Hai là: Phân tích các quy định của pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện hành, mà cụ thể là hoạt động trồng trọt và chăn nuôi đảm bảo việc sản xuất các sản phẩm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG SẢN SUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
VŨ MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG SẢN SUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liêụ
trong lu ận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa
t ừng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Minh Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác gi ả xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Phương, người
đã trực tiếp động viên, hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tác giả trong suốt quá
trình nghiên c ứu và hoàn thiện luận văn
Tác gi ả cũng xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các thầy cô giảng
viên, các th ầy cô Khoa Sau đại học, trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều
ki ện thuận lợi nhất để tác giả có thể hoàn thành luận văn thạc sỹ luật học của
mình
Bên c ạnh đó, tác giả cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng hộ tác giả có thể hoàn
thành lu ận văn của mình một cách tốt nhất
Hà N ội, ngày 5 tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn
Vũ Minh Đức
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT MÔI
TRƯỜNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO
1.2 Khái quát về pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn
đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 18
1.2.2 Nội dung của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp
với vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN VỆ
2.1 Các quy định của pháp luật môi trường trong lĩnh vực trồng trọt với vấn
đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 27
2.1.2 Quy định về việc sử dụng phân bón 31 2.1.3 Quy định về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 35 2.2 Các quy định của pháp luật môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi với 39
Trang 6vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
2.2.2 Quy định về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi 43 2.2.3 Quy định về việc sử dụng các loại thuốc thú y 47 2.3 Quy định liên quan đến vấn đề quản lí nguồn nước, đất, chất thải trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 50 2.3.1 Quản lí nguồn nước và bảo đảm chất lượng nguồn nước 50
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP NHẰM BẢO ĐẢM AN
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm ở Việt Nam 61 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm ở Việt Nam 65 3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thực phẩm và vấn đề an toàn thực phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người Thực phẩm bảo đảm cuộc sống của con người và chất lượng thực phẩm duy trì sức khỏe con người Trong khi đó, tình hình mất vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang diễn ra rất phổ biến, trở thành vấn đề rất nóng, được cả xã hội quan tâm và được bàn bạc, thảo luận rất sôi nổi tại Quốc hội Chưa bao giờ cụm từ “mất về sinh an toàn thực phẩm” lại được nhắc đến nhiều như vậy trên các phương tiện thông tin đại chúng và cả trên diễn đàn của Quốc hội Các loại thực phẩm bẩn, rau nhiễm hóa chất độc hại, thuốc trừ sâu, thịt, cá, tôm nhiễm chất tạo nạc, hoa quả
“tắm” chất kích thích, chất bảo quản được bày bán tràn lan trên thị trường mà không có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng Thực trạng đó, đã dẫn đến tình hình ngộ độc thực phẩm đặc biệt là những trường hợp ngộ độc tập thể trong thời gian gần đây có chiều hướng gia tăng về số vụ cũng như tính chất nguy hiểm, nghiêm trọng của mỗi vụ, ngoài ra tỉ lệ mắc các bệnh như: ung thư, viêm gan, suy thận…đang có chiều hướng gia tăng đáng kể do sử dụng thực phẩm mất an toàn vệ sinh
Nhiều trường hợp dẫn tới tình trạng mất an toàn vệ cinh thực phẩm là do những người sản xuất, buôn bán thực phẩm cố tình đưa những hóa chất độc hại nhằm bảo quản thực phẩm hoặc tạo ra độ hấp dẫn của thực phẩm với người tiêu dùng Đây là những hành vi vố tình làm ảnh hưởng tới an toàn thực phẩm
Mặt khác, cần phải khẳng định rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp đã
có tác động rất mạnh mẽ và trực tiếp đến năng xuất, chất lượng lương thực, thực phẩm Trong lĩnh vực trồng trọt với việc sử dụng giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sẽ quyết định trực tiếp đến sản lượng, chất lượng của các loại nông sản như: lúa, các loại rau, củ, quả… Trong lĩnh vực chăn nuôi, với việc sử dụng giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và các loại thuốc thú
y sẽ quyết định trực tiếp đến tỉ lệ nạc, cân nặng, chất lượng thịt của vật
Trang 9nuôi…Do đó, nếu quá trình sản xuất nông nghiệp không được chú trọng một cách nghiêm túc tới việc bảo đảm các yêu cầu của pháp luật ở các khâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng các loại nông sản, đặc biệt là sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới an toàn thực phẩm, ảnh hướng tới sức khỏe người tiêu dùng Xuất phát từ những lý do ttrên, người viết nhận thấy rằng việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm” là thực sự cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Luận án tiến sĩ nông nghiệp của Đặng Thị Phương Lan,
Nghiên c ứu ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong sản
xu ất rau an toàn, ảnh hưởng của chúng đến thiên địch sâu hại và chất lượng
s ản phẩm vùng Hà Nội và Phụ cận, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, Hà
Nội, năm 2012 Luận văn thạc sĩ nông nghiệp chuyên ngành thú y của Nguyễn
Văn Điệp, Nghiên cứu đánh giá chất lượng một số loại thuốc thú y đang lưu
hành trên th ị trường hiện nay,, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, năm
2008 Đề tài nghiên cứu khoa học củaTrần Thanh Sơn, Nghiên cứu ảnh hưởng
c ủa phân đạm, phân kali, phân lân đến tỉ lệ hạt gạo trong ở huyện Thoại Sơn
t ỉnh An Giang, Trường Đại học An Giang, năm 2008 Bài viết của Đỗ Mai
Thành, kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của EU và bài học đối với Việt Nam, tạp chí Cộng sản điện tử, số 12 (204) năm 2010
Dưới góc độ pháp lý mới chỉ có một số công trình nghiên cứu với phạm vi là một trong những nội dung của tài liệu học tập là tập bài giảng Pháp luật môi trường trong hoạt động kinh doanh của Trường đại học luật Hà nội, NXB Tư pháp, Hà nội năm 2013
Có thể thấy cho đến thời điểm hiện nay các nghiên cứu chủ yếu chỉ đi sâu phân tích khía cạnh về chuyên môn, kĩ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi cũng như tìm hiểu, phân tích thực trạng của tình hình vệ sinh an toàn thực
Trang 10phẩm hiện nay mà chưa chú trọng đến khía cạnh pháp lí mà đặc biệt là pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và thực tiễn pháp luật trong sản xuất nông nghiệp trong mối quan hệ với mục đích là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu nhằm bảo vệ sức khỏe con người, bảo đảm phát triển bền vững đất nước
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:
M ột là: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về, pháp luật môi trường
trong sản xuất nông nghiệp với việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để xác định mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm, nhu cầu điều pháp luật và nội dung của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Hai là: Phân tích các quy định của pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện hành, mà cụ thể là hoạt động trồng trọt và chăn nuôi đảm bảo việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng Trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm bất cập, khó khăn về các quy định của pháp luật, và vướng mắc trong quá trình thực thi để đề xuất phương hướng khắc phục đảm bảo cho việc thực thi pháp luật được hiệu quả hơn Thông qua đó nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm cho người sử dụng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp luật,
hệ thống các quy định pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và thực tiễn thi hành ở Việt Nam
