm ơn
Trang 211.3.6 Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Tày thờ cúng tổ tiên ba đời trở lại Họ cúng tổ tiên vào dịp tết NguyênĐán, Rằm tháng Giêng, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, Rằm tháng Bảy và các dịpcưới hỏi, tang ma, cúng gọi hồn, cúng chữa bệnh, Việc thờ cúng do chủ gia đình(người đàn ông)đảm nhận
Ngoài ra, người Tày quan niệm có nhiều loại ma tồn tại trong đời sống hàngngày như: ma trời, ma đất, ma đồi, ma suối, ma ruộng, ma rừng, ma đói, ma càrồng, Và họ đều phải thờ cúng các loại ma này
Người Tày thờ cúng thần bảo vệ làng ở rừng khu rừng cấm “Đung ban” đầulàng (bản) vào tháng 3 và tháng 8 âm lịch hàng năm Lễ cúng ma bản là nhằm mụcđích cầu mong cho bản làng được yên vui, hạnh phúc, các gia đình đều làm ăn tốt
1.3.7 Lễ, tết, trò chơi dân gian
Trong năm, người Tày ăn các lễ tết sau: tết Nguyên đán “Bươn chiêng” hoặc
“Kin chiêng”, tết Rằm tháng Giêng, tết Thanh minh (3/3), “Kin chiêng, sam”, tếtmùng Năm tháng Năm “Kin khẩu mớ”, tết tháng Bảy, tết Cơm mới (tháng Chín).Trong đó, tết Nguyên Đán và tết Rằm tháng Bảy là to nhất
Đồng thời, trong vùng người Tày còn có một số lễ hội truyền thống như: lễ hộixuống đồng, hội họp của làng, hội hát, hội ném còn, hội đánh quay, tổ chức vào dịptết Nguyên Đán Đặc biệt lễ hội cúng Pang là một lễ hội đặc sắc phản ánh thế giớiquan, nhân sinh quan tộc người một cách đậm nét
Lễ hội xuống đồng của người Tày ở Lào Cai là một lễ hội truyền thốngmang đậm bản sắc dân gian, thường được tổ chức vào đầu năm mới Đó là một lễhội cầu mùa điển hình, phản ánh tâm nguyện của người dân về một năm mới mùamàng bội thu, người yên vật thịnh
Pang theo tiếng Tày có nghĩa là giai đoạn, có mở đầu, có kết thúc Lễ dâng Pang bao giờ cũng do Tàu Mo đứng ra tổ chức, được cả cộng đồng hưởng ứng, tham gia Một lễ Pang bao giờ cũng có hai phần diễn ra gần như song song là phần
lễ và phần hội Lễ là dâng hương, hoa, rượu, thịt… với mâm cao cỗ đầy cùng
những lời khắp mo dẫn dắt con đường qua các chặng, các tầng không gian nối giữa trần gian và tiên giới cùng các nghi thức, thủ tục dâng Pang tại các địa điểm thể hiện trong lời khắp do Tàu Mo và Quan láng thực hiện là chính Hội là những điệu xòe, trò diễn thể hiện những ước vọng dân gian do cộng đồng cùng hưởng ứng, tham gia Do đó, Pang không chỉ là một lễ nghi tôn giáo mà thực sự trở thành một
lễ hội cộng đồng với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú, đadạng như nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng, vũ điệu dân gian… đượctrình diễn, được phô bày
Pang có 04 loại là Pang lập tịch (Pang mở điện) là lễ dựng điện thỉnh thần của một người bắt đầu bước vào nghiệp làm mo; Pang lập thầy (Pang nối nghiệp
thầy) là lễ nhập môn do tiền nhân truyền dạy (thường là bố đẻ, bố vợ hoặc bố nuôi)
; Pang phong sắc (Pang nâng bậc) là lễ cấp (phong) thêm bằng sắc cho một Tàu
Trang 22Mo từ cấp thấp lên cấp cao hơn; Pang luông (Pang lớn) là lễ cúng tạ (dâng lễ) để Tàu Mo và các Đệ tử, Con nhang (Lục chượng, Lục hương) tạ lễ trước chư thần và
Tổ thư của Tàu Mo nhằm cảm tạ công ơn chư thần và Tổ thư đã trừ tà, trị ma,
chuộc vía, thu hồn để cho con người có được cuộc sống khỏe mạnh, bình yên,
thoát khỏi những ốm đau, bệnh tật Đây được xem là Đại Pang và phổ biến hơn cả, thường chỉ được Mo Then – pháp sư cao tay và có nhiều Đệ tử, Con nhang tổ chức
theo định kỳ, thường là 5 năm một lần nhằm để tạ lễ chư thần, khao binh, thưởng
tướng có công Còn các lễ Pang khác chỉ được tổ chức vào những dịp cụ thể của mỗi Tàu Mo và chủ yếu do các Mo Tào, Mo Một tổ chức nhằm mục đích khởi
nghiệp hay nâng bậc
Các trò chơi dân gian thường được tổ chức vào dịp lễ hội như: chơi quay, chơiđánh én, chơi ném còn, chơi đi khà kheo, chơi kéo co, chơi đẩy gậy, thi bắn nỏ
1.3.8 Văn học, nghệ thuật
Kho tàng truyện cổ dân gian của người Tày cũng rất phong phú và đa dạng baogồm nhiều thể loại khác như: truyện cổ tích, truyện thơ, truyện ngụ ngôn và các câutruyện mang tính chất truyền thuyết lịch sử Riêng truyện cổ tích cũng có hàng trămcâu truyện kể khác nhau như: truyện chàng mồ côi, Truyện Tấm Cám, Truyện LươngSơn Bá Chúc Anh Đài, Sự tích cây thanh thảo, Truyện Thằng Cuội… Nội dung cáccâu truyện đề cao ca ngợi tính lao động sáng tạo của con người, các câu truyện kể vềloài vật, truyện cười, khuyên răn, đề cao phẩm chất đạo đức
Ngoài truyện dân gian, người Tày còn có một hệ thống các câu đố và tụcngữ phong phú và đa dạng, gắn với đời sống hàng ngày
Đặc biệt, người Tày còn lưu giữ được nhiều bài hát dân ca với nhiều thể loại,nội dung phong phú, kể về nguồn gốc lịch sử, chuyện tình yêu, hát dựng nhà mới,hát đưa tiễn linh hồn người chết, hát Then những bài hát đối đáp trong đám cưới,khi dựng nhà mới là những đoạn trường ca dài mang nhiều nội dung gần gũi vớiđời thường nhưng đầy tính hình ảnh, giàu chất liệu dân gian Trong đó, hát then làmột hình thức diễn xướng tổng hợp, hát then bao gồm cả ca nhạc, múa, diễn vớinhiều tình huống khác nhau Trong cuộc lễ ngoài nhiệm vụ thực hiện các nghi thứccúng, thầy then đồng thời phải đảm nhiệm chức năng của một người diễn viêntổng hợp, họ vừa hát vừa múa, tự đệm nhạc để thể hiện nội dung câu hát Điệumúa không theo một bài bản nhất định nào mà nó hoàn toàn mang tính tự do phóngkhoáng, thầy then tự diễn tả các động tác cho phù hợp với nội dung câu hát
Hát lượn là lối hát giao duyên Người ta thường lượn trong lễ hội, trong đámcưới, mừng nhà mới, có khách đến bản, hay bất kể cuộc vui nào cũng đều có thể
“lượn” Hát lượn của người Tày Nghĩa đô mang tính công khai, hội lượn ở trongnhà bất kể ngày đêm
Trong nghệ thuật diễn xướng của người Tày, để tăng thêm phần hấp dẫn củacác làn điệu hát dân ca không thể thiếu được các nhạc cụ dân tộc như: đàn tính,chiêng, kèn pí lè, trống, sáo
Trang 23Trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt, người Tày đã sáng tác đượcnhiều điệu múa: múa xoè, múa nón, múa cầu mùa, múa sư tử, múa đánh trống thổikèn,
Nghệ thuật tạo hình của người Tày được thể hiện rõ nét ở các đường nét hoavăn trên bộ trang phục của nữ giới và thầy Tào hay trên các sản phẩm bằng đồmây, nứa, trúc, giang
Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Tày (ngành Thu Lao)
1.4.1 Khái quát chung
Người Thu Lao có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, người ThuLao được xếp vào dân tộc Tày nhưng theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu vànhững người dân Thu Lao ở các địa bàn cơ sở thuộc huyện Mường Khương thì vănhoá và ngôn ngữ của họ gần gũi với người Nùng Dín hơn
Người Thu Lao tự gọi mình là La Hờ Hiện nay, cộng đồng người Thu Lao ởViệt Nam duy nhất chỉ có ở Lào Cai, thuộc vùng thượng nguồn sông Chảy Theo sốliệu điền dã thực hiện năm 2009, người Thu Lao cư trú tại 7 làng thuộc 5 xã củahai huyện Mường Khương và Si Ma Cai Đó là 3 làng thuộc xã Tả Gia Khâu,huyện Mường Khương; gồm: làng La Hờ (48 hộ, 228 nhân khẩu), làng La Măng(26 hộ, 123 nhân khẩu), làng Lũng Thắng (15 hộ, 71 nhân khẩu) Tại Si Ma Cai có
3 làng của 3 xã là làng Sán Chá thuộc xã Thào Chư Phìn (42 hộ, 199 nhân khẩu);làng Khuốn Pống thuộc xã Bản Mé (29 hộ, 138 nhân khẩu) và làng Tả Chải thuộc
xã Nà Sán (71 hộ, 337 nhân khẩu) Có 01 làng thuộc xã Thanh Bình, huyện MườngKhương có 5 hộ, 28 nhân khẩu người Thu Lao cư trú xen kẽ với người Nùng làlàng Tào Túng
