Tiểu luận - Tìm hiểu sự ảnh hưởng của triết học Phật giáo đối với xã hội Việt Nam. Đề cập đến 2 vấn đề: + Nguồn gốc ra đời và tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo + Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo đối với xã hội Việt Nam Tiểu luận cho lớp Cao học Ths Tài chính - Ngân hàng, có thể dùng cho các lớp cao học khác tương đương nhưng khác chuyên ngành (Quản lý Công, Luật, Quản trị kinh doanh,...)
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
Chương I: NGUỒN GỐC RA ĐỜI VÀ TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 3
1.1 Nguồn gốc lịch sử của Phật giáo 3
1.2 Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo 4
1.2.1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan 5
1.2.2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan 7
1.2.3 Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 13
Chương II: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM 17
2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng 17
2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo về đạo lí 18
2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo qua phong tục tập quán 18
- Ảnh hưởng qua tục ăn chay, phóng sanh, bố thí 18
- Ảnh hưởng qua tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa 19
- Ảnh hưởng Phật giáo qua nghi thức ma chay, cưới hỏi 20
- Các phong tục tập quán khác 20
2.4 Ảnh hưởng qua các loại hình văn hóa nghệ thuật 23
- Ảnh hưởng qua ca dao, thơ 23
- Thể hiện qua nghệ thuật sân khấu 23
2.5 Ảnh hưởng của Phật giáo tới thế hệ trẻ 24
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một nhu cầu của bộ phận văn hóa tinh thần của từng con người,của từng cộng đồng xã hội Trong đó Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáovới cái đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ Nó xuất hiện cuối thế kỉ 6 trướccông nguyên ở Ấn Độ Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo là đề cập đến việc
lý giải căn nguyên của nổi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nổi khổtriền miên đó
Phật giáo khởi thủy ở Ấn Độ truyền đi khắp các xứ lân cận Trước hết sangcác nước Trung Á rồi sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và các nước miềnNam Châu Á Việt Nam cũng thuộc trong phạm vi ảnh hưởng ấy Mỗi khi Phậtgiáo vào nước nào tùy theo phong tục mỗi nước mà có sự khác nhau Phật giáo ởmổi nước có một tinh thần và tính cách khác nhau như lịch sử nước ấy
Phật giáo đến với người Việt Nam từ rất lâu đời, vào khoảng nửa cuối thế kỉthứ I Do bản chất từ bi hỉ xả, đạo Phật đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng và bám
rễ vững chắc trên đất nước ta
Từ khi vào Việt Nam, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến dời sống tinh thần củangười Việt Nam Vì các triết lý Phật giáo xuất phát từ tâm tư và nguyện vọng củangười lao động nên số người theo Phật tăng nhanh Những ảnh hưởng của tư tưởngPhật giáo ăn sâu vào đời sống của đại đa số người dân Việt Nam không chỉ từtrong giai đoạn đầu của lịch sử dân tộc mà còn ngay cả cuộc sống ngày nay
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộphận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo
-lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cưViệt Nam Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện đượcnên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích củathời kỳ quá độ cũng như sau này Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tácđộng của đạo Phật đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sứccần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ,
Trang 3nhân đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra đượcmột phương cách để hướng đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn Theo đạo
để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ khôngtrở nên mê tín dị đoan, cúng bái, lên đồng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềmtin của quần chúng nhân dân
Lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo hiện nay tương đối được mở rộng, ngoài việcnghiên cứu giáo lý, kinh điển, lịch sử của Phật giáo ra còn đề cập đến các lĩnhvực Triết học, Sử học, Tâm lý học, Khảo cổ học, Xã hội học, Dân tộc học, Vănhọc, Nghệ thuật Phật học đã trở thành một trong những khoa học tương đối quantrọng trong khoa học xã hội, trước mắt có quan hệ mật thiết với xã hội học
Hơn nữa, quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền vớiquá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậy khi nghiêncứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo vànhững mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng
Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con ngườiViệt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướngcho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự ra đời và những tư tưởng cơ bản củaPhật giáo cùng với sự du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó chú ý các phương pháp chính là:Logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn để thực hiệnnhiệm vụ đặt ra