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích bảo vệ môi trường
và bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và từ đó xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững hướng tới mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người thông qua việc bảo đảm an toàn thực phẩm, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống, có độ tin cậy để nghiên cứu đề tài như: Phân tích, thống
kê, tổng hợp, so sánh, lịch sử… Trong đó phương pháp tổng hợp, phân tích
là những phương pháp được sử dụng chủ yếu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn các vấn đề lý luận pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm, đóng góp một vào việc xây dựng các luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn thực phẩm
Về mặt thực tiễn, thông qua việc đánh giá thực trạng pháp luật, luận văn chỉ ra các ưu điểm, hạn chế, bất cập là cơ sở thực tiễn để hoàn thiện pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và với mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm nói riêng Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo pháp luật môi trường
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Ch ương 1: Khái quát về pháp luật trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Ch ương 2: Thực trạng pháp luật trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Ch ương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN
TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM 1.1 Khái quát vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và sản xuất nông nghiệp
an toàn đối với sức khỏe con người
Theo quy định tại Khoản 20 Điều 2 Luật ATTP năm 2010 thì “Thực
ph ẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ
ch ế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và
các ch ất sử dụng như dược phẩm” Theo định nghĩa này, thực phẩm là bất cứ
sản phẩm nào mà con người ăn, uống vào cơ thể mình, trừ những loại như mỹ phẩm, dược phẩm và thuốc lá
Chúng ta đều biết, thực phẩm có tác dụng vô cùng quan trọng là cung cấp dinh dưỡng duy trì sự sống cho con người Dinh dưỡng trong thực phẩm gồm: đạm, đường, mỡ có chức năng chính là cung cấp năng lượng hoạt động cho cơ thể và các Vitamin, nguyên tố vi lượng (khoáng chất), hoạt chất sinh học có chức năng chính là duy trì chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể như tim, gan, phổi, thận…
Việc sử dụng các sản phẩm không đảm bảo vệ sinh ATTP có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người Việc sử dụng thực phẩm không an toàn, không bảo đảm chất lượng vệ sinh được coi là một trong những nguyên nhân chính gây ra các căn bệnh nguy hiểm như: suy gan, suy thận… và đặc biệt là ung thư Hiện nay phần lớn các sản phẩm rau, củ quả thiết yếu, được sử dụng trong các bữa ăn hằng ngày của hầu hết các gia đình đều chứa các chất độc như hóa chất độc hại, các kim loại nặng với hàm lượng, nồng độ rất lớn, vượt quá mức cho phép Nguyên nhân là do trong quá trình sản xuất, lưu thông trên thị trường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, buôn bán đã sử dụng rất nhiều các chất kích thích, chất tạo nạc giúp cho rau, củ,
Trang 13quả tăng trưởng nhanh, các sản phẩm chăn nuôi có nhiều nạc, cho năng suất cao, các chất bảo quản bị cấm, các chất tạo mầu nhằm thu hút người tiêu dùng
Khi ăn các thực phẩm nhiễm chất độc hại này thì ảnh hưởng đầu tiên phải kể đến là ngộ độc thực phẩm Sau đó, nếu cơ thể con người dung nạp các chất trên trong thời gian dài sẽ gây ra các bệnh về tiêu hóa, các bệnh viêm gan, suy thận và khả năng mắc các bệnh ung thư là rất cao mà điển hình là ung thư dạ dày, ung thư vòm họng và ung thư đại trực tràng, trong đó ung thư
dạ dày và ung thư đại trực tràng là hai căn bệnh phổ biến, tỉ lệ tử vong cao, chỉ đứng sau ung thư phổi và ung thư gan
Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm nước ta có khoảng 150 nghìn người mới mắc ung thư và 100 nghìn người tử vong vì ung thư Còn Bệnh viện K thống kê: Nếu 5 năm trước, mỗi ngày phòng khám Bệnh viện K tiếp nhận khoảng 700-800 bệnh nhân thì ngày nay con số ngày tăng vọt lên đến hơn 1.000 bệnh nhân Như vậy, tính số lượng bệnh nhân ung thư vào Bệnh viện K mỗi năm tăng 10-20% Điều đó cho thấy chưa bao giờ con người phải đối mặt với tình trạng gia tăng bệnh ung thư nghiêm trọng như bây giờ
Theo phân tích của các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế về ung thư, nguyên nhân dẫn đến gia tăng tình trạng này trước hết là do tuổi thọ của dân số trên thế giới tăng, làm cho con người ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời có sức đề kháng kém nhất dễ mắc ung thư Nguyên nhân thứ 2 là do lối sống công nghiệp, sinh hoạt bừa bãi, tác động đến cơ quan nội tạng gây ung thư và nguyên nhân thứ 3 là do môi trường, chế độ cũng như chất lượng
vệ sinh ATTP… trở thành “cơ chế” gây bệnh ung thư ở con người [19] Trong lĩnh vực trồng trọt hiện nay, theo PGS TS Ngô Thị Xuyên chuyên gia nông nghiệp, cho biết: việc sử dụng dầu nhớt và nước rửa chén để tưới rau hoàn toàn không có tác dụng giúp cho cây sinh trưởng và phát triển mạnh nhưng tạo ra một lớp màng giúp cho rau tươi lâu Với các loại dầu nhớt
đã qua sử dụng thường có chứa rất nhiều chì, kẽm và các kim loại nặng Do
đó trong rau cũng sẽ chứa các chất nêu trên và khi con người sử dụng những
Trang 14sản phẩm này, một lượng lớn các chất trên sẽ được đưa vào và tích tụ trong
cơ thể và đây là nguyên nhân gây bệnh ung thư [25]
Ngoài ra, trong lĩnh vực chăn nuôi, hiện nay, Salbutamol và Clenbutarol là hai chất cấm sử dụng trong chăn nuôi nhưng thực tế các cơ sở chăn nuôi vẫn sử dụng tràn lan và thường xuyên trộn cùng với thức ăn cho gia súc, gia cầm Theo nhận định của PGS TS Nguyễn Duy Thịnh, cán bộ Viện công nghệ Sinh học - Công nghệ Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết: hai chất nêu trên rất dễ dàng hấp thụ qua đường tiêu hóa, các chất này tồn dư trong thịt bao nhiêu sẽ hấp thu trong cơ thể người bấy nhiêu, Sau một thời gian dài tích lũy trong cơ thể, người tiêu dùng sẽ bị nhiễm độc, gây nhức đầu, run tay chân, buồn nôn, nhịp tim nhanh, làm tăng hoặc hạ huyết áp, rối loạn tiêu hóa, trong trường hợp nếu ngộ độc nặng có thể nguy hiểm đến sức khỏe [25]
Từ những phân tích nêu trên cho thấy tình hình mất vệ sinh ATTP đang đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của toàn xã hội, sự phát triển của đất nước Có thể thấy rằng chưa bao giờ bữa cơm hằng ngày của người Việt lại chứa nhiều chất độc đến như vậy và “con đường đi từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn thế”, như Đại biểu Quốc hội Trần Ngọc Vinh phát biểu
chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về vấn đề ATTP tại kỳ họp thứ X
Quốc hội khóa 13 [39]
1.1.2.1 Khái niệm nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp hiểu một cách đơn giản nhất là là việc sử dụng các nguồn lực bao gồm: đất đai, giống cây trồng vật nuôi, nguồn lao động và các tư liệu sản xuất cần thiết khác nhằm tạo ra các sản phẩm là lương thực, thực phẩm phục vụ cho đời sống của con người
Có nhiều cách hiểu khác nhau về nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp hay còn gọi là nông sản
Theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO, nông sản được xác định trong
Trang 15Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế)
Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi… các sản phẩm phát sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Như vậy, sản phẩm nông nghiệp hay nông sản này bao gồm
cả những sản phẩm đã quy quá trình chế biến (có thể là chế biến công nghiệp)
mà nguyên liệu của chúng từ sản xuất nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo
ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp
Theo cách hiểu này, sản xuất nông nghiệp chỉ bao gồm hoạt động trồng trọt và chăn nuôi
Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm: Kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp (các loại lương thực, thực phẩm) và sau đó tổ chức phân phối các sản phẩm này trên thị trường [45, tr.144]
Từ cách hiểu khác nhau về khái niệm nông sản, sản xuất nông nghiệp thì pháp luật của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP có thể có những nhóm quy định khác nhau
Trong luận văn này, tác giả hiểu khái niệm nông nghiệp như cách hiểu của các tác giả Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh của Trường Đại học Luật Hà Nội và sản xuất nông nghiệp bao gồm hoạt động trồng trọt và chăn nuôi
Trang 161.1.2.2 Tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp tới chất lượng của thực phẩm
Trong sản xuất nông nghiệp, sự kết hợp của các yếu tố giống cây trồng, thuốc BVTV và phân bón trong trồng trọt, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi
và thuốc thú y trong chăn nuôi cùng với các yếu tố khác là: đất, nước, ảnh hưởng của chất thải trong môi trường canh tác có tác động trực tiếp và quyết định đến chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp, là nguồn cung cấp thực phẩm cho con người Các yếu tố này tác động đến năng xuất cây trồng và chất lượng thực phẩm, cụ thể như sau:
+) Các lo ại giống cây trồng, giống vật nuôi:
Các loại giống cây trồng, giống vật nuôi được coi là yếu tố trung tâm quyết định đến chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp Nếu sử dụng giống tốt, năng xuất cao sẽ góp phần quan trọng trong việc đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân và chất lượngnông sản cũng được bảo đảm và từ đó góp phần đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng
Trong thời gian vừa qua, giống lúa ĐS1 có nguồn gốc từ Nhật Bản đã được Bộ NN&PTNT công nhận giống quốc gia năm 2010 Loại giống lúa này đã được ngành nông nghiệp tỉnh Lào Cai trồng khảo nghiệm tại các xã Sơn Hải (Huyện Bảo Thắng) và xã Mường Hum (Huyện Bát Xát) đã cho năng suất cao hơn các giống lúa đang sử dụng và được đánh giá có chất lượng rất tốt, cơm dẻo, chứa nhiều chất dinh dưỡng, phù hợp với nhu cầu của thị trường [44]
Xu hướng trên đây đối với cây trồng cũng là xu hướng đối với giống vật nuôi Theo Viện trưởng Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT Nguyễn Thanh Sơn, trong ngành chăn nuôi, công tác giống đóng vai trò quan trọng bậc nhất, bởi đó là yếu tố quyết định năng xuất và chất lượng sản phẩm Giống vật nuôi tốt có thể làm tăng năng xuất sản xuất của vật nuôi từ 10-50% Khi áp dụng các biện pháp chọn lọc và lai tạo giống thì chất lượng sản phẩm sẽ thay đổi đáng kể Giống vật nuôi tốt sẽ đem lại hiệu quả và thương hiệu cho các cơ sở giống, theo đó lợi nhuận và thu nhập cho người nông dân sẽ tăng lên và từ đó góp phần bảo đảm sức khỏe con người [37]
Trang 17+) Vi ệc sử dụng phân bón:
Phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng hoặc có tác dụng cải tạo đất, trong thành phần chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ đa lượng, trung lượng, vi lượng, đất hiếm, hữu cơ, axit amin, vitamin, axit humic, axit fulvic, vi sinh vật có ích, có một hoặc nhiều chất giữ ẩm, chất hỗ trợ tăng hiệu suất sử dụng phân bón, chất điều hoà sinh trưởng thực vật, chất phụ gia, yếu tố hạn chế sử dụng… [26]
Vai trò của phân bón thể hiện ở các điểm chủ yếu như sau:
Th ứ nhất, đối với cây trồng
Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng phát triển Nếu chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn không đủ chất dinh dưỡng mà phải lấy thêm phần lớn từ phân bón Phân bón chính là thức
ăn nuôi sống cây trồng Điều tra tổng kết ở khắp nơi trên thế giới đều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, bón phân luôn là biện pháp có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng
Theo tổ chức FAO, trong thập niên 70-80 của thế kỷ XX, trên phạm vi trên toàn thế giới trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng thêm Ở nước ta, cho đến năm 1990, trung bình phân bón làm tăng 35% tổng sản lượng, bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn hạt ngũ cốc Bón phân cân đối và hợp lý còn làm tăng chất lượng nông sản,
cụ thể là làm tăng hàm lượng chất khoáng, protein, đường và vitamin cho sản phẩm Tuy nhiên, nếu thiếu chất dinh dưỡng, hoặc bón quá nhiều và không cân đối cũng có thể làm giảm năng xuất và chất lượng nông sản [24]
Th ứ hai, đối với đất và môi trường
Bón phân làm tăng độ phì nhiêu cho đất, đất tốt hơn, cân đối hơn, đặc biệt phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo đất rất hữu hiệu Ở những đất có
độ phì nhiêu tự nhiên ban đầu thấp, tức là đất xấu thì việc bón phân càng có tác dụng rõ Việc sử dụng các chất phế thải trong các hoạt động đời sống của người và động vật, chất phế thải của công nghiệp để làm phân bón góp phần
Trang 18hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường Tuy vậy bón phân không hợp
lý, không đúng kỹ thuật có thể làm cho đất xấu đi hoặc gây ô nhiễm môi trường, phân hữu cơ có thể tạo ra nhiều các chất CH4, CO2, NH3, NO3, phân
vô cơ tạo ra nhiều đạm ở thể khí làm đất trở nên độc với cây trồng và ô nhiễm không khí, nguồn nước [24]
Th ứ ba, đối với thu nhập của người sản xuất:
Do làm tăng năng suất và chất lượng nông sản nên sử dụng phân bón hợp lý làm tăng thu nhập cho người trồng trọt [24]
Như vậy, việc sử dụng phân bón có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới môi trường và chất lượng lương thực, thực phẩm
+) Vi ệc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
Khoản 16 Điều 3 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 thì :
“Thuốc BVTV là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có
tác d ụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát
sinh v ật gây hại thực vật, điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng, bảo
qu ản thực vật làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc”
Như vậy, việc sử dụng các loại thuốc BVTV có tác dụng ngăn ngừa sâu bệnh, côn trùng hại cây trồng, nông sản, giúp cây sinh trưởng và phát triển bình thường, đảm bảo cho sự hình thành và phát triển bình thường của các chất dinh dưỡng có trong nông sản
Tuy nhiên, cách thức mức độ sử dụng thuốc BVTV, loại thuốc BVTV
sử dụng không chỉ ảnh hưởng tới sản lượng cây trồng mà còn ảnh hưởng tới chất lượng lương thực, thực phẩm Sử đụng đúng thuốc BVTV có tác dụng tích cực tới năng xuất và chất lượng của nông sản, thực phẩm và trường hợp ngược lại, nếu không sử dụng đúng sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng nông sản, thực phẩm, làm cho nông sản, thực phẩm bị nhiễm độc và từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Theo kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc BVTV sinh học đến một số chỉ tiêu chất lượng trong rau đối với cây su hào cho thấy: Công thức
Trang 19chỉ sử dụng thuốc sinh học và hóa học có hàm lượng đường tổng số có tác dụng cao hơn rõ rệt so với các công thức phun thuốc khác (3.83 % so với 3.57 % và 3.18%) và công thức đối chứng là 3.40% Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc đối với hàm lượng Vitamin C là không rõ rệt, chỉ tiêu hàm lượng Vitamin C biến động từ 36.29 % đến 39.99% [21, tr.14]
Thuốc BVTV hiện nay thường được chế xuất từ các hợp chất hóa học,
là một loại thuốc độc dùng để tiêu diệt những loài sâu bệnh, sinh vật có hại với cây trồng Do đó, nếu không sử dụng đúng liều lượng, nồng độ, những chất độc trong thuốc BVTV hoàn toàn có thể giết hại những sinh vật khác không phải là sinh vật gây bệnh Ngoài ra, môi trường mà thuốc BVTV lan truyền ra ngoài thường là môi trường mở, ở những cánh đồng hay ruộng cây
ăn trái nên vì thế nó dễ dàng xâm nhập vào môi trường khác như nước, đất, không khí… gây hại cho môi trường xung quanh Từ đây sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng nông sản thực phẩm và sức khỏe của những người dân sử dụng những thực phẩm này
+) Vi ệc sử dụng các loại thức ăn chăn nuôi:
Trong chăn nuôi, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi sẽ cung cấp năng lượng cần thiết và các chất dinh dưỡng cho vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt, có ảnh hưởng và quyết định trực tiếp đến tỉ lệ nạc, tỉ lệ dinh dưỡng cũng như cân nặng của vật nuôi khi cho thu hoạch Ví dụ như thức ăn cho lợn cung cấp đầy đủ các chất đạm đặc biệt là các axit Amin không thay thế như Lyzine….sẽ cho tỷ lệ nạc cao hơn, trong khi đó nếu thức ăn dư thừa quá nhiều về năng lượng cũng sẽ làm giảm việc sản xuất thịt nạc Do đó, để đảm bảo chất lượng thịt của lợn đạt yêu cầu đòi hỏi lượng thức ăn phải cung cấp
đủ chất đạm và không dư thừa năng lượng [4]
Chất lượng của thức ăn chăn nuôi cũng ảnh hưởng tới chất lượng của thực phẩm từ hoạt động chăn nuôi Nếu việc sử dụng thức ăn chăn nuôi có dư lượng hóa chất, nấm mốc sẽ ảnh hưởng, làm nhiễm độc các sản phẩm thịt và
từ đó có thể ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Trang 20+) Vi ệc sử dụng các loại thuốc thú y:
Trong chăn nuôi việc sử dụng thuốc thú y có tác dụng phòng, chống dịch bệnh cho động vật nuôi, tăng cường sức đề kháng của vật động nuôi đồng thời cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thịt của đọng vật nuôi
Theo kết quả nghiên cứu về vai trò của thuốc thú y đối với năng suất, chất lượng vật nuôi cho thấy: đối với các nhóm chất Vitamin A và khoáng chất khi được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi hoặc tiêm trực tiếp cho vật nuôi
sẽ góp phần bổ sung những thiếu hụt so với nhu cầu sinh trưởng của vật nuôi, đồng thời tăng chất lượng nông sản, đối với gia cầm khi đẻ thiếu khoáng sẽ tạo ra trứng mỏng vỏ, vỏ sần sùi, không đều, thiếu Vitamin A làm cho màu lòng đỏ trứng nhợt nhạt… [15, tr.12]
Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc thú y trong chăn nuôi không đúng hoặc vượt quá yêu cầu không chỉ có thể ảnh hướng đến năng xuất của hoạt động chăn nuôi mà còn ảnh hưởng tới chất lượng thịt từ hoạt động chăn nuôi Các loại gia súc, gia cầm mà ngưởi chăn nuôi lạm dụng việc sử dụng thuốc thú y có thể bị nhiễm các hóa chất độc hại và từ đó có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người
+) C ủa các yếu tố về chất lượng nước, đất:
Đất và nước là hai yếu tố không thể thiếu và không thể tách rời trong sản xuất nông nghiệp Chất lượng của môi trường đất, nước dùng trong canh tác, chăn nuôi cũng quyết định rất lớn đến chất lượng nông sản, động vật nuôi Đối với những vùng đất màu mỡ, nguồn nước sử dụng an toàn, không
bị ô nhiễm sẽ giúp cho cây trồng, động vật nuôi sinh trưởng và phát triển tốt
và các sản phẩm được tạo ra không bị nhiễm các chất độc hại Ngược lại, khi đất đai, nguồn nước bị ô nhiễm, nồng độ chất độc hại cao không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới năng xuất của hoạt động trồng trọt và chăn nuôi mà còn tạo ra những sản phẩm bị nhiễm độc, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người Hiện trạng cá chết do ô nhiễm môi trường biển miền trung trong thời gian qua không chỉ cho thấy tình trạng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
Trang 21gây thiệt hại cho ngư dân mà còn cho thấy khi các chất độc hại xâm nhập vào động vật có ảnh hưởng như thế nào khi con người, nếu không biết mà vẫn sử dụng làm thực phẩm
ThS.BS Trần Ngọc Lưu Phương cho biết không có cách gì để loại bỏ độc tố trong những con cá chết do nhiễm hóa chất độc hại, kim loại nặng hoặc chất tẩy rửa mạnh…Theo các bác sĩ, các phương pháp chế biến hải sản chết thành dạng khô hay đem làm mắm, nước mắm thì không đào thải được độc chất, nên vẫn còn nhiều nguy cơ cho sức khỏe
Bác sĩ CK1 Đào Thị Yến Thủy, Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM, cho biết người ăn phải các loại cá chết tại vùng biển miền Trung (hiện đang nghi ngờ do bị nhiễm độc hóa chất) có thể bị nhiễm độc hóa chất, gây ngộ độc cấp (nôn ói, tiêu chảy, sốt, đau bụng, ), tăng nguy cơ dị ứng (mề đai da, phản ứng phản vệ như sưng phù đỏ da, hen suyển, tiêu phân máu) hoặc cũng có thể xuất hiện hiện tượng tích lũy trong cơ thể do không thải ra ngoài được, lâu dài sẽ gây rối loạn chuyển hóa hoặc rối loạn hoạt động chức năng các cơ quan bộ phận trong cơ thể
“Những hóa chất độc hại dùng trong công nghiệp nếu tích tụ trong cơ thể người sẽ gây rất nhiều tác hại lên gan, thận…, không thải ra ngoài được” -
BS Trần Ngọc Lưu Phương khuyến cáo “Vì vậy người dân ta không nên sử dụng hải sản chết theo kiểu này để chế biến thực phẩm” - BS Yến Thủy nói thêm [20]
nghiệp
Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm trong quá trình sản xuất nông nghiệp xuất phát từ yêu cầu chung của an toàn thực phẩm Xu hướng quy định và mức độ bảo đảm vệ sinh ATTP ở các quốc gia khác nhau thì khác nhau
Ví dụ, theo Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm Mỹ (năm 2011, có hiệu lực từ tháng 9 năm 2016) với tinh thần cốt lõi là chuyển trọng tâm từ đối phó nhiễm bẩn thực phẩm sang phòng chống nhiễm bẩn thực phẩm Luật này
Trang 22không chỉ quan tâm đến kiểm tra chất lượng đầu cuối mà quy định chi tiết và chặt chẽ cả chuỗi sản xuất thực phẩm, từ trang trại đến bàn ăn Bên cạnh các quy định về thủ tục kiểm soát và các vấn đề khác thì luận này cũng quy định chất lượng thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu ATTP liên quan đến thực tiễn sản xuất tốt (GMP) hoặc thực hành nông nghiệp tốt (GAP) [1]
Pháp luật EU yêu cầu tất cả các khâu liên quan đến ATTP từ cấp phép cho lưu hành thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, sản phẩm phục vụ nuôi, trồng,
sử dụng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình nuôi trồng… tới việc đảm bảo ATTP trong quá trình chế biến… [1]
Hệ thống quy định và tiêu chuẩn đối với sản phẩm của EU rất phức tạp và nghiêm ngặt, đặc biệt đối với thực phẩm như thịt, cá, hoa quả Có thể nói hiện nay hệ thống tiêu chuẩn và quy định của EU so với nhiều nước trên thế giới là hoàn chỉnh hơn cả, điều này thể hiện trong thực tế là nhu cầu của người tiêu dùng ở EU về những sản phẩm sạch và an toàn rất cao Một số tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan đến sản xuất nông nghiệp gồm [38]:
i) Hệ thống quy định HACCP (viết tắt của chữ Hazard Analysis and Critical Control Point System), nghĩa là “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn” hay “ Hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm” ii) Phụ gia thực phẩm: EU đã ban hành các chỉ thị quy định những yêu cầu đối với các chất làm ngọt (chỉ thị số 94/35/EC), phẩm màu (chỉ thị số 94/36/EC) và các phụ gia thực phẩm khác để sử dụng cho thực phẩm
iii) Quy trình thực hành canh tác nông nghiệp tốt GAP (viết tắt của chữ Good Agricultural Practices) Đây là những nguyên tắc được thiết lập nhằm bảo đảm một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải bảo đảm không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải bảo đảm an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng
Trang 23Tại một số quốc gia thành viên của EU, bên cạnh việc tuân thủ các quy định, luật lệ chung của EU, còn phải đáp ứng một số yêu cầu riêng của các quốc gia này và thường khắt khe hơn so với yêu cầu chung của EU [1]
Như vậy, để bảo đảm an toàn thực phẩm thì pháp luật ATTP cũng đề cập tới vấn đề sản xuất nông nghiệp an toàn
Ở Việt nam, các quy định về an toàn thực phẩm trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hầu như không được đề cập tới trong pháp luật về ATTP như ở Mỹ hoặc EU mà hai hệ thống pháp luật này là độc lập gồm hai lĩnh vực tách biệt: Pháp luật về an toàn vệ sinh thức phẩm và Pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
Như vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp cần đáp ứng những điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm sau:
+) Điều kiện chung về đảm bảo an toàn đối với thực phẩm:
Theo quy định tại Điều 7 khoản 2 điểm I Luật ATTP năm 2010, nghĩa
vụ của người sản xuất thực phẩm, trong đó có những người sản xuất nông nghiệp phải tuân thủ quy định pháp luật
Các loại lương thực, thực phẩm là các sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp khi được đưa vào sử dụng trên thị trường, trước hết phải đáp ứng điều kiện chung được quy định tại Điều 10 Luật ATTP năm 2010: Các sản phẩm nông nghiệp cần phải đáp ứng các quy chuẩn kĩ thuật tương ứng đối với từng loại sản phẩm, đồng thời tuân thủ các quy định về giới hạn
vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc BVTV, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người
Theo đó, sản phẩm nông nghiệp nếu được sử dụng ngay làm thực phẩm mà không qua chế biến, khử độc, khử trùng, thì phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn tối đa kim loại, vi sinh vật, độc tố vi nấm, cụ thể là các quy chuẩn: QCVN 8-2:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm, QCVN 8-