Các làng người Thu Lao thường cư trú ở ba kiểu cảnh quan khác nhau Cáclàng ở xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương là vùng cảnh quan núi đá Các làngthuộc xã Nà Sán, xã Thào Chư Phìn, huyện Si Ma Cai là vùng cảnh quan núi đất có
độ dốc cao Ở xã Thanh Bình, huyện Mường Khương, cảnh quan cư trú của ngườiThu Lao lại thuộc vùng sơn nguyên tương đối bằng phẳng
1.4.2 Hoạt động kinh tế
Cũng như nhiều dân tộc trong vùng, người Thu Lao hiện sinh sống chủ yếubằng hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Nghề thủ công gia đình của người Thu Laogiúp cho đồng bào có thể tự túc được vải vóc, quần áo, dụng cụ sinh hoạt, sửa chữacông cụ lao động Nghề thủ công của người Thu Lao đáng chú ý có các nghề dệt
(ta thấc), nghề đan lát (tzvá) và nghề mộc Ngoài ra, Hoạt động săn bắt là một
trong những hình thái kinh tế truyền thống của người Thu Lao trước đây không chỉnhằm bổ sung thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày mà còn có tác dụng ngăn chặn
sự phá hoại của muông thú, bảo vệ mùa màng, nương rẫy Hái lượm cũng là mộthoạt động kinh tế phổ biến trong các gia đình người Thu Lao Hoạt động hái lượmcác loại rau, măng, nấm trong rừng được tiến hành gần như quanh năm nhưng rộnhất là vào mùa mưa Việc hái lượm những cây thuốc Thông dụng thường do
Trang 24những người phụ nữ trong các gia đình đảm nhiệm Người Thu Lao còn có hoạtđộng đánh bắt cá tương đối phổ biến Cách đánh bắt cá chủ yếu của họ là câu cá,xiên cá bằng lao, đánh chài, đánh độc và dùng lao đâm khi cá đã say Ngoài cá,đồng bào còn bắt tôm (đánh rọ) và cua, ốc (mò) Ngày nay, do rừng bị thu hẹp,muông thú trong rừng gần như đã cạn kiệt, các loài thuỷ sản, thuỷ sinh cũng khôngcòn phong phú như trước nên ngoài việc đặt bẫy để bảo vệ hoa màu khỏi bị chim và
gà rừng tấn công, hái lượm rau rừng để phục vụ chăn nuôi và phần nào cung cấp chobữa ăn hàng ngày thì người Thu Lao hiện không còn hoạt động săn bắt, hái lượmđánh bắt cá nào đáng kể
Trước đây, quan hệ trao đổi hàng hoá của người Thu Lao diễn ra khá mờnhạt Đồng bào chỉ thực hiện hoạt động này nhằm để đáp ứng nhu cầu nhu yếuphẩm và một số loại hàng hoá khác Khi ấy, người Thu Lao thường bán đi các sảnphẩm nông lâm sản của mình để đổi lấy các giống cây trồng, vật nuôi, sản phẩmđan lát… Cách thức trao đổi là hàng đổi hàng theo thoả thuận Ngày nay, hoạt độngtrao đổi mua bán đã trở lên phong phú hơn Ngoài việc trao đổi, mua bán với tất cảcác cộng đồng dân cư khác trong vùng và với người Trung Quốc ở bên kia biêngiới Ngoài việc trao đổi các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi với các cộng đồng
cư trú tại cùng địa phương thì đồng bào còn trao đổi, mua bán với các tư thươngngười Kinh, các cộng đồng ở bên kia biên giới Việt Trung, nhất là các cộng đồngngười Di, người Choang
Các mặt hàng người Thu Lao hiện nay thường mua gồm muối ăn, thịt, mỡ,dầu hoả, quần áo, các loại dụng cụ gia đình, nông cụ và công cụ kim khí, thuốc lào,thuốc lá, chè, thuốc chữa bệnh, phân bón, giống các loại cây trồng, vật nuôi Đồngbào thường bán ra thị trường trâu, bò, ngựa, lợn, gà, mật ong, rau các loại…
1.4.3 Tổ chức xã hội
Người Thu Lao gọi làng là lung bá theo tiếng Thu Lao hay chải theo tiếng
Quan hoả Đồng bào thường dựa vào những đặc điểm tự nhiên của vùng đất đangsống để đặt tên cho làng Quan hệ giữa các thành viên trong làng là quan hệ lánggiềng Trong mỗi làng, các dòng họ thường cư trú thành từng chòm theo từng dòng
họ lớn và từng nhóm dòng họ nhỏ hơn Các dòng họ có quyền khai thác và bảo vệcác quyền lợi của mình ở từng khu vực cư trú nhưng các gia đình vẫn giữ đượcmối quan hệ láng giềng, quan hệ đồng tộc tốt đẹp Mỗi làng là một cộng đồng vềlợi ích và tín ngưỡng
Người Thu Lao gọi dòng họ là sỉn Theo quan niệm của đồng bào, những
ng-ười cùng giòng họ được xem là những ngng-ười do một ông tổ sinh ra và được gọi là
những người trong họ (bi long sỉn đỉu) Trong mỗi dòng họ lại có những nhóm họ
khác nhau Mỗi nhóm họ bao gồm các thành viên trong các gia đình thờ cùng tổtiên ba đời Ngoài phạm vi ba đời ấy thì được xem là người ngoài nhóm họ và họ
gọi nhau là bi long sỉn dở (những người ngoài họ) Mỗi nhóm họ được phân biệt
bởi hệ thống tên đệm trong phạm vi ba đời tổ tiên và các thế hệ con cháu Vì vậy,
Trang 25họ (pờ sài) và ông cậu (chỉu nhí) luôn được đề cao Mỗi dòng họ có những dấu
hiệu riêng thể hiện ở cách thức thờ cúng tổ tiên Các thành viên trong dòng họ luônyêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau từ phát nương, tra hạt, gieo cấy, thu hoạch mùamàng cho đến làm nhà mới, cưới hỏi, tang ma… Mỗi khi một gia đình có việc cầnđông nhân lực, cả họ xúm vào giúp về nhân lực và một phần vật lực tạo thành mộtkhối đoàn kết vững chắc, đảm bảo sự thành công của các công việc cần làm
Người Thu Lao gọi gia đình là dừn dần Mỗi gia đình là một tế bào của cộng
đồng; đồng thời là một đơn vị kinh tế, văn hoá, giáo dục Cũng như nhiều dân tộckhác, gia đình người Thu Lao hiện nay tồn tại ở ba dạng mô hình là mô hình nhỏ,
mô hình gia đình nhỏ mở rộng và mô hình gia đình lớn Mỗi mô hình gia đình đều
có sự khác nhau về quy mô và các đặc điểm về quan hệ giữa các thành viên tronggia đình Quy mô gia đình phụ thuộc vào nhu cầu nhân lực đáp ứng các công việccủa gia đình
Ngoài ba dạng mô hình kể trên, trong cộng đồng người Thu Lao còn có cácdạng mô hình gia đình đặc biệt Dạng mô hình này ở làng La Hờ có 1 gia đình ghép, 1gia đình có 2 ông bà ở với cháu nội, 3 gia đình khuyết và 2 gia đình độc thân Mốiquan hệ giữa các thành viên trong gia đình người Thu Lao là kiểu quan hệ phụ quyền.Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ luôn là những bậc bề trên
Làng của người Thu Lao quần tụ ở các triền núi Lưng làng bao giờ cũng tựa
vào rừng núi Tại đó còn có khu rừng thiêng Lùng sảng, tức Long thượng (thần rồng)
được dân làng suy tôn làm thần bảo hộ của cộng đồng Các khu rừng thiêng ngoài giátrị tâm linh còn có giá trị cảnh quan và sinh thái quan trọng, có tác dụng tạo bóng mát,điều tiết khí hậu, ngăn chặn hiện tượng sạt lở đá và nước lũ vào mùa mưa
1.4.4 Văn hoá vật chất
Người Thu Lao ăn hai bữa chính một ngày là bữa sáng và bữa tối, cơ cấumón ăn của họ đơn giản, thường có cơm tẻ là lương thực chính Những bữa ăntrong các dịp lễ, tết, hội hay các dịp đại sự phong phú hơn về cơ cấu món ăn cũng nhưcách chế biến Tinh hoa văn hoá ẩm thực của đồng bào được thể hiện thông quanhững dịp này Một số loại bánh thường được người Thu Lao dùng trong dịp lễ tết
như: Bánh chưng (khấu vang), Bánh trôi (khấu pà), Bánh dày (Khấu pà pé), Bánh tẻ (Khấu pà lùng khoài), Cốm (khấu mấu)
Trang phục của người Thu Lao là một trong những thành tố bảo lưu tốt nhấtcác yếu tố cổ truyền của họ Bộ trang phục của người đàn ông Thu Lao về cơ bảncũng giống với trang phục nam giới các dân tộc ở miền núi phía Bắc Bộ nữ phụctruyền thống của người Thu Lao có khăn vấn đầu, thanh gài tóc (trâm), áo, váy và
xà cạp Người phụ nữ Thu Lao ít sử dụng đồ trang sức Tuy nhiên, do quá trìnhgiao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các tộc người nên hiện nay cũng có một số phụ nữThu Lao đeo vòng cổ, vòng tay bằng bạc giống người Nùng, người Phù Lá
Ngôi nhà truyền thống của người Thu Lao là dạng kiến trúc nhà trình tườngquá giang, 3 gian không có chái, 4 mái, thoáng đốc Kiến trúc này chia ngôi nhà thànhhai phần hay cũng có thể gọi là hai tầng đều được Tầng dưới được trình tường quây
Trang 26kín, chỉ để cửa ra vào ở chính giữa mặt trước và 1 cửa phụ ở chái nhà bên trái hoặcbên phải để Thông ra bếp hoặc chuồng ngựa.
