1. Mở đầu: Mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế xã hội đều cần đến các nguồn lực gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, con người… Trong đó nguồn lực con người là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định nhất. Do đó, việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển, là hướng ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ chính sách kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước ta khi chuyển sang giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa. Chúng ta đang xây dựng một đất nước có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại. Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định phải lấy con người làm nhân tố đột phá cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt, là việc đào tạo, nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động. Một trong các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm, giai đoạn 2016 2020 thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”. Do đó, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nguồn lực lao động trong sự phát triển kinh tế, em lựa chọn chủ đề “Nguồn lực lao động trong phát triển kinh tế ở nước ta làm bài thu hoạch kết thúc môn Kinh tế phát triển, chương trình Hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp lý luận chính trị.
Trang 11 Mở đầu:
Mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế - xã hội đều cần đến các nguồn lực gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong đó nguồn lực con người là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định nhất Do
đó, việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển, là hướng ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ chính sách kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta khi chuyển sang giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa
Chúng ta đang xây dựng một đất nước có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định phải lấy con người làm nhân tố đột phá cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đặc biệt, là việc đào tạo, nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động Một trong các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm, giai đoạn 2016
-2020 thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”
Do đó, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nguồn lực lao
động trong sự phát triển kinh tế, em lựa chọn chủ đề “Nguồn lực lao động trong phát triển kinh tế ở nước ta" làm bài thu hoạch kết thúc môn Kinh tế
phát triển, chương trình Hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp lý luận chính trị
Trang 22 Nội dung:
2.1 Một số vấn đề chung về nguồn lực lao động
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
* Khái niệm về nguồn lực phát triển:
Nguồn lực là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực phát triển do các tác giả trình bày dưới các cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản chúng đều thống nhất
ở những điểm sau:
- Nguồn lực phát triển là tổng thể các yếu tố kinh tế, phi kinh tế cả trong nước và nước ngoài đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, cải biến
xã hội theo hướng tiến bộ của một quốc gia
- Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia, nguồn nhân lực và các yếu tố phi vật thể khác, bao gồm cả trong nước và nước ngoài có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững
* Khái niệm nguồn lực lao động:
Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho xã hội Nguồn lực lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đổi lao động -việc làm trong xã hội
Nguồn lực lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Nguồn lực lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng
Nguồn lực lao động xét về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở
lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng
Trang 3đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác Như vậy nguồn lực lao động bao gồm: Đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc; Những người trong tuổi lao động nhưng: thất nghiệp, đi học, làm công việc nội trợ chính trong gia đình, và những người không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tình trạng khác (nghỉ hưu trước tuổi…)
Nguồn lực lao động xét về mặt chất lượng: được đánh giá ở trình độ
chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động
2.1.2 Vai trò của nguồn lực lao động với phát triển kinh tế
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của nguồn lực lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả khi khoa học, công nghệ phát triển cao, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Hơn nữa, nguồn lực lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế Có thể nhấn mạnh vai trò của nguồn lực lao động ở những khía cạnh chủ yếu sau:
Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lực lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và lòng nhiệt tình thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên Thậm chí, thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác Trong nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức, nguồn lực lao động chất lượng cao là nhân tố quyết định
Nguồn lực lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào” trong quá trình sản xuất Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao động trong hàng hóa, dịch vụ Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế
Hơn nữa, là bộ phận của dân số, nguồn lực lao động tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ xã hội Như vậy, với tư cách là bộ phận của dân số
Trang 4thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lực lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế Nguồn lực lao động vừa có nhu cầu tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao và phong phú, vừa là chủ thể sáng tạo công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế để thỏa mãn các nhu cầu đó
Bên cạnh việc nhận thức vai trò của nguồn lực lao động với phát triển kinh tế, cần thấy rõ ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế đối với nguồn lực lao động Lượng của cải vật chất do nền kinh tế tạo ra là cơ sở để phát triển nguồn lực lao động Một quốc gia có năng suất lao động cao, của cải nhiều, ngân sách dồi dào sữ có những điều kiện về vật chất, tài chính để nâng cao mức dinh duỡng, phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động Mặt khác, việc phát triển kinh tế sẽ làm xuất hiện những ngành nghề mới, những công nghệ mới, cách quản lý mới Điều đó đòi hỏi nguồn lực lao động phải tự hoàn thiện, phát triển để làm chủ quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, nền kinh tế càng phát triển cao thì nguồn lực lao động càng phải nâng cao chất lượng và buộc người lao động tự hoàn thiện mình Mỗi bước phát triển của nền kinh tế sẽ tạo khả năng tốt hơn cho phát triển nguồn lực lao động, đồng thời cũng đòi hỏi mức độ cao hơn của nguồn lực lao động trong việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ chức và vận hành kinh tế
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lực lao động
* Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn lực lao động:
Dân số: Thông thường một quốc gia có quy mô dân số lớn thì số lượng nguồn lực lao động lớn và ngược lại Nếu tốc độ tăng trưởng dân số cao thì tương lai nguồn lực lao động sẽ được bổ sung lớn Một số quốc gia có cơ cấu dân số già sẽ thiếu hụt nguồn lực lao động, còn một số quốc gia có cơ cấu dân
số trẻ thì dư thừa lao động
Quy định về độ tuổi lao động: Nếu quy định tuổi bước vào độ tuổi lao động sớm và tuổi bước ra độ tuổi lao động muộn thì nguồn lực lao động sẽ
Trang 5đông lên Còn nếu quy định tuổi bước vào tuổi lao động muộn và tuổi bước ra sớm thì nguồn lực lao động sẽ bị thu hẹp lại
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động không tham gia hoạt động kinh tế: Nếu tỷ lệ này tăng thì số lượng nguồn lực lao động sẽ giảm và ngược lại, nếu
tỷ lệ này giảm thì số lượng nguồn lực lao động sẽ tăng lên
Các nhân tố khác như: chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh cũng ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng lớn đến số lượng nguồn lực lao động của một quốc gia, một vùng lãnh thổ
* Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động:
Chất lượng nguồn lực lao động là khả năng lao động của người lao động Chất lượng nguồn lực lao động chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố Có thể phân thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động như sau:
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thể chất của nguồn lực lao động như: Di truyền, chất lượng cuộc sống của phụ nữ, chăm sóc y tế, mức sống vật chất và
cơ cấu dinh dưỡng; các điều kiện về môi trường sống, nhà ở, môi trường lao động, thể dục thể thao
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn phổ thông, trình độ nghề nghiệp của nguồn lực lao động như sau: Giáo dục, đào tạo, cơ chế chính sách,
cơ chế quản lý kinh tế - xã hội Nhiều quốc gia đạt được những thành tựu khá
quan trọng phát triển kinh tế là nhờ có đóng góp to lớn của sự nghiệp giáo dục, đào tạo và coi giáo dục, đào tạo là quốc sách
* Các nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động: Cung lao động trên thị trường chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Trước hết là, quy mô dân số và tốc
độ tăng dân số Thông thường khi quy mô dân số lớn thì cung lao động sẽ cao
và tốc độ tăng dân số cao thì trong tương lai lực lượng lao động sẽ được bổ
sung lớn Hai là, tỷ lệ dân số tham gia hoạt động kinh tế Ba là, y tế chăm sóc
Trang 6sức khỏe cộng đồng Yếu tố này ảnh hưởng đến cả số lượng và chất lượng