Trang 243:2012/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm, QCVN 8-1:2011/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm trong thực phẩm do Bộ Y tế ban hành
+) Điều kiện chung đối với thực phẩm tươi sống: ngoài việc đáp ứng
các điều kiện được quy định nói trên, đối với thực phẩm tươi sống là sản phẩm được sản xuất từ các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản cần phải đảm bảo truy xuất rõ nguồn gốc, xuất xứ được quy định tại Điều 54 Luật ATTP năm 2010 Theo đó: Đối với các loại thực phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm, việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm sẽ được tiến hành khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi phát hiện thực phẩm
do mình sản xuất, kinh doanh không đảm bảo an toàn Trong quá trình thực hiện việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh phải có trách nhiệm xác định, thông báo lô sản phẩm thực phẩm không đảm bảo an toàn, yêu cầu các đại lý kinh doanh thực phẩm báo cáo số lượng sản phẩm của lô sản phẩm, thực phẩm không đảm bảo an toàn, tồn kho thực
tế và đang lưu thông trên thị trường đồng thời tổng hợp báo cáo gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về kế hoạch thu hồi và biện pháp xử lí Bên cạnh đó, đối với thực phẩm tươi sống phải có giấy chứng nhận vệ sinh thú y của cơ quan thú y có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm tươi sống có nguồn gốc từ động vật theo quy định của pháp luật về thú y (Điều 11 Luật ATTP)
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 24/2013 TT- BYT quy định
về giới hạn tối đa thuốc thú y trong thực phẩm có thể kể đến một số trường hợp như: đối với loại thuốc Abamectin (thuốc tẩy giun sán) mức ăn vào hằng ngày có thể chấp nhận được là 0.2 µg/kg, mức giới hạn tối đa dư lượng cho phép đối với hoạt chất chính của thuốc Avermectin B1a có trong gan, mỡ trâu, bò là 100µg/kg, trong thận trâu, bò là 50 µg/kg
+) Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm biến đổi gen:
Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm biến đổi gen được quy định tại điều 15 Luật ATTP: Đối với thực phẩm được sản xuất từ các loại
Trang 25giống cây trồng, vật nuôi biến đổi gen, bên cạnh việc tuân thủ các điều kiện chung về đảm bảo an toàn đối với thực phẩm được quy định tại Điều 10 Luật này, cần phải tuân thủ các quy định về việc đảm bảo sức khỏe của con người
và môi trường Theo đó: Đối với sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thực phẩm phải được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền Căn cứ theo quy định tại điều 27 Nghị định 69/2010 NĐ - CP quy định về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di chuyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen, để được cấp giấy chứng nhận cần phải đáp ứng các điều kiện sau đây: được Hội đồng biến đổi gen thẩm định hồ sơ và đưa ra kết luận sinh vật biến đổi gen đó không có các rủi ro không kiểm soát được đối với sức khỏe con người, đồng thời phải được
ít nhất 5 nước phát triển cho phép sử dụng làm thực phẩm và chưa xảy ra rủi
ro ở các nước đó
1.2 Khái quát về pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Hoạt động động sản xuất nông nghiệp là một hoạt động kinh doanh
và do đó pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp là một bộ phận của pháp luật môi trường, thuộc một trong các chế định cụ thể của pháp luật môi trường trong kinh doanh
Theo giáo trình Luật môi trường của Trường Đại học luật Hà nội, Luật
môi tr ường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp
lu ật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể
trong quá trình khai thác, s ử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố
c ủa môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau
nh ằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người [46, tr.40] “Pháp luật môi trường trong kinh doanh là tổng hợp các quy phạm
pháp lu ật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan
tr ực tiếp đến quá trình bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con người khi
Trang 26các ch ủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh” [45, tr.27]
Với sự liên kết pháp luật môi trường trong kinh doanh (sản xuất) nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm thì nội dung của pháp luật môi trường trong
sản xuất nông nghiệp không chỉ là “bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con
ng ười khi các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh” mà còn phải hướng tới mục
đích bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe con người
Do đó, trên cơ sở định nghĩa về pháp luật môi trường, pháp luật môi trường trong kinh doanh trên đây và mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm, có
thể đưa ra định nghĩa: ”Pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với
v ấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP là một chế định của pháp luật môi trường
trong kinh doanh bao g ồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất
nông nghi ệp nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ có hiệu quả môi
tr ường sống của con người.”
vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Theo định nghĩa trên đây, pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
1.2.2.1 Các nguyên tắc pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp
v ới vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Là một bộ phận của pháp luật môi trường trong kinh doanh nên các nguyên tắc của pháp luật môi trường trong kinh doanh [45, tr.24 - 29] cũng là những nguyên tắc của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP Tuy nhiên, với mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm khi tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp thì nội dung và yêu cầu của những nguyên tắc này cũng có nhưng điểm khác biệt và cụ thể hơn:
Th ứ nhất, nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững
Phát triển bền vững thực chất là sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và
Trang 27bảo vệ môi trường và các lợi ích khác Nói cách khác, phát triển bền vững là bảo đảm đồng thời, cân bằng và lâu dài lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường trong hoạt động phát triển
Phát triển bền vững nông nghiệp là phải gắn kết được lợi ích của nhà sản xuất nông nghiệp (lợi ích kinh tế), lợi ích về ATTP của người dân (lợi ích xã hội) và lợi ích môi trường của cộng đồng
Nguyên tắc phát triển bền vững của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP phải đáp ứng những đòi hỏi sau đây:
- Việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp cần cân nhắc một cách cân đối giữa lợi ích kinh tế của chủ thể sản xuất nông nghiệp và lợi ích
xã hội và môi trường của cộng đồng
- Cần hoàn thiện quy trình hình thành và quyết định chính sách phát triển kinh tế nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong hình thành và quyết định chính sách Để đáp ứng đòi hỏi này cần có cơ chế nhằm bảo đảm
sự tham gia của các chủ thể có liên quan trong việc hình thành chính sách
- Việc hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể thông qua các quy định của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải được xem xét trên nguyên lí: Việc hạn chế thông qua các quy định cấm, quy định kiểm soát chỉ được thực hiện khi các lợi ích công cộng về môi trường, lợi ích xã hội với mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm lớn hơn, quan trọng hơn các lợi ích kinh tế của chủ thể sản xuất nông nghiệp và không còn phương tiện nào khác để đạt được mục tiêu này
Th ứ hai, Nguyên tắc bảo đảm tính hợp lí giữa sự can thiệp của Nhà nước
và và sự tự quyết của chủ thể sản xuất nông nghiệp
Với những điều kiện nhất định, như trên đã đề cập, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm là nhu cầu của Nhà nước nhưng cũng là nhu cầu của chủ thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Do đó, cần bảo đảm tính hợp lí giữa sự can thiệp của Nhà nước và sự tự quyết của chủ thể tiến hành sản xuất nông nghiệp trong bảo vệ môi trường, bảo đảm chất lượng thực phẩm