Phương tiện giao thông truyền thống của người Thu Lao là ngựa, ngày nay
xe gắn máy đã chở nên phổ biến trong các làng của người Thu Lao
1.4.5 Phong tục tập quán trong chu kỳ đời người
Phong tục cưới xin
Người Thu Lao có những qui định chặt chẽ trong việc cưới tạo thành nhữngnguyên tắc trong hôn nhân: cho phép hôn nhân ngoại tộc nhưng nghiêm cấm traigái là anh em trong nội bộ nhóm họ kết hôn với nhau Người Thu Lao có tục nốidây trong hôn nhân Sau đám cưới, thường thì cô dâu về ở hẳn nhà trai Tuy nhiên,nếu nhà gái neo người, không có con trai hoặc con trai còn bé thì chàng rể cũng cóthể phải ở rể Thời gian ở rể dài hay ngắn tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai giađình Song, người Thu Lao không có tục ở rể đời Trong thời gian ở rể, chàng rểkhông phải đổi sang họ vợ, con cái sinh ra vẫn mang họ cha
Đám cưới người Thu Lao được chia thành các nghi thức: lễ dạm hỏi, lễ ănhỏi, lễ đón dâu và lễ lại mặt
Sau khi tìm được cô gái vừa ý, nhà trai nhờ ông mối đến nhà trai để thưachuyện Ông mối phải đến nhà gái 3 lần Nhà gái dù có ưng thì cũng phải lựa lời từchối hai lần đầu Đến lần thứ ba mới nhận lời và hẹn ngày tổ chức lễ ăn hỏi Sau lễdạm ngõ, nhà trai nhờ 1 ông mối và 1 người làm chứng mang theo 1 đôi gà, 3 lítrượu sang nhà gái làm lễ ăn hỏi rong lễ này, nhà gái sẽ đưa ra số đồ thách cưới mànhà trai phải mang sang trong ngày tổ chức đón dâu Lễ vật thách cưới bao giờcũng được thực hiện theo thông lệ xưa; gồm 4 cái cúc áo bạc, 4 cái vòng tay, 4 cáinhẫn bạc, 3 đồng bạc trắng, 80 kg lợn hơi, 80 lít rượu, 1 con trâu Toàn bộ yêu cầuthách cưới được những người tham dự làm chứng Theo tục lệ truyền thống, ôngmối và người làm chứng của nhà trai không được “mặc cả” đồ thách cưới mà chỉlắng nghe và ghi nhớ để về báo lại cho nhà trai
Lễ cưới của người Thu Lao diễn ra trong 3 ngày tương ứng với 3 nghi lễ lớn,mỗi nghi lễ được tổ chức trọn vẹn trong 1 ngày Đó là: lễ đón dâu; lễ đưa dâu và lễlại mặt Trong mỗi nghi lễ lại có nhiều nghi thức nhỏ như nghi thức xin mở cửa;nghi thức giao nhận đồ thách cưới; nghi thức giao của hồi môn; nghi thức xuất giá;nghi thức bái tổ tiên, nghi thức tranh buồng…
Phong tục sinh đẻ và nuôi con
Phụ nữ người Thu Lao từ khi mang thai cho đến trước tháng thứ 7 vẫn phảilàm việc bình thường Họ không có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi riêng Khi tuổi thai
đã được 7 tháng, gia đình sửa lễ mời thầy cúng về làm lễ cúng cầu an nhằm cầumong việc sinh nở được “mẹ tròn con vuông” Sau khi đã làm cúng cầu an, thaiphụ nghỉ ngơi tĩnh dưỡng chờ ngày chuyển dạ Trong thời gian ấy, thai phụ được giađình tẩm bổ cho những thức ăn bổ dưỡng, tránh lao động nặng và phải thực hiệnnhiều điều kiêng kỵ đối với những phụ nữ mang thai Sản phụ Thu Lao đẻ ngồi ngay
Trang 27trong buồng ngủ của mình Phong tục của người Thu Lao trong sinh nở không có bà
đỡ Trong thời gian ở cữ, phụ nữ Thu Lao phải thực hiện nhiều kiêng kị
Phong tục làm nhà mới
Người Thu Lao thường làm nhà vào thời điểm nông nhàn, thường từ thángmười đến tháng chạp Người Thu Lao cho rằng hướng nhà quyết định vận mệnhcủa các thành viên gia đình cư trú trong ngôi nhà đó Vì vậy, việc chọn hướng nhàluôn được người Thu Lao chú trọng
Một ngôi nhà của người Thu Lao thường làm trong 10 – 15 ngày mới hoànthành Quy trình dựng nhà theo các bước từ đầu đến cuối là dựng khung nhà, trìnhtường, lợp mái và bắc quá giang Công cụ dựng nhà có hộp khuôn gỗ, chày giã đất,bàn nạo, bạt, cuốc, xẻng và rổ chuyển đất Nguyên vật liệu dựng nhà có đá phiến
để kè móng và chân tường, đá hộc để chèn tường, đất sét để trình tường, gỗ để làmcột, kèo, đòn tay, dầm dọc, quá giang, cỏ gianh để lợp mái và tre, nứa để làm rui,nẹp gianh… Phụ liệu có lạt buộc, chốt tre, chốt gỗ
Ngày khánh thành nhà mới, chủ nhà chuyển ban thờ, xây bếp lò xong sẽ mờithầy cúng về làm lễ cúng quét nhà để xua các ma rừng ra khỏi nhà trước khi về ở
đủ Sau lễ cúng này, mọi người trong tang quyến mới được tháo bỏ khăn tang; tanggia cũng không phải cúng cơm hàng ngày Việc cúng cơm chỉ được thực hiện vàonhững dịp lễ tết Sau ba năm, gia đình làm lễ dỡ bỏ ban thờ và bát hương riêng,nhổ ba chân hương cũ cắm chung vào bát hương thờ tổ tiên trên ban thờ, linh hồnngười chết khi ấy được nhập vào hệ thống tổ tiên ba đời được cúng định kỳ hàngnăm vào các dịp lễ tết Ngày nay, việc làm tang của người Thu Lao đã có nhiềuthay đổi, nhất là về thời gian Trước kia, tang lễ thường kéo dài hàng tuần thì naythường là 2 – 3 ngày, phần do đường xá đã thuận lợi hơn, con cháu, thân nhân ở xa
về chịu tang không còn khó khăn như trước, phần vì sự vận động của chính quyền
và các ngành chức năng đã tác động tích cực đến tâm lý và thói quen của đồng bào.Việc báo tang bằng ba phát súng kíp bắn chỉ thiên được thay bằng truyền miệngtheo hình thức lan toả Bên cạnh đó, tang lễ của người Thu Lao hiện đã xuất hiệncác phường kèn tấu nhạc Nhạc cụ và bài bản nhạc lễ được du nhập của người Phù
Lá cư trú trên cùng địa bàn và thường do chính các nghệ nhân Phù Lá thực hiện
1.4.6 Văn hoá tinh thần
Trang 28Theo quan niệm của người Thu Lao, thế giới có 3 tầng cao nhất ở trên trời gọi
là Lấc a vô, tầng giữa gọi là Đưng cẳng và tầng dưới cùng gọi là Thẩn na tớư Đồng bào cho rằng sự sống là sự kết hợp của thể xác được gọi là sây (thây) và hồn/linh hồn (khoà) Số mạng của mỗi người được quy định bởi mệnh/mạng (mưng)
Người Thu Lao có 8 lễ, tết, hội trong một năm: tết Nguyên đán, tết Nguyêntiêu, Lễ quét làng đuổi ma, tết Đoan ngọ, Lễ cúng rừng thiêng, tết Trung nguyên vàtết Cơm mới
Trong dịp tết Nguyên đán, sau thời khắc Giao thừa, người Thu Lao có tụclấy nước mới về nấu cơm, canh dâng tổ tiên Sáng mùng 2 Tết, các gia đình mổ gà
để cúng tổ tiên và tiến hành bói xương gà để biết được tình hình vận hạn của giađình trong năm đó
Trong ngày Rằm tháng Giêng (Tết Thượng nguyên), các gia đình người ThuLao tổ chức làm bánh dày để cúng tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hoà
Vào ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch, các làng người Thu Lao tổ chức lễ quétlàng đuổi ma và cấm bang trong ba ngày
Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, các gia đình người Thu Lao tổ chức ăn tếtĐoan ngọ, cúng tế lễ vật cho tổ tiên Lễ cúng thường được tiến hành hai lần Lầnthứ nhất, gia chủ cầm con gà hiến sinh đứng trước ban thờ, khấn mời tổ tiên vềhưởng lễ rồi cắt tiết gà tại chỗ Lần thứ hai, gia chủ mổ gà, luộc chín bày lên bànthờ để thắp hương tổ tiên
Theo phong tục của người Thu Lao, vào ngày mùng 2 tháng 6 âm lịch hàngnăm, các làng người Thu Lao lại tổ chức lễ cúng rừng thiêng để cầu xin thần Rồngphù hộ cho dân làng bước vào một mùa vụ làm ăn mới thuận lợi, mưa thuận gióhoà, tránh được các tai ương, tật ách
Theo quan niệm của người Thu Lao, các ngày trung tuần tháng Bảy là nhữngngày Tổ tiên về thăm con cháu Trong những ngày này, Tổ tiên thường “ở chơi”với con cháu từ mùng 10 đến hết ngày 14 âm lịch Vì vậy, trong dịp này, đồng bàocúng cơm tổ tiên 5 ngày, từ ngày mùng 10 đến ngày 14 âm lịch, mỗi ngày cúng đủ
ba bữa Đồ cúng không có gì đặc biệt mà chỉ có một bát cơm, một đôi đũa, mộtchén nước lã và một bát đựng thức ăn mà gia đình ăn trong bữa ấy (nếu có nhiềumón thì lấy mỗi thứ một ít đựng cả vào đó) Đồ cúng trong dịp này không được đặtlên ban thờ mà đặt ngay ở cạnh bàn ăn cơm của gia đình – giáp với ban thờ tổ tiên
Lễ cúng cơm mới được các gia đình người Thu Lao tổ chức vào tháng chín
âm lịch hàng năm Ngày tổ chức cơm mới không được ấn định thời gian cụ thể tuỳtheo từng gia đình Ngày cúng cơm mới, các gia đình đều làm một mâm cơm đểdâng cúng Chủ trời, Lão Tử và Tổ tiên Lễ vật dâng cúng cũng tuỳ từng điều kiệncủa mỗi gia đình Lễ cúng cơm mới được tổ chức 5 lần: lần thứ nhất, gia chủ cúng
gà sống; lần thứ hai, cúng gà chín; lần thứ ba, gia chủ mang gà xuống ban thờ thầnthổ địa và bày cơm, rượu để cúng; lần thứ tư, gia chủ mang gà đến cúng ma cửa vàthay cơm, rượu mới; lần thứ năm, mâm cúng được thay cơm, rượu và mang ra
Trang 29ngoài sân để cúng tạ thần rừng đã cho mưa thuận gió hoà để cho cây trồng pháttriển, lúa tốt, thóc nhiều, hoa màu tươi tốt.
1.4.7 Văn học, nghệ thuật dân gian
Người Thu Lao không có chữ viết, không có các trường ca dài hàng đêm kểnhưng có hàng trăm câu chuyện thuộc nhiều thể loại như truyện cổ tích, truyệnthần thoại thần kỳ, truyện thần thoại anh hùng, sự tích, ngụ ngôn, câu đố, tục ngữ,
ca dao, thành ngữ… Nhiều tác phẩm có giá trị nghiên cứu văn hoá dân gian, dân
tộc học, lịch sử như sự tích tộc danh có tiêu đề là Đài La Hờ (Người Đất Đen) –
danh xưng theo ý thức tộc người của đồng bào; sự tích về sự hình thành các dònghọ; sự tích về tục hèm kiêng kỵ của các dòng họ Nhiều câu chuyện có giá trị răn đời,khuyên bảo con người phải sống cho lương thiện, tránh làm điều tà tâm Các câu đố,tục ngữ, ca dao, thành ngữ mang tính chất là những đúc kết kinh nghiệm dân giantrong việc khai thác, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, thể hiện sự hiểubiết sâu sắc của đồng bào về thế giới tự nhiên và quy luật vận hành của thiên nhiên
Người Thu Lao rất yêu âm nhạc đặc biệt là ca hát Đồng bào có nhiều hìnhthức hát: hát bên mâm rượu, hát khi lao động sản xuất, hát trong các nghi lễ…Trong đó, hình thức hát phổ biến nhất là hát bên mâm rượu Thuộc hình thức nàylại có nhiều thể loại như hát giao duyên (đối đáp), hát than thân, hát tâm sự, háttình yêu, hát thách nhau hát…
Âm nhạc là thứ không thể thiếu trong ngày đại hỷ Nhạc cụ của người ThuLao thuộc về 4 họ nhạc cụ là họ nhạc cụ dây; họ nhạc cụ hơi; họ nhạc cụ thân tựvang và họ nhạc cụ màng rung
Người Thu Lao có nhiều điệu múa mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó, các
điệu múa truyền thống phổ biến nhất là múa sư tử (lòng sư sây) và múa ngựa (long
mu long) Các điệu múa này thường được dân cư các làng người Thu Lao thực hiện
trong nghi thức đưa quan tài đi chôn trong tang lễ
Trong các dịp lễ hội, nhất là hội đầu xuân và lễ cúng rừng thiêng, thanh thiếuniên người Thu Lao trước đây thường tổ chức chơi các trò chơi dân gian truyềnthống như đánh quay, đánh én và bập bênh
1.4.8 Ngôn ngữ
Người Thu Lao thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, ngôn ngữ của họ có cùngđặc điểm với các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Giáy, Sán Chay, Bố Y, Cao Lan – SánChỉ, Lào, Lự Ngữ âm Thu Lao có hai loại là đơn âm và đa âm Trong hầu hết các
từ đa âm thì mỗi âm tiết đều có nghĩa nên có thể nói tiếng Thu Lao là sự tập hợpcủa các từ đơn âm tiết Căn cứ vào cách phát âm có thể thấy ngôn ngữ Thu Lao làloại ngôn ngữ đơn lập, phi hình thái, có thanh điệu, cấu trúc âm tiết mở Hiện nay,những mảng từ vựng dùng để chỉ các vấn đề kinh tế, chính trị, khoa học, xã hội…được đồng bào sử dụng hoàn toàn bằng tiếng phổ thông Mảng từ vựng dùng để chỉtập quán mưu sinh và các quan hệ xã hội truyền thống vẫn được sử dụng hoàn toàn
Trang 30tiếng Thu Lao Trong giao tiếp và nhất là trong các nghi thức tín ngưỡng, ca hát,đồng bào thường sử dụng nhiều tiếng Quan hoả.
