10 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM .... Vì vậy, những quy định chung về bảo vệ quyền lợi NTD tr
Trang 5trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Ngô Hữu Phước Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được bất kỳ ai công bố trong các công trình nghiên cứu nào trước đây Các thông tin tham khảo đều được dẫn nguồn cụ thể và cũng được thể hiện trong danh mục tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có sự gian lận tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
TP HCM, ngày … tháng … năm 20…
Tác giả
TRẦN THỊ QUỲNH NHƯ
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Người tiêu dùng (NTD)
2 Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 10
7 Bố cục của Luận văn 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 11
1.1 Nhận thức chung về vệ sinh an toàn thực phẩm 11
1.1.1 Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm 11
1.1.2 Tác động của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các lĩnh vực đời sống xã hội 12
1.1.3 Tầm quan trọng của công tác quản lý về an toàn thực phẩm 14
1.2 Một số nội dung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 15
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm 15
1.2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với người tiêu dùng thực phẩm 19
1.2.3 Trách nhiệm từ phía Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 22
Trang 81.2.4 Một số quy định của pháp luật về điều kiện nhằm đảm bảo vệ sinh an
toàn thưc phẩm 27
Kết luận chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN THỰC THI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 42
2.1 Thực trạng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 42
2.1.1 Quy định về cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm 42
2.1.2 Quy định về phân cấp quản lý và kiểm tra, hậu kiểm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm 45
2.1.3 Chế tài xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm 50
2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 61
2.2.1 Phối hợp thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm 61
2.2.2 Đánh giá việc thực thi pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 63
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 66
2.3.1 Giải pháp pháp lý 67
2.3.2 Giải pháp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm 78
2.3.3 Giải pháp hợp tác quốc tế 80
2.3.4 Giải pháp tổ chức thực hiện 81
Kết luận chương 2 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đang là vấn đề đáng báo động và chưa bao giờ lại trở nên đáng lo ngại như bây giờ khi mà thịt lợn có chứa chất cấm, chuối ngâm thuốc trừ sâu, rau quả có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép,… thực phẩm không đảm bảo vệ sinh tràn ngập ở khắp mọi nơi Không thể tưởng tượng khi con người chúng ta đang sống trong một xã hội mà ra chợ toàn thực phẩm bẩn, một xã hội nguy hiểm không thua kém gì vũ khí sinh học khi ăn cũng chết, không ăn cũng chết Nhiều người sẽ phải giật mình khi biết số lượng người mắc bệnh nguy hiểm, bệnh hiểm nghèo, và bệnh ung thư trong những năm gần đây của Việt Nam Theo thống kê của Dự án phòng chống ung thư Quốc gia, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 70.000 người chết và hơn 200.000 người mắc mới
do bệnh ung thư (gấp 7 lần tử vong do tai nạn giao thông) Nếu đem so với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có tỷ lệ mắc các căn bệnh quái ác này đứng hàng thứ 3 Và
có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư song hơn 80% nguyên nhân đó xuất phát từ thức ăn, môi trường… Trong đó, tỉ lệ mắc các bệnh ung thư về đường tiêu hóa ở Việt Nam ngày càng tăng nhanh trong vòng 10 (mười) năm nay.1 Thật bất an khi nghe phát biểu của đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) tại phiên chất vấn của Quốc hội chiều ngày 16/11/2015: “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi chúng ta chưa bao giờ ngắn và dễ dàng đến thế”.2
Tình trạng vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm khá phổ biến, nó diễn
ra hằng ngày trong tất cả các khâu từ quá trình sản xuất, nuôi trồng, bảo quản, chế biến, lưu thông trước khi đến tay người tiêu dùng (NTD) Các vi phạm này đã gây
ra nhiều hệ lụy về sức khỏe của người dân, cụ thể là gây ra nguy cơ ngộ độc thực phẩm hoặc gây ra các bệnh mãn tính Theo thống kê của Bộ Y tế, trung bình mỗi
Trang 10năm Việt Nam có khoảng 150 - 200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5.000 – 7.000 người, trong đó có từ 40 - 60 người tử vong.3 Tình hình ngộ độc thực phẩm, ngộ độc rượu xảy ra nhiều vụ nghiêm trọng, các bệnh truyền nhiễm, ung thư do sử dụng thực phẩm không an toàn, diễn biến phức tạp và gia tăng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, niềm tin của người dân, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Có thể nói thực phẩm không an toàn đã trở thành mối lo lắng, bức xúc của người dân nhưng chưa có biện pháp căn cơ, hữu hiệu để giải quyết Theo Bộ Y tế, trong sáu tháng đầu năm 2017, cả nước phát hiện 81.115
cơ sở vi phạm VSATTP, chiếm 21,6%; xử lý 7.546 cơ sở với các hình thức từ phạt tiền, xử phạt bổ sung, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả cho tới buộc tiêu hủy sản phẩm Toàn quốc ghi nhận 73 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 1.592 người mắc bệnh, 1.483 người nhập viện, 16 người chết.4
Đảm bảo VSATTP không còn là vấn đề của riêng cá nhân ai mà là vấn đề sống còn của toàn xã hội Bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP là một trong những nhiệm vụ của quản lý nhà nước và là trách nhiệm của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại ngày càng gia tăng cũng đồng nghĩa với việc nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD, đặc biệt trong lĩnh vực VSATTP Vì vậy, những quy định chung về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực này được điều chỉnh bởi Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 17/6/2010 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 và các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007,… đã tạo khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD trong lĩnh vực VSATTP Sau hơn năm năm thực thi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các văn bản hướng dẫn đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng mối quan hệ tiêu
Trang 11dùng thực phẩm lành mạnh và có hiệu quả Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP vẫn còn bộc lộ những bất cập và một số quy định chưa được hướng dẫn một cách cụ thể nhằm thực thi trên thực tế Nhiều trường hợp NTD bị ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của mình do mua phải thực phẩm không đảm bảo chất lượng, chứa độc tố hoặc hết hạn sử dụng,… nhưng họ vẫn không khởi kiện hay yêu cầu đòi bồi thường để bảo vệ quyền lợi của mình Cũng có nhiều trường hợp NTD sau khi bị xâm phạm quyền lợi của mình đã khởi kiện ra Tòa án nhưng vẫn chưa được giải quyết một cách kịp thời và chính đáng Có phải là do tâm lý e ngại khi tìm đến cơ quan nhà nước để bảo vệ cho chính quyền lợi của mình? Vì NTD chưa nắm rõ những quy định của pháp luật? Hay cơ sở pháp lý chưa đủ vững chắc, thống nhất và rõ ràng để bảo vệ cho quyền lợi của NTD?
Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của NTD trong lĩnh vực VSATTP cần xây dựng những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD liên quan đến lĩnh vực này một cách thống nhất, chặt chẽ, và có khả năng thực thi cao Từ nhận thức và thực
trạng pháp luật nói trên, việc nghiên cứu vấn đề: “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phầm” là rất cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng trước thực trạng về nguồn thực phẩm bẩn, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, thực phẩm có chứa hóa chất,… như hiện nay đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người một cách rất nghiêm trọng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm”
cũng như quy định của pháp luật liên quan vấn đề này đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập tới, đặc biệt là trước khi ban hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, trước khi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được ban hành và có hiệu lực thi hành, có những tác giả và công
trình nghiên cứu như: Nguyễn Thị Ngọc Anh (2007), “Gian nan chuyện thực thi
pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11; Nguyễn
Trang 12Đức Minh (2008), “Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5; Phạm Thị Thanh
Nhàn (2010), “Pháp luật về hợp đồng theo mẫu và vấn đề bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng”, Luận văn thạc sĩ Luật học; Nguyễn Thị Phương Châu (2010), “Bảo vệ người tiêu dùng thông qua phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án”, Luận
văn thạc sĩ Luật học;… Các công trình nghiên cứu, bài viết này chủ yếu tập trung một cách chung nhất vào vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD một cách chính đáng, còn riêng lĩnh vực VSATTP được nhắc đến chỉ là một phần của bài viết mà không được nghiên cứu chuyên sâu
Trong giai đoạn trước năm 2010, khi mà ngày càng có nhiều trường hợp quyền lợi NTD, đặc biệt là trong lĩnh vực VSATTP bị xâm phạm một cách nghiêm trọng
mà chưa có một cơ chế, một công cụ hữu hiệu để bảo vệ vì chỉ được điều chỉnh bởi Pháp lệnh An toàn thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Có thể khẳng định rằng, việc Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được ban hành và có hiệu lực thi hành được xem là một bước tiến mới, trở thành công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP trước những hành vi vi phạm của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh Tuy nhiên, sau hơn năm năm thực thi, những quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 vẫn còn tồn tại những bất cập, vướng mắc nhất định Kể từ khi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được ban hành, có những tác giả và công trình nghiên cứu, bài viết sau:
Nguyễn Thị Thanh Thảo (2011), “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong giao kết hợp đồng điện tử”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật hiện hành về giao kết Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại điện tử cũng như những bất cập còn tồn tại và đề xuất hướng hoàn thiện những quy định pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 13Nguyễn Thị Thư (2013), “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt
Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, Học viện Khoa học Xã hội
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến 03 (ba) nội dung cơ bản sau đây:
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống những quy định liên quan tới thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi NTD cũng như quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới một cách chung nhất cho tất cả các lĩnh vực
- Chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật còn tồn tại cần sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp với điều kiện khách quan của nền kinh tế thị trường và phù hợp với yêu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao
- Đưa ra một số đề xuất cụ thể về các giải pháp nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ hữu hiệu NTD khi quyền lợi của họ bị xâm phạm nghiêm trọng; đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thư được đánh giá là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học và toàn diện những vấn đề mang tính
lý luận và thực tiễn làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói chung Tuy nhiên, công trình nghiên cứu được bảo vệ thành công vào năm
2013, khi mà Luật An toàn thực phẩm 2010 được thực thi hơn hai năm Tính đến nay, hơn năm năm thực thi quy định của pháp luật, đã phát sinh trên thực tế nhiều bất cập, vướng mắc cần được phân tích làm rõ và hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu quả hơn
Đinh Thị Hồng (2014), “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người
tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 273 Trong bài
viết, tác giả chủ yếu nhấn mạnh và phân tích những nội dung cần chú ý trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của NTD như: xây dựng chế định “trách
Trang 14nhiệm sản phẩm”; Quy định cụ thể về tư cách pháp lý của NTD theo hướng bảo vệ quyền hưởng bồi thường thiệt hại của cả cá nhân và tổ chức tiêu dùng; Quy định cụ thể hơn về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi NTD
và cơ chế chịu trách nhiệm; Hướng dẫn một số quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng và đơn giản hóa cơ chế giải quyết tranh chấp, trình tự khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại cho NTD Thành công nổi bật của tác giả là phân tích,
đánh giá và đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định về “Trách nhiệm sản phẩm”
– một trong những chế định quan trọng trong quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc
bảo đảm thực thi hiện nay”, Tap chí thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình
số 2 Bài viết tập trung phân tích những nội dung cơ bản sau:
- Quy định pháp luật liên quan đến quyền thông tin – quyền cơ bản của NTD hàng hóa, dịch vụ
- Đưa ra những bất cập trong quy định pháp luật và thực thi pháp luật về quyền được thông tin của NTD
- Nêu ra quy định về quyền được thông tin của NTD ở một số quốc gia trên thế giới Để từ đó, rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng chế định liên quan đến quyền này
Bài viết chỉ phân tích một cách chung nhất về quyền được thông tin - một trong những quyền cơ bản, quan trọng của NTD hàng hóa, dịch vụ nói chung mà chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu cho từng lĩnh vực nhất định Tuy nhiên, bài viết là nguồn tham khảo hữu ích đối với tác giả khi phân tích quy định, thực trạng thực thi pháp luật liên quan đến quyền được thông tin của NTD thực phẩm hiện nay
Phạm Văn Hảo (2017), “Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”, Tạp chí Luật học số 5 Bài viết
đề cập 03 (ba) vấn đề sau đây:
Trang 15- Phân tích các quyền của NTD thực phẩm và các hành vi bị coi là vi phạm quyền của người tiêu dùng thực phẩm;
- Đánh giá thực trạng các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP;
- Đưa ra một số góp ý nhằm hoàn thiện hệ thống chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP
Những nội dung của bài viết được tác giả nêu ra, phân tích và đánh giá một cách tổng thể nhất mà chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu cho từng chế tài
xử phạt Tuy nhiên, bài viết có ý nghĩa quan trọng là nguồn tham khảo đối với phần
đề xuất hướng hoàn thiện các quy định liên quan chế tài xử phạt những vi phạm liên quan đến VSATTP
Những công trình nghiên cứu, bài viết được nêu ra ở trên, chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hoặc nêu ra ý kiến, phân tích và bình luận những quy định của pháp luật về Bảo vệ quyền lợi NTD một cách chung nhất mà chưa nghiên cứu cụ thể cho một lĩnh vực nào nhất định Một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực VSATTP nhưng được nghiên cứu trong lĩnh vực y học hay dưới góc độ hành chính hoặc chỉ là một phần nhỏ của công trình, bài viết mà chưa được tập trung nghiên cứu một cách chuyên sâu Vì vậy, An toàn thực phẩm hay pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATP là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu, khi
mà sức khỏe, tính mạng con người ngày càng bị xâm phạm nghiêm trọng
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu luận văn này nhằm mục đích bảo
vệ hiệu quả quyền lợi của NTD trong lĩnh vực VSATTP một cách tốt nhất, hướng đến hoàn thiện những quy định của pháp luật về Bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD liên quan đến lĩnh vực VSATTP, những vướng mắc còn tồn tại và thực tiễn thực thi pháp luật, bao gồm: Quyền cơ bản của NTD, nghĩa vụ của các cơ
Trang 16sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Quy định về chế tài xử lý vi phạm về VSATTP gồm: xử lý hình sự, xử lý hành chính, xử lý dân sự; Quy định về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quản lý về lĩnh vực VSATTP; Vai trò của Hiệp hội bảo vệ quyền lợi NTD, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi NTD
Giới hạn nghiên cứu: Tìm hiểu, phân tích những quy định, những bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo vệ NTD trong lĩnh vực VSATTP ở một số quy định của Luật An toàn thực phẩm 2010 và thực trạng thực thi pháp luật liên quan đến những quy định này từ khi Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành cho đến nay Do cùng một nội dung được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau nên ở một số quy định, trên cơ sở phân tích ở Luật An toàn thực phẩm năm 2010, tác giả còn phân tích, so sánh những nội dung quy định này tại các văn bản pháp luật khác như:
Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia về vấn đề này như: Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu như: Vương quốc Bỉ, Pháp, Anh để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và định hướng hoàn thiện cho quy định pháp luật Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã xác định, với đối tượng, phạm vi nghiên cứu đã nêu, tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn gồm: Một là, phân tích và đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP
Hai là, nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức thực hiện những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP
Ba là, xây dựng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Phương pháp này được thể hiện rõ ở mục 1.2
Chương 1 về “Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm” khi phân tích những nội dung cơ
bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng ở mục 2.1 chương 2 khi tác giả phân tích thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NTD cũng như những bất cập còn vướng mắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được thể hiện rõ ở mục 2.1.4 Chương 2 về các chế tài xử phạt khi có vi phạm liên quan đến VSATTP; tiểu mục
2.3.1.2 về “Thành lập cơ quan độc lập để quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm”
khi tác giả so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật Vương quốc Bỉ về mô hình quản lý VSATTP Ngoài ra, phương pháp này còn được
sử dụng ở tiểu mục 2.3.1.4 về “Xây dựng cơ chế khởi kiện tập thể, nâng cao vai trò
của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm” khi
so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu về cơ chế trong các vụ khởi kiện của tập thể NTD thực phẩm Để từ đó, có cái nhìn tổng quan và một số kiến nghị học hỏi kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật của quốc gia này nhằm bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam hiệu quả hơn
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở mục 2.3 Chương 2 về một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP Trong hoàn cảnh quyền lợi NTD ngày càng bị xâm phạm một cách nghiêm trọng như hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực VSATTP Trên cơ sở phân tích thực trạng Pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật cũng như so sánh quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực này ở Việt Nam với quy định của một số quốc gia trên thế giới, từ đó tổng hợp, rút kinh nghiệm và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam ngày càng tốt hơn
Trang 18Phương pháp lịch sử: Tác giả sử dụng phương pháp này khi nêu ra những quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP trong thời kỳ đầu theo Pháp lệnh An toàn thực phẩm – khi mới ban hành qua những quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho đến thời điểm hiện tại và được thể hiện rõ ở mục 1.1.3 Chương 1
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa lý luận: Với những nội dung nghiên cứu, tác giả mong muốn làm rõ hơn thực trạng quy định của pháp luật về VSATTP Bên cạnh đó, Luận văn góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP cũng như những biện pháp nâng cao nhận thức của NTD để từ đó bảo vệ quyền lợi của NTD thực phẩm tốt hơn, đảm bảo trật tự và công bằng xã hội
Ý nghĩa thực tiễn: tác giả hy vọng rằng Luận văn này là một tài liệu đáng tin cậy trang bị cho NTD thực phẩm những kiến thức cơ bản để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Ngoài ra, Luận văn là nguồn cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền về VSATTP những thông tin được xem như là tài liệu tham khảo vận dụng vào việc xử lý vi phạm liên quan đến VSATTP Luận văn còn có thể là nguồn tham khảo cho các sinh viên trong quá trình học tập và cũng là nguồn tài liệu cho những người mong muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này
7 Bố cục của Luận văn
Với mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, luận văn được kết cấu gồm 2 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thực thi và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 19CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1 Nhận thức chung về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.1 Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm
Kể từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm để
duy trì sự sống của mình Ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ
khác nhau lại có những loại thực phẩm đặc trưng của mình Hiểu theo cách thông
thường, thực phẩm là bất kỳ thứ gì mà con người có thể ăn uống được Theo quy
định tại khoản 20, Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010: “Thực phẩm là
những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc có thể đã qua chế
biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng
như dược phẩm”
Trước đây, nguồn thực phẩm chủ yếu có được thông qua việc con người săn
bắt, hái lượm Khi con người biết trồng trọt, chăn nuôi cũng là lúc nhiều loại thực
phẩm khác nhau đã ra đời để thỏa mãn nhu cầu về thực phẩm ngày càng lớn của con
người Khi xã hội ngày càng phát triển, xuất hiện những thực phẩm tiện lợi hơn
như: thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm chức năng,… được sử
dụng rộng rãi bởi chúng rất tiện ích như dễ sử dụng, nhanh gọn và có nhiều loại
khác nhau để con người lựa chọn tùy thuộc vào nhu cầu và mong muốn của mình
Cùng với sự đa dạng về các loại thực phẩm là vấn đề về VSATTP Vệ sinh an
toàn thực phẩm được đặt ra khi mà hiện nay ngày càng có nhiều vụ ngộ độc thực
phẩm xảy ra, các loại bệnh liên quan đến thực phẩm không đảm bảo an toàn xuất
hiện ngày càng nhiều Thực phẩm chỉ được coi là an toàn khi trong bản thân chúng
không chứa các chất độc gây hại, không chứa các vi sinh, ký sinh gây bệnh ảnh
hưởng đến sức khỏe con người Ngoài ra, an toàn thực phẩm là khái niệm không
Trang 20những chỉ ra thực phẩm sẽ không gây nguy hại cho NTD5 khi được chế biến và dùng theo đúng mục đích sử dụng dự kiến mà khái niệm này còn liên quan đến sự
có mặt của các mối nguy hại về an toàn thực phẩm và không bao gồm các khía cạnh
khác liên quan đến sức khỏe con người như thiếu dinh dưỡng Theo đó, “An toàn
thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”.6 Thực phẩm chỉ được đánh giá là đảm bảo vệ sinh khi được sơ chế, chế biến, đóng gói, bảo quản một cách sạch sẽ, hợp vệ sinh theo đúng quy định về các tiêu chuẩn đảm bảo VSATTP
Theo nghĩa rộng, VSATTP được hiểu là khả năng cung cấp được hiểu là khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời về số lượng, chất lượng thực phẩm khi một quốc gia gặp thiên tai hay một lý do nào đó.7
Như vậy, có thể hiểu: VSATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người Hay nói cách khác, VSATTP là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người
1.1.2 Tác động của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội
Đối với sức khỏe con người
Thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng giúp con người có thể tồn tại, duy trì cuộc sống cũng như phát triển về thể lực, trí lực nhưng cũng đồng thời có thể là nguồn gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng
5 Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010: “Người tiêu dùng là người mua,
sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.