Trang 28Tính hợp lí cho việc giải quyết mối quan hệ này phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau như: 1) Vấn đề môi trường phát sinh và yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm 2) Ý thức của người tiêu dùng và cơ chế để người dân tự bảo
vệ mình trước tình trạng mất ATTP 3) Hiệu quả của việc vận hành cơ chế thị trường đối với việc giải quyết những vấn đề an toàn vệ sinh thức phẩm
Về mặt lí luận, khó có thể chỉ ra ranh giới của tính hợp lí này Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết từng vấn đề hoặc nhóm vấn đề cụ thể bằng pháp luật, Nhà nước cần xác định ranh giới này trên cơ sở nguyên lí “Nhà nước chỉ can thiệp khi các tổ chức, cá nhân không thể tự bảo vệ mình trước những ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh”
- Nguyên tắc này có những đòi hỏi sau đây:
- Phải kết hợp giữa công cụ hành chính và công cụ kinh tế trong quản lí môi trường trong kinh doanh Hành vi sản xuất nông nghiệp của các chủ thể
là hướng tới tìm kiếm lợi nhuận và do đó quản lí môi trường trong kinh doanh chỉ đạt hiệu quả cao khi gắn kết được lợi ích môi trường, lợi ích xã hội của cộng đồng với lợi ích kinh tế của chủ thể kinh doanh
- Cần có lộ trình áp dụng cơ chế khuyến khích nhằm chuyển hoá việc thực hiện những nghĩa vụ mang tính pháp lí trong lĩnh vực môi trường sang việc tự nguyện bảo vệ môi trường, bảo đảm yêu cầu của xã hội của chủ thể sản xuất nông nghiệp
Trang 29Hai là, nhu cầu hợp tác còn xuất hiện khi các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động sản xuất nông nghiệp Sự hợp tác giữa
cơ quan quản lí nhà nước về môi trường và cơ quan quản lí kinh doanh, các
cơ quan nhà nước quản lí các lĩnh vực cụ thể là điều kiện nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động kiểm soát
- Nguyên tắc hợp tác có những đòi hỏi sau đây:
- Để bảo đảm các quyết định được xem xét một cách toàn diện, các chủ thể có liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp phải hợp tác trong quá trình xây dựng, thực thi pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp, trong quá trình đưa ra quyết định cụ thể liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Phải bảo đảm vai trò của quá trình hợp tác trong lĩnh vực trao đổi thông tin và khi cơ quan quản lí nhà nước thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải quy định cụ thể, rõ ràng về các nội dung cần hợp tác trong quá trình thực hiện chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của từng chủ thể, cơ chế hợp tác giữa các chủ thể và trách nhiệm khi vi phạm
- Pháp luật phải xác định ranh giới sự hợp tác giữa các chủ thể sản xuất nông nghiệp và cơ quan nhà nước Khi hoạt động sản xuất nông nghiệp có nguy cơ rõ ràng gây ảnh hưởng xấu tới môi trường hoặc mất ATTP thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải sử dụng quyền lực của mình để bảo vệ lợi ích chung Từ đó thấy rằng, hợp tác rất quan trọng nhưng không thể được ưu tiên trước trách nhiệm thực thi pháp luật của cơ quan nhà nước Đây là giới hạn của sự hợp tác giữa cơ quan nhà nước và chủ thể kinh doanh
Th ứ tư, nguyên tắc chi phí lợi ích
Theo nguyên tắc này các chi phí (của Nhà nước, của doanh nghiệp) khi thực thi, thực hiện pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ với những lợi ích thu được về mặt kinh tế,
Trang 30xã hội và môi trường Nguyên tắc này bảo đảm tính hiệu quả xã hội của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp
Nguyên tắc chi phí lợi ích có đòi hỏi sau đây:
- Quá trình xây dựng pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải cân nhắc đầy đủ những chi phí mà Nhà nước cũng như các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các quy định của pháp luật cũng như những chi phí để phục hồi môi trường, phục hồi sức khoẻ con người… trong mối quan hệ so sánh với tình trạng không có những quy định này
- Quá trình xây dựng và thực thi pháp luật môi trường trong trong sản xuất nông nghiệp phải cân nhắc đầy đủ những chi phí mà các chủ thể sản xuất nông nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các quy định của pháp luật và những ảnh hưởng của nó tới lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường Những lợi ích này phải được xem xét ở các khía cạnh liên quan đến lợi ích của chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp và lợi ích xã hội, môi trường của cộng đồng, của đất nước
1.2.2.2 Các nhóm quy định của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghi ệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Căn cứ vào nội hàm của khái niệm sản xuất nông nghiệp được xác định tại mục 11.2.1 của luận văn, sản xuất nông nghiệp bao gồm hoạt động trồng
Do đó, có thể xác định các nhóm quy định của pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP thành những nhóm quy định như: i) Nhóm quy định liên quan đến hoạt động trồng trọt; ii)
Trang 31Nhóm quy định liên quan đến chăn nuôi; iii) Nhóm quy định liên quan đến môi trường sinh sống, sinh trưởng của cây trồng động vật nuôi
Theo cách phân chia này, pháp luật môi trường trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP gồm các nhóm quy định sau đây:
+) Nhóm th ứ nhất, Các quy định của pháp luật môi trường trong lĩnh vực
tr ồng trọt với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP, với những nội dung sau đây:
M ột là, quy định về giống cây trồng:
Các quy định về giống cây trồng, bên cạnh việc bảo đảm năng xuất trong trồng trọt còn phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Các loại giồng cây trồng này cần có sự kiểm soát của Nhà nước trước khi đưa vào trồng trọt, đặc biệt là những loại giống cây trồng cơ nguy cơ ảnh hướng xấu tới môi trường và sức khỏe con người cao
Hai là, quy định về việc sử dụng phân bón:
Các quy định về việc sử dụng phân bón cần hạn chế hoặc loại trừ được những nguy cơ ảnh hướng xấu tới môi trường và chất lượng nông sản Muốn vậy, cần xem xét và có thể quy định cấm đối với một số loại phân bón ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và chất lượng nông sản, cần có sự kiểm soát của Nhà nước đối với những loại phân bón có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới môi trường và chất lượng nông sản Các quy định này cũng cần quy định về việc hướng dẫn sử dụng phân bón trong trồng trọt
Ba là, quy định về việc sử dụng thuốc BVTV
Các quy định về sử dụng thuốc BVTV cũng cần có những nội dung tương tự như sử dụng phân bón
+) Nhóm th ứ hai, các quy định của pháp luật môi trường trong lĩnh vực
ch ăn nuôi với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP, với những nội dung sau đây:
M ột là, quy định về giống vật nuôi
Hai là, quy định về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi
Ba là, quy định về việc sử dụng các loại thuốc thú y
Trang 32Các yêu cầu về nội dung các quy định thuộc nhóm này cũng có những yêu cầu tương tự như đối với hoạt động trồng trọt Tuy nhiên các quy định cụ thể có thể khác nhau giữa hai nhóm này
+) Nhóm th ứ ba, quy định liên quan đến vấn đề quản lí nguồn nước, đất, chất thải trong sản xuất nông nghiệp với vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP
với những nội dung sau đây:
M ột là, quản lí nguồn nước và bảo đảm chất lượng nguồn nước
Chất lượng nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng nông sản Do đó, cần quy định bảo đảm chất lượng nguồn nước với tư cách là một thành phần môi trường khi thực hiện hoạt động sản xuất nông nghiệp và việc sử dụng nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp cần bảo đảm chất lượng để bảo đảm yêu cầu nông sản, thực phẩm an toàn
Hai là, qu ản lí môi trường đất
Tương tự như đối với nguồn nước, chất lượng môi trường đất cũng ảnh hưởng tới nông sản, nhất là sản phẩm trồng trọt Hoạt động nông nghiệp cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng môi trường đất Do đó, pháp luật cần có những quy định này
Ba là, qu ản lí chất thải
Chất thải do các hoạt động khác nhau, kể cả trong sản xuất nông nghiệp
sẽ ảnh hưởng tới chất lượng môi trường chung, đặc biệt là chất lượng đất, nước, không khí Do đó, để bảo đảm ATTP đối với sản phẩm nông nghiệp thì các quy định về quản lý chất thải là rất quan trọng Bên cạnh những quy định