1.5 Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Tày (ngành Pa Dí)
1.5.1 Khái quát chung
Là một nhóm địa phương của dân tộc Tày, người Pa Dí duy nhất chỉ có ởLào Cai, danh xưng tộc người, Pa Dí là tên đồng bào tự nhận Do đặc điểm cư trúcách xa các nhóm người đồng tộc (ngoại trừ nhóm Thu Lao) nên trong văn hóa,phong tục tập quán của đồng bào có nhiều nét dị biệt với người Tày nói chung, đặcbiệt là trong trang phục và kiến trúc nhà cửa Tuy nhiên, trong đời sống văn hóatinh thần, đồng bào vẫn có nhiều nét tương đồng với các nhóm cư dân Tày ở cácvùng miền trong cả nước Các nhà Dân tộc học trong và ngoài nước sau quá trìnhnghiên cứu về lịch sử nguồn gốc dân cư, ngôn ngữ và phong tục tập quán củangười Pa Dí đã thống nhất xếp họ vào nhóm cư dân dân tộc Tày, thuộc nhóm ngônngữ Tày – Thái, ngữ hệ Thái – Ka đai Ở Trung Quốc, đồng bào được xếp vàonhóm cư dân dân tộc Choang
Người Pa Dí cư trú tập trung ở 19 thôn thuộc 3 xã Mường Khương, TungTrung Phố và Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Người Pa Dí cư trú trên những địa bàn thuộc vùng chuyển tiếp giữa núi giữa vànúi cao của huyện Mường Khương, độ cao 600 – 900 m so với mực nước biển về phíaĐông Bắc tỉnh Lào Cai, thuộc khối vòm nhô sông Chảy
1.5.2 Hoạt động kinh tế
Hoạt động kinh tế truyền thống của người Pa Dí là trồng trọt, chăn nuôi, thủcông nghiệp, khai thác các điều kiện tự nhiên và trao đổi buôn bán Do tác độngcủa điều kiện sống đã thay đổi, hoạt động mưu sinh của người Pa Dí hiện nay cũng
có nhiều chuyển biến thể hiện trên nhiều phương diện của các phương thức mưusinh Trong hoạt động trồng trọt, người Pa Dí tận dụng những đám nương đã khaiphá, nhất là những đám nương gần nguồn nước để có thể dẫn nước về làm ruộngbậc thang bào sử dụng các loại giống cao sản như lúa Tam mưu, ngô Biossed…Một số thôn người Pa Dí cũng đã xuất hiện một số hộ nuôi bò như ở thôn DìThàng, thôn Lũng Pâu nhưng số lượng không đáng kể Tục nuôi ngựa trước kianay đã không còn Các nghề thủ công truyền thống đã mai một, chỉ còn nghề nấurượu ngô còn tồn tại và đem lại thu nhập đáng kể cho người dân
1.5.3 Tổ chức xã hội
Người Pa Dí gọi gia đình là mi hươn, có nghĩa là “có nhà” Mô hình gia đình
truyền thống của người Pa Dí có 3 – 4 thế hệ cùng sinh sống nhưng ngày nay, chỉtồn tại mô hình gia đình nhỏ với 1 -2 thế hệ Quy mô gia đình thay đổi nhưng tínhchất của gia đình trong cộng đồng người Pa Dí gia đình vẫn là phụ quyền Quan hệ
và phân công lao động trong gia đình có sự phân biệt theo tuổi tác và giới tính
Người Pa Dí có nhiều dòng họ Mỗi dòng họ đều có sự tích về nguồn gốcdòng họ mình; kèm theo đó là những tục hèm kiêng kỵ riêng Mỗi dòng họ lại được
Trang 31phân thành nhiều nhánh Mỗi nhánh khuôn gọn trong phạm vi từ 3 đến 20 đời Trongmỗi nhóm, các thế hệ được phân biệt bởi hệ thống tên đệm Căn cứ vào tên đệm củamỗi thành viên, người ta có thể biết được người đó thuộc thế hệ thứ mấy trong dòng
họ Trong dòng họ, vai trò của trưởng họ và ông cậu luôn được đề cao
Tính cố kết cộng đồng là một đặc điểm nổi bật của người Pa Dí Trong trồng
trọt, để kịp thời vụ người Pa Dí có hình thức làm đổi công (phàng cống) Trong đời
sống hàng ngày, mỗi sự kiện vui, buồn của từng gia đình đều cũng là nỗi vui, buồnchung của cả cộng đồng thôn Ngoài ra, người Pa Dí còn chung rừng, chung nguồnnước ăn
Trong các thôn người Pa Dí, ngoài khu vực cư trú còn có khu vực canh tác(ruộng, nương), khu vực tài nguyên thuộc sở hữu chung của cộng đồng (rừng, bãichăn thả, nguồn nước) và khu vực tín ngưỡng tâm linh (rừng cấm, miếu thờ thổđịa), các công trình phục vụ sản xuất, dân sinh (đường giao thông, mương, mángdẫn nước)…
1.5.4 Văn hoá vật chất
Người Pa Dí ngày nay sử dụng ngô và gạo tẻ làm nguồn lương thực chính.Hàng ngày đồng bào ăn hai bữa chính là bữa sáng và bữa tối Họ còn sử dụng gạonếp làm thành những món ăn độc đáo dùng trong các dịp lễ tết, cúng quải hay cácdịp đại sự Trong đó, đáng kể nhất có món cơm lam, bánh dày và bánh chưng
Bộ y phục phụ nữ người Pa Dí ở Lào Cai giống với trang phục của những
người đồng tộc ở bên kia biên giới Việt – Trung; gồm có mũ (pằn), khăn quấn đầu (mớt thừ), áo (sứ), váy (sấn), tạp dề (pì dâu), xà cạp và hài (shop) Trang phục nam
giới người Pa Dí gồm có khăn quấn đầu, quần, áo và giầy vải Tất cả được maybằng vải bông tự dệt, nhuộm chàm đen, không trang trí hoa văn
Trong lễ hội hay cưới xin, đồng bào vẫn mặc trang phục như ngày thườngnhưng là đồ mới Các thầy cúng người Pa Dí không có trang phục riêng khi hànhnghề Trong tang ma, ngoài bộ trang phục hàng ngày, tang quyến chỉ quấn khăntang màu trắng mà không có tang phục riêng
Kiểu nhà truyền thống trước kia của người Pa Dí là kiểu nhà trình tườngđược cải tiến thành nhà 2 tầng, tầng dưới trình tường là nơi để ở, tầng trên là tầngsép, dùng làm nơi cất trữ ngô, lúa và đồ đạc Hiện nay, nhà được làm bằng gỗ,mái lợp prô-ximăng Kết cấu nhà thường ở dạng ba gian, không có chái
Phương tiện đi lại trước đây chủ yếu là trên đôi chân trần, Khi cần vậnchuyển, người ta thường mang vác hành lý trên vai, trên lưng hoặc dùng ngựa làmphương tiện vận chuyển Công cụ vận chuyển là những chiếc giỏ đeo hông vàchiếc gùi đeo lưng Hiện nay, phương tiện đi lại chủ yếu là xe gắn máy
1.5.5 Phong tục tập quán trong chu kỳ đời người
Phong tục cưới xin
Người Pa Dí có nhiều qui định trong việc cưới tạo thành những nguyên tắctrong hôn nhân: nghiêm cấm kết hôn trong nội bộ nhóm họ, chọn tuổi để kết hôn,
Trang 32người góa vợ, góa chồng được đi bước nữa, nhà gái không có con trai thì chàng rểphải ở rể để lo hương hỏa, lễ cưới phải được tổ chức qua nhiều giai đoạn với nhiềunghi lễ Đám cưới của người Pa Dí được tổ chức trong 3 ngày với các nghi lễ sau:
chọn mối (pú chấy), lễ dạm hỏi (bạt hố), đám cưới nhỏ (kin lầu nói), đám cưới to (kin lầu lúng) và lễ lại mặt (ma gui mấn).
Khi tìm được người ưng ý, nhà trai sẽ tiến hành tìm người làm mối để thựchiện việc cưới hỏi cho con Người được chọn làm mối phải là người có tuổi, có uytín trong cộng đồng, được mọi người kính nể, vợ chồng toàn vẹn, con cháu đề huề,gia đình hòa thuận, kinh tế khấm khá, có tài ứng đáp… Nhiệm vụ của ông mối làphải lo cho đám cưới diễn ra tốt đẹp theo đúng thủ tục truyền thống của cha ông từ
lễ dạm hỏi với đủ 3 lần tới lui nhà gái cho đến khi kết thúc đám cưới to Lễ cướikết thúc, nhà trai biếu quà ông mối một lít rượu, một khăn mặt mới, một ống gạo,một kg thịt lợn
Lễ dạm hỏi của người Pa Dí diễn ra ba lượt Lần thứ nhất, ông mối đến nhàgái để “đánh tiếng” với nhà gái về ý định của nhà trai muốn được kết thông gia vàxin ý kiến của nhà gái để chuyển lời lại với nhà trai Nếu nhà gái ưng thuận, ôngmối sẽ sang nhà gái lần thứ hai để xin lễ thách cưới Sau đó, ông mối sẽ quay trởlại nhà gái lần thứ ba để chuyển lời với nhà gái là nhà trai đồng ý với lễ vật tháchcưới của nhà gái Sau khi ý kiến của hai bên đều đã được thống nhất, ông mối sẽthay mặt nhà trai cùng thống nhất với nhà gái về thời gian tổ chức đám cưới nhỏ
Ngày tổ chức đám cưới bao giờ cũng được chọn vào ngày chẵn trongkhoảng nửa đầu của tháng Theo phong tục truyền thống, đoàn đại diện nhà traiphải có: bố mẹ chú rể, vợ chồng ông mối, chú rể và một số anh em thân hữu Sốlượng đi của đoàn đại diện nhà trai tối thiểu phải là tám người, có thể nhiều hơnnhưng phải là số chẵn Trước lúc xuất hành, gia đình nhà trai làm mâm cơm cúng
tổ tiên để trình báo và cầu xin tổ tiên phù hộ Trên suốt chặng đường đi, nhữngngười trong đoàn người đi không được ngoái đầu trở lại và phải đi một mạch tớinhà gái Đến nhà gái, ông mối trao toàn bộ lễ vật cho đại diện nhà gái Đại diện nhàgái bày lễ vật trước bàn thờ tổ tiên và thắp hương mời tổ tiên về chứng giám Sau
đó, hai nhà ăn uống vui vẻ Tối hôm đó, đoàn nhà trai ngủ lại nhà gái Hôm sau,sau bữa cơm sáng, nhà trai xin phép ra về, đám cưới nhỏ kết thúc
Theo phong tục truyền thống, đám cưới to thường được tổ chức sau đámcưới nhỏ từ một đến ba năm Trước ngày cưới, nhà trai phải tiến hành sửa soạnbuồng cưới cho đôi vợ chồng trẻ Vào ngày lành, tháng tốt, nhà trai tổ chức đoànđón dâu để sang nhà gái Lần này, họ đem theo 1 con ngựa để cô dâu cưỡi, 1 cái ô
để cô dâu che trên đường về nhà chồng, 2 cái gương để cô dâu đeo phía trước và
sau thân mình để kỵ ma Toàn bộ sính lễ và vật phẩm được dán giấy đỏ (chề đeng)
với niềm tin màu đỏ sẽ đem lại may mắn cho ngày đại hỷ Đoàn người đi trongngày này có 2 cặp vợ chồng của 2 ông mối (một mối chính, một mối phụ), 2 cặpnam nữ thanh niên chưa lập gia đình, ít hơn hoặc bằng tuổi chú rể, em trai (hoặc
Trang 33tương đương) đi làm nhiệm vụ dắt ngựa cho cô dâu Trên đường đi, nếu đoàn nhìnthấy quạ hoặc nghe thấy tiếng quạ kêu thì phải cho quạ ăn và nói vài câu với ý
“mày ăn rồi mang những điều xấu, điều gở đi, đừng để ảnh hưởng tới đoàn”
Sau khi nhà gái kiểm tra đồ sính lễ xong, đoàn nhà trai được vào nhà Nhà gái tổchức cúng cơm báo tổ tiên về việc cho con gái đi lấy chồng Tiếp đó, hai nhà và kháchmời ăn uống vui vẻ, chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ Sáng sớm hôm sau, gia đình nhàgái chuẩn bị cơm, rượu để mời nhà trai và chuẩn bị cho con gái về nhà chồng
Khi về đến nhà trai, cô dâu phải đứng ở sân để đợi nhà trai làm lễ “nhậpma” Khi đến cửa nhà, 2 cô gái trẻ trong đoàn đón dâu múc nước rửa chân cho côdâu, hai bà vợ của hai ông mối dắt tay cô dâu vào nhà Tiếp đó, ông trưởng họhướng dẫn cô dâu và chủ rể làm lễ bái tổ Sau đó, cô dâu được đưa vào buồng cưới.Ngoài nhà, tiệc rượu diễn ra vui vẻ Sáng hôm sau, đại diện nhà gái trao dâu và xinphép ra về
Sau đám cưới một vài ngày, đôi vợ chồng trẻ mang theo một đôi nến, một bóhương, một sấp giấy bản, một túi bánh kẹo, khoảng 2 kg thịt và 1 lít rượu về nhà
bố mẹ vợ làm lễ lại mặt
Phong tục sinh đẻ và nuôi con
Người Pa Dí quan niệm, sinh đẻ vừa là thiên chức vừa là bổn phận tự nhiêncủa người phụ nữ Người phụ nữ mang thai nhận được sự quan tâm, chăm sóc của
cả gia đình Khi mang thai cũng như sinh nở, người phụ nữ phải kiêng khem rấtnhiều thứ Đồng bào Pa Dí cũng có nhiều bài thuốc quý dành cho phụ nữ khi sinh
đẻ Đứa trẻ sinh ra phải thực hiện nhiều kiêng kị nghiêm ngặt như: Tục cấm cửa,
tục nhận cha mẹ nuôi, tục đặt tên cho trẻ (sảu chư), tục xin giấy khai sinh (chế bà chử), lễ đầy tuổi (tem hảy) Trẻ em nhận được sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của
Trang 341.5.6 Văn hoá tinh thần
Người Pa Dí theo tín ngưỡng đa thần Trong đó, thờ cúng tổ tiên là được chútrọng nhất Đồng thời mỗi thôn đều có miếu thờ thần thổ địa
Người Pa Dí có nhiều lễ, tết trong một năm xoay quanh chu kỳ sản xuất
nông nghiệp: Tết tháng giêng (Kin Đân cheng), Tết Cơm mới (Kin khâu mở), Tết Tháng ba (Kin Đân Xam), Tết Tháng năm (Kin Đân Hà), Tết Tháng bảy (Kin Đân Chét), Lễ cúng bản cấm bang (Đân xoỏng khân xoỏng mư), Tết đón em gái (Kin khù sao xám), Lễ cúng bản cầu mùa (Tăng hươn mèo mi lu di lu),
Người Pa Dí có nhiều các câu truyện kể dân gian thuộc đủ mọi thể loại, từ
cổ tích, truyền thuyết cho đến ngụ ngôn, truyện cười,…
Trong đời sống văn hóa tinh thần, thơ ca luôn là nguồn động viên, cổ vũ chocác hoạt động giao lưu, sinh hoạt văn hóa của người Pa Dí ở Lào Cai Các bài dân
ca chủ yếu do người hát tự ứng tác tùy theo hoàn cảnh cụ thể khi hát Dân ca củađồng bào có 3 hình thức thể hiện là hát đơn (1 người hát), hát giao duyên nam nữ
và hát đối đáp
Nghệ thuật trang trí của ngời Pa Dí thể hiện nổi bật trên trang phục phụ nữ.Nhạc cụ dân gian của người Pa Dí khá phong phú, gồm có các nhạc cụ họdây như tính tẩu, đàn hồ, đàn nhị; nhạc cụ họ hơi gồm có pí lè, kèn lá; nhạc cụmàng rung có trống; nhạc cụ thân tự vang có chuông và thanh la
Người Pa Dí là một nhóm địa phương của dân tộc Tày nhưng đồng bào lại
có phương ngữ riêng Phương ngữ Pa Dí có nhiều đặc điểm tương đồng với tiếngTày, tiếng Thái
1.6 Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Giáy
1.6.1 Khái quát chung
Người Giáy tự gọi mình là “ Pú Giáy” hoặc “ Hún Giáy”, “Pú Giáy pưa”.
Hiện nay, người Giáy có 28.606 người, chiếm 4,7% dân số toàn tỉnh, cư trú chủyếu ở huyện Bát Xát
Đây là dân tộc sống định cư, chủ yếu cư trú ở nơi gần nguồn nước, thế đấttựa lưng vào đồi nhìn ra suối, cánh đồng
Mối quan hệ trong dòng họ của người Giáy hết sức chặt chẽ, mỗi dòng họđều có những quy định riêng, hết sức nghiêm ngặt
Trang 35Làng người Giáy gọi là “ luổng” Các làng của người Giáy sống gần nhau,
một khu vực thường có tới 3 tới 4 làng, các làng phân tách nhau bởi cánh đồng,ngọn đồi, con suối Mỗi làng có một rừng cấm, nơi đây cúng thánh thần của làng,ban lộc cho dân làng, rừng cấm cúng vào hai lần trong năm vào tháng 3 và tháng 7
1.6.4 Văn hoá vật chất
Người Giáy ăn ba bữa trong ngày, gạo tẻ là lương thực chính trong các bữa ăn.Cách chế biến nông phẩm rất đa dạng như gạo làm bánh chưng gù, bánh tò te, bánhbỏng, bánh khảo, xôi màu, bánh trôi, bánh chay … Ngô làm bánh ngô, xôi ngô, …
Nhà người Giáy truyền thống là nhà đất, nếu nhà giàu thì vẫn giữ cấu trúcnhà truyền thống nhưng biến tấu thành nhà sàn Việc chọn đất làm nhà được ngườiGiáy rất chú trọng bởi đây là nơi sinh cơ, lập nghiệp lâu dài, qua nhiều đời Gỗ đểlàm nhà đã được gia chủ chuẩn bị dần từ nhiều năm Ở xà ngang ngay dưới phangnóc ngôi nhà của người Giáy thường treo một mảnh vảiđỏ viết chữ nho như mộttấm bùa hộ mệnh cho ngôi nhà gọi là “sảng liềng” Sau khi lợp mái xong, gia chủmang bàn thờ vào đặt và mổ gà cúng tổ tiên, vợ chủ nhà sẽ xuống bếp nhóm lửa vàmang một ống nước lạnh vào đặt cạnh bếp và đun lửa cho ấm nhà Khi ngôi nhàhoàn thành, gia chủ sẽ tổ chức bữa cơm để cảm ơn sự giúp đỡ của anh em, họhàng, làng xóm Thông thường, ngôi nhà của người Giáy có 3 gian, trong đó giangiữa để bàn thờ là quan trọng nhất
Trang phục truyền thống của người Giáy rất đơn giản, tất cả đều được tự cắtmay từ vải sợi bông nhuộm chàm, không thêu thùa, có trang trí chút ít vải màu sắckhác cho đẹp hơn Trang phục phụ nữ gồm có khăn, áo, quần và giày Trang phụcđàn ông có mũ đội đầu, áo, quần và giày Trang phục hằng ngày và lễ hội của ngườiGiáy giống như nhau, vào những ngày quan trọng như cưới xin, lễ tết thì mặc quần
áo mới và màu sắc sặc sỡ hơn Trang sức chủ yếu của phụ nữ Giáy là vòng tay