6 Khoản 1, Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010
7 Lê Thị Linh (2016), “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội”,
Luận văn Thạc sĩ Luật Học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 5-6
Trang 21nếu nó không đảm bảo vệ sinh Đảm bảo VSATTP chính là đảm bảo sức khỏe, cuộc sống con người Trong đó, góp phần tăng cường sức khỏe, giảm tỷ lệ bệnh tật do ngộ độc thực phẩm hoặc thực phẩm không đảm bảo vệ sinh Về lâu dài thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏe mỗi con người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy nhưng về lâu về dài, nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một số
cơ quan trong cơ thể và sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây các dị tật,
dị dạng cho thế hệ mai sau Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh, những trẻ suy dinh dưỡng, người già, người ốm càng nhạy cảm với các bệnh do thực phẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh tật nhiều hơn
Đối với nền kinh tế - xã hội
Đảm bảo VSATTP có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm về sự tuân thủ các quy định của pháp luật hướng tới mục tiêu cung cấp một nguồn thực phẩm sạch, an toàn và có giá trị dinh dưỡng cho xã hội Việc đảm bảo VSATTP góp phần giảm tỷ
lệ bệnh tật, tăng khả năng sức lao động của mỗi người, để từ đó thúc đẩy kinh tế -
xã hội đất nước phát triển, xây dựng nếp sống văn minh của mỗi vùng lãnh thổ, của mỗi quốc gia Nâng cao chất lượng, đảm bảo VSATTP sẽ là chìa khóa tiếp thị thực phẩm trên thị trường bởi lẽ thực phẩm là một loại hàng hóa chiến lược Vì vậy, đảm bảo VSATTP có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu thực phẩm
Đối với môi trường
Đảm bảo VSATTP góp phần đảm bảo cho môi trường trong lành, giảm ô nhiễm môi trường Trước hết, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhận thức được tầm quan trọng của đảm bảo VSATTP, để từ đó điều khiển hành vi của mình trong việc
có nên sử dụng các hóa chất độc hại trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, bảo quản
Trang 22thực phẩm hay không – những chất trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường Hơn nữa, khi ý thức được tầm quan trọng của VSATTP sẽ làm giảm các vụ vi phạm về an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, hạn chế việc tiêu hủy những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống con người
1.1.3 Tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Đảm bảo VSATTP là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quốc gia bởi VSATTP ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, kinh tế - xã hội đất nước và tác động trực tiếp đến môi trường
Hướng tới mục tiêu đảm bảo VSATTP, nhà nước có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo khung pháp lý vững chắc về lĩnh vực này Tại Việt Nam, quyền được đảm bảo sức khỏe, tính mạng được quy định qua từng bản Hiến Pháp và được cụ thể hóa trong pháp luật chuyên ngành, cụ thể là lĩnh vực VSATTP Pháp lệnh về VSATTP đã được Ủy ban thường vụ quốc hội khóa XI thông qua từ năm 2003 là một trong những văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng góp phần đảm bảo VSATTP cho xã hội Đến năm 2010, Luật An toàn thực phẩm được ban hành và có hiệu lực thi hành là cơ sở pháp lý vững chắc, đánh dấu bước ngoặc về việc bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP với mục tiêu cung cấp nguồn thực phẩm an toàn đến với từng người dân Đúng như chủ trương Quốc hội đã đề ra tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV ngày 05/06/2017: “Đưa thực phẩm sạch từ đồng ruộng đến bàn ăn”.8 Có thể khẳng định rằng, không có lĩnh vực nào mà vấn đề về quản lý nhà nước lại tác động trực tiếp, thường xuyên và cần thiết như an toàn thực phẩm ở thời điểm hiện tại Vì đây
là lĩnh vực có liên quan mật thiết đến sức khỏe, tính mạng, tuổi thọ,… của con người, do nhiều cơ quan cùng quản lý theo những tiêu chuẩn, điều kiện về sản xuất, kinh doanh, lưu thông, bảo quản và cuối cùng là đến tay NTD Quản lý về VSATTP
8 Bảo Yến, Quốc hội giám sát tối cao về an toàn thực phẩm: Đề xuất tăng cường trách nhiệm của các chủ thể trong thực thi chính sách pháp luật, http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=
33280 (truy cập ngày 05/6/2017)
Trang 23đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho xã hội được cung cấp nguồn thực phẩm an toàn, chất lượng và đảm bảo cho sức khỏe Ngoài ra, việc quản lý về VSATTP còn là điều kiện tiên quyết, thiết yếu thúc đẩy cho quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm phát triển không chỉ ở thị trường nội địa mà còn xuất khẩu ra các nước trong và ngoài khu vực trên thế giới
Hiện nay, quản lý về an toàn thực phẩm tập trung vào cơ sở sản xuất và kinh doanh bằng các hình thức tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử phạt Và không chỉ thanh tra, kiểm tra trực tiếp trên thực phẩm cuối cùng được tạo ra mà còn thanh tra, kiểm tra cho cả quá trình sản xuất, chế biến, đóng gói để tạo ra thực phẩm ấy Những việc làm như vậy trải ra trên diện rộng, “nhiều ngõ ngách”, tầng nấc, tiêu chí yêu cầu khác nhau Và làm càng chặt chẽ thì hiệu quả kiểm soát về VSATTP càng cao, đảm bảo cung cấp nguồn thực phẩm sạch đến với NTD
1.2 Một số nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD;
9 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010
Trang 24- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra
Từ quy định trên của Pháp luật, có thể phân ra thành 4 nhóm quyền cơ bản của NTD trong lĩnh vực VSATTP như sau:
Một là, quyền được an toàn
Quyền được an toàn là một trong những quyền cơ bản của mọi công dân trong một xã hội văn minh Bảo vệ quyền lợi NTD, đặc biệt là trong lĩnh vực VSATTP vừa là thước đo nhân quyền, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước Việc đảm bảo an toàn của sản phẩm không chỉ thể hiện trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm do mình cung cấp ra thị trường đối với NTD mà còn là trách nhiệm từ phía cơ quan quản lý nhà nước đối với nhân dân
và đối với sự phát triển bền vững của xã hội Quyền được an toàn dưới góc độ NTD trong lĩnh vực VSATTP được thể hiện rõ nhất khi được cung cấp nguồn thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn cho sức khỏe, được hướng dẫn một cách an toàn về sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm
Theo Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe; có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác hoặc cộng đồng Quyền được an toàn nói riêng, quyền của NTD nói chung có nội hàm mang tính mở nhưng cụ thể với yêu cầu ngày càng đa dạng và cao hơn, nổi bật là quyền được ăn sạch, uống sạch, chữa bệnh, học hành, đi lại và tiếp cận, tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ trong cuộc sống thường ngày an toàn, thuận lợi với chất lượng và giá cả phù hợp; Quyền được tiếp nhận nhanh và xử lý thỏa đáng những khiếu nại về chất lượng hàng hóa, dịch vụ;