về quản lý chất thải theo quy định chung của pháp luật môi trường thì trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cần có những quy định riêng nhằm bảo vệ có hiệu quả các thành phần môi trường, góp phần bảo đám chất lượng nông sản, thực phẩm một cách an toàn
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng giống, thức ăn chăn nuôi, phân bón hóa học cho trồng trọt, thuốc BVTV, thuốc thú ý cũng như những thành phần môi trường cơ bản bảo đảm cho hoạt động trồng trọt và chăn nuôi có tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến chất lượng của nông sản thực phẩm và vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm cho con người
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, vấn đề an toàn thực phẩm đang là một vấn đề được cả xã hội đặc biệt quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người
Thực trạng đáng báo động về tình trạng mất vệ sinh ATTP trong quá trình sản xuất nông nghiệp như hiện nay đã đặt ra vấn đề cấp thiết phải kiểm soát quá trình sản xuất nông nghiệp bằng pháp luật mà cụ thể là sự kiểm soát của pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Thông qua đó góp phần đảm bảo vệ sinh ATTP cũng như góp phần đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, ổn định cuộc sống của người dân
Pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm bao gồm các nguyên tắc được ghi nhận là các nguyên tắc của pháp luật môi trường trong kinh doanh nhưng có những biểu hiện đặc thù trong lĩnh vực này và bao gồm các nhóm quy định kiểm soát các quá trình của hoạt động trồng trọt, chăn nuôi cũng như các quy định nhằm bảo đảm chất lượng đất, nguồn nước phục vụ nông nghiệp cũng như quy định
về quản lý chất thải trong nông nghiệp
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN
TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
2.1 Các quy định của pháp luật môi trường trong lĩnh vực trồng trọt với vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
2.1.1 Quy định về giống cây trồng
Trong trồng trọt, giống cây trồng được sử dụng phải đảm bảo chất lượng tốt, phải được kiểm tra, đánh giá và có kết luận an toàn đối với sức khỏe của con người mới được đưa vào sử dụng Với mục đích đó, pháp luật môi trường đã có quy định khá chi tiết, cụ thể như sau:
Th ứ nhất, giống cây trồng được sử dụng phải nằm trong danh mục
gi ống cây trồng được phép sản xuất kinh doanh:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh về giống cây trồng năm
2004, việc kinh doanh, sản xuất và sử dụng các loại giống không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh là một trong những hành vi bị nghiêm cấm
Có thể nói, các loại giống nằm trong danh mục nói trên là những loại giống đã trải qua quá trình khảo nghiệm, tuyển chọn và sản xuất thử để kiểm định về các nội dung như: sự phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nước
ta, năng suất và đặc biệt là chất lượng của nông sản với tỉ lệ dinh dưỡng đạt giá trị cao nhất cũng như mức độ an toàn, phù hợp đối với sức khỏe của con người Thông qua quá trình khảo nghiêm này, nếu giống cây trồng được công nhận là an toàn thì mới được đưa vào sử dụng trong trồng trọt Chính vì vậy với việc sử dụng các loại giống không nằm trong danh mục cho phép sẽ không có cơ sở để đảm bảo về chất lượng nông sản và có thể không đảm bảo an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng khi sử dụng những sản phẩm này
Trang 35Th ứ hai, giống cây trồng phải đáp ứng các tiêu chuẩn (nay còn gọi là
quy chu ẩn) về chất lượng do pháp luật quy định
Theo quy định tại Điều 43 Pháp lệnh về giống cây trồng năm 2004, hiện nay hệ thống quy chuẩn chất lượng giống bao gồm: quy chuẩn Việt Nam, quy chuẩn ngành, tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài được áp dụng tại Việt Nam Đối với danh mục giống cây trồng phải áp dụng quy chuẩn Việt Nam do Bộ KH&CN ban hành Đối với danh mục giống cây trồng phải áp dụng quy chuẩn ngành sẽ do Bộ NN&PTNT ban hành
Như vậy, theo quy định tại Điều 44 Pháp lệnh về giống cây trồng năm
2004, nếu giống cây trồng nằm trong danh mục phải đáp ứng quy chuẩn Việt Nam, hay quy chuẩn ngành thì trước khi đưa vào sử dụng trong trồng trọt đòi hỏi chất lượng giống phải được công bố Chất lượng giống được công bố không được thấp hơn quy chuẩn đã quy định Đồng thời giống cây trồng phải được cấp giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc chất lượng giống cây trồng phù hợp với quy chuẩn theo quy định tại điều 45 Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004 và sau đó mới được đưa vào sử dụng
Có thể ví dụ như đối với hạt đậu giống Theo TCVN 9304- 2012 được
áp dụng đối với loại hạt giống này thì yêu cầu kĩ thuật về chất lượng đối với hạt giống được xác nhận phải đảm bảo các yêu cầu: về độ sạch không nhỏ hơn 99% khối lượng, tỉ lệ nảy mầm không nhỏ hơn 80 % số hạt… qua đó đảm bảo hạt giống này mầm tốt, đạt chất lượng cao
Th ứ ba, đối với việc sử dụng các loại giống mới trong trồng trọt
Việc sử dụng giống mới trong trồng trọt phải qua quá trình khảo nghiệm và đã được công nhận thì mới được đưa vào danh mục giống cây trồng được phép sản xuất kinh doanh Việc khảo nghiệm và công nhận giống mới được thực hiện theo quy định tại các Điều 15, 16, 18 Pháp lệnh về giống cây trồng năm 2004 Quá trình khảo nghiệm có thể được coi là đợt “kiểm tra” hạt giống nhằm xác định chất lượng hạt giống cũng như mức độ an toàn của
Trang 36các loại lương thực thực phẩm được sản xuất từ loại giống đó đối với sức khỏe con người, góp phần tạo ra thực phẩm sạch, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và là cơ sở quan trọng quyết định việc công nhận loại giống đó là giống mới được đưa vào canh tác, sản xuất
Th ứ tư, đối với giống cây trồng biến đổi gen
Trước khi đưa vào sử dụng giống cây trồng đã bị biến đổi gen phải trải qua quá trình khảo nghiệm đánh giá về mức độ an toàn sinh học đối với việc
sử dụng các loại giống nói trên Hoạt động khảo nghiệm và công nhận an toàn sinh học được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 và Điều 22 Nghị định 69/2010 NĐ - CP ngày 21 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen (sau đây gọi là Nghị định 69/2010 NĐ - CP) nhằm xác định chắc chắn về các sản phẩm được sản xuất từ những loại giống cây trồng, vật nuôi biến đổi gen là an toàn đối với môi trường và sức khỏe con người, không có khả năng gây những rủi ro nguy hiểm về bệnh tật cũng như đảm bảo tỉ lệ dinh dưỡng ổn định, đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn đối với các sản phẩm nông nghiệp
Có thể thấy các quy định về quản lí giống cây trồng đã có những quy định nhằm kiểm soát đối với việc đưa giống cây trồng vào sản xuất nhằm bảo đảm an toàn cho môi trường và bảo đảm ATTP góp phần bảo đảm sức khỏe của người khi sử dụng những nông sản này
Tuy nhiên, các quy định này còn có một cố nhược điểm bất cập sau:
Th ứ nhất, quy định tại Điều 43 Pháp lệnh về giống cây trồng quy định
về vấn đề quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng giống cây trồng chưa rõ ràng, nhất quán
Hiện nay, pháp luật quy định 4 loại quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng giống cây trồng Trong khi đó lại chỉ quy định về việc ban hành danh mục giống cây trồng phải áp dụng quy chuẩn ngành, quy chuẩn Việt Nam Theo Luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn cơ sở được hiểu là tiêu
Trang 37chuẩn do tổ chức tự ban hành và tự nguyện áp dụng Bên cạnh đó không có giải thích về tiêu chuẩn quốc tế Vậy tiêu chuẩn quốc tế là các tiêu chuẩn do các tổ chức quốc tế ban hành hay tiêu chuẩn (hoặc quy chuẩn) của các quốc gia khác hay cả hai loại này? Từ đó cho thấy, pháp luật chưa làm rõ giá trị pháp lý cũng như vai trò của hai loại tiêu chuẩn này Chính điều đó gây khó khăn cho việc quản lí chất lượng giống trong trồng trọt
Th ứ hai, việc pháp luật bắt buộc về khảo nghiệm và công nhận đối với
t ất cả các loại giống mới có thể cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp
Theo Điều 3 Khoản 2 Pháp lệnh về giống cây trồng năm 2004, “Giống
cây tr ồng mới là giống cây trồng mới được chọn, tạo ra hoặc mới được nhập
kh ẩu lần đầu có tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định nhưng chưa có
trong danh m ục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh.”
