Nghiên cứu, đổi mới và tìm kiếm các giải pháp phòng, chống tham nhũng hiệu quả hơn đang là nhiệm vụ chính trị cấp bách của Đảng, Nhà nước và xã hội ta hiện nay. Trong nỗ lực tìm ra các biện pháp mới, trở lại quá khứ để kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm về đấu tranh với nạn tham nhũng là một việc làm thiết thực. Bởi lẽ, nhìn lại lịch sử, suốt chiều dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta đã sớm nhận biết được nguy cơ này và có những “phương thuốc đặc trị” với “căn bệnh” tham nhũng.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
KINH NGHIỆM PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THỜI PHONG KIẾN
VÀ VẬN DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
Tiểu luận môn học CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội, tháng 9/2015
Trang 21
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 THAM NHŨNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN 3
1.1 Tham nhũng, các đặc điểm và nguyên nhân của tham nhũng 3
1.1.1 Khái niệm “tham nhũng” 3
1.1.2 Đặc điểm của hành vi tham nhũng 4
1.1.3 Các hành vi tham nhũng 5
1.1.4 Nguyên nhân của tham nhũng 6
1.2 Thực trạng tham nhũng trong xã hội phong kiến Việt Nam 8
1.2.1 Nguyên nhân, điều kiện của tham nhũng thời phong kiến 8
1.2.2 Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam thời phong kiến 10
2 NHỮNG GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THỜI PHONG KIẾN 12 2.1 Giáo dục đạo đức quan lại theo tư tưởng Nho giáo 13
2.2 Cải cách bộ máy chính quyền phong kiến 14
2.3 Ngăn “tư tưởng cục bộ” và “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ 16
2.4 Thực hiện chế độ lương bổng và đãi ngộ hợp lý 18
2.5 Xây dựng chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ 19
2.6 Chịu trách nhiệm về người mình tiến cử 21
2.7 Nghiêm trị tội phạm tham nhũng 21
2.8 Đề cao quan lại liêm khiết 24
3 VẬN DỤNG KINH NGHIỆM XƯA TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY 24
3.1 Giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên 25
3.2 Cải cách bộ máy và đơn giản hóa thủ tục hành chính 25
3.3 Làm tốt việc đánh giá, tuyển chọn và bố trí cán bộ 26
3.4 Đấu tranh ngăn chặn “lợi ích nhóm” 27
3.5 Cải thiện đời sống cán bộ, công chức 27
3.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 28
3.7 Phát huy vai trò tích cực của nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng 29
3.8 Chế định trách nhiệm người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng 29
3.9 Xét xử nghiêm minh, công khai các vụ án tham nhũng 30
KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 32
MỞ ĐẦU
Tham nhũng là một hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu, xuất hiện từ khá sớm trong xã hội loài người, khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành các tập đoàn quyền lực Ở nước ta hiện nay, tham nhũng được xác định là một trong bốn nguy cơ thách thức sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đánh giá của những nhà quan sát nước ngoài về mức độ tham nhũng của Việt Nam trong những năm gần đây cũng luôn cho thấy tình trạng báo động Chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam theo xếp hạng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) luôn luôn ở thứ hạng đội sổ trong khu vực và gần như không hề được cải thiện trong những năm trở lại đây (năm 2014, Việt Nam xếp thứ 119/175 thế giới với số điểm không đổi trong 3 năm) Rõ ràng, tham nhũng đã, đang và sẽ cản trở những
nỗ lực đổi mới, tác động tiêu cực đến phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá, làm xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng
và Nhà nước, đe doạ sự tồn vong của dân tộc
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, các biện pháp đấu tranh với tham nhũng của Việt Nam đã đến lúc cần được xem xét lại một cách nghiêm túc Các biện pháp mang tính thể chế và chế tài tích cực tưởng như hiệu quả song vẫn chưa đẩy lùi được tình trạng tham nhũng, trong khi đó, các biện pháp mang tính giáo dục dường như không phát huy được hiệu quả Do vậy, nghiên cứu, đổi mới và tìm kiếm các giải pháp phòng, chống tham nhũng hiệu quả hơn đang là nhiệm
vụ chính trị cấp bách của Đảng, Nhà nướ và xã hội ta hiện nay
Trong nỗ lực tìm ra các biện pháp mới, trở lại quá khứ để kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm về đấu tranh với nạn tham nhũng là một việc làm thiết thực Bởi lẽ, nhìn lại lịch sử, suốt chiều dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta đã sớm nhận biết được nguy cơ này và có những “phương thuốc đặc trị” với “căn bệnh” tham nhũng Vì lý do
đó, tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng thời phong kiến và
vận dụng trong điều kiện hiện nay” cho bài nghiên cứu của môn Chính trị học
Trang 43
1 THAM NHŨNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN 1.1 Tham nhũng, các đặc điểm và nguyên nhân của tham nhũng
1.1.1 Khái niệm “tham nhũng”
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp
và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước Tệ nạn tham nhũng diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế như thế nào; tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hoá, nó tồn tại và phát triển thường xuyên và xảy
ra mọi mặt của đời sống xã hội Tham nhũng là một căn bệnh nguy hiểm, gây ra những hậu quả hết sức nguy hại về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của xã hội
Khái niệm tham nhũng gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước Về mặt lý luận, không thể có tệ tham nhũng ngoài nhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị Tham nhũng là căn bệnh đồng hành đặc trưng của mọi nhà nước, là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là biểu hiện của sự “tha hoá quyền lực của nhà nước”, là căn bệnh không thể tránh khỏi của các chế độ Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề tham nhũng, hiện nay chưa có sự thống nhất về định nghĩa
Theo Ngân hàng Thế Giới (World Bank), tham nhũng là sự “lạm dụng
quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân” Tổ chức Minh bạch Quốc tế
(Transparency International) cho rằng, tham nhũng là hành vi “của người lạm
dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân”
Theo Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng
ấn hành năm 2000) thì “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân
Trang 54
Xuất phát từ câu nói nổi tiếng của giáo sư sử học của trường Cambridge
(Anh) Lord Acton “Quyền lực thường tha hóa, và quyền lực tuyệt đối sẽ tha
hóa một cách tuyệt đối”, còn tham nhũng là một biểu hiện quan trọng và dễ thấy
của sự tha hóa quyền lực, chúng tôi định nghĩa “tham nhũng là hành động lợi
dụng quyền lực (cả công quyền và tư quyền) với mục đích trục lợi cho cá nhân
1.1.2 Đặc điểm của hành vi tham nhũng
Nghiên cứu những quy định của pháp luật về hành vi tham nhũng và tội phạm tham nhũng cũng như từ thực tiễn của cuộc sống đấu tranh chống tham nhũng, chúng ta thấy tham nhũng có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Tham nhũng phải là hành vi của những người có chức vụ quyền hạn
Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
và theo quy định tại Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 thì “Tham