Trang phục của thầy Then cũng đơn giản gồm có: Mũ Then ( mào cau), Áo (pưa) Mũ gồm 3 phần: Phần trên là chín cánh hoa trang trí Ba cánh ở giữa có thêu
chữ Hán cổ, theo một vài người cho rằng đây là chữ Thọ, chữ bình an, mạnh khỏe.Cánh hoa ở giữa là khác nhất, bốn đôi một hai bên trang trí giống hệt nhau, trênđầu mỗi cánh có một đoạn hạt trang trí Hoa văn trang trí đối xứng nhau, chủ yếu làhình hoa hồng và cỏc loại hoa 4 cánh, 5 cánh Phần cố định mũ trên đầu người đội
là một dải vải nhỏ dưới 9 cánh hoa Hai dải dây dài rủ xuống hai bên, dài tới nganglưng Hai cái dây là khăn trang trí Áo then cũng gồm 3 phần: hai “thai dỏng”, “thaiphặt” và hai “han kin”
1.6.5 Phong tục tập quán trong chu kỳ đời người
Phong tục cưới xin
Người Giáy thường tổ chức đám cưới từ tháng 8 đến tháng 2 sang năm,kiêng cưới và tháng 3 và tháng 7 Các bước để tiến hành hôn nhân gồm có: tìm bàmối, gia đình nhà trai chọn ngày tới nhà gái để nhận thách cưới, xin cưới, đưa đồthách cưới, đón dâu, lại mặt
Trang 36Sau khi tìm được nàng dâu ưng ý, nhà trai sẽ tìm bà mối để đến nhà giá dạmhỏi ý tứ của cô Nếu cô đồng ý thì bà mối sẽ sắp xếp cho hai gia đình gặp nhau Khinhà gái đồng ý thì nhà trai sẽ xin giấy khai sinh của cô gái để nhờ thầy bói tuổi xem
có hợp không Nếu được, gia đình nhà trai sẽ chọn ngày để đến nhà gái nhận tháchcưới Sau đó, nhà trai nhờ thầy tìm ngày tốt để làm đám cưới và cử bà mối đến thôngbáo với nhà gái về ngày cưới
Trước ngày cưới, nhà trai phải mang đồ thách cưới đến nhà gái để nhà gáilàm cỗ cưới Đoàn nhà trai đi đón dâu từ sớm Chàng rể phải quỳ lạy trước bàn thờ
tổ tiên nhà gái từ chiều đến tối để xin dâu Vào khoảng 8 - 9 giờ tối, nhà trai tiếnhành xin dâu, nhà gái bố trí người đưa cô dâu về nhà chồng Cô dâu được chùm vải
đỏ kín mặt, trên người mang theo một quyển sổ để sau này con sẽ thông minh họcgiỏi; gương để đuổi ma và thể hiện tâm con dâu sáng như gươnh; cây hành hoa đểtránh ma tà trên đường về nhà chồng Tay cô dâu cầm một con gà sống để phòngtrên đường gặp bất trắc sảy ra (có rắn hay con gì kêu) thì cô dâu sẽ ném con gà đicho thế mạng cho mình Đoàn đưa dâu phải chờ đến 3 -4 giờ sáng mới được vàonhà Vì thế, nhà trai thường chuẩn bị chiếu, màn cho nhà gái ngủ ở ngoài sân
Đến giờ tốt, nhà trai đặt một chiếc thang ba bậc để cô dâu vào nhà Cô dâuchú rể thực hiện nghi thức bái lạy tổ tiên rồi vào buồng bố mẹ , tiếp đó vào buồng
cô dâu Chú rể tháo khăn cho cô dâu và hai người cởi hai khăn đỏ chéo ngangngười ra và ra ngoài dự tiệc cưới
Ba ngày sau, vợ chồng cùng hai người phụ nữ trung tuổi mang lễ vật về nhàgái để làm lễ lại mặt
Phong tục sinh đẻ và nuôi con
Từ khi mang thai, những người mẹ đều được chăm sóc chu đáo, không cholàm việc nặng, ăn những loại thức ăn mát, lành như các loại thịt nạc trứng, cá,…các loại rau như rau ngót, rau má,… Khi mang thai mà thai yếu, gia đình sẽ mờithầy Then về làm lễ cầu an; khi thai được 8 tháng, làm lễ cầu cho sinh nở đượcmay mắn, con khỏe mạnh
Phụ nữ Giáy sinh tại nhà, đẻ ngồi với mẹ chồng và những người già có kinhnghiệm Nếu khó đẻ thì mẹ chồng đốt quả bồ kết ở gầm giường cho dễ đẻ Trongkhi sinh không cho đàn ông vào, chỉ khi nào sinh con xong, người bố vào nhìn con
và đem nhau thai, dây rốn vứt xuống suối Đứa bé kiêng không ra ngoài sợ lạnhhoặc gặp ma cà rồng, ngoài cửa buồng cài cành sa nhân tránh ma tà và đeo vào cho
bé một túi nhỏ ơ ngực có xuyên khung
Bà ngoại trả lễ cho nhà trai bằng cách tặng địu cho cháu vào ngày lành thángtốt Lễ sang nhà nội có một chiếc vòng có quả lắc dành cho trẻ con, đụi, mấy cái tã
to, hoa quả, một con gà, xôi, mấy cân gạo cho cháu, hai quả trứng nhuộm đỏ (lấytrứng làm bạn với vía đứa trẻ, khi trẻ có bạn thì không bỏ đi chơi xa nên không sợvía đi lạc)
Trang 37Lễ đặt tên con thường làm vào ngày đầy tháng, nhưng người Giáy không quanniệm ngày đầy tháng phải là ngày tròn tháng sinh cháu mà xem ngày nào tốt thìchọn ngày đó Người Giáy chỉ đặtt một tên duy nhất, không bao giờ thay đổi tên Trẻsinh ra ngay sau ngày sinh hoặc chờ tới đầy tháng bố mẹ bé sẽ tới nhà thầy mo viếtmột tờ giấy khai sinh bằng chữ Nho và cho thầy xem hạn cho trẻ, nếu hạn nặng thìthầy Mo giải hạn luôn cho, nếu không thì sau này gia đình mời thầy Then tới giúp.
Nghi lễ mừng thọ cho người già
Những người với độ tuổi từ 55, 60 tuổi trở lên thường được con cháu làm lễmừng thọ Lễ mừng thọ của người già phải do thầy Then phải có sự giúp đỡ của thầyThen Những gia đình có điều kiện mời tới 3 thầy Then đến làm lễ cúng trong 2 đến 3ngày, còn thông thường một buổi lễ mừng thọ kéo dài từ 8h sáng đến 10 giờ tối Trong
lễ mừng thọ, thầy Then tiến hành nghi thức gọi vía cho người già và dâng lễ vật cầusức khỏe Sau buổi lễ, gia đình mở tiệc rượu để chúc thọ cho người già
Phong tục tang ma
Những ông bà già người Giáy tới tuổi hơn 60 đã chuẩn bị quần, áo, giầy,khăn cho sự ra đi của mình Khi cha mẹ mất, con gái trong nhà sẽ đi báo tin, nếukhông có con gái thì con dâu đi thay Một số nơi, người ta thông báo bằng tiếngsúng bắn, làng đó sẽ có quy định bắn một hoặc ba phát súng là báo có người mất,như vậy cả làng biết và ai tới giúp được thì tới giúp
Khi người nhà mất, con cháu đun nước lá thơm để tắm rửa cho thi thể vàmặc quần áo mới, thả vào miệng người chết một đồng bạc trắng, để vàng mã xungquanh người chết Đồng thời, gia đình nhờ thầy Mo xem giờ và làm lễ nhập quancho người chết Sau khi đậy nắp quan tài, mỗi người con đắp lên đó một tấm vảitrắng Và để lên trên một bát cơm, một quả trứng
Đến giờ đưa ma, con cháu đi trước nằm úp mặt xuống đất bắc cầu cho bố mẹ
đi Mọi người khiêng quan tài đi như chạy Nếu quãng đường xa thì được nghỉ giữađường nhưng phải có mâm cúng cho thầy Mo làm lễ Sau khi hạ quan tài, mỗingười trong nhà lấy một nắm đất thả xuống quan tài và bỏ chạy thật nhanh về nhà,
ở mộ chỉ còn lại những người giúp chôn cất người chết Sau đám tang, con cháu ănmột bữa ăn cùng nhau và cúng ma trong ba ngày liên tục, cúng ba bữa ăn mộtngày, người nhà ăn gì thì cúng ma như vậy Người Giáy không có tục làm cúng 49hay 100 ngày Tùy từng gia đình mà làm lễ đốt tang sớm hay muộn Trong ba nămđầu, vào ngày giỗ hay dịp tết, cả gia đình đi vun đắp, sửa sang phần mộ Sau banăm, người nhà chỉ đi vun mộ vào dịp tết Thanh minh
1.6.6 Văn hoá tinh thần
Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng truyền thống, thể hiện lòng hiếu thảo vàbiết ơn ông bà tổ tiên của con cháu trong gia đình Bàn thờ tổ tiên được chủ nhà đặttrang trọng trong gian giữa của ngôi nhà, đằng sau bàn thờ người Giáy còn làmthêm một cái hiên hẹp để không ai có thể chạm tới bàn thờ một cách vô ý Thờ
Trang 38cúng tổ tiên vào nhiều dịp trong năm như ngày tết, mùng một, ngày rằm, ngày làmthen, cúng mo, …
Ngoài thờ tổ tiên, người Giáy còn có tục thờ thần rừng, mỗi làng thường cómột khu rừng cấm riêng của làng, thông thường mỗi năm cúng một lần, tùy theotừng vùng mà có nơi cúng hai lần một năm, cúng vào ngày thìn đầu tiên của tháng
3 hằng năm, một số nơi còn cúng vào rằm tháng 7
Người Giáy quan niệm ốm đau bệnh tật là do con người có lỗi với tổ tiênhoặc có lỗi với ma gây bệnh mà ốm Vì thế, khi bị ốm, họ thường mời thầy Then
về làm lễ cúng
Trong cộng đồng người Giáy, những hình thức tôn giáo sơ khai vẫn còn tồn tạinhư: tô tem giáo (các dòng họ đều thờ các con vật và nghi lễ cúng bái theo cách thứcchiếm đoạt tự nhiên của nó), ma thuật giáo (cúng chữa bệnh)
Trong một năm, người Giáy có nhiều lễ, tết: tết năm mới, lễ hội xuống đồng,
lễ cúng rừng cấm, tết mùng 3 tháng 3, tết rằm tháng 7,…
Nhạc cụ truyền thống của người Giáy có bộ ba nhạc cụ là trống, chiêng và pí
lè, được sử dụng trong những dịp lễ hội, đám tang, cưới hỏi Mỗi khi sử dụng nhạc
cụ, người thợ cả sẽ mang đồ cúng ta xin phép và cúng bàn thờ tổ tiên rồi mới mang
đi làm lễ
Hai điệu múa phổ biến nhất trong cộng đồng người Giáy là múa hoa đăng vàmúa quạt Múa hoa đăng là múa trên nền nhạc nghi lễ, tuyến múa vẽ hình con hạctrên chùa, mỗi một diễn viên cầm hai ngọn hoa đăng múa Múa quạt với những bàidân ca với tiết tấu vui tươi, khỏe khắn, cầu mong mùa màng tốt tươi, năm mới tốtlành, mừng xuân mới
Truyện cổ dân gian của người Giáy thường có đề tài về con người, tự nhiên,mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Các câu đố, tục ngữ gần gũi với đời sốnghàng ngày
1.7 Chuyên đề nghiên cứu về dân tộc Bố Y
1.7.1 Khái quát chung
Người Bố Y ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai gọi là “Tu Dí” Từ “TuDí” bắt nguồn từ “Tu Dìn” có nghĩa là Đô Vân – một phủ của tỉnh Quý Châu.Ngày nay, Đô Vân là châu lỵ ở phía đông của thành phố Quý Dương tỉnh QuýChâu Người Bố Y ở Mường Khương lấy tên vùng đất cư trú cũ đặt thành tộc danh
Từ sau năm 1979, tên Bố Y cũng trở thành tên gọi chính thức của người “Tú Dí” ởLào Cai Người Bố Y ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai đến từ vùng Ma Hàphủ châu lỵ Đô Vân tỉnh Quý Châu
Năm 1930, người Bố Y ở Lào Cai có 360 người sống tập trung ở TungChung Phố, Tả Gia Khâu và Bản Lầu Người Tu Dí (Bố Y) ở Lào Cai có 972 nhânkhẩu Họ sống tập trung ở xã Tung Chung Phố và Tả Chu Phùng và cư trú lẻ tẻ tạicác xã Thanh Bình, Lùng Khấu Nhua Bản Lầu, Thải Giàng Sán, Tả Gia Khâu,
Trang 39Mường Khương, Pha Long Năm 1989, Lào Cai có 929 người Bố Y Năm 1999, có
Hoạt động trao đổi, mua bán được diễn ra ở các chợ phiên Từ nửa đầu thế
kỷ 20 về trước, người đi chợ mua bán chủ yếu lại là nam giới hoặc ông chủ giađình Hoạt động mua bán qua biên giới được duy trì dưới hình thức là mua bánnhỏ, trao đổi hàng hóa
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở về trước, người Bố Y có nhiều nghề thủcông truyền thống như: nghề mộc, nghề rèn đúc, nghề đan lát mây tre, nghề trồngbông dệt vải… Nhưng hiện nay, các nghề này đều bị mai một, chỉ còn tồn tại nghềthêu hoa văn trên vải, chế biến thực phẩm, nấu rượu,… Sản phẩm từ các nghề thủcông này bước đầu đã đem lại một nguồn thu nhập cho người dân Bố Y
1.7.3 Tổ chức xã hội
Người Bố Y gọi gia đình theo tiếng Quan hỏa là “ý lô chá thình” có nghĩa là
“một nhà”, “một gia đình” Loại hình gia đình chủ yếu của người Bố Y là loại giađình nhỏ phụ hệ Theo phong tục người Tu Dí, vợ chồng không được phép ly hôn
Họ phải gắn bó với nhau mãi mãi cho đến khi chết, chôn chặt dưới đất Chỉ khi nào
1 trong 2 người bị bệnh, chết thì người kia mới được phép kết hôn Nếu anh traichết thì chị dâu có thể lấy em chồng (nếu em chưa có vợ) để ở lại nhà chồng.Nhưng em trai mất, anh chồng không được phép lấy em dâu hay ngược lại
Theo nghĩa rộng, người Tu dí gọi dòng họ là “y yảng xỉn”, “y” là một,
“yảng” là giống, “xỉn” là gốc cây, tức là cùng một họ, cùng tổ tiên đẻ ra, cùng “mộtcây” mà chia ra các cành, chia từ một gốc rễ Theo nghĩa hẹp, dòng họ gọi là “Tả cháthình”, “tả” nghĩa là đại, là to, “chú thình” nghĩa là gia đình, tức là đại gia đình.Trưởng họ là người quyết định những công việc quan trọng trong họ, là người giữagia phả của dòng họ Người Tu Dí không có ngày cúng giỗ riêng của dòng họ, các dịp
lễ tế trong năm, các thành viên của tộc họ không phải mang quà bánh hay sắm sửa lễvật đến tế lễ , biếu trưởng họ Trưởng họ khi chết được dựng bia đá trước cửa mộ gọi
là “péi” Mối quan hệ dòng họ của người Bố Ý hết sức chặt chẽ
Làng của người Bố y được gọi là “chải chư” Mỗi làng có một tên riêng.Đứng đầu “chải chư” là trưởng làng (trưởng bản), người Bố Y gọi theo tiếng QuanHỏa là “chải trang” (có nghĩa là “trại trưởng”) “Chải trang” là người có uy tín
Trang 40trong cộng đồng, được dân làng bầu lên và không có tính chất cha truyền con nối.
“Chải chư” có sự cố kết nhất định về mặt xã hội và tinh thần
1.7.4 Văn hóa vật chất
Nhà của người Bố Y là kiểu nhà đất trình tường, một gian hai trái hoặc bagian hai trái Công năng sử dụng mặt bằng nhà khá hợp lý, sát tường sau gian giữa
là nơi thờ tổ tiên, phía dưới bàn thờ tiếp khách, bàn ăn
Trang phục của phụ nữ Bố Y có tính thống nhất về kiểu cách nhưng vẫnmang đậm dấn ấn của lứa tuổi, môi trường mặc; bao gồm quần áo, tạp dề, khăn độiđầu và đồ trang sức khá phong phú Áo cưới của phụ nữ Bố Y cũng là loại áo kiểutrên nhưng dài và rộng hơn Tạp dề cũng thêu hoa văn Các đường viền của áođược trang trí bằng dải hoa văn hình quả trám nối tiếp nhau Phụ nữ Bố Y dùngnhiều đồ trang sức bằng bạc trắng: vòng tai “nô chử”, nhẫn bạc “xâu khú”, vòngtay “chồ tấu”, yếm bạc “vùi xéo sồ” Trong đó, bộ yếm bạc “vùi xéo sồ” là độcđáo, phong phú nhất
Trang phục nam giới của người Bố Y ít giữ được nét riêng Nam giới nhữngnăm 70 của thế kỷ 20 mặc quần ống rộng, áo cánh ngắn cổ viền, vải thô Áo có 2túi dưới và một túi ngực bên trái, áo có 9 hàng cúc dây từ cổ xuống vạt Bây giờ họmặc quần âu, áo sơ mi hoặc mặc như trang phục nam giới người Hán vùng biên.Ngày cưới chú rể mặc áo dài có 2 vạt, cổ đứng, thân chùng quá gối, ống tay áo nhỏđều bó lấy cánh tay, 2 bên nách có 2 đường chiết ly Nam giới Bố Y chỉ mặc áo dài
2 lần trong cuộc đời là trong lễ cưới và khi nhắm mắt xuôi tay
Từ giữa thế kỷ XX trở về trước, người Bố Y chủ yêu ăn ngô đồ gọi là “mènmén”, nhưng ngày nay họ đã chuyển sang ăn cơm tẻ Con được nấu theo hình thức
đồ, Gạo cho vào chảo luộc, đến khi nước sôi, vớt gạo ra giá tráng qua nước lã rồicho vào chõ “chửu tsưa” đồ chín Món canh phổ biến của người Bố Y là canh nướcluộc ngô Nước luộc ngô để nguội, cho vào chum Mỗi ngày khoắng 3 đến 4 lầncho nước chua Khi luộc rau cải chín, cho một bát nước ngô chua đổ vào nấu canhrau, cùng với muối, mỡ đun sôi Đây là món ăn thường ngày (từ tháng 6 đến tháng
10 hàng năm) Ngoài cơm và canh, người Bố Y còn hay chế biến các món ăn từđậu tương, điển hình là món “lu tẩu phu” Vào các ngày lễ, tết, người Bố Y thườnglàm các loại bánh: bánh chưng đen, bánh khảo “sèo pà pá”, bánh “khoải”
Người Bố Y uống rượu ngô Men rượu được chế từ hạt kê, vỏ quế, gừng và
lá “pá ngài xúa” Các nguyên liệu trên được xay nhỏ, trộn đều với nước rượu đầu,
ủ một ngày, nặn thành viên và phơi khô Sau khi ngô được đồ chín đổ ra nong, tãiđều cho nguội Người Bố Y giã men rượu trộn đều với cơm ngô, ủ trong chum đậykín 7 ngày Sau đó đổ nước lã vào chum từ 2 đến 3 ngày thì đem nấu rượu
Trong các ngày vui, lễ cưới người Bố Y có phong tục mời rượu độc đáo.Đồng bào thường đặt bát rượu trên đầu, vai vừa thổi kèn pí lè mời rượu Tục mờirượu vừa trân trọng vừa hiếu khách
1.7.5 Phong tục tập quán trong chu kỳ đời người