Với khái niệm này, bất kể loại giống mới nào, kể cả những giống mà ở các quốc gia có đặc điểm, tính chất hậu giống hoặc tương tự như Việt Nam
và đã sử dụng từ lâu tại quốc gia xuất khẩu nhưng khi được nhập khẩu vào Việt Nam lần đầu và chưa có trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh thì bắt buộc phải trồng khảo nghiệm Quy định này có thể làm mất đi cơ hội sản xuất của những người sản xuất nông nghiệp bởi quá trình trồng khảo nghiệm và đánh giá có thể mất hàng năm, thậm chí nhiều năm Trong khi đó, loại giống này có thể đã được trồng trọt tại các quốc gia
có khí hậu, thổ nhưỡng và những điều kiện khác tương tự như Việt Nam Có thể đây là một loại “giấy phép con” cần phải bãi bỏ Việc thực hiện hoạt động trồng khảo nghiệm là cần thiết khi các điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng… hoàn toàn khác biệt hoặc chỉ áp dụng đối với các loại cây trồng đã bị biến đổi gen và chưa đưa vào trồng trọt
Bên cạnh đó, thực tế thi hành các quy định này còn có những nhược điểm sau:
Th ứ nhất, mặc dù pháp đã quy định về việc kiểm soát chặt chẽ chất
lượng giống cây trồng sau khi được sản xuất là phải đáp ứng các quy chuẩn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên trên thực tế, giống cây trồng sau khi
Trang 38sản xuất thường được cung ứng trực tiếp đến tay người sử dụng giống cho sản xuất nông nghiệp mà không qua quá trình kiểm tra, thẩm định về chất lượng
Một ví dụ cho tình trạng này là nhiều hộ nông dân huyện Kbang tỉnh Gia lai đã mua phải giống chanh dây kém chất lượng về trồng Sau nhiều tháng chăm sóc, tỷ lệ cây phát triển và cho quả rất ít Xảy ra tình trạng này là
do nhiều người hám lợi đã chiết cây giống không theo quy trình nhân giống
để bán, do đó đã tạo ra giống cây kém chất lượng [16]
Th ứ hai, người dân sử dụng giống bị thoái hóa, kém chất lượng
Trên thực tế, do thói quen canh tác và do trình độ hiểu biết của người dân còn hạn chế nên tại rất nhiều địa phương người nông dân vẫn để lại các sản phẩm (củ, quả, hạt) của vụ trước để làm giống cho vụ sau và giống cây trồng này đã bị thoái hóa Các loại giống cây trồng này thường không đảm bảo chất lượng, cho năng xuất thấp Tình trạng này đang diễn ra rất phổ biến
ở các địa phương, đặc biệt là nông dân sản xuất nhỏ lẻ
2.1.2 Quy định về việc sử dụng phân bón
Trong quá trình trồng trọt, để đảm cho việc sử dụng phân bón được an toàn, hợp lí, đảm bảo cho sinh trưởng của cây và chất lượng nông sản, đồng thời không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, pháp luật đã quy định
về việc sử dụng phân bón như sau:
Th ứ nhất, phân bón được sử dụng trong sản xuất phải thuộc danh mục
các lo ại phân bón được phép sử dụng do pháp luật quy định
Khoản 2 Điều 6 Nghị định 202/2013 NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm
2013 của Chính phủ về quản lý phân bón (sau đây gọi là Nghị định 202/2013 NĐ-CP) quy định cấm việc “Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu … phân bón đã bị cấm sử dụng”
Như vậy, mặc dù không trực tiếp quy định cấm việc sử dụng một số loại phân bón nhưng với quy định này cũng có thể hiểu là một số loại phân bón bị cấm sử dụng ở Việt Nam
Trang 39Hiện nay, pháp luật không quy định danh mục phân bón cấm sử dụng
mà quy định danh mục phân bón được phép sử dụng tại Việt Nam do Bộ NN&PTNT ban hành Danh mục phân bón được phép sử dụng tại Việt Nam thực tế thay đổi theo từng thời kỳ, ví dụ như năm 2007, Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 10/2007/QĐ-BNN ngày 06 tháng 02 năm 2007 ban hành Danh mục bổ sung phân bón được phép sử dụng ở Việt Nam đã bổ sung 163
loại phân bón được phép sản xuất, sử dụng Đến năm 2011, tiếp tục bổ sung
262 loại theo Thông tư 59 /2011/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 8 năm
2011 Ban hành Danh mục bổ sung phân bón được phép sản xuất, kinh doanh
và sử dụng tại Việt Nam và đến năm 2013 lại loại bỏ 107 loại phân bón, 02
loại phân bón lá dạng lỏng, 03 loại phân bón lá dạng bột ra khỏi danh mục phân bón phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng
Các loại phân bón nằm trong trong danh mục là những loại phân bón đã qua kiểm định và công nhận về chất lượng, độ an toàn, độ phù hợp với môi trường, điều kiện tự nhiên cũng như mức độ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nông sản, đảm bảo các loại nông sản được tạo ra phù hợp với yêu cầu, điều kiện quy chuẩn, tiêu chuẩn được đặt ra, an toàn với sức khỏe con người
Việc sử dụng các loại phân bón không nằm trong danh mục, phân bón
bị cấm sản xuất, kinh doanh có khả năng dẫn đến trường hợp các loại phân bón này có thể chứa các chất độc hại và từ đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường và chất lượng nông sản
Th ứ hai, phân bón được sử dụng trong trồng trọt phải đảm bảo quy
chu ẩn chất lượng
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 202/2013 NĐ-CP, các loại phân bón được đưa vào sử dụng trong trồng trọt phải đáp ứng các quy chuẩn quốc gia do cơ quan nhà nước ban hành và tiêu chuẩn cho cơ sở sản xuất công bố
áp dụng Theo quy định này, Bộ Công thương chịu trách nhiệm ban hành quy chuẩn kĩ thuật quốc gia đối với các loại phân bón vô cơ, Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm việc ban hành quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về phân bón hữu cơ
Trang 40Trong trường hợp đối với các loại phân bón chưa có quy chuẩn quốc gia về chất lượng, bắt buộc trên bao bì phân bón phải ghi “hàng mẫu” hoặc “sản phẩm nghiên cứu hoặc khảo nghiệm” và không được phép kinh doanh, sử dụng
Các loại phân bón chưa có quy chuẩn về chất lượng đồng nghĩa với việc các sản phẩm này chưa được kiểm định rõ ràng về thành phần các chất dinh dưỡng có trong trong phân bón nên có thể dẫn đến rủi ro về chất lượng nông sản khi sử dụng, khả năng dẫn đến sự mất cân đối về thành phần dinh dưỡng giữa các chất cũng như việc bị nhiễm độc do bón phân và dẫn tới tình trạng không đảm bảo chất lượng của các loại nông sản là rất cao
Quy chuẩn về chất lượng phân bón đặt ra các yêu cầu mà loại phân bón
đó cần đáp ứng mới được đua vào sản xuất và sử dụng Ví dụ như TCVN
2619 - 2014 đối với phân Urê: một trong những yêu cầu kĩ thuật phải chú ý là yêu cầu về giới hạn các chất có trong phân bón, ví dụ như một số chất sau: hàm lượng nitơ (N) tính theo gốc khô, phải đảm không nhỏ hơn 46%; hàm lượng biuret lớn hơn 1.2 %, độ ẩm không lớn hơn 1% [50] Quy định về giới hạn hàm lượng nói trên nhằm đảm bảo cân đối các chất dinh dưỡng mà cây trồng hấp thụ, qua đó đảm bảo chất lượng nông sản đạt kết quả cao nhất
Th ứ ba, việc sử dụng phân bón phải đúng, đủ liều lượng và cân đối
Ví dụ như việc dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ và phospho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây
ra sự giảm oxy dưới hạ lưu Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm, hàm lượng nitơ