Trang 25Quyền được bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm, sức khỏe tính mạng khi mua, sử dụng hàng hóa không đảm bảo,…10
Xuất phát từ những vụ ngộ độc thực phẩm, bệnh tật do nguồn thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trong thời gian gần đây, có thể thấy rằng vấn đề về VSATTP và quyền được an toàn của NTD trong lĩnh vực VSATTP đang ngày càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa quan trọng
Hai là, quyền được thông tin
Quyền được thông tin là một trong những quyền mang tính tự nhiên, thiết yếu của NTD trong nền kinh tế thị trường Trong đó, NTD thực phẩm có quyền được tiếp nhận thông tin, tìm kiếm thông tin cũng như quyền được phổ biến, chia sẻ thông tin.11 NTD không chỉ cần biết thông tin từ phía nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm cung cấp về chất lượng, giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, mà còn các thông tin khác từ phía cơ quan quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, chất lượng thực phẩm hay các thông tin về cơ sở sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm có đảm bảo VSATTP hay không
Ba là, quyền được khiếu nại, tố cáo
Thông tin về tiêu dùng là rất phổ biến, nhất là liên quan tới chất lượng và nguồn gốc thực phẩm để xem một thực phẩm có đảm bảo an toàn hay không Thế nên, ngoài việc quan tâm tới thông tin về thực phẩm, NTD thực phẩm cũng nên có những kiến thức căn bản về quyền lợi, nghĩa vụ của mình, mà một trong những quyền đó là quyền được khiếu nại và giải quyết khiếu nại khi quyền lợi bị xâm phạm
Khi phát hiện thực phẩm mà mình mua không đảm bảo VSATTP, nếu sử dụng
có thể gây hại cho sức khỏe hoặc bị ngộ độc thực phẩm, mắc phải các bệnh do thực phẩm không đảm bảo, NTD thực phẩm hay đại diện hợp pháp của mình có quyền
10 Điều 38, Điều 43 Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
11 Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc đảm bảo thực thi hiện nay”,
Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, 2, 26
Trang 26khiếu nại, tố cáo các tổ chức, cá nhân chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm đó
Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm khi nhận được khiếu nại của NTD phải cấp phiếu tiếp nhận khiếu nại và tiến hành giải quyết khiếu nại cho NTD Phiếu tiếp nhận khiếu nại có thể được thực hiện dưới hình thức văn bản hoặc thư điện tử và phải thể hiện rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu giải quyết khiếu nại và thời gian giải quyết khiếu nại cụ thể Trong trường hợp khiếu nại được giải quyết ngay khi NTD tiến hành khiếu nại và đã đạt được thỏa thuận với NTD thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không cần phải cấp phiếu tiếp nhận khiếu nại Vì các vụ việc xảy ra liên quan đến VSATTP ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người nên việc giải quyết khiếu nại của NTD thực phẩm phải được thực hiện trên nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NTD Kết quả giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản tới NTD hoặc hình thức khác được NTD chấp nhận.12
Bốn là, quyền được bồi thường thiệt hại
Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định rõ quyền của NTD được bồi thường thiệt hại do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra Đây là một trong những quyền năng cơ bản của NTD Quy định này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ một bên yếu thế hơn trong quan hệ có đặc tính bất cân xứng Sự yếu thế thể hiện ở chỗ NTD thiếu thông tin, yếu về khả năng đàm phán giao dịch, yếu về khả năng chi phối các điều kiện giao dịch cũng như yếu thế hơn về khả năng chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng hàng hóa.13
Có thể nói, bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực VSATTP chính là việc đảm bảo các quyền trên của NTD thực phẩm luôn được thực thi một cách hiệu quả nhất
Về nghĩa vụ của NTD thực phẩm
12 Nguyễn Trọng Điệp (2011), “Quyền khiếu nại của người tiêu dùng - cần một cơ chế hợp lý”, Tạp chí khoa
học ĐHQG Hà Nội, Luật học, 27, 207-211
13 Mai Thị Thanh Tâm (2009), “Nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 10-11
Trang 27Để được cung cấp nguồn thực phẩm an toàn hay bảo vệ quyền lợi khi bị xâm phạm, bên cạnh việc thực hiện quyền của mình thì NTD thực phẩm cũng phải tuân theo những nghĩa vụ nhất định,14 cụ thể:
- Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;
- Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
- Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm
1.2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với người tiêu dùng thực phẩm
Tương ứng với quyền của NTD thực phẩm là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm nhằm đảm bảo NTD được cung cấp thông tin một cách chính xác trong việc cung cấp nguồn thực phẩm đảm bảo an toàn Trong đó, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm bao gồm:
Trách nhiệm cung cấp thông tin về sản phẩm cho NTD:
Như đã phân tích, quyền được cung cấp thông tin là một trong những quyền thiết yếu của NTD thực phẩm Quyền của NTD cũng đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm Trong đó, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có trách nhiệm cung cấp cho NTD thực phẩm những thông tin về sản phẩm trên nhãn, bao bì, trong tài liệu kèm theo thực phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; Cảnh báo kịp thời, đầy đủ, chính xác về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm, cách phòng
14 Khoản 2 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010
Trang 28ngừa cho người bán hàng và NTD.15 Việc cung cấp những thông tin này giúp NTD nhận thức được về thực phẩm có đảm bảo an toàn hay không, để từ đó đưa ra quyết định đúng đắn có nên mua, sử dụng thực phẩm hay tiếp tục sử dụng thực phẩm
Trách nhiệm truy xuất, thu hồi và xử lý thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn
Thực phẩm không đảm bảo an toàn gây ngộ độc, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng sẽ bị truy xuất, thu hồi và xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có quy định về trách nhiệm thu hồi sản phẩm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo, cụ thể: Truy xuất, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không đảm bảo an toàn.16
Việc thu hồi thực phẩm không đảm bảo an toàn được thực hiện theo 2 hình thức: Thu hồi tự nguyện và thu hồi bắt buộc
Với hình thức thu hồi tự nguyện, trong thời gian tối đa 24 giờ, kể từ thời điểm xác định sản phẩm phải thu hồi, chủ sản phẩm có trách nhiệm thông báo tới người
có trách nhiệm trong toàn hệ thống sản xuất, kinh doanh (cơ sở sản xuất, các kênh phân phối, đại lý, cửa hàng) để dừng việc sản xuất, kinh doanh và thu hồi sản phẩm Sau khi kết thúc việc thu hồi, chủ sản phẩm gửi báo cáo thu hồi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về an toàn thực phẩm.17