Trang 4NỘI DUNG Chương I: NGUỒN GỐC RA ĐỜI VÀ TƯ TƯỞNG CƠ BẢN
CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 1.1 Nguồn gốc lịch sử của Phật giáo
Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà (hay Buddha) Đạo Phật chính làgiáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 9 đếnthế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, đạo Phật được lưu hành rộng rãi ở các quốc giatrong khu vực Á – Phi, gần đây được truyền tới các nước Âu – Mỹ Trong quátrình truyền bá của mình, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian,văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái, có tác động vô cùngquan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia
Vào thời cổ đại, Ấn Độ là nước đa thần giáo, chế độ mẫu hệ Đến thời ngườiAryan tràn vào xâm chiếm, xã hội Ấn Độ chia thành bốn giai cấp là Đạo sĩ (Bà LaMôn), Vua Quan (Sát Đế Lợi), Công Nông Thương (Phệ Xá) và Nô lệ (Thủ ĐàLa) Gia đình chuyển thành phụ hệ Về tư tưởng tôn giáo dù nhiều đạo giáo vẫn tồntại nhưng giáo sĩ Bà La Môn truyền bá tư tưởng nhất thần Triết lý tôn giáo phủnhận vai trò của con người đối với cuộc đời và cả thế giới khách quan Kết quả làsinh ra hai xu hướng là trốn đời khổ hạnh hoặc xuôi theo dòng đời hưởng lạc thúvật chất Từ hai mặt xã hội và tôn giáo, người dân Ấn Độ mất niềm tin, mong ước
có một vị cứu tinh ra đời để xóa bỏ giai cấp bất công và ổn định tư tưởng tôn giáo,đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi người Trong bối cảnh đó, đức Phật Thích CaMâu Ni ra đời
Ngoài bất công xã hội, tôn giáo phức tạp, đất nước Ấn Độ chia thành nhiềunước nhỏ thường tranh chấp nhau chẳng khác thời chiến quốc bên Trung Quốc,thời 12 sứ quân ở Việt Nam Trong các nước đó, quốc gia giàu mạnh nhất là Ca
Tỳ La Vệ (Kapilavastu), phía bắc Trung Ấn, nay là Pipsava, phía nam nướcNepal Nhà vua trị vì nước đó tên là Tịnh Phạn (Sudhodana) Vào năm 204 trướcCông Nguyên, hoàng hậu MaDa (Maya) hạ sinh một hoàng tử khôi ngô tuấn tútại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dước gốc cây Ưu Bát La thường gọi làcây Vô Ưu (Asokaa) có hoa với màu sắc rực rỡ Thái tử có tên là Tất Đạt Đa lớn
Trang 5lên, Thái tử văn võ song toàn, có vợ là công chúa Da Du Đà La (Yasodara), convua Thiện Giác
Trước bối cảnh xã hội giai cấp, tư tưởng tôn giáo siêu hình, cuộc sống conngười cậy mạnh hiếp yếu… Năm 29 tuổi, Thái Tử đã đến bên dòng A Nô Ma cắttóc làm nhà đạo sĩ Sau thời gian học đạo 6 năm, Thái Tử thấy con người hưởnglạc sẽ bê tha thối nát; còn tu khổ hạnh chỉ chuốc thêm khổ thân; chỉ có con đườngtrung đạo mới mong thành chính quả Bởi thế, Thái Tử đã bỏ năm anh em ôngKiều Trần Như, dùng bát sữa của Tu Xá Đề (Sajata) xuống sông Ni Liên tắm rửarồi lên thiền quán dưới gốc cây Tất Bát La xứ Ba La Nại Qua 49 ngày chiến đấuvới nội ngoại ma, Thái Tử đã chứng tam minh là Túc mạng minh, Thiên nhânminh, Lậu tân minh và thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni năm 36 tuổi
Thành Phật rồi, Đức Phật đến rừng nai xứ Ba La Nai giáo với năm người bạncùng tu khổ hạnh ngày trước, cùng nhóm Kiều Trần Như với phái Tứ đế Khắp vùngNgũ Hà suốt 45 năm, Đức Phật thuyết pháp trên 300 hội, vào tận hang cùng ngõhẻm một cách tận tụy và rộng rãi Phật đã dừng chân bên vệ đường xâu kim cho một
bà già mù lòa; săn sóc, dọn dẹp ô uế cho người bệnh Vì từ bi, bình đẳng, đức Phật
đã nhận cái tát của em bé cúng dường, nhận thức ăn dư thừa của một tiện nữ dângcúng Với hiếu đạo, Phật đã đích thân khuân quan tài của vua Tịnh Phạn Phật đãgiáo hóa không lúc nào ngừng nghỉ Phật làm tất cả mọi việc dù là rất nhỏ… Tất cảviệc làm của Phật chỉ có mục đích duy nhất là bày trí kiến Phật cho chúng sinh Phậtđến rừng SaLa vào Niết Bàn lúc nửa đêm dưới ánh trăng rằm tỏa rạng vào năm 80tuổi Trên đường Phật đã chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập đượcsau khi ngài viên tịch Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật đã
ra đi Câu nói cuối cùng của Phật là: “Hỡi các tì kheo, tất cả những gì đang tồn tạirồi sẽ qua đi Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”
1.2 Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viếtthành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “Tam Tạng”, Gồm 3 Tạngkinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quanđiểm về thế giới và con người Gồm:
Trang 6- Tạng Luật: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho cảnăm bộ phái Phật giáo như: “Tứ phần luật” của thượng toạ bộ, Maha tăng kỷ luậtcủa “Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” Sau này còn thêm các Bộluật của Đại Thừa như An Lạc, Phạm Võng.
- Tạng Kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu Tạng Kinh gồm nhiều tậpdưới dạng các tiền đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm
- Tạng Luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo.Tạng luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về giáo pháp củaPhật giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhânsinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác
1.2.1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung của 3
phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên
- Vô ngã (không có cái tôi chân thật)
Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bà La Môn và đa số các môn pháitriết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tốicao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cảcon người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kếthợp của 2 yếu tố là “Sắc” và “Danh” Trong đó, Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thểcảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí; Danh là yếu tố tinh thần,không có hình chất mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: thụ (cảm thụ), tưởng (suynghĩ), hành (ý muốn để hành động) và thức (sự nhận thức)
Danh và Sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn” Ngũ uẩn baogồm Sắc (vật chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (suy lý) và Thức (ýthức), chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồntại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãimãi Do đó, không có “Bản ngã” hay cái tôi chân thực
Trang 7- Vô thường (vận động biến đổi không ngừng)
Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn biến đổi Các sự vật,hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng,không nghỉ theo chu trình bất tận là “sinh – trụ – dị – diệt” Nghĩa là sinh ra, tồntại, biến dạng và mất đi
Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi khôngngừng.Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là biếnđổi, hư hoại đều là vô thường” Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong một trạngthái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dịrồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vật, hiệntượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằng không phải
là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, màtrong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ mà chết làđiều kiện của một sinh thành mới
- Duyên (điều kiện cho nguyên nhân trở thành kết quả)
Bà La Môn Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏnhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên làđiều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có duyên màtrở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ nhưvậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-Quả”, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh Nhân và quả làhai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không có nhân thì khôngthể có quả, nếu không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy.Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết họcPhật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sángtạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người được cấuthành từ các yếu tố vật chất và tinh thần Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trongquá trình liên hệ, vận động, biến đổi không ngừng Nguyên nhân của sự vận động,biến đồi nằm trong các sự vật Đó là quan điểm biện chứng về thế giới, tuy còn
Trang 8mộc mạc chất phác nhưng rất đáng trân trọng Và đó cũng là quan điểm duy vậtbiện chứng về thế giới
1.2.2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan
Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết
“Tứ Diệu Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý tuyệt diệu đòihỏi mọi người phải nhận thức được Tứ diệu đế là:
- Khổ đế:
Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não,không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ Phật xác nhận đặc tướng củacuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ Có 8 nỗi khổlà: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau phải xanhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn màkhông đạt được) và ngũ thụ uẩn (do 5 yếu tố tạo nên con người)
Như vậy, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc củahoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Về phương diện triết học,khổ đau là một thực tại như thực đối với con người Khổ đế là một chân lý kháchquan hiện thực Khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng loạt nhân duyên được tạotác từ tâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọihình thái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau,con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, màphải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do đó,con người ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nàokhác Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới.Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiềuhơn nước biển”
- Nhân đế (hay Tập đế):
Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là tụ hợp, kếttập lại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả
Trang 9mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của
luân hồi Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do “thập nhị nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người.
12 nhân duyên gồm:
+ Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không sáng
suốt Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con đườngthoát khổ Trong mười hai nhân duyên, vô minh là căn bản Nếu không thấu hiểu
Tứ diệu đế cũng được gọi là Vô minh
+ Duyên hành: là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,
tạo ra cái nghiệp, cái nếp Do hành động mà có Thức, ấy là Hành làm quả cho Vôminh và là nhân cho Thức
+ Duyên thức: Là ý thức là biết Do Thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm
quả cho Hành và làm nhân cho Danh sắc
+ Duyên danh sắc: Là tên và hành, ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên
của ta Do Danh sắc mà có Lục xứ, lấy Danh sắc làm quả cho Thức và làm nhân choLục xứ
+ Duyên lục xứ (hay lục nhập): Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi,
tai, thân và tri thức Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật
Do Lục nhập mà có Xúc - tiếp xúc, ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làmnhân cho Xúc
+ Duyên xúc: Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên mở
rộng xúc, cảm giác Do Xúc mà có Thụ, ấy là Xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhâncho Thụ
+ Duyên thụ: Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào
mình Do Thụ mà có Ái, ấy là Thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho Ái
+ Duyên ái: Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do Ái mà có Thủ Do đó,
Ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ
+ Duyên thủ: Là lấy, chiếm đoạt cho mình Do Thủ mà có Hữu Do vậy mà
Thủ làm quả cho Ái và làm nhân cho Hữu
Trang 10+ Duyên hữu: Là tồn tại, hiện hữu, ham muốn, nên có dục gây thành cái
nghiệp Do Hữu mà có Sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh
+ Duyên sinh: Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người,
làm súc sinh Do Sinh mà có Tử, ấy là Sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử
+ Duyên lão tử: Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu, mà đã già là phải
chết Nhưng chết - sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xác tan đi
là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cái nghiệp rơivào vòng luân hồi (khổ não)
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chungđều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên chocái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau Cũng có lời giảithích là 12 yếu tố tích lũy đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế là ái vàthủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp Mười hai nguyên nhân và kếtquả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi khổ đau nhân loại
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê khôngthấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vôthường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng.Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình Haynói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ haykhông Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỷ hay phiền não khuấy động,chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc
- Diệt đế:
Là chân lý về diệt khổ Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được
để đạt tới trạng thái “niết bàn” Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổcũng được tận diệt Muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ
vô minh
Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thựctướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những hành độngtạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác diệt trừ được
Trang 11vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấymới hết luân hồi sinh tử.
Phật giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ,thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản,đầu óc tỉnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn
Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không bị chi phối bởi những
tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng
sợ hãi mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vậthiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xửcủa bạn với mọi người xung quanh rộng lượng và bao dung hơn Tùy vào khả nănggiảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phầnhạnh phúc đến mức độ ấy
- Ðạo đế:
Là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ Đây là con đường tu đạo để hoànthiện đạo đức cá nhân Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên, vàmột khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử.Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn Có 8 conđường chân chính để đạt sự diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là “Bát chính đạo” Bátchính đạo bao gồm:
+ Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ
diệu đế và giáo lí vô ngã
+ Chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa
của bốn chân lí một cách không sai lầm
+ Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù phiếm + Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm việc
xấu, nên làm việc thiện
+ Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên quan
đến sát sinh
Trang 12+ Chính tinh tiến: cố gắng nỗ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để phát
triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu
+ Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát, luôn
tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý
+ Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô
ngã, vô thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô minh, đạttới sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt,chấm dứt sinh tử luân hồi
Trong tám nẻo đường này thì chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ(panna); chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về Định (Samadhi) Muốnthực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngănngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện cólợi ích cho mình và cho người Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện
“Ngũ giới” (năm điều răn) và “Lục độ” (sáu phép tu)
- “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát: Không sát sinh
+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa
+ Bất dâm: Không dâm dục
+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giá họa cho kẻ khác, không nói dối.+ Bất ẩm tửu: Không uống rượu
- “Lục độ” gồm:
+ Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thựcchứ không để cầu lợi hoặc ban ơn
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình.+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên
Trang 13+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính, không để cho cáixấu che lấp.
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian
Trong những giai đoạn đầu với vũ trụ quan nhân duyên, đạo Phật đã cónhững yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát Về chính trị xã hội thì đạoPhật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bấtcông, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nêu lên ước vọng giải thoát conngười khỏi nỗi bi kịch của cuộc đời… Tuy nhiên, trong luận thuyết về nhân sinh vàcon đường giải thoát, tư tưởng Phật giáo còn hạn chế, mang nặng tính bi quan, yếmthế về cuộc sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, khôngtưởng về những vấn đề xã hội
Sau khi Đức Phật tạ thế, các đệ tử của Người đã định kì họp lại Và tại cáccuộc họp càng về sau, sự bất đồng ý kiến giữa các chư tăng trong việc hiểu và giảithích kinh Phật ngày càng gay gắt Hàng ngũ Phật giáo do vậy chia làm hai phái:Phái của các vị trưởng lão gọi là Thượng Tọa (theravada) theo xu hướng bảo thủ,chủ trương bám sát kinh điển, giữ nguyên giáo luật; Phật tử chỉ giác ngộ cho bảnthân, chỉ thờ Đức Phật Thích-Ca và chỉ cầu sớm chứng quả La Hán Phần đôngtăng chúng còn lại không chịu nghe theo, họ khai hội nghị riêng, lập ra phái ĐạiChúng (mahasanghika) chủ trương không câu nệ cố chấp vào kinh điển, khoandung đại lượng trong việc thực hiện giáo luật, thu nạp rộng rãi tất cả những aimuốn quy y, giác ngộ, giải thoát cho nhiều người, thờ Phật, và nhân vật tiêu biểu làBồ-Tát
Tại các lần kiến tập thứ 3 - 4, phái Đại Chúng soạn ra kinh sách riêng và tựxưng là Đại Thừa (mahayana) nghĩa là “cỗ xe lớn” và gọi phái Thượng Tọa là TiểuThừa (hinayana) nghĩa là “cỗ xe nhỏ”
Phái Đại Thừa phát triển lên phía Bắc nên được gọi là Bắc Tông, được phổbiến sang Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên… Còn phái Tiểu Thừa phát triểnxuống phía Nam nên được gọi là Nam Tông, từ trung tâm Srilanca (Tích Lan) pháttriển sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Kinh sách Đại Thừađược viết bằng tiếng Sanscrit, còn kinh sách Tiểu Thừa được viết bằng tiếng Bali
Trang 141.2.3 Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Qua lịch sử, Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam cùng thời với conđường truyền qua Trung Quốc Theo cuốn “Cổ sử các nước Ấn Độ hóa ở vùngViễn Đông” và cuốn "Roman coins INDIA-1964 P.559-683 cùa R Sewedl" Trongnhững năm đầu của công nguyên, các thương nhân hàng hải của Ấn Độ qua miềnViễn Đông để buôn bán, đạo Phật đã theo bằng đường thủy qua Srilanca, Java,Inddônêxia, Ấn Độ và Trung Quốc Ở những nơi thương nhân ghé lại, nơi thừa tựđược lập để nguyện cầu bình an, may mắn Từ dó, tư tưởng tôn giáo được thiết lập.Theo cuốn “Ngô chí” của Trung Quốc vào đời Hán thì có nói: Sĩ Nhiếp trongbuổi loạn lạc đã giữ yên quận Giao Châu, giúp dân an cư lạc nghiệp Vì thế ôngđược người dân bản xứ tôn kính Đi đâu ông cũng có người Hồ đi theo hai bênđường Mà theo Sylvainlevi, Hồ là từ mà người Trung Quốc dùng để chỉ ngườiTrung Á hay Ấn Độ Như vậy, người Ấn Độ, kể cả các nhà sư có nhiều ở GiaoChâu lúc bấy giờ Bản thân Sĩ Nhiếp cũng đã theo đạo Phật, đi đâu cũng có cácnhà sư đi theo… Như thế chứng tỏ là đạo Phật đã do các nhà sư Ấn Độ đem vàoViệt Nam vào hạ bán thế kỉ thứ 2
Còn một số sách khác cho thấy rằng: Sinh hoạt Phật giáo đã bắt đầu ở ViệtNam từ đầu thế kỷ do các nhà buôn đem vào Rồi thực sự có các nhà sư theothuyền buôn đến truyền đạo vào cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3 bằng hai conđường là đường thủy và đường bộ Vào các thế kỷ đầu ở Giao Châu, Phật giáo đã
có một trung tâm lớn tại Luy Lâu - một trong ba trung tâm lớn của đế quốc nhàHán, trụ sở của quận Giao Chỉ là Luy Lâu đã sớm trở thành trung tâm quan trọngcủa Phật giáo Tại đây với hoạt động truyền giáo của Khâu-Đà-La (Kasudla) đãxuất hiện truyền thuyết đầu tiên về Phật giáo Việt Nam với Thạch Quang Phật vàMang Nương Phật Mẫu Từ đây những nhà sư Ấn Độ như Ma-ha-kỳ-vực(Marajivaka), Khâu Đà La (Kasudara), Khương Tăng Hội (K’ang-seng-houei), ChiCương Lương Lâu (Kalaruci), Mâu Bác (meou-pô)
Do Phật giáo được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam nên ngay từđầu công nguyên từ Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng phạn đã được phiên âm sangtiếng Việt là Bụt Phật giáo Giao Châu lúc này mang màu sắc Tiểu Thừa Nam
Trang 15Tông, và trong mắt người Việt nông nghiệp, hình tượng Bụt được hình dung như vịthần dân dã toàn năng có mặt khắp nơi, luôn sẵn sàng xuất hiện để cứu giúp ngườitốt và trừng trị kẻ xấu Sau này, sang thế kỷ thứ 4-5 có thêm luồng ảnh hưởng củaPhật Giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào không bao lâu, nó đã lấn át
và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó Khi ấy từ Buddha tiếng Phạn vàotiếng Hán được phiên âm thành Phật ngang đà, Phật đồ, vào tiếng Việt rút gọnthành Phật Và từ đây từ Phật dần dần thay thế từ Bụt
Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam, đó là:Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông Việt Nam là xứ nông nghiệp, thiên nhiên ítđược ưu đãi, nhiều thiên tai bão lụt, con người tin nhiều vào thần thánh, phép lạ,…bởi thế Mật giáo rất dễ du nhập Các sư như Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La, ChiCương Lương làm nhiều phép thần thông lạ thường được dân Việt Nam ưa thích Mật tông là tông phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí như dùnglinh thù, mật chú, ấn quyết… để mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát Ở ViệtNam Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòavào dòng tín ngưỡng dân gian
Tịnh Độ tông, với pháp môn niệm Phật cầu Vãng sinh, lớp bình dân dễ dàngtin theo Phép tu chỉ có chuyện niệm Phật A Di Đà Dù chưa dứt hết nghiệp, saukhi chết, người chuyên niệm Phật vẫn được Vãng sinh cực lạc
Thiền tông là pháp môn thấy dễ mà khó, thiền không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập
ma, điên loạn, mất bình thường Tuy thế, người Việt Nam vẫn tiếp nhận và cũngkhá phổ biến trong các nhà sư và trí thức
Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyềnthống của dân tộc ta, do đó, đã tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng Hệ thống chùa
“Tứ pháp” kết hợp việc thờ Phật với thờ các vị thần tự nhiên như Mây Mưa Sấm - Chớp và thờ đá Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam là “tiền Phật hậuThần” với việc đưa vào chùa các thần, thánh, các thành hoàng thổ địa và các anhhùng dân tộc Có chùa thờ cả Bác Hồ ở Hậu tổ và hầu như không một chùa nào làkhông để bia hậu, bát nhang cho các linh hồn, vong hồn đã mất Vào Việt Nam,đức Phật được đồng nhất với những vị thần tín ngưỡng truyền thống có khả năng
Trang 16-cứu giúp mọi người thoát khỏi tai họa Hơn nữa vì muốn giữ cho Phật giáo ở mãibên mình, người Việt Nam nhiều khi phá cả giới luật Người Việt Nam giao tiếptheo nguyên tắc “xưng khiêm hô nhường” nên các vị Bồ tát, hòa thượng mà ngườiViệt Nam yêu quý đều được tôn làm Phật hết: Phật bà Quan Âm (vốn là Bồ tát),Phật Di-Lặc (vốn là hòa thượng) Còn tượng Phật Việt Nam vốn mang dáng dấphiền hòa của người Việt Nam.
Bên cạnh đó, Phật giáo Việt Nam lại tổng hợp các tông phái với nhau nênkhông có tông phái Phật giáo nào ở Việt Nam là thuần khiết Tuy Thiền tông chủtrương bất lập ngôn, song ở Việt Nam, chính các thiền sư đã để lại khá nhiều trướctác giá trị
Phật giáo Việt Nam cũng dung hợp chặt chẽ con đường giải thoát bằng thalực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông (niệm Phật A di đà và cầu Bồ tát) Chùamiền Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng chục pho tượng Phật,Bồ-tát, La-hán của các tông phái khác nhau Còn ở phía Nam, Đại Thừa và TiểuThừa kết hợp mật thiết với nhau trong đó: nhiều chùa mang hình thức Tiểu Thừa(thờ Phật Thích-ca) Mặc áo vàng nhưng lại theo giáo lý Đại Thừa; bên cạnh tượngPhật Thích-ca lớn vẫn có nhiều tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng vẫn sửdụng đồ nâu và đồ lam
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn kết hợp chặt chẽ giữa việc đạo với việc đời.Tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng ở Việt Nam, Phật giáo lại rất nhập thế: các caotăng được Nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng Sựgắn bó giữa đạo với đời mật thiết tới mức không chỉ có các nhà sư tham gia vàochính sự, mà các thời Lý-Trần còn khá nhiều vua quan quý tộc đi tu (thiền pháiThảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử) Với truyền thống gắn bó giữa đạo với đời, đầuthế kỉ 20, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoặc động của xã hội nhưcuộc vận động đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và đám tang cụ Phan Châu Trinh.Thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tíchcực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập, nổi bật là sự kiện Phật tửxuống đường đấu tranh chống lại nền độc tài chuyên chế của gia đình họ Ngô năm
1963 Đặc biệt là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chế độ
Trang 17độc tài đó Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một
bộ phận không nhỏ các tăng ni Phật tử đã tạm lột bỏ lớp áo cà sa để cùng nhân dân
cả nước cầm súng đánh giặc cứu nước