nhũng là hành vi… lợi dụng chức vụ, quyền hạn….” Điều này cho thấy chủ thể
của hành vi tham nhũng phải là những người có chức vụ, quyền hạn Chức vụ, quyền hạn phải gắn với quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực và các cơ quan khác nhau như cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế nhà nước hoặc lực lượng vũ trang từ trung ương đến địa phương
Trang 65
- Khi thực hiện hành vi tham nhũng thì người có chức vụ, quyền hạn đã
có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vi phạm pháp luật
Không phải khi nào người có chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật cũng
do lợi dụng chức vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn có thể có hành vi
vi phạm pháp luật thông thường nhưng không phải trên cơ sở lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thì hành vi đó cũng không phải là tham nhũng Chẳng hạn, một cán bộ, công chức đã có hành vi trộm cắp tài sản riêng của một người hàng xóm hay của một công dân nào đó Giữa hành vi trộm cắp và chức vụ, quyền hạn của người đó không có mối liên hệ gì với nhau
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không nhất thiết là hành vi vi phạm do họ thực hiện liên quan trực tiếp đến chức
vụ, quyền hạn đó mà có thể bao gồm cả việc lợi dụng ảnh hưởng của chức vụ quyền hạn hay vị trí công tác để thực hiện Chẳng hạn, một công chức chính quyền lợi dụng uy tín, danh nghĩa của mình để vay tiền ngân hàng sau đó biển thủ không chịu hoàn trả
- Hành vi tham nhũng phải có động cơ vụ lợi, nhằm “thu lợi bất chính”
Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà pháp luật trao cho mình để mang lại những lợi ích có tính chất cá nhân Tức là người
có chức vụ, quyền hạn đã hành động không phải xuất phát từ nhu cầu của công việc và trách nhiệm của mình mà vì những lợi ích của riêng mình, chẳng hạn như sẽ nhận được một số tiền hoặc tài sản, thậm chí có thể một lợi ích phi vật chất nào đó, hay hối lộ để được bổ nhiệm hay xếp đặt vào một vị trí công tác thuận lợi hơn Mục đích vụ lợi còn có thể được hiểu là có thể người có chức vụ, quyền hạn đã dùng ảnh hưởng của mình để mang lại lợi ích cho vợ con hay người thân thích của mình
1.1.3 Các hành vi tham nhũng
Bộ luật hình sự và Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã phân loại
tham nhũng theo hành vi Theo đó, 12 hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:
Trang 76
+ Tham ô tài sản;
+ Nhận hối lộ;
+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì
vụ lợi;
+ Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; + Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;
+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì
vụ lợi;
+ Nhũng nhiễu vì vụ lợi;
+ Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi
Thời kì phong kiến chưa có một khái niệm đầy đủ về tham nhũng Tuy nhiên, thông qua các tư liệu lịch sử, có thể nêu lên các hành vi, dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng thời kì này
Quốc triều hình luật thời Lê đã xác định hành vi tham nhũng bao gồm:
+ Tự tiện sai khiến dân đinh;
+ Khai lậu hộ khẩu
Trang 87
Trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn cũng nêu lên nhiều hành vi tương
tự, đặc biệt còn có một quyển riêng mô tả 9 hành vi nhận hối lộ bị coi là tội phạm như: quan lại nhận của, tiền; nhận của, tiền sau khi xong việc; quan lại hứa nhận của, tiền; quan lại sách nhiễu vay mượn tiền của của dân; quan lại cho người nhà sách nhiễu tiền của; nhân việc công bắt dân đóng góp
1.1.4 Nguyên nhân của tham nhũng
Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng Năm 2014, Việt Nam vẫn là một trong những nước có điểm số thấp (31/100) và vẫn đứng ở phía cuối bảng xếp hạng, thứ 119 trên tổng số 175 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia xếp hạng Vì sao tình trạng tham nhũng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp?
Có rất nhiều nguyên nhân và điều kiện lý giải về tình trạng đó
- Đầu tiên, nguyên nhân của tham nhũng chủ yếu từ lòng tham, thói hám lợi, vị kỉ của con người Đây là nguyên nhân quan trọng nhất, chủ yếu nhất
khiến con người nảy sinh ý muốn chiếm đoạt của công thành của riêng hay thực hiện các hành vi trái luật để mưu cầu tư lợi Còn điều kiện của tham nhũng là các nhân tố thúc đẩy cho lòng tham của con người biến thành các hành vi chiếm đoạt tài sản của nhà nước, của nhân dân Lòng tham luôn tiềm ẩn bên trong mỗi con người Nhưng để lòng tham đó biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi tham nhũng cần phải có rất nhiều điều kiện như luật pháp có nhiều sơ hở, thiếu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan quyền lực nhà nước, sự trừng phạt thiếu nghiêm minh, triệt để Điều đó lí giải vì sao các quốc gia có các mức
độ tham nhũng khác nhau, tuỳ thuộc vào việc thể chế nhà nước và pháp luật của quốc gia đó tạo điều kiện nhiều hay ít cho tham nhũng có thể xảy ra
- Từ góc độ chính trị, điều kiện thực hiện tham nhũng là việc tổ chức và
sử dụng sai lệch quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước Từ đó, tự giác hay không tự giác tạo ra các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, nhược quyền Vì vậy, trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước, chủ thể tham nhũng thường sử dụng các lợi thế về chức vụ để vụ lợi Mặt khác, do thiếu quyền lực từ phía các
Trang 98
cơ quan nhà nước không có lợi thế, cơ quan cấp dưới thiếu hay không có khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước nên họ rơi vào trạng thái phải hối lộ để thực hiện các mục tiêu của mình
- Từ góc độ pháp lý, tham nhũng sở dĩ có thể thực hiện một cách dễ dàng
được xác định là do thiếu vắng các quy phạm pháp luật trong việc điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức nhà nước; pháp luật có nhiều sơ hở hoặc xử lý nương nhẹ cho các hành vi tham nhũng
- Từ góc độ kinh tế, tham nhũng xảy ra trong mọi nền kinh tế, đặc biệt là
các nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Đây là giai đoạn mà cơ sở pháp lý của nền kinh tế còn yếu kém, quản lý kinh tế của nhà nước còn nhiều sơ hở, các thể chế kinh tế còn chưa hoàn thiện, tạo kẽ hở cho tham nhũng kinh tế phát triển
1.2 Thực trạng tham nhũng trong xã hội phong kiến Việt Nam
1.2.1 Nguyên nhân, điều kiện của tham nhũng thời phong kiến
Ngoài những nguyên nhân và điều kiện chung như đã nêu ở trên, thời phong kiến ở Việt Nam còn có những điều kiện riêng, đặc thù về lịch sử, kinh
tế, văn hóa, xã hội làm phát sinh tham nhũng
- Điều kiện chính trị: Tham nhũng nảy sinh từ cách thức tổ chức bộ máy
nhà nước phong kiến theo hướng tập quyền, chuyên chế, quan liêu với những đặc điểm là:
+ Đồ sộ hơn mức cần thiết;
+ Bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp hơn nhu cầu quản lý; + Đội ngũ quan lại ngày càng đông hơn nhu cầu thực tế;
+ Chi phí cho nhà nước ngày càng tăng cao hơn mức cần thiết
Đây là bốn điều kiện sống còn của nhà nước bóc lột chuyên chế, quan liêu Bởi vì, chỉ nhờ vào các yếu tố này nhà nước mới tự nuôi sống nó bằng các phương thức vơ vét, bóc lột nhân dân và tham nhũng chỉ là một loại hành vi của quá trình tự nuôi sống của nhà nước quan liêu, chuyên chế
Trang 109
Bộ máy quan liêu, chuyên chế đã tạo cho quan chức có quyền lực quá lớn còn nhân dân nhược quyền thậm chí vô quyền, do đó gây nên tình trạng mất dân chủ, là cơ sở cho tham nhũng phát sinh và phát triển Vua quan là những người thay trời trị vì dân, là cha mẹ dân, có trách nhiệm chăn dắt, dạy dỗ dân: “Miệng nhà quan có gang có thép.” Vì thế, mỗi hành vi thực hiện chức năng công quyền của quan lại đều được coi là ban ơn cho nhân dân Nhân dân bị bóc lột, bị tước quyền vẫn cảm thấy đội ơn vua quan - những người áp bức mình Trong tình hình như vậy, vua quan thỏa sức bóc lột nhân dân, nạn tham nhũng trở thành phổ biến, là hành vi thông thường của kẻ quan quyền Dân sợ quan nên quan càng có cơ hội để lạm dụng chức quyền thoả mãn lòng tham
Vì bộ máy nhà nước cồng kềnh, lượng quan lại đông đảo, nhà nước tuy
cố gắng đảm bảo chế độ lương bổng cho quan lại nhưng vẫn không đủ đáp ứng đời sống cho bộ máy thừa hành Xã hội phong kiến dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc, năng suất thấp và bấp bênh Nguồn thu nhà nước chủ yếu từ thuế nông nghiệp nên việc chi trả lương bổng cho quan lại cũng phụ thuộc vào tình hình kinh tế đất nước Lương của quan lại thấp là tiền đề tâm lí quan trọng làm nảy sinh lòng tham của con người để đáp ứng nhu cầu cuộc sống tối thiểu Tình trạng này càng phổ biến bởi việc phát hiện tham nhũng gặp khó khăn do quan lại bao che, bưng bít và quyền tố cáo của người dân bị hạn chế
- Điều kiện kinh tế: Nền kinh tế Việt Nam thời phong kiến tồn tại hai hình
thức chủ yếu là sở hữu công và sở hữu tư trong đó sở hữu công chiếm ưu thế Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, thuộc sở hữu nhà nước và chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía nhà nước Tuy nhiên, trong lịch sử luôn diễn ra khuynh hướng mở rộng ruộng đất tư, chủ yếu thông qua các hình thức tư hữu hoá từ chính sách ban cấp ruộng đất của nhà nước và tư hữu hoá ruộng đất công làng xã Việc biến công vi tư thực hiện rất dễ dàng đã tạo cơ hội sản sinh ra tham nhũng
- Điều kiện lịch sử: Kết cấu Nhà - Làng - Nước tạo nên thế ứng xử hòa
đồng giữa làng và nước, thừa nhận tự trị, tự quản làng xã, tư tưởng trọng lệ hơn trọng luật Đây là thời cơ của nạn cường hào khi nhà nước nới lỏng quản lý
Trang 1110
- Điều kiện văn hóa: Văn hóa ứng xử của người Việt trọng chữ “tình”,
mọi công việc đều dựa trên chữ “tình” để giải quyết nên đó là môi trường thuận lợi để quan lại bẻ cong pháp luật, lợi dụng để đục khoét của dân Người Việt cũng chuộng sự yên bình, nhàn nhã, tạo nên thái độ “dĩ hòa vi quý”, “sống chết mặc bay” khi có hiện tượng xung đột giữa quan và dân thường không muốn mọi chuyện to tát, phức tạp hơn nên quan lại có điều kiện mặc sức nhũng nhiễu, lộng hành Quan trên làm sai, dân thì tìm cách luồn lách pháp luật, dùng đồng tiền để cầu cạnh cũng là một trong những mảnh đất của tham nhũng Tục lệ quà cáp biếu xén khi đến cửa quan (“Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”) đã dần dần trở thành “tập quán, phong tục” trong xã hội lúc bấy giờ
1.2.2 Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam thời phong kiến
Trong lịch sử phong kiến nước ta, vấn đề tham nhũng đã được đặt ra từ khá sớm Bên cạnh những vị vua, quan thanh liêm, chính trực còn có không ít những người có tư tưởng tham ô, nhũng nhiễu
Nhà Lê sơ là một triều đại phát triển rực rỡ trong lịch sử phong kiến nước
ta nhưng cũng chính từ xã hội này nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, đặc biệt
là những hành vi tham nhũng Cao Sư Đăng, một thợ nề chùa Báo Thiên nói:
“Thiên tử không có đức, để đến nỗi hạn hán Đại thần ăn của đút, cử dụng kẻ vô công Năm 1435, thời vua Lê Thái Tông, vua ra lệnh chỉ cho các quan văn võ trong ngoài nói lên tình hình quan lại tham nhũng để khuyên răn tu chỉnh: “Nay các khanh không giữ phép công, người giữ sổ sách tiền bạc của cả nước thì chậm trễ hoặc gây khó dễ người coi dân thì chỉ vụ lợi riêng, không lo nuôi dưỡng dân, tha cho người giàu, bắt tội người nghèo, mua gỗ làm nhà cửa, xử kiện không công bằng, lo hối lộ, chỉ thích ăn uống nhậu nhẹt ” Khi Lê Thánh Tông lên ngôi vua, nhận xét về tình hình triều chính đã nói: “Khoảng năm Thái Hoà, Diên Ninh - thời Lê Thái Tổ, Lê Nhân Tông, trên thì tể tướng, dưới thì trăm quan mưu lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ” Tham nhũng đã thực sự trở thành quốc nạn thời Lê sơ
Trang 1211
Thời kì Lê - Trịnh, nhà nước bất lực với nạn cường hào ở nông thôn Với tập thói “phép vua thua lệ làng”, lợi dụng sự kiểm soát lỏng lẻo của chính quyền trung ương, bọn hào cường gian hoạt trong làng mạc, giảo quyệt đủ ngón, dối trá trăm khoanh, chúng lấy thế lực mà xử sự, dùng cách xâm chiếm để lợi mình, bóp nặn kẻ nghèo nàn, khinh rẻ người ngu tối, hơi có ai trái thì chúng vu oan giá họa Nhiều tư liệu địa phương cho thấy bộ máy lí dịch ở làng xã thường tự đặt
ra các mức thu tô cao hơn nhiều so với biểu thuế chính thức của nhà nước Chẳng hạn, theo biểu thuế năm 1728, các loại ruộng hậu thần, hậu Phật, tế điền,
kị điền nhà nước nhất loạt thu thuế 2 tiền/mẫu (0,2 quan/mẫu) nhưng ở các địa phương, người cày loại ruộng này phải nộp từ 2-3 quan/mẫu; thậm chí có khi thu đến 5-6 quan/mẫu
Tệ tham nhũng cũng xuất hiện tràn lan trong thi cử Việc đề thi bị lộ và thí sinh nhờ người thi hộ rất thường xuyên diễn ra Năm 1750, bất cứ người nào trả 3 quan tiền cũng đều được phép dự kì thi hương mà không phải trải qua khảo hạch
Tệ tham nhũng của quan chức cũng liên quan chặt chẽ tới việc bán quan chức Theo một sắc luật của Trịnh Giang năm 1736, mọi quan chức dưới hàng lục phẩm có thể được thăng lên một bậc nếu nộp 600 quan tiền; bất cứ người dân thường nào cũng có thể trở thành quan tri phủ nếu nộp 1.800 quan Việc bán quan chức gây nên những vấn đề nghiêm trọng về xã hội và chính trị bởi vì những người đã trả tiền mua chức chỉ muốn vơ vét nhiều hơn không bao giờ có
ý thức thi hành pháp luật
Triều Tây Sơn tồn tại ngắn ngủi, nhiều dự định cải cách bộ máy nhà nước không thể thực hiện nên hậu quả của nạn tham nhũng đối với xã hội vẫn còn rất đậm nét, tình trạng tham nhũng lan tràn, phổ biến từ thời Lê - Trịnh vẫn chưa giải quyết được
Đến triều Nguyễn, theo sử sách ghi lại, trong vòng 81 năm, từ 1802 đến
1884 đã có 207 vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý, trung bình là 2,5 vụ/năm (Đây cũng chỉ là con số thống kê tương đối dưới góc nhìn của các sử
Trang 13Dù số liệu thống kê chưa phản ánh hết thực trạng tham nhũng thời Nguyễn song những con số này phần nào cho thấy tham nhũng diễn ra dưới hầu hết các triều vua Nguyễn, trên tất cả các lĩnh vực, ở cấp trung ương lẫn địa phương với nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi, rất khó phát hiện Nó để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng Năm 1852, vua Tự Đức đã nêu lên quan ngại:
“Chưa có nơi nào quan lại xứng chức mà dân lại không yên; cũng chưa có nơi nào, quan tham ô, mà bọn lại dịch lại không nhũng tệ bao giờ Cho nên cây được xanh tốt là vì không có sâu đục; dân được phồn thịnh, do ở không có quan lại tham nhũng nhiều Nay dùng rìu búa mà đẵn chặt cây, lấy roi vọt mà làm khổ dân, tất đến nỗi cành cây tan nát mà gốc bật lên, dân điêu tàn mà gốc của nước lay động, rất đáng lo sợ”
Quan lại tham nhũng là thứ sâu mọt, nếu để tiếp tục phát triển sẽ làm mục ruỗng chế độ, gây nguy hại đến nền chính trị quốc gia Từ đây, sinh ra nạn giặc giã, nổi loạn thậm chí khi có nạn hỗ dữ, nạn sâu cắn lúa nhà vua cũng cho rằng
cơ sự tại quan lại tham tàn Xuất phát từ việc nhận định đúng đắn những nguy
cơ của tham nhũng với nhà nước, chế độ, xã hội mà các triều đình phong kiến
đã có thái độ và biện pháp kiên quyết bài trừ tham nhũng, bảo vệ vững chắc sự thống trị của vương triều
2 NHỮNG GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THỜI PHONG KIẾN
Hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn làm trái pháp luật mưu lợi cá nhân đã xuất hiện và tồn tại trong xã hội từ rất sớm Sự tha hoá, biến
Trang 1413
chất của cán bộ công chức bộ máy nhà nước, sự lạm quyền làm trái pháp luật phục vụ lợi ích cá nhân không chỉ là “tệ nạn” xã hội mà còn là “quốc nạn” đe doạ sự tồn vong, phát triển ổn định của mỗi quốc gia Việc ban hành và áp dụng các văn bản pháp luật đặc biệt là các văn bản pháp luật chuyên ngành trừng trị,
xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng được coi là công cụ hữu hiệu trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, nhà nước Việt Nam từ thời phong kiến đã rất quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống những hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ quyền hạn mưu lợi cá nhân gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân
2.1 Giáo dục đạo đức quan lại theo tư tưởng Nho giáo
Để phòng ngừa, ngăn chặn nạn tham nhũng thì trước tiên phải giáo dục
về đức liêm, chống lại sự tham lam, tư lợi của quan lại trong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương Đây là biện pháp phòng ngừa căn bản, quyết định, bởi lẽ cơ chế, chính sách hay hệ thống các quy định đều là những chủ thể kiểm soát bên ngoài đối với việc phòng chống tham nhũng; còn cơ chế kiểm soát bên trong lại chính là ý thức, sự giác ngộ và hiểu biết của bản thân mỗi quan chức
Nhìn lại lịch sử các triều đại phong kiến nước ta kể từ thời nhà Lý đến thời nhà Nguyễn, người làm quan đều được giáo dục theo học thuyết chính thống là Nho giáo Nho giáo dạy người làm quan với triết lý quân tử là “lo cái lo của thiên hạ, vui cái vui của thiên hạ”, coi “thiên hạ là của chung” và đề cao quan niệm “tu thân” Người làm quan trước hết tu được thân, tức là biết tự răn dạy và sửa lỗi của mình thì người đó mới tạo dựng được gia đình yên ấm, hưng thịnh; người làm quan đó mới vỗ yên được thiên hạ, nghĩa là làm cho dân chúng cảm phục, nghe theo Có thể nói, nội dung, cách thức giáo dục quan lại thời phong kiến đã góp phần chủ yếu hình thành đạo lý, chuẩn mực, trách nhiệm xã hội của người làm quan tương đối rõ ràng
Ví dụ, dưới thời Nguyễn, triều đình rất chú trọng việc giáo hóa đạo đức cho quan lại, thường xuyên dạy bảo về sự liêm khiết, trong sạch cho người gánh trọng trách với muôn dân Trong những tiêu chuẩn đạo đức căn bản để tuyển
Trang 1514
chọn nhân tài cho đất nước, yêu cầu về đức thanh liêm là một yếu tố quan trọng
và cần thiết Liêm là đầu sáu kế để xét quan lại (liêm thiện, liêm năng, liêm kính, liêm chính, liêm pháp, liêm biện) Kinh sách của Nho giáo răn dạy nhiều điều về đức liêm của người quân tử
Ngoài việc giáo dục đức thanh liêm cho người làm quan thì ngay cả người đứng đầu nhà nước cũng phải là tấm gương sáng Minh Mạng là một ông vua hết sức chú ý đến hành xử và lối sống của mình để khuyên răn quan lại Trong tiêu dùng cá nhân, ông luôn nhắc nhở không được lạm dụng của công bởi
đó là tiền bạc, công sức của dân “không phải thiên hạ đóng góp để cung phụng một người” Ông đã nói với Kiến An, người con cả sau này có thể nối nghiệp rằng: “Bổng lộc của ngươi là dầu mỡ của dân Ngươi nên nghĩ cách kiệm ước
để nối nghiệp nhà, cẩn thận chớ có xa xỉ mà làm hại đức tính”
2.2 Cải cách bộ máy chính quyền phong kiến
Thời phong kiến, không có sự phân biệt rạch ròi giữa 3 nhánh quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp, tư pháp Hoàng đế là người đứng đầu nhà nước, nắm trọn vẹn cả 3 loại quyền lực, các cơ quan nhà nước và quan lại chỉ là
bộ phận thừa hành và giúp việc cho nhà vua Ba quyền lực ấy là tập trung, thống nhất trong tay một cá nhân Bên cạnh đó, các bộ là cơ quan chấp hành, có quyền nhân danh hoàng đế áp dụng luật lệ hoặc thi hành mệnh lệnh của nhà vua nhưng
bộ còn có chức năng tư vấn, đề xuất kế hoạch các bộ luật Trên ý nghĩa này, bộ vừa là cơ quan hành pháp vừa có chức năng tham gia vào hoạt động lập pháp Hoạt động tư pháp thời phong kiến cũng không được tiến hành một cách độc lập Ở các địa phương, quyền tư pháp nằm trong các viên quan đứng đầu bộ máy hành pháp
Nhưng đến thời Gia Long, ý tưởng cải cách bộ máy hành chính đã được manh nha, và đến thời Minh Mạng, việc làm này đã được đẩy mạnh toàn diện
và thực thi một cách có hiệu quả Cuộc cải cách tập trung vào những nội dung chủ yếu như: củng cố hệ tinh thần Khổng giáo (Tống Nho); cải cách việc phân chia địa giới hành chính và các cấp bậc hành chính; cải cách bộ máy hành chính
từ trung ương đến địa phương
Trang 1615
Thông thường, khi đã nắm quyền lực trong tay, cá nhân sẽ lợi dụng các lợi thế về cấp bậc, chức vụ, vị trí thuận lợi trong hệ thống nhà nước vào những hành vi vụ lợi Mặt khác, do thiếu hoạt động kiểm soát việc sử dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước, của quan chức nên dễ dẫn đến tình trạng sử dụng sai quyền lực Do đó, cải cách hành chính của vua Minh Mạng đã giải quyết tương đối căn bản và triệt để vấn đề này, khiến cho pháp luật nhà nước được đảm bảo thực thi, duy trì và ổn định trật tự xã hội Những triều vua sau đó là Thiệu Trị và
Tự Đức đã tiếp tục áp dụng các biện pháp của ông cha, không ngừng hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Các biện pháp chủ yếu được Minh Mạng và các nhà vua triều Nguyễn sử dụng gồm:
- Một là, để ngăn chặn sự lạm quyền và tiếm quyền, nhà vua xóa bỏ các
chức quan và cơ quan có khả năng lấn át nhà vua, tập trung quyền lực cao độ trong tay Hoàng đế Triều Nguyễn đặt ra lệ “tứ bất” (tức là bốn điều không làm): không lập Tể tướng, không lập Hoàng hậu, không lập Thái tử, không lập Trạng nguyên; hạn chế phong tước hầu; quan đại thần được bổng lộc lớn nhưng không có thực quyền tránh nguy cơ đảo chính
- Hai là, quy định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan, không tập
trung quá nhiều quyền lực vào một cá nhân hay một cơ quan mà tản quyền cho các cơ quan khác nhau Ở những lĩnh vực dễ nảy sinh tham nhũng, nhà vua áp dụng rõ nét biện pháp này
- Ba là, tinh giản đội ngũ quan lại trên cơ sở đặc điểm, tính chất công việc
của từng cơ quan nhà nước, từng địa phương Đối với những địa phương, số nhân sự nhiều nhất của 1 tỉnh là 173 viên, còn tỉnh ít nhất chỉ có 17 viên phụ trách toàn bộ công việc trong tỉnh Điều đó cho thấy sự linh hoạt của nhà Nguyễn trong quản lý và phân bố nguồn nhân sự
- Bốn là, chú trọng công tác tổ chức bộ máy hành chính cấp địa phương
theo nguyên tắc: quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các quan địa phương, tránh chồng chéo công việc và hạn chế quyền lực của các cá nhân đứng đầu,