Đối với trường hợp thu hồi bắt buộc, ngay khi nhận được quyết định thu hồi từ phía cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, chủ sản phẩm phải thông báo tới những người có trách nhiệm trong hệ thống sản xuất, kinh doanh (cơ sở sản xuất, các kênh phân phối, đại lý, cửa hàng) để dừng việc sản xuất, kinh doanh và niêm phong sản phẩm Trong thời gian tối đa 03 (ba) ngày làm việc, kể từ thời điểm nhận được quyết định thu hồi, chủ sản phẩm phải nộp kế hoạch thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn đến cơ quan ra quyết định thu hồi và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về an toàn thực phẩm Nội dung kế hoạch thu hồi sản phẩm phải phù
15 Điểm c,d Khoản 2 Điều 7 Luật An toàn thực phẩm năm 2010
16 Điểm g Khoản 2 Điều 8 Luật An toàn thực phẩm năm 2010
17 Điều 3 Thông tư 17/2016/TT-BYT
Trang 29hợp với quyết định thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn do cơ quan ra quyết định thu hồi ban hành Việc thu hồi được thực hiện dưới sự chủ trì, giám sát của cơ quan ra quyết định thu hồi, các cơ quan có thẩm quyền về an toàn thực phẩm và các
cơ quan liên quan giám sát việc thu hồi.18
Sản phẩm không bảo đảm an toàn bị thu hồi được xử lý theo một trong các phương thức như cho khắc phục lỗi của sản phẩm, lỗi ghi nhãn; chuyển mục đích sử dụng; tái xuất; tiêu hủy
Một ví dụ điển hình về thu hồi thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là vụ việc xảy ra hồi tháng 8/2017, khi Bộ Y tế quyết định thu hồi thực phẩm chức năng nước đông trùng hạ thảo Theo đó, sản phẩm bị thu hồi là “Nước đông trùng hạ thảo - Dongchoonghacho Drink” có xuất xứ Hàn Quốc, sản xuất bởi Công
ty Dong Nam Medics Co (Korea); nhập khẩu bởi Công ty TNHH Alomart Việt Nam Sau khi đoàn thanh tra tiến hành lấy mẫu tại đơn vị kinh doanh, bán hàng đa cấp là Công ty TNHH Nhượng Quyền Toàn Thắng (số 19 Đồng Xoài, phường 13, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) để kiểm nghiệm thì phát hiện sản phẩm này có hàm lượng chất Adenosine (hoạt chất quyết định tác dụng của đông trùng hạ thảo) không đạt so với tiêu chuẩn công bố Ngay sau đó, Thanh tra Bộ Y tế yêu cầu thu hồi sản phẩm này phải được hoàn tất trước ngày 28/8/2017.19
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó, khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra Và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn gây ra thiệt hại cho NTD thưc phẩm cũng không là ngoại lệ
18 Điều 4 Thông tư 17/2016/TT-BYT
19 Nhân Hà, Thu hổi nước đông trùng hạ thảo Hàn Quốc, http://dantri.com.vn/suc-khoe/thu-hoi-nuoc-dong -trung-ha-thao-han-quoc-20170817104405145.htm (truy cập ngày 17/8/2017).
Trang 30Theo quy định Luật An toàn thực phẩm năm 2010, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.20 Quy định này là công cụ pháp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD thực phẩm
Một vụ việc đã xảy ra vào năm 2016 khiến dư luận xã hội không khỏi bức xúc khi sản phẩm nước giải khát được người dân tin dùng, sử dụng thường xuyên là nước trà xanh hương chanh C2 và nước tăng lực hương dâu Rồng đỏ do Công ty TNHH URC sản xuất với hàm lượng chì vượt quá mức công bố Bởi khi NTD sử dụng những thực phẩm chứa hàm lượng chì cao, về lâu về dài khi được tích lũy trong cơ thể sẽ gây ra các bệnh rất nguy hiểm Ngoài ra, công ty đã vi phạm các lỗi chủ yếu như: Kho bảo quản sản phẩm không đảm bảo kín, biện pháp phòng chống động vật gây hại tại kho chưa đảm bảo theo quy định Với những vi phạm trên, Thanh tra Bộ Y tế đã áp dụng hình thức xử phạt hành chính đối với Công ty TNHH URC với tổng số tiền phạt là 5.826 tỷ đồng, đồng thời buộc Công ty này khắc phục ngay điều kiện kho bảo quản, thu hồi tối đa 2 (hai) lô sản phẩm thực phẩm có kết quả không đạt nói trên để xử lý theo quy định Công ty phải báo cáo kết quả khắc phục về Thanh tra Bộ Y tế trước ngày 10/6/2016 Ngoài ra, Công ty TNHH URCcó trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại đối với NTD cho những lô sản phẩm nước giải khát nhiễm chì vượt mức công bố đã được bán ra thị trường.21
1.2.3 Trách nhiệm từ phía nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm
Nhà nước có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD, đặc biệt là trong lĩnh vực VSATTP Trách nhiệm của nhà nước được thể hiện
20 Khoản 1 Điều 6 Luật An toàn thực phẩm 2010
21 Cục An toàn thực phẩm, Xử phạt Công ty TNHH URC Việt Nam 5,8 tỷ đồng http://www.vfa.gov.vn /thanh-kiem-tra/xu-phat- cong-ty-tnhh-urc-viet-nam-58-ty-dong.html (truy cập ngày 31/5/2016)
Trang 31thông qua việc: Ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm thực thi quy định của pháp luật hiệu quả; giải quyết kịp thời những khiếu nại của NTD khi tính mạng, sức khỏe của họ bị xâm phạm; trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi NTD,…
Theo Điều 62, Điều 63, Điều 64 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định
cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực An toàn thực phẩm của các
Bộ như sau:
Bộ Y tế: có trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: có trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm
từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả, trứng
và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mâ ̣t ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
Bộ Công Thương được phân công quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột, tinh bột và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá
Trang 32trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản
lý
Như vậy, tại tuyến Trung ương, công tác quản lý an toàn thực phẩm được giao cho 3 (ba) Bộ quản lý: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thương Tại mỗi Bộ, các cơ quan chuyên trách đều được thành lập để thực hiện việc quản lý về an toàn thực phẩm
Tại Bộ Y tế, công tác quản lý an toàn thực phẩm được giao Cục An toàn thực phẩm để giúp Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Tại Bộ Công thương, Vụ Khoa học và Công nghệ được thành lập để thực hiện công tác quản lý an toàn thực phẩm và được giao cho làm đầu mối, ngoài ra còn có Cục Quản lý Thị trường Cục Quản lý thị trường thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, công nghiệp và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật ở thị trường trong nước.22
Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất đa ngành, để bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản, công tác quản lý chất lượng, VSATTP nông lâm thủy sản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện Bao gồm: Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, Cục Chế biến và phát triển thị trường nông lâm.23 Các đơn vị này được giao chức năng, nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nông nghiệp Tại các đơn vị này đều có bộ phận chức năng để thực hiện quản lý về an toàn thực phẩm theo chuỗi sản phẩm rau, củ, quả và chè Cục Trồng trọt có 02 Trung tâm Khảo nghiệm kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và Trung tâm Khảo kiểm nghiệm
22 Quyết định số 907/QĐ-BCT
23 Điều 3 Nghị định 15/2017/NĐ-CP
Trang 33phân bón;24 Cục Bảo vệ thực vật có Phòng quản lý an toàn thực phẩm và Môi trường, 09 Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng với hơn 80 trạm Kiểm dịch thực vật tại các cửa khẩu thực hiên công tác kiểm dịch thực vật và kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu, nhập khẩu Ngoài ra còn có 04 Trung tâm bảo vệ thực vật vùng thực hiện dự tính, dự báo và giám sát sinh vật có hại trên đồng ruộng, 02 trung tâm Kiểm định và khảo nghiệm thuốc bảo
vệ thực vật đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi sinh vật, aflatoxin trong thực phẩm;25 Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản có Phòng Quản lý chất lượng nông lâm sản, Phòng Quản lý kiểm nghiệm
và nguy cơ an toàn thực phẩm, 02 cơ quan Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Trung Bộ và Nam Bộ đặt tại Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh, 07 Trung tâm chất lượng nông lâm thủy sản của các vùng đặt tại 07 tỉnh, thành phố trong cả nước;26 Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản có Phòng Chế biến và bảo quản Nông sản thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và
tổ chức thực thi pháp luật về phát triển thị trường nông, lâm, thủy sản và muối.27Tại các địa phương, thực hiện theo Quyết định số 809/QĐ-TTg ngày 30/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản và muối giai đoạn 2011-2015, đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản
và thủy sản Ngoài các Chi cục trên, một số Chi cục khác cũng được thành lập để tham gia triển khai quản lý, kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản theo phân công của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, như: Chi cục thú
y, bảo vệ thực vật, thủy sản Một số trạm kiểm nghiệm hoặc các đơn vị sự nghiệp trực thuộc về kiểm nghiệm và tư vấn đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm nông,
24 Điều 3 Quyết định 929/QĐ-BNN-TCCB
25 Điều 3 Quyết định 928/QĐ-BNN-TCCB
26 Điều 1, Điều 2 Quyết định số 1120/QĐ-BNN-TCCB
27 Khoản 2 Điều 3 Quyết định 1348/QĐ-BNN-TCCB
Trang 34lâm, thủy sản ở một số Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản địa phương
đã được thành lập Ngoài ra, hệ thống thanh tra chuyên ngành chất lượng an toàn thực phẩm cũng được thành lập và hoạt động hiệu quả hầu hết các địa phương, tuy nhiên tên gọi và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị chưa thống nhất giữa các tỉnh, thành phố.28
Những quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là một trong những thành công nổi bật trong lập pháp Việt Nam về việc chuyển hướng hoạt động kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm theo phương pháp cổ điển từ việc lấy mẫu lô hàng cuối cùng để kiểm tra, hoặc kiểm soát an toàn thực phẩm theo ISO 9000 - phương pháp mà thế giới ghi nhận là không thể áp dụng cho đối tượng thực phẩm là những sản phẩm mau ươn, chóng thối để chuyển sang áp dụng phương pháp phân tích mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và kiểm soát mối nguy, gọi tắt là HACCP
Hệ thống này xác định, đánh giá và kiểm soát các mối nguy, các tác nhân sinh học, hóa học hay lý học có trong thực phẩm hoặc trong môi trường có khả năng gây hại cho sức khỏe con người và áp dụng biện pháp kiểm soát thường xuyên để đảm bảo rằng sản phẩm không gây hại cho con người.29 Phương pháp đã được hầu hết các nước trên thế giới ghi nhận và áp dụng như: Anh, Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản,… Theo phương pháp nhận diện mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và kiểm soát mối nguy, nếu không phòng ngừa được thì ngăn chặn, và nếu không ngăn chặn được thì khống chế mối nguy ở dưới mức giới hạn tối đa cho phép Vì lý do này đã dẫn tới nhu cầu thực tế khách quan là phải kiểm soát an toàn thực phẩm cho cả quá trình, theo toàn bộ chuỗi sản xuất thực phẩm Xét dưới khía cạnh doanh nghiệp, việc áp dụng HACCP sẽ mang lại lợi ích thiết thực như giảm nguy cơ trong sản xuất, tiêu thụ thực phẩm không an toàn và như vậy sẽ tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với những thực phẩm do doanh nghiệp mình sản xuất, kinh doanh
28 Chu Thị Hoa, Quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm đang đi về đâu?, http://moj.gov.vn/qt/ tintuc/Pages /nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1974 (truy cập ngày 02/6/2016)
29 Nguyễn Mạnh Dũng (2008), “Quản lý chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến
nông lâm sản”, Nhà xuất bản Nông nghiệp,45-48
Trang 35Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp HACCP hay kiểm soát an toàn thực phẩm theo ISO 9000 cho cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm của mình Chẳng hạn như tại Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam, một trong những doanh nghiệp có tên tuổi gắn liền với các loại thực phẩm ăn liền như mì Hảo Hảo, phở Đệ Nhất, miến Phú Hương,… Toàn bộ quy trình sản xuất tại Acecook Việt Nam luôn được kiểm soát nghiêm ngặt trên từng công đoạn thông qua việc áp dụng
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001, hệ thống kiểm soát HACCP Tất cả sản phẩm của Acecook Việt Nam đều được thẩm định chặt chẽ từ nguyên liệu đầu vào cho đến khâu sản xuất, chế biến ra thành phẩm, hướng đến việc đem lại những món
ăn ngon đạt chất lượng, an toàn, an tâm và hài lòng cho NTD.30
1.2.4 Một số quy định của pháp luật về điều kiện nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thưc phẩm
1.2.4.1 Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, để được tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thì tổ chức, cá nhân phải tiến hành thủ tục nhất định để được cấp Giấy chứng nhận Trong đó, Giấy chứng nhận được hiểu là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, nhằm xác nhận chủ thể kinh doanh đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để sản xuất, kinh doanh thưc phẩm Một trong những hành vi bị cấm theo quy định Luật An toàn thực phẩm là sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện
an toàn thực phẩm.31 Các cá nhân, tổ chức có thể lựa chọn một trong các mô hình kinh doanh khác nhau để tiến hành sản xuất, kinh doanh thực phẩm, có thể là: Hộ gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều phải xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm Theo
Trang 36đó, khi đối tượng thuộc một trong các trường hợp sau thì không cần phải xin cấp giấy chứng nhận:32
- Sản xuất ban đầu nhỏ lẻ;
Thứ nhất, nhóm điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật Nhóm điều kiện này gồm
ba yêu cầu cụ thể như sau:
- Yêu cầu đối với cơ sở: phải đáp ứng các điều kiện về địa điểm, môi trường; thiết kế, bố trí nhà xưởng; kết cấu nhà xưởng; hệ thống thông gió; hệ thống chiếu sáng, hệ thống cung cấp nước; hơi nước và khí nén; hệ thống xử lý chất thải, rác thải; nhà vệ sinh, khu vực thay đồ bảo hộ lao động; nguyên liệu thực phẩm và bao
bì thực phẩm.34
- Yêu cầu đối với trang thiết bị, dụng cụ: các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng đủ điều kiện về an toàn, không gây cho ô nhiễm thực phẩm Bao gồm: phương tiện rửa và khử trùng tay; thiết bị, dụng cụ sản xuất thực phẩm; thiết bị dụng cụ giám sát, đo lường,…35
- Yêu cầu về bảo quản thực phẩm: tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tuân thủ các điều kiện về nguyên liệu, bao bì, thành phẩm thực phẩm phải được
32 Điều 12 Nghị định số 38/2012/NĐ-CP
33 Nguyễn Tuấn Vũ (2016), “Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm: Nhìn từ khía cạnh Nhà
nước và quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí khoa học pháp lý, 9, 15
34 Điều 1 Thông tư số 15/2012/TT-BYT
35 Điều 2 Thông tư số 15/2012/TT-BYT
Trang 37bảo quản trong chứa đựng, kho riêng, diện tích đủ rộng để bảo quản thực phẩm; vật liệu xây dựng tiếp xúc với thực phẩm bảo đảm an toàn,…36
Thứ hai, nhóm điều kiện đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm:
Người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng các điều kiện như: được tập huấn, được cấp giấy xác nhận tập huấn; được khám sức khỏe, được xác nhận đủ sức khỏe theo quy định của Bộ Y tế,…37
Thứ ba, có đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh thực phẩm trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Xuất phát từ lý do bảo vệ sức khỏe và an toàn tính mạng cho NTD thực phẩm,
từ đó khẳng định được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận đối với cơ sở đủ điều kiện sản xuất kinh doanh thực phẩm, Quyết định 20/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011
- 2020 và tầm nhìn 2030 đã đưa ra chỉ tiêu đến năm 2020 có 100% cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm quy mô công nghiệp, tập trung; 80% cơ sở kinh doanh dịch vụ
ăn uống và 100% bếp ăn tập thể được cấp giấy chứng nhận
1.2.4.2 Điều kiện chung về đảm bảo an toàn thực phẩm
Nhằm đảm bảo VSATTP, các cơ sở khi sản xuất, kinh doanh, chế biến, vận chuyển, đóng gói thực phẩm phải đáp ứng các điều kiện như sau:38
- Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người
36 Điều 4 Thông tư số 15/2012/TT-BYT
37 Điều 3 Thông tư số 15/2012/TT-BYT
38 Điều 10 Luật An toàn thực phẩm năm 2010
Trang 38- Tùy từng loại thực phẩm, ngoài các điều kiện theo quy định như trên, thực phẩm còn phải đáp ứng một hoặc một số quy định về: Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Bao gói và ghi nhãn thực phẩm; Bảo quản thực phẩm
1.2.4.3 Xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Có thể thấy rằng, thực trạng vi phạm những quy định về VSATTP hiện nay đang ở mức báo động Để giải quyết về vấn đề này thì các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đã kết hợp với nhau tiến hành điều tra, xử phạt hành chính hay hình sự tùy thuộc mức độ hành vi vi phạm của các chủ thể, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật dân sự Việc áp dụng chế tài hành chính hay hình sự đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm không trực tiếp khôi phục quyền lợi của NTD, tuy nhiên sẽ góp phần mang lại công bằng xã hội với bản thân người bị vi phạm.39 Đồng thời, việc
xử lý nghiêm khắc còn có ý nghĩa trong việc răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực VSATTP
Về chế tài hành chính
Hiện nay, việc xử lý những vi phạm về VSATTP được áp dụng theo quy định chung của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và những quy định cụ thể về từng hành vi vi phạm theo Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm được ban hành và có hiệu lực từ ngày 31/12/2013
Về đối tượng áp dụng: Cá nhân, tổ chức Việt Nam; Cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm trên lãnh thổ Việt Nam; Người có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan.40
39 Phạm Văn Hào (2017), “Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh
vực an toàn thực phẩm”, tạp chí Luật học số 5/2017.
40 Điều 2 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP
Trang 39Về những hành vi vi phạm: Theo quy định tại khoản 2, Điều 1 Nghị định số
Về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả: Đối với mỗi hành vi vi
phạm hành chính về an toàn thực phẩm, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính được thực hiện theo đúng quy định về xử phạt hành chính của pháp luật Và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
- Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm
có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Ngoài hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:41
41 Điều 3 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP.
Trang 40- Buộc thực hiện kiểm tra vệ sinh thú y đối với sản phẩm động vật trên cạn chưa qua kiểm tra vệ sinh thú y trước khi sản xuất, chế biến thực phẩm;
- Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng hàng hóa vi phạm;
- Buộc hủy bỏ kết quả kiểm nghiệm được thực hiện từ mẫu thực phẩm bị đánh tráo hoặc giả mạo hoặc phiếu kết quả kiểm nghiệm được cấp sai quy định;
- Buộc tiêu hủy giấy tờ giả;
- Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm trong trường hợp xảy ra ngộ độc thực phẩm
Xử phạt hành chính về vi phạm liên quan đến VSATTP được quy định tương đối đầy đủ, chế tài xử phạt rõ ràng, minh bạch, góp phần quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương duy trì và bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Trong thời gian qua, việc triển khai thi hành những quy định liên quan đến xử phạt hành chính về VSATTP đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, góp phần đưa Luật an toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật an toàn thực phẩm đi vào cuộc sống Trong năm 2017, cả nước đã thành lập 22.441 đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành, tiến hành kiểm tra tại 625.060 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, phát hiện 123.914 cơ sở vi phạm, chiếm 19,8% Trong đó, xử lý hành chính 35.759 cơ sở với số tiền trên 61 tỷ đồng Các doanh nghiệp vi phạm các quy định chủ yếu về quảng cáo sản phẩm, không duy trì kiểm nghiệm định kỳ hay không đảm bảo điều kiện sản xuất thực phẩm.42
Về chế tài hình sự
42 An Nhi, Năm 2017, phát hiện 123.914 cơ sở vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm http://tapchitaichinh.vn/ tai-chinh-phap-luat/phap-luat-kinh-doanh/nam-2017-phat-hien-123914-co-so-vi-pham-ve-sinh-an-toan-thuc- pham-130265.html , (truy cập ngày 15/12/2017).