cung lao động trên thị trường Bốn là, giáo dục và đào tạo Yếu tố này không
chỉ ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng mà còn ảnh hưởng đến cả cơ cấu lao
động trên thị trường Năm là, các nhân tố khác như cải cách hành chính, cải
cách các doanh nhiệp nhà nước
* Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động: Cũng như cung lao động,
cầu lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Quy mô đầu tư và hình thức đầu tư theo nghành, vùng lãnh thổi có ảnh hưởng trực tiếp đến cầu lao động Khi quy mô đầu tư lớn và công nghệ thay đổi thì cầu lao động sẽ tăng hoặc khi tăng đầu tư cho các ngành sử dụng công nghệ cao thì cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật tăng và cầu lao động phổ thông sẽ giảm Cầu lao động còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố tiền công, tiền lương hoặc chính sách việc làm của chính phủ Khi tiền công, tiền lương cao thì cầu lao động sẽ giảm và khi chính phủ quan tâm đến tạo việc làm cho người lao động thì cầu lao động sẽ tăng Ngoài ra, cầu lao động còn chịu ảnh hưởng gián tiếp của các yếu tố như thuế, lãi suất, khuynh hướng tiêu dùng của dân cư Khi thuế và lãi suất cao thì đầu tư giảm và do đó cầu lao động sẽ giảm Khi dân cư có khuynh hướng tiêu dùng hàng công nghệ cao thì cầu lao động phổ thông sẽ giảm
2.2 Một số nét cơ bản về nguồn lực lao động ở nước ta
Hiện nay, Việt Nam là một nước có lợi thế và tiềm năng về nguồn lao động với dân số khoảng trên 94 triệu người Nước ta đang tiếp tục được hưởng lợi từ thời kỳ "dân số vàng" Tốc độ tăng dân số giảm dần, từ 1,16% trong năm 2002 xuống 1,03% trong năm 2012 Bên cạnh đó, lực lượng lao động tăng nhanh hơn, góp phần làm cho nguồn cung lao động dồi dào, với tỷ
lệ tăng trung bình 2,6%/năm, tương đương với 1.200.000 lao động/năm Đây
là con số “mơ ước” để thúc đẩy lực lượng lao động phát triển và là nền tảng cho phát triển kinh tế trong tương lai Cụ thể số người trong độ tuổi lao động
đã tăng từ 34.394.000 người (năm 1999) lên 53.098.000 người (năm 2012)
Trang 7Điều đáng quan tâm nhất là tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn Đây là địa bàn chiến lược trong phân bổ nguồn lực lao động Trong khi đó, sự phát triển của công nghiệp trong thời gian vừa qua không thu hút thêm đáng kể lao động, tỷ trọng dân số và lao động thành thị không tăng nhiều trong những năm qua Phần lớn lao động ở nông thôn không có tay nghề ra thành phố chỉ làm công việc đòi hỏi trình độ lao động giản đơn, có tính thời vụ Lao động làm nông nghiệp đã có xu hướng giảm để chuyển sang làm ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tính trung bình khoảng 6,8%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 0,6% Có thể nói, tiến trình chuyển dịch cơ cấu lao động này là một bước tiến bộ trong phân bổ nguồn lực lao động xã hội gắn với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế là hướng rất quan trọng trong phân bổ nguồn lực lao động để khai thác tiềm năng các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau 30 năm đổi mới, kinh tế nhà nước là khu vực thâm dụng vốn nhiều nhất trong nền kinh tế, nhưng lại tạo được ít việc làm hơn khu vực ngoài quốc doanh Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở khu vực nhà nước năm
2012 chiếm 10,4% tổng lực lượng lao động; khu vực ngoài nhà nước chiếm 86,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%
Điều đáng lưu ý là, số người trong độ tuổi lao động đông không đồng nghĩa với việc thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Bởi, số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế Năm 2012, lao động có trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá thấp với tỷ lệ tương ứng
là 2,56%, 1,61% và 3,61% Tỷ lệ này cho thấy lao động qua đào tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Như vậy, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động đang cùng tồn tại trong nền kinh tế
Trang 8Ở thành thị, lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông thôn chỉ có 9% Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của nước Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn đến thành thị tìm việc làm rất lớn Nhưng, mục đích chính của những lao động này lên thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi trình độ, tay nghề
Do chất lượng lao động không cao, cộng với sự khó khăn của nền kinh tế, nên số người thất nghiệp đang gia tăng Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01/10/2012, cả nước có 984.000 người thất nghiệp và 1.369.000 người thiếu việc làm Trong đó, người thiếu việc làm ở nông thôn là 1.144.000 người cao hơn số người thiếu việc làm tại thành thị rất nhiều (225.000 người)
Số người thất nghiệp ở khu vực thành thị là 496.000, khu vực nông thôn là 488.000 người Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35% Tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm
2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012
Hơn nữa, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nguồn lực lao động được phân bố giữa thành thị và nông thôn đang diễn ra theo hướng dân
số và lao động ở khu vực thành thị tăng lên Đây là một thực trạng của đa số các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang gây sức ép rất lớn về mức gia tăng dân số cơ học, trong khi kết cấu hạ tầng, như: đường sá, cầu cống, nhà ở chưa đáp ứng được nhu cầu, gây ra tình trạng ùn tắc giao thông và nảy sinh nhiều vấn đề tệ nạn xã hội khác
2.3 Một số giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn lực lao động trong phát triển kinh tế ở nước ta
Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế, luật pháp đảm bảo cho sự phân phối bình đẳng và hợp lý nguồn lực lao động Cần phải hoàn thiện khung
Trang 9pháp lý cho vận hành của thị trường lao động hoạt động hiệu quả Điều này sẽ thúc đẩy phân bố và sử dụng nguồn lực lao động; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế một cách hợp lý
và hiệu quả Đảm bảo cho người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm, đồng thời các doanh nghiệp được tự do tuyển chọn người lao động khi có nhu cầu, cũng như việc tiết giảm nhân công khi không có nhu cầu
Thứ hai, về tổ chức quản lý và sử dụng nguồn lực lao động Phải xây
dựng được cơ chế quản lý và sử dụng sao cho người lao động có động lực yên tâm công tác, phấn đấu vươn lên hoàn thiện bản thân Cụ thể, phải xây dựng tốt các chính sách sau:
Chính sách trọng dụng nhân tài là một chính sách rất cơ bản Nhân tài chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong dân cư của các quốc gia - vào khoảng 2-3% Nếu
số nhân tài nhỏ bé này không được trọng dụng, thì sẽ không có nhân tài quản lý
sử dụng đông đảo những người lao động còn lại Điều đáng nói là, chính sách nhân tài phải có tính cạnh tranh cao với các quốc gia khác về các mặt đãi ngộ, điều kiện làm việc, giao những trọng trách xứng với tài năng… Thị trường nhân tài là thị trường hiện đang được quốc tế hóa mạnh nhất, do vậy quốc gia nào có cơ chế chính sách tốt sẽ thu hút được nhân tài và ngược lại
Chính sách lương bổng cũng cần được chú ý Nói chung, hầu hết các nước phát triển đều có mức lương tương đương nhau đối với các nhân tài Trong khi tại Việt Nam, những chính sách này không được chú trọng Chính
vì thế, tình trạng chảy máu chất xám là khá phổ biến Ngay cả việc thu hút nhân tài, cụ thể là các thủ khoa tình nguyện về cống hiến cho Hà Nội cũng cho thấy nhiều điểm không rõ ràng Trong 9 năm (2004 - 2012), Hà Nội đã tuyên dương 973 thủ khoa, nhưng chỉ có 100 thủ khoa về công tác tại các cơ quan của Hà Nội, và cũng chưa có xác minh trong 100 người này còn bao nhiêu vẫn còn đang làm việc tại Hà Nội
Trang 10Thứ ba, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng hiện đại và cạnh tranh quốc tế Theo đó, cần xây dựng các trung tâm đại học ở các vùng, thay vì phân
tán ở các tỉnh Bộ Giáo dục và Đào tạo phải trực tiếp quản lý các trung tâm đại học cấp vùng, chứ không phải giao cho các tỉnh quản lý như hiện nay Cùng với
đó, chương trình và giáo trình phải hiện đại, cập nhật, liên kết, liên thông với thế giới; Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy trí sáng tạo tự chủ của học sinh, thay cho cách học nhồi nhét tri thức; Khuyến khích các trường đại học đẳng cấp quốc tế trong Top 200 đặt chi nhánh tại Việt Nam; Các trường phổ thông đổi mới theo hướng gắn nhiều hơn với giáo dục nghề
Thứ tư, phải có chính sách thu hút người tài về nông thôn để phát triển nông thôn, nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa Hiện nay, nhiều địa
phương đã có chính sách này với các hình thức đãi ngộ bằng tiền, bằng hiện vật Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là sau những rầm rộ với bản thành tích dài dặc vì đã chào đón, thu hút được bao nhiêu người tài về địa phương xây dựng nông thôn, thì sự việc lại rơi vào quên lãng Bởi, các địa phương sau khi thu hút người tài về không biết sắp xếp công việc ra sao? Hoặc bản thân những người được thu hút về “chán nản bỏ đi” sau một thời gian ngắn sống và làm việc trong không khí bon chen, xét nét và bị cô lập Nguyên nhân là do họ không được quyền chủ động, không thể được đứng ngay ở vị trí cao, mà dưới quyền người “kém hơn mình một cái đầu”, thì mọi sự sáng tạo cũng không thể được chào đón
Thứ năm, tăng cường các biện pháp thực thi những quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tạo động lực cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, sáng
tác phát huy tinh thần sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ cho đất nước Đảm bảo chế độ chính sách cho lao động trí tuệ được hưởng xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra